Nhận thức đúng vai trò của kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm, trong thời gian thực tập tại Công ty Dược liệu TW1 cùng vớinhững kiến thức đã học ở trường và đượ
Trang 1Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnđiều quan trọng trước tiên là doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh đúngđắn, muốn vậy doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin, những thông tin liênquan đến tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đối với mộtdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì thông tin về chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm là những thông tin luôn được các nhà lãnh đạo, các nhà quản lýđặc biệt quan tâm Bởi vì chi phí sản xuất và tính giá thành là hai chỉ tiêu quantrọng trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế tài chính của doanh ngiệp sản xuất Đó lànhững chỉ tiêu chất lượng phản ánh một cách tập trung mọi mặt công tác củadoanh nghiệp Từ những thông tin đó, doanh nghiệp sẽ tìm ra những giải pháp cóhiệu quả nhất, thực thi nhất phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp đểquản lý chặt chẽ chi phí và hạ giá thành sản phẩm Kết hợp với những thông tin
về cung cầu và giá cả trên thị trường, thông tin về chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp xác định được giá bán hợp lý, tìm ra cơ cấusản phẩm tối ưu, vừa tận dụng được khả năng hiện có và thu được lợi nhuận cao
Kế toán là công cụ để doanh nghiệp thực hiện được những điều đó màtrọng tâm là hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Bởi vậy tổchức tốt công tác kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm làmột yêu cầu thiết thực đòi hỏi kế toán phải có phương pháp tính toán khoa học,hợp lý tổ chức quản lý việc tiêu hao vật tư tiền vốn để với chi phí sản xuất bỏ ra ítnhất nhưng đem lại giá trị sử dụng cao nhất Đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thịtrường đảm bảo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi
Công ty Dược liệu TW1 là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán sản xuấtkinh doanh độc lập có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thuốc- mộtmặt hàng đặc biệt Hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty là hoạt động kinhdoanh thuơng mại còn hoạt động sản xuất chỉ là phụ Tuy nhiên trong quá trìnhtiến hành các hoạt động sản xuất, Công ty cũng rất coi trọng đến việc xây dựng, tổchức công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, coi đây làvấn đề cơ bản gắn chặt với kết quả cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty
Trang 2Nhận thức đúng vai trò của kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm, trong thời gian thực tập tại Công ty Dược liệu TW1 cùng vớinhững kiến thức đã học ở trường và được sự quan tâm hướng dẫn tận tình của côgiáo Nguyễn Như Hoa, của các cô chú, anh chị em trong phòng kế toán của Công
ty, em đã đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu và hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp với
đề tài: "Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Dược liệu TW1"
Nội dung khái quát cả chuyên đề ngoài Lời mở đầu và phần Kết luận baogồm các phần sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Dược liệu TW1
Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Dược liệu TW1
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 3CHƯƠNG INHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I Khái quát chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sảnxuất Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với
sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất Nói cáchkhác, quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu laođộng, đối tượng lao động và sức lao động Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hoácũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên Như vậy, đểtiến hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động,
về tư liệu sản xuất và đối tượng lao động Vì thế, sự hình thành nên các chi phísản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụthuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất
Cần chú ý phân biệt giữa chi phí và tiêu phí Chi phí là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinhdoanh Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tàisản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứkhông phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán Ngược lại, chi tiêu là sự giảm điđơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùngvào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu choquá trình cung cấp (chi mua sắm vật tư, hàng hoá…), chi tiêu cho quá trình sảnxuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý…) và chitiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…)
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiếtvới nhau Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không cóchi phí Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tàI sản
Trang 41.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh
tế khác nhau, có mục đích và công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất Tuỳtheo yêu cầu của công tác hạch toán và quản lý, ta có cách phân loại chi phí khácnhau Dưới đây trình bày các cách phân loại chủ yếu
1.2.1 Theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, những chi phí có tính chất, nội dung kinh tế giốngnhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạtđộng sản xuất nào, ở đâu Toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp đượcchia thành các yếu tố sau:
Chi phí nguyên vật liệu: Gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyênliệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và các chi phínguyên vật liệu khác dùng cho sản xuất Nhận thức yếu tố chi phí nguyên vật liệugiúp cho nhà quản trị xác định được tổng vốn nguyên vật liệu cần thiết cho nhucầu sản xuất kinh doanh trong kỳ Trên cơ sở đó nhà quản trị sẽ hoạch định đượctổng mức luân chuyển, tổng mức dự trữ cần thiết của nguyên vật liệu để tránh tìnhtrạng ứ đọng vốn hay thiếu nguyên vật liệu gây cản trở cho quá trình sản xuấtkinh doanh
Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản tiền lương chính, phụ, phụcấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương nhưkinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động Sự nhậnthức yếu tố chi phí nhân công giúp nhà quản trị xác định được tổng mức lươngcủa doanh nghiệp Ở góc độ khác, sự nhận thức này cũng chính là cơ sở để nhàquản trị hoạch định mức tiền lương bình quân cho người lao động, tiền đề điềuchỉnh chính sách lương đạt được sự canh tranh lành mạnh về nguồn lực lao động
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 5 Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cốđịnh, tài sản dài hạn dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tổng mức chi phíkhấu hao giúp nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn tài sản cốđịnh, tài sản dài hạn Từ đây, nhà quản trị hoạch định tốt hơn chiến lược tái đầu
tư, đầu tư dài hạn, đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị thích hợpcho quá trình sản xuất kinh doanh
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm giá dịch vụ mua từ bên ngoàicung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như giá dịch vụđiện nước, giá bảo hiểm tài sản, giá thuê nhà cửa phương tiện Tổng chi phí dịch
vụ giúp cho nhà quản trị sẽ hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ liên quan đến hoạt độngcủa doanh nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị dịch vụtốt hơn
Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinhdoanh bằng tiền tạo doanh nghiệp Sự nhận thiết tốt yếu tố chi phí khác bằng tiềngiúp nhà quản trị hoạch định được ngân sách tiền mặt chi tiêu, hạn chế những tồnđọng tiền mặt, tránh bớt nhưng tổn thất, thiệt hại trong quản lý vốn bằng tiền mặt Cách phân loại này có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó chobiết kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra đểlập bản thuyết minh báo cáo tài chính, phân tích tình hình thực hiện dự toán chiphí và lập dự toán cho kỳ sau
1.2.2 Theo mục đích, công dụng của chi phí
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích, công dụngnhất định đối với hoạt động sản xuất Theo cách phân loại này chi phí sản xuấtgồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí nguyênvật liệu sử dụng trực tiếp trong từng quá trình sản xuất sản phẩm như chi phínguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ Chi phí nguyên vật liệu chínhthường chiếm tỷ trọng lớn trên tổng chi phí nhưng dễ nhận diện, định lượng chínhxác, kịp thời khi phát sinh
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản tríchtheo lương tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảohiểm xã hội của công nhân trực tiếp thực hiện từng quá trình sản xuất Trong quản
lý, chi phí nhân công trực tiếp được định mức theo từng loại sản phẩm, dịch vụ
Trang 6+ Chi phí nguyên vật liệu dùng trong máy móc thiết bị
+ Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí khác bằng tiền
Phân loại chi phí sản xuất chung theo mục đích và công dụng kinh tế có tácdụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp sốliệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạchgiá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạchgiá thành sản phẩm cho kỳ sau
1.2.3 Theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất ra
Chi phí sản xuất được chia thành 3 loại:
Chi phí khả biến (biến phí): Là những chi phí có sự thay đổi vềlượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuấttrong kỳ
Tuy nhiên, nếu tính biến phí cho 1 đơn vị sản phẩm thì đây là khoản chi phí
ổn định, không thay đổi Thuộc loại chi phí này có: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí lao động trực tiếp, giá vốn của hàng mua để bán
Chi phí bất biến (định phí): Là những khoản chi phí không biến đốikhi mức độ hoạt động thay đổi Nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động thì chiphí này lại thay đổi Chi phí bất biến trong các doanh nghiệp gồm: chi phí khấuhao tài sản cố định, lương nhân viên quản lý
Chi phí hỗn hợp: Là các chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố củađịnh phí và biến phí Ở mức độ hoạt động nhất định chi phí hỗn hợp thể hiện cácđặc điểm của định phí, nếu quá mức độ hoạt động đó nó thể hiện đặc tính của biếnphí Thuộc loại chi phí hỗn hợp có chi phí điện thoại, Fax
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 7Cách phân loại này giúp phân tích tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất và xácđịnh các biện pháp thích hợp để hạ thấp chi phí sản xuất cho một đơn vị sảnphẩm.
1.2.4 Theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất gồm:
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đếntừng đối tượng chịu chi phí, có thể quy nạp trực tiếp vào từng đối tượng chịu chiphí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp Loại chiphí này thường chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí Tuy nhiên, chúng dễ đượcnhận dạng, hạch toán chính xác Vì vậy cũng ít gây ra sự sai lệch thông tin chi phí
ở từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinh doanh
Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiềuđối tượng chi phí như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ, chi phíquảng cáo Với chi phí gián tiếp, nguyên nhân gây ra chi phí và đối tượng chịuchi phí rất khó nhận dạng Vì vầy thường phải tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêuthức phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí Và cũng chính điều này việc tínhtoán, phân bổ thường dẫn đến những sai lệch chi phí trong từng phận, từng quátrình sản xuất kinh doanh và cũng sẽ dẫn đến những quyết định khác nhau
Cách phân loại này giúp nhận thức vị trí từng loại chi phí trong hìnhthành giá thành sản phẩm để tổ chức công tác kế toán phù hợp với từng loại
1.2.5 Theo nội dung cấu thành của chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành:
Chi phí đơn nhất: là những chi phí chỉ do một yếu tố duy nhất cấuthành Ví dụ: nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lương công nhân sảnxuất
Chi phí tổng hợp: là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tậphợp lại theo cùng một công dụng Ví dụ như chi phí sản xuất chung
Cách phân loại này giúp nhận thức vị trí từng loại chi phí trong hình thànhgiá thành sản phẩm để tổ chức công tác kế toán thích hợp với từng loại
2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
2.1 Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm
Trang 8Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí laođộng sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm,lao vụ đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượnggiá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra chosản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chiphí tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồihoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinhtrong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Những chi phí đưa vào giá thành sảnphẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sảnxuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn haophí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tốgiá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền
tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sảnxuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thànhcũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiềugóc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau
2.2.1 Theo thời gian và cơ sở số liệu hình thành giá thành
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại:
Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi bước vào quá trình sảnxuất chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện Giá thành kế hoạch sảnphẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch, sản lượng kế hoạch và đượcxem như mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức áp dụng các giảipháp kinh tế kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để phântích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành sảnphẩm của doanh nghiệp
Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên định mứcchi phí hiện hành Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khitiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là thước đo đểxác định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp từ đó
có cơ sở đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 9= Giá thành sản xuất Chi phí bán hàng
của sản phẩm
Giá thành thực tế: Là loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệuchi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ Giá thành thực tế chỉ cóthể xác định được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thànhthực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu củadoanh nghiệp trong việc tổ chức áo dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật để thựchiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xácđịnh được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán, từ đóđiều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp
2.2.2 Theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia thành 2 loại:
Giá thành sản xuất ( giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánhcác chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chiphí sản xuất chung tính cho nhiều loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoànthành Giá thành sản xuất được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành, nhậpkho hoặc giao cho khách hàng và cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán vàmức lãi gộp trong kỳ của doanh nghiệp
Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ): Là chỉtiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêuthụ sản phẩm
Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinhdoanh của từng loại hàng của từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Tuynhiên do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bánhàng, chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng dịch vụ nên cách phân loại này chỉcòn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu
3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của quá trình sản xuất, có
mối quan hệ mật thiết vì nội dung của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những
Trang 101 0
CPSX
dở dang cuối kỳ
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn thành=dở dang đầu kỳCPSX +phát sinh trong kỳCPSX
-chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất Mối quan hệ giữa -chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua công thức:
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngànhsản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chiphí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không phải là một mà có
sự khác nhau trên các phương diện cơ bản sau:
- Chi phí sản xuất luôn gắn liền với một thời kỳ nhất định, còn giá thànhsản phẩm gắn liền với một loại sản phẩm, công việc nhất định
- Chi phí sản xuất chỉ bao gồm những chi phí phát sinh kỳ này, còn giáthành sản phẩm chứa đựng cả một phần chi phí kỳ trước (chi phí sản phẩm làm dởđầu kỳ)
II Đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà chi phísản xuất phát sinh cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giảm chi phí
và yêu cầu tính giá thành
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần thiết chocông tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất Doanh nghiệp chỉ có thể tổ chức tốtcông tác kế toán chi phí sản xuất nếu xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuấtphù hợp với đặc điểm sản xuất, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của doanhnghiệp Cụ thể, kế toán tập hợp chi phí sản xuất xác định đối tượng cần tập hợpchi phí sản xuất làm căn cứ để tổ chức công tác ghi chép ban đầu để mở các sổ chitiết, tập hợp số liệu chi phí sản xuất chi tiết theo từng đối tượng, giúp cho việcquản lý chi phí sản xuất và đảm bảo cung cấp số liệu cho công tác tính giá thànhsản phẩm một cách kịp thời và chính xác
Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần căn cứ vào:
Đặc điểm phát sinh và công dụng của chi phí sản xuất
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 11 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lýsản xuất kinh doanh, yêu cầu hạch toán của doanh nghiệp mà đối tượng kế toántập hợp chi phí sản xuất, có thể là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hay từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt,từng phân xưởng, từng tổ đội sản xuất.
Căn cứ vào tính chất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ giản đơn thì đối tượng tập hợp chi phísản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ Còn nếu doanh nghiệp có quy trình côngnghệ sản xuất phức tạp thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng loại sảnphẩm, chi tiết thành phẩm công đoạn hay phân xưởng
Căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm được sản xuất ra, đối tượng
kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng nhóm sản phẩm, nhóm cây trồngmặt hàng, sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng cụm chi tiết hoặc chi tiết sản phẩm Ngoài ra còn căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu về trình độ của côngtác kế toán để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Việc tập hợp chiphí sản xuất theo đúng đối tượng đã xác định hợp lý có ý nghĩa rất lớn trong việc
tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất Nó tạo điều kiện để tính đúng, tính đủ,tính chính xác chi phí sản xuất cho các đối tượng chịu chi phí, góp phần nâng caohiệu quả của công tác hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chiphí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị, việchạch toán quá trình sản xuất có thể phân thành hai giai đoạn là giai đoạn xác địnhđối tượng tập hợp chi phí và giai đoạn xác định đối tượng tính giá thành sảnphẩm Về thực chất, xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là việc xác địnhsản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thànhmột đơn vị Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trinh sản xuất hayđang trên dây truyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nọi bộ vàtiêu thụ sản phẩm
2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Trong quá trình sản xuất sản phẩm ở các doanh nghiệp thường phát sinhnhiều loại chi phí sản xuất khác nhau Những chi phí này có thể liên quan đến một
Trang 121 2
hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí Để tập hợp chi phí sản xuất chính xác chúng
ta có thể sử dụng một trong hai phương pháp sau:
- Phương pháp trực tiếp: là phương pháp được áp dụng cho các chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp chỉ có liên quan đến một đối tượng kế toán tập hợp chiphí sản xuất đó là: từng phân xưởng, bộ phận, từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm.Phương pháp này đòi hỏi phải tổ chức việc ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng,trên cơ sở đó kế toán tập hợp số liệu theo từng đối tượng liên quan và ghi trực tiếpvào sổ kế toán theo đúng đối tượng Phương pháp này đảm bảo việc hạch toán chiphí sản xuất chính xác
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: là phương pháp áp dụng trong trường
hợp chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất màkhông thể tổ chức việc ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tượng được Theophương pháp này, doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép ban đầu cho các chi phísản xuất theo từng địa điểm phát sinh chi phí để kế toán tập hợp chi phí Sau đóphải xác định, lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý Tiêu thức phân bổ hợp lý là tiêuthức phải đảm bảo được mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tổng chi phí cần phân bổvới tiêu thức phân bổ của các đối tượng có liên quan
Trình tự phân bổ như sau:
Trong đó: ∑C là tổng chi phí cần phân bổ
Ti là tiêu thức phân bổ thuộc đối tượng i
- Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng i
Ci = Ti x H
3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành là phương pháp tính toán, xác định giá thành
đơn vị của từng loại sản phẩm, công việc hoàn thành theo các khoản mục giá
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 133.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất có quy trình côngnghệ sản xuất có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, khép kín từ khi đưanguyên vật liệu vào sản xuất cho tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản phẩm
ít, khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báocáo
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phísản xuất đã tập hợp trong kỳ, chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ Công thức tính:
Z = C + Dđk – Dck
Trong đó: Z là tổng giá thành của từng đối tượng tính giá thành
Zđv là giá thành đơn vị của từng đối tượng tính giá thành
C là tống chi phí sản xuất tập hợp trong kỳ
Dđk,Dck là chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
S là sản lượng hoàn thành
Nếu không có sản phẩm làm dở cuối kỳ thì Z = C
3.2 Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp trong cùng một quy trìnhsản xuất tạo ra đồng thời nhiều loại sản phẩm chính và tất nhiên không thể tổchức theo dõi chi tiết theo từng loại sản phẩm Do vậy, để xác định giá thành cho
Z S
Trang 141 4
Giá thành đơn vị sản phẩm
= Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
Khối lượng sản phẩm quy đổi
Giá thành đơn vị
sản phẩm từng loạiGiá thành đơn vị sản phẩm= X sản phẩm từng loạiHệ số quy đổi
từng loại sản phẩm chính cần phải quy đổi các sản phẩm chính khác nhau về mộtloại sản phẩm duy nhất, gọi là sản phẩm tiêu chuẩn theo hệ số quy đổi được xâydựng sẵn Sản phẩm có hệ số 1 được chọn làm sản phẩm tiêu chuẩn
n
Tổng sản lượng thực tế quy đổi = ∑ Si Hi
ra sản lượng sản phẩm tiêu chuẩn i=1
Trong đó: Si là sản lượng thực tế của loại sản phẩm i
Hi là hệ số quy định cho sản phẩm loại i
Căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ cho cả quy trình công nghệsản xuất sản phẩm và chi phi của sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ để tínhtổng giá thành của cả liên sản phẩm theo từng khoản mục
3.3 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Đây là phương pháp tính giá thành trong điều kiện doanh nghiệp sản xuấtđơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ theo đơn đặt hàng của người mua Đặcđiểm của phương pháp này là tính giá thành riêng biệt theo từng đơn đặt hàng nênviệc tổ chức kế toán chi phí phải được chi tiết hoá theo từng đơn đặt hàng
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp được hạchtoán trực tiếp vào từng đơn đặt hàng có liên quan riêng, chi phí phục vụ quản lýsản xuất ở phân xưởng do liên quan đến nhiều đơn đặt hàng nên tổ chức theo dõitheo phân xưởng và cuối tháng mới tiến hành phân bổ cho từng đơn đặt hàng theotiêu thức phù hợp Thực hiện phương pháp đặt hàng thì đối tượng hạch toán chiphí và đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng cụ thể
Giá thành của từng đơn đặt hàng là toàn bộ chi phí phát sinh kể từ lúc bắtđầu thực hiện cho đến lúc hoàn thành đúng theo những tiêu chuẩn kỹ thuật đượcthoả thuận trong hợp đồng sản xuất
3.4 Phương pháp tính giá thành theo định mức
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 15Giá thành
thực tế =Giá thành định mứcChênh lệch do thay đổi định mức+ Chênh lệch do thực hiện định mức+
-
Phương pháp này chỉ áp dụng được trong những doanh nghiệp đã xác lập
được hệ thống các định mức về chi phí vật liệu, nhân công cũng như có dự toán
về chi phí phục vụ và quản lý sản xuất cho từng loại sản phẩm được sản xuất ra,
ngay cả các chi tiết sản phẩm để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh Nói cách khác,
doanh nghiệp phải xác lập được giá thành định mức cho từng loại sản phẩm trên
cơ sở các định mức tiêu hao hiện hành
Phương pháp định mức cho phép phát hiện một cách nhanh chóng những
khoản chênh lệch về chi phí phát sinh thực tế so với định mức của từng khoản
mục, theo từng nơi phát sinh chi phí cũng như đối tượng chịu chi phí, các nguyên
nhân dẫn đến những thay đổi này Những phát hiện này có được ngay trong quá
trình phát sinh và hình thành các loại chi phí ngay trong quá trình sản xuất nên
giúp cho nhà quản lý có những căn cứ đề ra quyết định hữu ích, kịp thời nhằm tiết
kiệm chi phí, ngăn chặn được những hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí đúng
mục đích, có hiệu quả nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm
Công thức tính:
Qua công thức này ta thấy rằng để xác định được giá thành thực tế của sản
phẩm kế toán phải tổ chức, xác định giá thành định mức vào đầu kỳ sản xuất trên
cơ sở các định mức hiện hành, đồng thời phải theo dõi chi tiết những biến động
của chi phí thực tế so với định mức trong trường hợp thay đổi định mức và thực
hiện định mức – tiết kiệm hoặc lãng phí so với định mức trong quá trình sử dụng
các yếu tố của quá trình sản xuất Việc theo dõi sự biến động so với định mức cần
phải gắn liền với đối tượng chịu chi phí, theo từng khoản mục chi phí Tổ chức
theo dõi chặt chẽ, kịp thời và chính xác những thay đổi so với định mức trong quá
trình sản xuất là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với công tác hạch
toán giá thành mà còn phục vụ thiết thực và có hiệu quả cho công tác hạch toán
nội bộ trong doanh nghiệp
3.5 Phương pháp tính giá thành phân bước
Phương pháp này chủ yếu thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công
nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải qua nhiều giai đoạn chế biến
liên tục kế tiếp nhau, bán thành phẩm (BTP) giai đoạn trước là đối tượng tiếp tục
sản xuất ở giai đoạn sau Trong trường hợp này đối tượng tính giá thành có thể là
Trang 161 6
thành phẩm hay nửa thành phẩm Do có sự khác nhau về đối tượng tính giá thành
nên phương pháp này có 2 phương án như sau:
3.5.1 Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành bán thành
phẩm
Theo phương án này kế toán phải lần lượt tính giá thành bán thành phẩm củagiai đoạn trước chuyển sang giai đoạn sau một cách tuần tự để tiếp tục tính giá
thành bán thành phẩm của giai đoạn sau, cứ như vậy cho đến khi tính được giá
thành của thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng
Trình tự tính giá thành thể hiện qua sơ đồ sau:
Trong đó:
3.5.2 Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành bán
thành phẩm
Trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao
hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí chế
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Giai đoạn 1
Giai đoạn
Chi phí nguyên vật liệu
+
Chi phísản xuấtkhác ở gđ
Giá thànhBTP gđ 1chuyển
+
Chi phí sảnxuất khác
ở gđ2
Giá thànhBTP gđ n-1chuyển
+
Chi phísản xuấtkhác ở gđ
Giá thành vàgiá thành đơn
vị bán thànhphẩm (BTP) ở
Giá thành vàgiá thành đơn
vị bán thànhphẩm (BTP) ở
Tổng giá thành
và giá thànhđơn vị củathành phẩm
Trang 17Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn nChi phí sản xuất giai đoạn 1Chi phí sản xuất giai đoạn 2Chi phí sản xuất giai đoạn n
Chi phí sản xuất gđ 1 trong thành phẩmChi phí sản xuất gđ 2 trong thành phẩmChi phí sản xuất gđ n trong thành phẩm
Giá thành thành phẩm
Số lượng BTP (TP) hoàn thành gđ iSố lượng sản phẩm dở dang cuối gđ i
Chi phí sản xuất TP giai đoạn i
CPSX dở dang đầu kỳ gđ iCPSX phát sinh giai đoạn i
Số lượng TP hoàn thành giai đoạn cuối+
+
x
=
Chi phí sản xuất TP giai đoạn i=
CPSX dở dang đầu kỳ gđ iCPSX phát sinh giai đoạn i+
Số lượng BTP (TP) hoàn thành gđ iSố lượng SPDD cuối gđ i đã tính đổi+
x
Số lượng TP hoàn thành giai đoạn cuối
biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành thànhphẩm một cách đồng thời, song song nên còn gọi là kết chuyển song song
Theo phương án này đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạncông nghệ cuối cùng Do vậy để tính giá thành chỉ cần tính toán, xác định chi phísản xuất của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm
Trình tự thể hiện qua sơ đồ sau:
Công thức tính chi phí sản xuất thành phẩm:
- Đối với chi phí bỏ vào lần đầu của quá trình sản xuất :
- Đối với chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất:
Trang 181 8
Chi phí NVLTT
trong kỳTrị giá NVL xuất đưa vào sử dụng= Trị giá NVL còn lại cuối kỳ- - Trị giá phế liệuthu hồi
III Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất
1.1 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.1.1 Hạch toán và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính,nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu, nhiên liệu,… dùng trực tiếp cho việc chếtạo, sản xuất sản phẩm
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được căn cứ vào chứng từ xuất kho để tính
ra giá thực tế vật liệu xuất dùng và căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sảnxuất đã xác định để tập hợp Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vàocác đối tượng có thể tiến hành theo phương pháp trực tiếp hoặc phân bổ giántiếp
Để tính toán tập hợp chính xác chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán cầnchú ý kiểm tra xác định số nguyên vật liệu đã lĩnh nhưng cuối kỳ chưa sử dụnghết và trị giá của phế liệu thu hồi nếu có, để loại ra khỏi chi phí về nguyên vậtliệu trực tiếp trong kỳ theo công thức:
Để hạch toán và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621 – “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp “
TK 621 có thể mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để phục vụcho việc tính giá thành
TK 621 – “Chi phí NVLTT” có nội dung kết cấu như sau:
Bên Nợ: Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất,
chế tạo sản phẩm trong kỳ
Bên Có: -Trị giá nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết được nhập
lại kho
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên vật liệu thực sử dụng
cho tài khoản có liên quan trong kỳ để tính giá thành sản phẩm
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 19TK 621 không có số dư cuối kỳ.
Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.1.2 Hạch toán và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT)
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán chonhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, tiềntrích bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo thời gian phải trả cho công nhân trựctiếp sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính cho từng đối tượng chịu chiphí có liên quan Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiềuđối tượng mà không hạch toán trực tiếp được thì tập hợp chung, sau đó phân bổcho các đối tượng chịu chi phí theo các tiêu chuẩn như: chi phí tiền công địnhmức, giờ công định mức
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng TK 622 – “Chi phínhân công trực tiếp” Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếptham gia hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 622:
Trang 202 0
TK 334
Lương chính, lương phụ và phụ cấp phải trả cho CNSX
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất
Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản liên
quan để tính giá thành sản phẩm
TK 622 không có số dư cuối kỳ
Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp
1.1.3 Hạch toán và phân bổ chi phí sản xuất chung (CPSXC)
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí về tiền công phải trả nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí sản xuất chung thường được hạch toán riêng theo từng địa điểmphát sinh chi phí sau đó mới phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí theo các tiêuchuẩn phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí nhân côngtrực tiếp,
Kế toán chi phí sản xuất chung được thực hiện trên tài khoản 627 – “Chi phísản xuất chung” TK 627 được dùng để phản ánh những chi phí phục vụ sản xuất,kinh doanh phát sinh trong quá trình chế tạo sản phẩm
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 21TK 111, 112, 152,…
Chi phí nhân viên phân xưởng
Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ
Chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí bằng tiền khác
K/c CPSX đã tập hợp và phân bổ cho các đối tượng liên quan
Các khoản ghi giảm CPSX chung
Nội dung và kết cấu của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào tài khoản liên quan để tính
giá thành sản phẩm
TK 627 không có số dư cuối kỳ
Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
1.1.4 Hạch toán và phân bổ chi phí toàn doanh nghiệp
Trang 222 2
Phế liệu thu hồi do sản phẩm hỏng
Bồi thường phải thu do sản phẩm hỏng
Kế toán sử dụng tài khoản 154- “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” đểtổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Nội dung và kết cấu của TK 154 như sau:
Bên Nợ: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sản xuất chung kết chuyển cuối kỳ
Bên Có: - Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa
chữa được
- Giá thành thực tế của sản phẩm đã sản xuất xong chuyển
đi bán hoặc nhập kho
Số dư bên Nợ: Chi phí sản xuất, kinh doanh còn dở dang cuối kỳ
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (PP KKTX)
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 23K/c chi phí nhân công trực tiếp
K/c chi phí sản xuất chung
Phế liệu thu hồi do cósản phẩm hỏng
Phát sinh sản phẩm hỏng
Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Giá thành SXSP hoàn thành trong kỳ
1.2 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Cũng tương tự như phương pháp kê khai thương xuyên, chi phí sản xuấttrong kỳ được tập hợp trên các tài khoản: 621, 622, 627 Tuy nhiên do đặc điểmcủa kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, TK 154 chỉ sử dụng
để phản ánh chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ Việc tập hợp chi phí và tính giáthành sản phẩm hoàn thành được thực hiện trên TK 631 – giá thành sản xuất
Nội dung và kết cấu TK 631 như sau:
Bên nợ: - Giá trị của sản phẩm dở dang đầu kỳ
- Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có: - Giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ kết chuyển vào TK 154
- Giá thành sản phẩm nhập kho kết chuyển vào TK 632 - Giá vốn
hàng
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (PP KKĐK)
Trang 242 4
2 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quátrình sản xuất, chế biến, đang nằm trên dây chuyền công nghệ hoặc chưa đến kỳthu hoạch Như vậy chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ không chỉ liên quan đếnnhững sản phẩm, công việc đã hoàn thành trong kỳ mà còn liên quan đến sảnphẩm dở dang cuối kỳ
Để tính chính xác giá thành sản phẩm, một trong những điều kiện quan trọng
là phải đánh giá chính xác sản phẩm dở dnag cuối kỳ Đánh giá sản phẩm dở dangcuối kỳ là tính toán xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳphải chịu Để đánh giá sản phẩm dở dang cần kiểm kê xác định tính chính xáckhối lượng sản phẩm dở dang tại một thời điểm, thời gian thống nhất trong doanhnghiệp Có như vậy số liệu mới không bị trùng hoặc sót Mặt khác doanh nghiệpphải xác định được mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở dang
Tuỳ thuộc đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tỷ trọng của các chi phítham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, yêu cầu trình độ quản lý của doanhnghiệp mà kế toán có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm
dở dang sau:
2.1 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phínguyên vật liệu trực tiếp còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chungtính cả cho thành phẩm chịu
Công thức tính như sau:
Dđk + Cn
Dck = x Sd (1)
Stp + Sp
Trong đó:
- Dck, Dđk là chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ và đầu kỳ
- Cn là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ
- Stp,Sd là sản lượng của thành phẩm và sản phẩm dở dang cuối kỳ
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 25Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểuliên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ kế tiếp nhau thì sản phẩm dở dang ở cácgiai đoạn công nghệ sau được đánh giá theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạntrước đó.
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trựctiếp có ưu điểm là tính toán đơn giản, khối lượng công việc tính ít Tuy nhiênphương pháp này có nhược điểm là kết quả không chính xác cao vì chỉ tính cómột khoản chi phí Do vậy, đây là phương pháp chỉ thích hợp với các doanhnghiệp có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phísản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang ít và không biến động nhiều giữa cuối kỳvới đầu kỳ
2.2 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này, trước hết kế toán phải căn cứ vào khối lượng sảnphẩm dở dang và mức độ chế biến của chúng, trên cơ sở đó quy đổi sản phẩm làm
dở cuối kỳ ra số sản phẩm hoàn thành tương đương để tính toán xác định chi phícho số sản phẩm làm dở theo công thức:
- Đối với chi phí sản xuất bỏ vào một lần ngay từ đầu quá trình sản xuấtnhư nguyên vật liệu trực tiếp, nguyên vật liệu chính thì tính cho sản phẩm dởdang theo công thức (1)
- Đối với những chi phí bỏ dần trong kỳ quá trình sản xuất như chi phínhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thì tính cho sản phẩm dở dang cuối kỳtheo mức độ hoàn thành Công thức tính:
S'd = Sd x %HT
Trang 262 6
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo khối lượng sản phẩm hoàn thànhtương đương có ưu điểm là kết quả chính xác nhưng khối lượng tính toán nhiều
Do vậy phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có chi phí nguyênvật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng không lớn lắm trong toàn bộ chi phí sản xuất
2.3 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí sản xuất
Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp với những sản phẩm đã xây dựngđược định mức chi phí sản xuất hợp lý hoặc đã thực hiện phương pháp tính giáthành theo định mức Theo phương pháp này kế toán căn cứ khối lượng sản phẩm
dở dang và chi phí sản xuất định mức cho một đơn vị sản phẩm ở từng phânxưởng, giai đoạn để tính ra chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ
Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà có thể chỉ tính theo địnhmức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc cho toàn bộ các khoản mục chi phí
3 Tổ chức tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu.
3.1 Doanh nghiệp sản xuất giản đơn
Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuấtmột hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm
dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác thanquặng…các doanh nghiệp sản xuất động lực Do số lượng mặt hàng ít nên việchạch toán chi phí sản xuất được tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hàng sản xuấtđược mở một sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi phí sản xuất Công việc tính giá thànhthường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp hoặc phươngpháp liên hợp
3.2 Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng.
Đối với doanh nghiệp sản xuất theo các đơn đặt hàng kế toán tiến hành tậphợp chi phí sản xuất theo từng đơn Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sảnphẩm của từng đơn đặt hàng Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính chất và sốlượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phương pháp thích hợp như phươngpháp trực tiếp, phương pháp hệ số… Trong các doanh nghiệp này, toàn bộ chi phísản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng Đối với chi phí trựctiếp phát sinh trong kỳ liên quan đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp chođơn đặt hàng đó theo các chừng từ gốc (hay bảng phân bổ chi phí ) Đối với chi
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 27phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩnphù hợp.
Việc tính giá thành trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặthàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo Đốivới những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tậphợp được theo đơn dó đều được coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển sang kỳsau Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp đượctheo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tínhbằng cách lấy tổng giá thành của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết theo yêu cầu của công tác quản lýcần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặthàng chỉ mới hoàn thành một phần, việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị
đó có thể dựa vào giá thành kế hoạch hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn
3.3 Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
Sản xuất phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho sản xuất kinh doanhchính Sản phẩm lao vụ của sản xuất phụ được sử dụng cho các nhu cầu của sảnxuất kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp cho bên ngoài Phương pháptính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ tuỳ thuộc vào đặcđiểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanhnghiệp Các trường hợp:
Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sảnxuất kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể thì chi phísản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động Giá thành sảnphẩm, lao vụ của từng bộ phận sẽ được tính theo phương pháp trực tiếp
Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sảnxuất kinh doanh phụ thì có thể áp dụng một trong các phương pháp tính giá thànhsau:
- Phương pháp đại số: Là phương pháp xây dựng và giải cácphương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng
- Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu: Trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
Trang 282 8
-và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng Sau đó xác định giá trị sản phẩm,
lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo giá thành đơn vị mới
Công thức tính:
- Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác là thay giá thành đơn vị ban
đầu bằng giá thành kế hoạch để tính giá trị phục vụ lẫn nhau giữa các phân xưởng
sản xuất kinh doanh phụ Tiếp theo xác định giá trị thực phục vụ các đối tượng
khác theo giá thành đơn vị mới
3.4 Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức.
Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán
về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản
phẩm Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát
sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát
sinh thành ba loại: theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch
so với định mức Từ đó tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm :
Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở tiên tiến hiện
hành ngày đầu kỳ Tuỳ theo tính chất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và
đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính giá thành định mức khác
nhau Việc thay đổi định mức được tiến hành vào ngày đầu tháng để thuận lợi cho
việc thực hiện định mức cũng như kiểm tra việc thi hành định mức Trượng hợp
thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng sau mới phát sinh
ngoài phạm vi định mức và dự toán quy định được gọi là chênh lệch so với định
mức hay thoát ly định mức
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 293.5 Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục.
Trong các doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, quytrình công nghệ bao gồm nhiều bước nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định,mỗi bước ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước trước là đốitượng chế biến của bước sau thì phương pháp hạch toán chi phí thích hợp nhất làhạch toán theo bước chế biến Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinhthuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó Riêng với chi phí sản xuấtchung sau khi được tập hợp theo phân xưởng sẽ được phân bổ cho các bước theotiêu thức thích hợp
Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu của công tácquản lý, chi phí sản xuất có thể được tập hợp theo phương án có bán thành phẩm
và phương án không có bán thành phẩm Phương pháp tính giá thành thường làphương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số
CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY DƯỢC LIỆU TW1
I Khái quát chung và đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý của Công
ty Dược Liệu TW1
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Dược Liệu TW1
Công ty Dược Liệu TWI là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Y Tế,Công ty đã có một quá trình hình thành và phát triển trên 30 năm với nhiều biếnđộng lớn Mặt hàng kinh doanh hầu hết là các mặt hàng thuốc chữa bệnh Công ty
là một doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, có tưcách pháp nhân, có tài khoản riêng tại ngân hàng, được sử dụng con dấu riêngtheo thể thức nhà nước qui định, hoạt động theo pháp luật của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam
Tiền thân Công ty Dược liệu TWI là Công ty Dược liệu cấp I theo quyếtđịnh thành lập số 170 ngày 01 tháng 04 năm 1971 (QĐ 170/BYT) của Bộ y tế Từ
Trang 303 0
đó Công ty Dược liệu cấp I là đơn vị kinh doanh bán buôn, có nhiệm vụ là kinhdoanh các mặt thuốc nam, thuốc bắc, cao đơn hoàn tán, giống dược liệu và nuôitrồng dược liệu
Đến năm 1985, Công ty được đổi tên thành Công ty Dược liêu TWI trựcthuộc Liên hiệp các xí nghiệp Dược Việt Nam (nay có tên là Tổng Công ty DượcViệt Nam)
Từ ngày 09 tháng 02 năm 1993 Bộ y tế đã ra quyết định số 95 (QĐ 95/BYT)
về việc "bổ sung ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty- kinh doanh thànhphẩm tân dược, dung cụ y tế thông thường, bao bì và hương liệu, mỹ liệu để hỗtrợ cho phát triển dược liệu "
Từ năm 1993 dến nay Công ty được lấy tên giao dịch đối ngoại là Centremedican plant Company No-1, viết tắt là MEDIPLANTEX trực thuộc Liên hiệpcác xí nghiệp Dược Việt nam (tên giao dịch là VINAFA) - Bộ y tế
Cũng như hầu hết các đơn vị kinh tế quốc doanh, Công ty Dược liệu TW1 cómột quá trình phát triển không ngừng để tồn tại và khẳng định vai trò quan trọngcủa mình trong nền kinh tế Trước kia từ khi mới bắt đầu thành lập, trong nềnkinh tế tập trung quan liêu bao cấp công ty Dược liệu TW1 là một công ty cấp Ichuyên mua bán thuốc nam, thuốc bắc, cao đơn hoàn tán thuộc các tỉnh phía bắc
và một số tỉnh phía nam Đối tượng chủ yếu là trao đổi mua bán với các Công ty,
Xí nghiệp dược cấp II, cấp III, các Bệnh viện, Nông trường, Hàng năm công tythực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh do cấp trên giao được cụ thể bởi các hợp đồngkinh tế Ngoài ra công ty còn thực hiện chỉ tiêu một số mặt hàng chủ yếu là câycon làm thuốc, đồng thời vừa làm nhiệm vụ hướng dẫn, nuôi trồng thu hái, chếbiến dược liệu trong nước
Ngày nay chuyển sang nền kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của nên kinh
tế vĩ mô, Công ty có nhiều thay đổi trong hoạt động kinh doanh của mình để phùhợp với cơ chế kinh doanh mới Công ty với tư cách một đơn vị kinh tế quốcdoanh có tư cách pháp nhân – hạch toán kinh tế độc lập dưới sự chỉ đạo quản lýcủa liên hiệp các xí nghiệp Dược (Tổng công ty Dược Việt nam) – Bộ y tế, chịu
sự quản lý của nhà nước, của Bộ Thương mại, Công ty áp dụng hình thức kinhdoanh mới, vừa sản xuất theo công nghiệp dược hiện đại vừa kinh doanh thươngmại về thuốc chữa bệnh đông tây y và xuất nhập khẩu Các mặt hàng của Công ty
kể cả hàng đi mua về và hàng tự sản xuất tại các phân xưởng ngày càng phongphú đa dạng và đầy đủ các chủng loại về thuốc Bên cạnh đó, các nguồn hàng
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 31thuốc quý hiếm cũng được chú trọng và khai thác Thị trường hoạt động kinhdoanh của công ty ngày càng mở rộng khắp trong và ngoài nước.
Trong cơ chế thị trường công ty được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanhvới tổng số vốn được giao là 8,5 tỷ đồng, trong đó 4,2 tỷ đồng có nhiệm vụ bảotoàn và phát triển có lợi nhuận để đảm bảo cho đời sống cán bộ công nhân viêntrong công ty và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước
Khi bắt đầu tiến hành việc sản xuất sản phẩm, công ty mới chỉ có hai phânxưởng sản xuất là phân xưởng sản xuất Bạch Mai và phân xưởng sản xuất MỹĐình Nhưng từ năm 1993 trở lại đây do nhiệm vụ kinh doanh của công ty và cơcấu tổ chức có nhiều thay đổi nên xưởng Bạch Mai chia ra làm hai phân xưởngriêng biệt là: phân xưởng Đông dược và phân xưởng Thuốc viên; xưởng sản xuất
Mỹ Đình được đổi tên thành xuởng Hoá dược Bước đầu việc tiến hành sản xuất ởcác phân xưởng còn gặp nhiều khó khăc do trình độ kỹ thuật và tay nghề còn yếukém, chưa có kinh nghiệm nhưng dần dần đã ổn định và giá trị sản lượng sản xuấthàng năm đã tăng rõ rệt
Sản lượng hàng năm của các phân xưởng đạt được
(Đơn vị: nghìn đồng)
Phân xương Thuốc viên 13.190.625 15.828.750 16.620.187
Phân xưởng Đông dược 3.075.000 3.536.250 4.243.500
Phân xưởng Hoá dược 2.435.000 2.922.000 3.360.300
Trong suốt quá trình hoạt động hơn 30 năm, đội ngũ cán bộ công nhân viênkhông ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Công ty luôn chú trọng việcbồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn hàng năm cho cán bộ công nhân viênnhất là lực lượng cán bộ trẻ được đào tạo đưa vào hàng ngũ lãnh đạo của công ty.Hiện nay toàn công ty có 284 người lao động dài hạn và 37 người lao động thửviệc, thời vụ, ngắn hạn Trong đó trình độ trên đại học là 17 người, trình độ đạihọc là 135 người, trình độ trung cấp là 42 người và công nhân các loại là 127người
Trang 323 2
Giám đốc
Khối
Sản xuất
Phó giám đốc
Kỹ thuật Kế toánPhòng Tổ chứcPhòng Phó giám đốcKinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường diễn ra dưới sự cạnh tranh gay gắt, công ty gặpkhông ít khó khăn song vẫn luôn khẳng định được vị trí của mình, làm ăn có hiệuquả, thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước, đời sống công nhân viêntrong công ty ngày càng được cải thiện, điều này được thể hiện thông qua tìnhhình thu nhập của công nhân viên
Tổng quỹ lương 2.080.500.000 2.865.460.346Tổng thu nhập 2.054.052.000 2.517.297.399Tiền lương bình quân 8.788.000 10.488.740Thu nhập bình quân 8.788.000 10.488.740
2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý tại Công ty Dược Liệu TW1
2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Bộ máy quản lý của công ty bao gồm nhiều bộ phận, giữa các bộ phận cóquan hệ chặt chẽ với nhau và được phân thành các khâu, các cấp quản lý vớinhững chức năng và quyền hạn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu
Bộ máy tổ chức của công ty được thực hiện theo mô hình quản lý trực tiếptập trung nên ban giám đốc của công ty có thể nắm được tình hình sản xuất kinhdoanh một cách kịp thời tạo điều kiện giúp giám đốc công ty hiểu rõ được thựctrạng của công ty
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 33Ghi chú:
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ cung cấp
Nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban như sau:
- Giám đốc: vừa là người đại diện cho nhà nước vừa là người đại diện cho
cán bộ công nhân viên trong công ty Quản lý và điều hành mọi hoạt động chungcủa công ty, ngoài ra giám đốc còn điều hành trực tiếp đối với phòng xuất khẩu,phòng kế toán và phòng tổ chức hành chính
- Phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, thay mặt giám đốc điều
hành những công việc do giám đốc giao phó
- Phòng kế hoạch kinh doanh: do phó giám đốc kinh doanh trực tiếp làm
trưởng phòng và điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty về hàngnhập ngoại, hàng mua và hàng bán, giao các kế hoạch sản xuất cho các phânxưởng, quản lý hệ thống kho hàng, lập các kế hoạch mua bán hàng hoá
- Phòng kế toán: đảm nhiệm chức năng hạch toán kế toán, tạo nguồn vốn
kinh doanh, giúp giám đốc thấy rõ mọi hoạt động kinh tế của công ty, trên cơ sở
đó giúp giám đốc phân tích hoạt động kinh tế
- Phòng xuất khẩu: có nhiệm vụ thăm dò thị trường trong và ngoài nước,
hàng ngày nắm bắt được tỷ giá hối đoái để điều hành các mặt hàng xuất khẩu vànhanh chóng triển khai các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết
Trang 343 4
- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về vấn
đề nhân sự
- Phòng kỹ thuật kiểm nghiệm: có nhiệm vụ kiểm tra giám sát, sau đó
kiểm nghiệm đối với tất cả các mặt hàng kể cả hàng tự sản xuất lẫn hàng mua về,đảm bảo đúng chất lượng theo tiêu chuẩn dược điển Việt nam quy định Đồngthời nghiên cứu ra các mặt hàng mới, mẫu mã mới…
2.2 Đặc trưng quy trình công nghệ sản xuất
Hiện nay Công ty Dược liệu TW1 có 3 phân xưởng riêng biệt, đó là cácphân xưởng sau:
- Phân xưởng Thuốc viên (đạt tiêu chuẩn GMP-ASEAN): nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các mặt hàng thuốc viên
- Phân xưởng Đông dược: nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các mặt hàngthuốc đông dược
- Phân xưởng Hoá dược: chuyên sản xuất để chiết xuất các mặt hàngthuốc chống sốt rét
Do mặt hàng thuốc là mặt hàng đặc biệt, nó liên quan đến sức khoẻ và sinhmạng của con người nên quy trình sản xuất có đoạn phải đảm bảo khép kín và vôtrùng Đặc biệt là đối với sản phẩm thuốc viên, đơn vị của nó phải chính xác đếntừng miligam, mililit nhưng lại có giá trị rất lớn, phải đảm bảo theo tiêu chuẩndược Việt Nam
Trong 3 phân xưởng sản xuất đó thì phân xưởng sản xuất thuốc viên là phânxưởng có sản lượng sản xuất lớn hơn cả, còn phân xưởng đông dược và hoá dượccông việc sản xuất chưa đều, sản lượng sản xuất còn nhỏ Mỗi một loại thuốc đều
có quy trình sản xuất khác nhau và đều có những tiêu chuẩn kỹ thuật quy định củangành khác nhau Quy trình công nghệ sản xuất thuốc viên là quy trình sản xuấtđiển hình, rõ ràng qua từng khâu nên ta sẽ đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về quy trìnhcông nghệ của phân xưởng sản xuất thuốc viên Cụ thể như sau:
Thông qua bộ phận nghiên cứu làm thử các mẻ nhỏ, mỗi lần làm thử phải cóđầy đủ các thủ tục như: làm thử xong phải đi kiểm nghiệm và đảm bảo đầy đủ cáctiêu chuẩn được đề ra, sau đó mới cho sản xuất đại trà
Các giai đoạn sản xuất:
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 35Nguyên vật liệu Xử lý Chiết xuất Cô đặc Tinh chế
- Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Căn cứ vào lệnh sản xuất (có ghi rõ số lô,
số lượng thành phẩm và các thành phần như nguyên liệu chính, tá dược và quycách đóng gói, khối lượng trung bình viên ) tổ trưởng tổ pha chế sẽ có nhiệm vụchuẩn bị đầy đủ các thủ tục như: phiếu lĩnh vật tư, các loại vật tư đó phải đượccân đo đong đếm thật chính xác với sự giám sát của kỹ thuật viên ở phân xưởngsản xuất
- Giai đoạn sản xuất: Bắt đầu vào sản xuất, tổ trưởng tổ sản xuất và kỹthuật viên phải trực tiếp giám sát công việc pha chế mà công nhân bắt đầu làm,cần thiết có thể chia thành mẻ nhỏ, sau cùng trộn đều theo lô Tất cả công việcnày đều phải được phòng kỹ thuật quản lý theo từng lô Khi pha chế xong, côngviệc của kỹ thuật viên là phải kiểm nghiệm bán thành phẩm, nếu đạt tiêu chuẩnngành quy định thì công việc tiếp theo là giao nhận bán thành phẩm cốm từ tổ phachế giao cho tổ dập viên và ép vỉ (nếu có) Tất cả đều có phiếu giao nhận giữa các
tổ và ký tên vào cụ thể Qua khâu dập viên và ép vỉ xong lại chuyển sang tổ đónggói
- Giai đoạn kiểm nghiệm, nhập kho thành phẩm (giai đoạn cuối cùng):Khi thành viên, thành vỉ thuốc và được chuyển về tổ đóng gói, tổ kỹ thuật viênbắt đầu kiểm nghiệm thành phẩm, khi thành phẩm đạt được tiêu chuẩn kỹ thuật và
có phiếu kiệm nghiệm kèm theo sẽ tiến hành công việc đóng gói Sau khi hoànthành việc đóng gói cùng với phiếu kiểm nghiệm chuyển lên kho và nhập vào khocủa Công ty
Qua đó ta thấy được quy trình sản xuất thuốc viên là quy trình sản xuất giảnđơn và chế biến kiểu liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn, thuộc loại hình khối lượnglớn (theo từng lô) trên dây chuyền sản xuất Tại những thời gian nhất định chỉ sảnxuất một loại sản phẩm nhất định Mỗi một loại sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật sảnxuất, chất lượng nguyên vật liệu và các loại dược tá đi kèm vào công thức sảnxuất đó
Sau đây là 3 quy trình công nghệ sản xuất ra một số sản phẩm chính tại 3phân xưởng:
Quy trình công nghệ chiết xuất hoá chất:
Trang 363 6
Nguyên vật liệu Xay, rây Pha chế Cốm sấy khôKiểm nghiệm bán thành phẩm
Dập viên ép vỉKiểm nghiệm
Đóng gói thành phẩmNhập kho thành phẩm
Nguyên vật liệu Thái, xay Làm ấm, ủ Rút dịch
Pha chếKiểm nghiệm ra lẻ
Kiểm tra đóng góiGiao nhập thành phẩm
Quy trình công nghê sản xuất thuốc viên:
Quy trình công nghệ rượu bổ sâm:
Kết quả của mỗi quy trình công nghệ có thể xác định được giá trị bằng cách
kiểm kê những hộp, những kiện thành phẩm và quy trình công nghệ nào càng
giảm được chi phí mà vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm tốt thì chứng tỏ
công tác tổ chức sản xuất quy trình công nghệ đó tốt
3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở Công ty Dược Liệu TW1
3.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n
Trang 37Kế toán truởng
KT tổng hợp(Phó phòng)
Kế toán tiền lươngBHXH, TSCĐ
Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty
Khoa Tµi ChÝnh – KÕ To¸n