BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN VĂN CƢỜNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA QUỸ TRỢ VỐN CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG NGHÈO TỰ TẠO VIỆC LÀM[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA QUỸ TRỢ VỐN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
NGHÈO TỰ TẠO VIỆC LÀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA QUỸ TRỢ VỐN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
NGHÈO TỰ TẠO VIỆC LÀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 020 116 150 003
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS., HẠ THỊ THIỀU DAO
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TP HCM, ngày …… tháng… năm 20…
Người hướng dẫn khoa học
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT
Tp HCM, ngày …… tháng… năm 20…
Chủ tịch Hội đồng xét duyệt
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển dịch vụ tài chính vi mô của Quỹ trợ
vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm” là công trình nghiên cứu riêng của
tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được
công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích
dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Cường
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS, TS., Hạ Thị Thiều Dao, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài từ những ngày đầu Cô rất nhiệt tình trong việc
truyền đạt kiến thức, định hướng, góp ý chi tiết giúp tôi từng bước hoàn thành việc
nghiên cứu đề tài này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Ngân hàng Thành phố
Hồ Chí Minh, Khoa sau đại học và quý Thầy/Cô đã nhiệt tình giảng dạy, hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cảm ơn các bạn lớp CH16TN, CH16B2 đã chia sẽ, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu
Nguyễn Văn Cường
Học viên lớp CH16TN, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7
MỤC LỤC
Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục hình ảnh
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 6
1.1 Tài chính vi mô 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Đặc điểm của tài chính vi mô 7
1.2 Dịch vụ tài chính vi mô 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Dịch vụ tín dụng 9
1.2.3 Dịch vụ tiết kiệm 9
1.2.4 Dịch vụ khác 10
1.3 Phát triển dịch vụ tài chính vi mô 11
1.3.1 Khái niệm 11
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ tài chính vi mô 11
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ tài chính vi mô 13
1.4 Các mô hình tài chính vi mô trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 14
1.4.1 Mô hình Grameen Bank 14
1.4.2 Mô hình Bank Rakyat Indonesia 15
1.4.3 Mô hình ngân hàng CARD-Philippines 16
1.4.4 Bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính vi mô cho Việt Nam 17
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 19
Trang 8Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
VI MÔ TẠI QUỸ CEP 20
2.1 Tổng quan về Quỹ CEP 20
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Quỹ CEP 20
2.1.2 Bộ máy tổ chức và mạng lưới của Quỹ CEP 21
2.1.3 Khách hàng của Quỹ CEP 23
2.1.4 Sơ lược về hoạt động tài chính của Quỹ CEP 24
2.2 Thực trạng về phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP 25
2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP 25
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 40
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI QUỸ CEP 41
3.1 Định hướng phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP 41
3.2 Giải pháp về phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP 41
3.2.1 Đẩy mạnh nguồn vốn huy động 41
3.2.2 Cải tiến và nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có để đáp ứng yêu cầu khi đã thành tổ chức tài chính vi mô chính thức 42
3.2.3 Phát triển các dịch vụ tiềm năng 44
3.2.4 Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ nhân viên sẵn có 44
3.2.5 Tăng cường quảng bá hình ảnh 45
3.3 Những kiến nghị góp phần phát triển dịch vụ tài chính vi mô 45
3.3.1 Kiến nghị với chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 45
3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 46
3.3.3 Kiến nghị với Quỹ CEP 46
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 48
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
Trang 9CEP Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm CQĐP Chính quyền địa phương
GB Grameen Bank HĐQT Hội đồng quản trị NGO Non-Governmental Organization NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội NHNN Ngân hàng Nhà nước
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
TCTCVM Tổ chức tài chính vi mô TCTD Tổ chức tín dụng
TCVM Tài chính vi mô TKBB Tiết kiệm bắt buộc TKĐH Tiết kiệm định hướng TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh TVĐV Thành viên đang vay UBND Ủy ban nhân dân UBND Uỷ ban Nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ TCVM 11
Bảng 2.1: Chỉ số tài chính Quỹ CEP giai đoạn 2011-2015 25
Bảng 2.2: Số thành viên sử dụng dịch vụ tại CEP giai đoạn 2011 – 2015 26
Bảng 2.3: Số lượng nhân viên và chi nhánh của CEP giai đoạn 2011 – 2015 27
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay của Quỹ CEP giai đoạn 2011 – 2015 28
Bảng 2.5: Doanh số cho vay của Quỹ CEP giai đoạn 2011 – 2015 28
Bảng 2.6: Số dư tiết kiệm giai đoạn 2011 – 2015 31
Bảng 2.7: Tỷ lệ rủi ro vốn của Quỹ CEP giai đoạn 2011 – 2015 34
Bảng 2.8: Tỷ suất lợi nhuận của Quỹ CEP giai đoạn 2011 – 2015 35
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Các cách tiếp cận của tổ chức TCVM 12
Hình 2.1: Bộ máy tổ chức Quỹ CEP 22
Hình 2.2: Sơ đồ mạng lưới Quỹ CEP 23
Hình 2.3: Số lượng thành viên đang vay tại Quỹ CEP giai đoạn 2011 – 2015 29
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố phát triển nhanh và có mật độ dân cư đông nhất Việt Nam với khoảng 9 triệu dân, có khoảng 2 triệu người nhập cư từ các
tỉnh khác đến sống tại TP.HCM Những người dân nhập cư này thường là những
người nghèo và nghèo nhất Tuy nhiên, ước tính số lượng người nghèo ở TP.HCM
và các vùng lân cận dựa trên chuẩn nghèo quốc gia là không phù hợp vì khu vực
này có chi phí sinh hoạt cao hơn đáng kể hơn so với các nơi khác trong nước Do
đó, trong năm 2014 UBND TP.HCM đã ban hành chuẩn nghèo TP.HCM áp dụng từ
năm 2014 với thu nhập bình quân từ 16 triệu đồng/người/năm trở xuống (tương
đương 2,1 USD/người/ngày) Tính đến cuối năm 2015, TP.HCM có khoảng 10.000
hộ nghèo chiếm tỷ lệ 0,5% hộ dân thành phố và 35.000 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ
1,79% hộ dân (Hộ cận nghèo thu nhập bình quân đầu người từ trên 16 triệu đồng
đến 21 triệu đồng/năm) (Anh Tuấn, 2016)
Vấn đề đói nghèo trở thành một thách thức lớn đối với các nước đang phát triển, nó đe dọa đến sự phát triển của một đất nói riêng và thế giới nói chung Đây
không chỉ là việc của một quốc gia mà là cả nhân loại, đòi hỏi sự chung sức của
toàn thế giới Hạn chế và giảm thiểu đói nghèo sẽ giúp nâng cao đời sống cải thiện
kinh tế, xã hội cho các nước đang phát triển
Ngày nay, hệ thống tài chính ở Việt Nam cũng đang trong giai đoạn phát triển, nhưng tỷ lệ người nghèo tiếp cận được với dịch vụ tài chính còn rất thấp Một vấn
đề đặt ra làm thế nào để các dịch vụ tài chính đến được với những người lao động
nghèo cần vốn để tạo việc làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống của chính họ Vì
vậy, ngành tài chính vi mô ra đời đáp ứng được các nhu cầu của những người lao
động nghèo TCVM là một công cụ giúp xóa đói giảm nghèo hiệu quả tại Việt Nam
Việc xây dựng và phát triển ngành TCVM sẽ mang các dịch vụ TCVM (như tiết
kiệm, tín dụng, bảo hiểm…) đến với những người lao động nghèo có thu nhập thấp
Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (Quỹ CEP) là một trong những tổ chức TCVM đang hoạt động ở Việt Nam Tổ chức này hoạt động
Trang 13với mục đích phi lợi nhuận vì lợi ích của người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời
sống an sinh xã hội Quỹ CEP đã cung cấp các dịch vụ tài chính đến với người lao
động nghèo và đối tượng chủ yếu là công nhân viên và nhân dân lao động có nguồn
thu nhập thấp Dịch vụ của Quỹ CEP là tín dụng tiết kiệm và dịch vụ phi tài chính
nhằm hỗ trợ cộng đồng
Hiện nay, CEP cũng đã đóng góp đáng kể về việc cải thiện điều kiện sống của người nghèo và nghèo nhất về gia tăng thu nhập và tự tạo việc làm thông qua việc
cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô bền vững và hiệu quả của CEP Kết quả thực
hiện được: Đến 31/12/2015, CEP với 39% vốn vay được thành viên sử dụng cho
hoạt động mua bán nhỏ, 16% được sử dụng cho mục đích cải thiện nhà ở, xây nhà
vệ sinh, 15% cho mục đích chăn nuôi, nông nghiệp và ngư nghiệp, và 30% cho các
mục đích khác như dịch vụ, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, mua sắm công cụ lao
động, đóng học phí, khám chữa bệnh và trả nợ vay nặng lãi (Quỹ CEP, 2016a)
Với những kỳ vọng và mong nuốn sự phát triển hoàn thiện hơn nữa các dịch
vụ tài chính vi mô tại Quỹ CEP, tạo điều kiện nhiều hơn nữa cho những người lao
động nghèo tiếp cận được dịch vụ TCVM và góp phần xóa đói giảm nghèo, an sinh
xã hội bền vững Do đó tôi chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ tài chính vi mô của
Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm” để nghiên cứu cho luận
rộng tiếp cận, tỷ suất sinh lời và tính bền vững tài chính để đánh giá sự phát dịch vụ
TCVM của Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm Từ đó, tác giả
đưa ra các giải pháp và kiến nghị để cho dịch vụ TCVM tại Quỹ CEP được phát
triển
Trang 143 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng phát triển dịch vụ tài chính vi mô của Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm hiện nay như thế nào?
Các giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài
Phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm Dịch vụ TCVM được nghiên cứu là: Tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô
5 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các nguồn số liệu báo cáo tại Quỹ CEP Phân tích các chỉ số trong báo cáo hoạt động và báo cáo tài chính tại Quỹ CEP trong giai đoạn năm 2011-
2015, thông qua đó đánh giá các nhân tố thúc đẩy phát triển, các nhân tố kìm hãm
sự phát triển của dịch vụ, từ đó đưa ra các giải pháp và những kiến nghị để phát
triển dịch vụ TCVM tại Quỹ CEP
6 Một số công trình khoa học liên quan đã công bố
Võ Khắc Thường và Trần Văn Hoàng (2013) nghiên cứu các tổ chức và mô hình hoạt động của TCVM tại Việt Nam, một số hạn chế của TTTCVM tại Việt
Nam
Hạ Thị Thiều Dao và Lê Thị Như Thảo (2016) nghiên cứu sự phát triển trong hoạt động tài chính vi mô ở tỉnh Tiền Giang Nội dung nghiên cứu này cho thấy các
tiêu chí để đánh giá sự phát triển của hoạt động TCVM tại Tiền Giang
Karmakar và ctg (2009) Nghiên cứu về sự phát triển của các dịch vụ tài chính
vi mô cho nghề cá quy mô nhỏ ven biển và nuôi trồng thủy sản ở các quốc gia Nam
Trang 15Á (bao gồm Ấn Độ , Bangladesh và Sri Lanka ) và sự quan tâm đặc biệt đối với phụ
tượng khách hàng TCVM khác Mục tiêu của nghiên cứu này là: Hệ thống hóa các
vấn đề cơ bản về sự bền vững của TCTCVM, tập trung vào ba mức độ: bền vững
hoạt động, bền vững tài chính, và bền vững thể chế; Tổng kết các kinh nghiệm
thành công và thất bại trong việc phát triển bền vững TCVM trên thế giới và bài học
cho Việt Nam Các chuẩn mực bền vững hoạt động, bền vững tài chính, và bền
vững thể chế được tổng kết theo thông lệ quốc tế và theo quy định của Việt Nam;
Tổng kết các kinh nghiệm thành công và thất bại trong việc phát triển bền vững
TCVM trên thế giới và bài học cho Việt Nam Đánh giá tổng quan về ngành TCVM
Việt Nam; Phân tích thực trạng mức độ bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam;
Đánh giá những kết quả đạt được; Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá
trình phát triển bền vững của các TCTCVM Việt Nam
7 Đóng góp của đề tài
Nhằm nhận diện được các yếu tố tác động và các tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính vi mô để đưa ra các giải pháp giúp cho Quỹ CEP có dịch vụ
TCVM đến với người nghèo hiệu quả Góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm thất
nghiệp và an sinh xã hội, dần dần xóa bỏ đi loại hình tín dụng “đen” (như cho vay
nặng lãi, hụi, cầm đồ…)
8 Kết cấu nội dung
Luận văn được tác giả trình bày trong 3 chương với nội dung chính của các chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ tài chính vi mô tại tổ chức tài chính vi mô
Trang 16Chương 2: Thực trạng về phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại quỹ trợ vốn
cho người lao động nghèo tự tạo việc làm
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại quỹ trợ vốn cho
người lao động nghèo tự tạo việc làm
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ
TẠI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1 Tài chính vi mô
1.1.1 Khái niệm
TCVM được rất nhiều nhà kinh tế và các tổ chức đưa ra các khái niệm khác nhau:
Theo Karmakar (2008), Tài chính vi mô được định nghĩa là việc cung cấp dịch
vụ tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác như chuyển tiền, bảo hiểm vi
mô cho người nghèo, để giúp họ nâng cao mức thu nhập và cải thiện mức sống
Theo Ledgerwood (1999), TCVM đã mở ra một cách tiếp cận để phát triển kinh tế nhằm mang lại thu nhập và lợi ích cho cả nam giới và phụ nữ TCVM là
việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập thấp và tự tạo
việc làm Dịch vụ TCVM bao gồm tiết kiệm và tín dụng Tuy nhiên, một số tổ chức
TCVM cũng cung cấp các dịch vụ như bảo hiểm và thanh toán Do đó, định nghĩa
về TCVM thường bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian xã hội TCVM
không chỉ đơn thuần là một ngân hàng, nó là một công cụ để phát triển
Còn theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (2000), TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển
tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập và các doanh nghiệp
nhỏ của họ
Thuật ngữ TCVM cũng được đề cập tương đối phổ biến ở Việt Nam, Nghị định 28/2005/NĐ-CP; Nghị định 165/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định
28/2005/NĐ-CP và Thông tư 02/2008/TT-NHNN hướng dân thực hiện Nghị định
28/2005/NĐ-CP và Nghị định 165/2007/NĐ-CP, đã dùng một khái niệm là tài chính
quy mô nhỏ và nó được định nghĩa “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp
một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có
thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”
Trang 18Khái niệm TCVM còn được nêu trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, điểm 5, điều 4: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín
dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các
cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”
Tổng hợp những khái niệm trên ta có thể hiểu TCVM một cách chung nhất là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm , cho những
cá nhân và hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm giúp họ phát triển sản xuất, tạo thu
nhập và cải thiện điều kiện sống
1.1.2 Đặc điểm của tài chính vi mô
Theo Ủy ban Basel (2010), có các đặc điểm riêng về tài chính vi mô như sau:
Một là, khách hàng của TCTCVM là những người có thu nhập thấp
Các tổ chức TCVM thường cung cấp tín dụng cho những khách hàng có thu nhập thấp (như lao động bán thất nghiệp và các hộ kinh doanh không chính thức
như người bán hàng rong, các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và vừa…)
Các khách hàng này có đặc điểm chung là sống tập trung trong một khu vực địa lý,
phân khúc xã hội (như hội phụ nữ, nông dân, …) Vì khách hàng là những người có
thu nhập thấp nên các khoản cho vay thường có giá trị rất nhỏ, thời hạn ngắn và
không có tài sản bảo đảm Tuy nhiên, chu kỳ trả nợ của khoản vay lại thường xuyên
hơn với mức lãi suất áp dụng thường cao hơn so với các khoản vay thông thường
Nhằm mục đích bù đắp chi phí hoạt động liên quan đến phương thức cho vay vi mô
tập trung nhiều nhân lực, các khoản vay TCVM thường áp dụng mức lãi suất cao
hơn so với cho vay thương mại
Hai là, rủi ro trong quá trình phân tích cho vay
Hồ sơ cho vay vốn phần lớn do cán bộ cho vay lập ra thông qua các lần thăm gia đình và địa điểm kinh doanh của người vay Người vay vốn thường thiếu các
báo cáo tài chính chính thức, vì vậy cán bộ tín dụng giúp chuẩn bị hồ sơ bằng cách
sử dụng các dòng tiền dự kiến và giá trị thực để xác định lịch trả nợ và số tiền vay
Tính chất của người đi vay và sự sẵn lòng trả nợ cũng được đánh giá trong quá trình
thăm thực địa
Trang 19Dữ liệu thông tin tín dụng không phải lúc nào cũng có sẵn tại trung tâm dữ liệu để so sánh và đối chiếu với khách hàng có thu nhập thấp Tuy nhiên, khi có các
thông tin này tại trung tâm thì đây được xem là thông tin hữu ích để xem xét cho
vay Việc tính điểm tín dụng, khi được sử dụng thì đây cũng là một yếu tố bổ sung
khi xét duyệt cho vay, cần nỗ lực và tiếp cận nhiều với khách hàng để phân tích cho
vay
Ba là, về tài sản thế chấp
Khách hàng vay tại các TCTCVM thường không có tài sản thế chấp như ở các ngân hàng truyền thống khác Cũng có trường hợp khách hàng có thế chấp tài sản,
tuy nhiên giá trị của tài sản đó không cao (như tivi, đồ nội thất…) Trong trường
hợp này, tài sản thế chấp được sử dụng như một phương pháp ràng buộc người đi
vay phải trả nợ hơn là để phục hồi các khoản lỗ
Bốn là, về phê duyệt và giám sát tín dụng
Cho vay vi mô là một quá trình có độ phân tán cao, nên việc xét duyệt cho vay phụ thuộc rất lớn vào phải dựa vào kỹ năng, trình độ và tâm làm việc của cán bộ tín
dụng và các nhà quản lý để tìm ra các thông tin chính xác và kịp thời
Năm là, kiểm soát các khoản nợ chậm trả
Kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ chậm trả là cần thiết, vì các khoản cho vay thường có đặc điểm là không có tài sản thế chấp, tần suất thanh toán cao (thường là
hàng tuần hoặc hai tuần một lần) và có tác động lây lan Thông thường, kiểm soát
tín dụng TCVM hoàn toàn phụ thuộc cán bộ tín dụng, do họ là người nắm rõ nhất
những thông tin về hoàn cảnh cá nhân của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất
quyết định đến hiệu quả công tác thu hồi nợ
Sáu là, cho vay theo nhóm
Một số tổ chức TCVM sử dụng phương thức cho vay theo nhóm, theo đó các khoản cho vay sẽ được giải ngân cho những nhóm khách hàng nhỏ các cá nhân
trong nhóm có cam kết cùng bảo đảm thanh toán cho nhau Phương thức cho vay
này được xây dựng dựa trên giả thiết áp lực nhóm sẽ nâng cao mức bảo đảm trả nợ,
bởi vì sự chậm trả của một cá nhân trong nhóm sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng
nhận tín dụng của các thành viên khác trong nhóm
Trang 201.2 Dịch vụ tài chính vi mô
1.2.1 Khái niệm
Theo Ledgerwood (1999), dịch vụ tài chính vi mô gồm hai dịch vụ chính đó là tiết kiệm và tín dụng Ngoài ra, một số tổ chức TCVM khác cũng cung cấp thêm các
dịch vụ như bảo hiểm và thanh toán Ngoài trung gian tài chính, nhiều tổ chức
TCVM cung cấp dịch vụ trung gian xã hội Do đó, khái niệm về tài chính vi mô
thường bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian xã hội
Dịch vụ tài chính vi mô mong muốn tiếp cận được những người phụ nữ nghèo với các dịch vụ tài chính và phi tài chính linh hoạt giúp cho họ giảm đói nghèo
(Islam, 2007)
1.2.2 Dịch vụ tín dụng
Tín dụng vi mô đơn giản chỉ là một khoản cho vay nhỏ do TCTCVM cung cấp cho người nghèo Tín dụng vi mô thường dành cho cá nhân vay, không cần tài sản
thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm Mục đích là giúp họ có thể tham
gia hoạt động sản xuất hay tiến hành kinh doanh Mục tiêu là xóa đói giảm nghèo
hiệu quả, tăng cường năng lực và khả năng hội nhập của người nghèo, giảm mức độ
tổn thương của họ trước những rủi ro và biến động của nền kinh tế (Nhóm công tác
TCVM Việt Nam, 2016)
1.2.3 Dịch vụ tiết kiệm
Huy động tiết kiệm trong thời gian gần đây được xem là một dịch vụ chính trong các tổ chức TCVM Trong quá khứ, các TCTCVM chủ yếu tập trung và tín
dụng và tiết kiệm thường bị lãng quên của trung gian tài chính (CGAP, 1999)
Tiết kiệm là điều rất cần thiết đối với mọi người trong xã hội, trong đó tiết kiệm đối với người nghèo là rất cấp thiết Tiết kiệm như là một sự thay thế cho chi
tiêu, nó bao gồm hai loại: một là tự nguyện và tùy thuộc vào khả năng kinh tế của
người gửi; hai là bắt buộc phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như lạm phát, rủi ro
an toàn vốn và an sinh xã hội (CGAP, 1999)
Tiết kiệm đóng một vai trò rất quan trọng để giúp cho người có thu nhập thấp
có thể quản lý rủi ro của họ như các cú sốc về thiên tai, bệnh tật, tử vong có thể
Trang 21ảnh hưởng xấu đến các hộ gia đình Một mặt tiết kiệm giúp cho các cá nhân, hộ gia
đình có thu nhập thấp có kế hoạch phát triển gia đình và cho con cái ăn học, có cơ
hội đầu tư và kinh doanh và tránh được những cú sốc không thường xuyên
Tiết kiệm giúp cho những hộ gia đình nghèo có thu nhập thấp phát triển được cuộc sống của họ như cho con đi học, kinh doanh, buôn bán tăng thêm thu nhập, đối
phó với những nhu cầu cấp bách của gia đình (Microinsurance Focus, 2011)
Hiện nay tại các TCTCVM tại Việt Nam thường có hai loại dịch vụ đó là tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự nguyện Đối với tiết kiệm bắt buộc thường áp dụng
đối với thành viên vay vốn thực hiện tiết kiệm bắt buộc cùng với lịch hoàn trả vốn
vay
Tiết kiệm là hoạt động luôn gắn liền với tín dụng và góp phần tạo nên thành công của tài chính vi mô Tiết kiệm không chỉ giúp tổ chức tạo nguồn bền vững, mà
quan trọng hơn là giúp cho khách hàng tạo dựng thói quen tiết kiệm, có kế hoạch
chi tiêu hợp lý và giúp họ tích luỹ tài sản
1.2.4 Dịch vụ khác
Cũng như bao người khác, những hộ gia đình nghèo cũng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính Các dịch vụ tài chính cần phải thuận tiện, linh hoạt tạo điều
kiện thuận lợi cho người nghèo dễ dàng tiếp cận và sử dụng Những người nghèo
cần rất nhiều dịch vụ tài chính, không chỉ là các khoản vay
Ngoài dịch vụ tiết kiệm thì dịch vụ bảo hiểm vi mô cũng góp phần không nhỏ cho việc giảm thiểu rủi ro trong cuộc sống cho người nghèo Tuy nhiên, về dịch vụ
tiết kiệm thì mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn các loại bảo hiểm, nhưng các loại
hình bảo hiểm lại bảo vệ họ trong những điều kiện rủi ro xảy ra không mong muốn
Hiện nay, các tổ chức tài chính vi mô cũng đã có sự liên kết giữa các sản phẩm bảo
hiểm đối với dịch vụ tín dụng và tiết kiệm Các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm
nhân thọ, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm y tế Ngoài ra, dịch vụ tài chính vi mô còn có
dịch vụ cho thuê máy móc - thiết bị, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ tư vấn tài chính
(Microinsurance Focus, 2011)
Trang 221.3 Phát triển dịch vụ tài chính vi mô
1.3.1 Khái niệm
Phát triển dịch vụ TCVM là sự gia tăng về số lượng và chất lượng, bao gồm việc mở rộng quy mô, đa dạng trong các sản phẩm dịch vụ cung cấp, trang trải được
các khoản chi phí, bền vững về hoạt động và tài chính, đóng góp ngày càng lớn
trong các hoạt động xã hội và đóng góp cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo
(Nguyễn Đức Hải, 2012)
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ tài chính vi mô
Để đánh giá được sự phát triển dịch vụ tài chính của các tổ chức TCVM, dựa theo các khuyến nghị của IFAD (Bảng 1.1) Mức độ tiếp cận là các nỗ lực để mở
rộng các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho các đối tượng có thu nhập thấp Mức
độ tiếp cận được đánh giá trên hai chiều: độ rộng tiếp cận (số lượng khách hàng
được phục vụ; số lượng, quy mô dịch vụ cung ứng) và độ sâu tiếp cận (Rủi vốn dầu
tư và tỷ lệ nợ xấu)
Bảng 1.1: Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ TCVM
Độ sâu tiếp cận
- Rủi ro vốn đầu tư (PAR) (áp dụng cho >30 ngày hoặc >91 ngày) Tối đa 10%
Tỷ suất sinh lời
- Lợi nhuận trên tài sản (ROA)
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tối thiểu 2%
Tính bền vững tài chính
- Tỷ lệ tự cung về hoạt động Tối thiểu 120%
- Tỷ lệ tự cung về tài chính Tối thiểu 100%
Độ rộng tiếp cận
- Số lượng khách hàng đang vay/số nhân viên quản lý
Không có tiêu chuẩn
- Số lượng dịch vụ cung ứng
- Số lượng và mức tăng trưởng của khách hàng
- Số lượng và mức tăng trưởng dư nợ tín dụng
- Số lượng và mức tăng trưởng tiết kiệm
Nguồn: IFAD (2000), trích lại từ Hạ Thị Thiều Dao và Lê Thị Như Thảo (2016)
Trang 23Dựa vào cơ sở lý thuyết này để đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính vi mô
và các yếu tố về môi trường, các yếu tố thuộc về tổ chức TCVM có ảnh hưởng đến
Trang 241.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ tài chính vi mô
1.3.3.1 Các yếu tố thuộc về tổ chức tài chính vi mô
Theo Legerwood (1999) để dịch vụ tài chính vi mô phát triển các TCTCVM phải tự cải thiện các yếu tố sau:
Một là, nguồn vốn
Nguốn vốn của tổ chức TCVM quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức
và đây chính là tiềm lực để đa dạng hóa và phát triển dịch vụ tài chính vi mô
Tiềm lực tài chính hay còn gọi là sức khỏe tài chính của tổ chức TCVM còn phụ thuộc vào các yếu tố như mức độ an toàn vốn như vốn chủ sở hữu, khả năng
huy động vốn, khả năng sinh lời, tỉ lệ quá hạn, tỉ lệ mất vốn
Hai là, đa dạng danh mục dịch vụ và phương thức cung ứng dịch vụ TCVM đến người sử dụng
Làm thế nào để khách hàng biết đến dịch vụ tài chính vi mô? Vì vậy, cần đa dạng danh mục dịch vụ và phương thức cung ứng dịch vụ Thông qua nhiều kênh
thông tin để khách hàng tiếp cận được dịch vụ Việc đa dạng phương thức cung ứng
dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố công nghệ do đó tổ chức TCVM cần cập nhật
công nghệ thông tin tốt từ đó sẽ có nhiều khách hàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ
Ba là, chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho sự phát dịch vụ cũng như sự phát triển của tổ chức TCVM Để phát triển được dịch vụ tốt đòi hỏi
phải có đội ngũ nhân lực có chuyên môn và kỹ năng làm việc tốt Đồng thời người
làm trong lĩnh vực TCVM đòi hỏi phải tận tâm, tận tình trong công việc vì đây là
những khách hàng “đặc biệt” không như các nghề khác Hiện nay các tổ chức
TCVM thường gặp khó khăn về nguồn nhân lực do sự canh tranh giữa NHTM và
các TCTD
Bốn là, giới thiệu quảng bá hình ảnh các TCTCVM
Việc làm này giúp cho người lao động nghèo biết đến các tổ chức TCVM, nơi
mà cung cấp các dịch vụ tài chính cần thiết và thiết yếu cho người nghèo
Trang 251.3.3.2 Các yếu tố thuộc về môi trường
Legerwood (1999) cho rằng để dịch vụ tài chính vi mô phát triển ngoài các yếu tố mà tại các TCTCVM của mình cần phải tự cải thiện, còn có các yếu tố thuộc
về môi trường (như môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô; môi trường
kinh tế)
Môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô
Hệ thống pháp lý đòi hỏi phải đầy đủ, rõ ràng cho tổ chức tài chính vi mô Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức TCVM chưa được chuyển đổi thành tổ chức tài
chính chính thức Việc chuyển đổi thành tổ chức TCVM chính thức giúp cho các tổ
chức dễ dàng phát triển và đa dạng hoá các dịch vụ cũng như đa dạng về nguồn vốn
huy động của các tổ chức TCVM Khi được hoà nhập vào thị trường tài chính chính
thức sẽ tạo ra một môi trường hoạt động và cạnh tranh lành mạnh, tào điều kiện
thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia và đầu tư vào lĩnh TCVM
Môi trường kinh tế
Cũng là yếu tố góp phần làm cho TCVM phát triển Nền kinh tế phát triển giúp đẩy mạnh nhu cầu về dịch vụ TCVM (như sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm bảo
hiểm ) cho người lao động
1.4 Các mô hình tài chính vi mô trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam
1.4.1 Mô hình Grameen Bank
Ngân hàng Grameen là tổ chức TCVM phát triển thành công nhất thế giới, đây
là mô hình mẫu cho các tổ chức TCVM trên thế giới học hỏi kinh nghiệm Ngân
hàng Grameen do Giáo sư Muhammad Yunus khởi xướng vào năm 1974 như một
dự án cung cấp dịch vụ ngân hàng cho những hộ gia đình nghèo nhất, giúp họ tự tạo
việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp tràn lan ở nông
thôn Bangladesh Mục tiêu của dự án là hỗ trợ vốn để người nghèo đầu tư vào các
hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm tăng thu nhập Điểm nhấn sáng tạo của dự án này
là mô hình “nhóm tự quản” kết nối những người vay có hoàn cảnh tương tự để họ
cùng chia sẻ trách nhiệm, sàng lọc, giám sát và quản lý lẫn nhau, giảm sự bất cân
xứng thông tin trong hoạt động tín dụng
Trang 26Hệ thống ngân hàng Grameen đã có một mạng lưới rộng khắp, gồm: Hội sở chính tại thủ đô Datka, văn phòng đại diện tại các bang hoặc vùng, với 2.568 chi
nhánh, phục vụ hơn 81.000 làng; có khoảng 22.261 nhân viên, bao phủ khắp làng
Bangladesh Tỷ lệ thành viên nữ tham gia chiếm 97%
GB đang duy trì cơ chế cho vay đối với các đối tượng: cho vay người nghèo phục hồi thu nhập với lãi suất 20%/năm; cho người nghèo vay mua nhà với lãi suất
8%/năm; cho sinh viên vay với lãi suất 0% trong thời gian học tập từ 3-5 năm, và
5%/năm sau thời gian học tập, có hơn 47 nghìn người được tham gia vay (năm
2010); cuối cùng cho vay những đối tượng rất nghèo (như người ăn xin, tàn tật, mù
lòa hoặc sức khỏe kém) với lãi suất 0%
Mặc dù phải theo đuổi chính sách cho vay nhiều người nghèo với lãi suất 0%, nhưng lợi nhuận ròng của GB năm 2013 vẫn đạt 17,14 triệu USD, năm 2014 đạt
5,63 triệu USD, năm 2015 đạt 0,31 triệu USD (Grameen, 2016)
1.4.2 Mô hình Bank Rakyat Indonesia
Bank Rakyat là một ngân hàng thuộc quyền sở hữu nhà nước, BRI chuyên phục vụ cho những khách hàng có trung bình, thấp trong xã hội và khách hàng chủ
yếu ở khu vực nông thôn Trong thời gian đầu BRI cung cấp chủ yếu là dịch vụ tín
dụng nước cho nông dân và người nghèo nhưng sau đó BRI lâm vào tình trạng phá
sản do cơ chế quản lý yếu kém, nợ quá hạn tăng cao Nhưng sau đó, BRI hoạt động
hiệu quả hơn với chính sách mới BRI tổ chức lại hoạt động thành các bộ phận riêng
biệt như: khách hàng lớn, các tổ chức; khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách
hàng nghèo, đối tượng thu nhập thấp… Mỗi loại khách hàng được áp dụng với
những mức lãi suất khác nhau Nguồn vốn huy động của BRI được huy động từ dân
cư với mục đích phục vụ cho nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng
khác Đồng thời, được sự hỗ trợ từ Chính phủ cho lĩnh vực nông nghiệp Cho nên,
tình hình tài chính của BRI được cải thiện tốt, đảm bảo khả năng thành toán và phát
triển
Ngân hàng Rakyat Indonesia chuyển từ ngân hàng hợp tác thành ngân hàng thương mại nhà nước năm 1950 Trong những năm 1970, 3600 đơn vị Desas BRI
Trang 27(ngân hàng nông thôn) được tạo ra để thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển nông
nghiệp của chính phủ và trở thành đại lý cho các chương trình cho vay có trợ cấp
của chính phủ, nhưng các đơn vị này không đạt được tính bền vững Năm 1984,
Đơn vị Desas được tái cơ cấu và tiếp cận tài chính vi mô theo hướng thương mại, áp
dụng mức lãi suất bền vững, không có trợ cấp, gia tăng hiệu quả quản lý và nỗ lực
huy động tiết kiệm, giúp BRI có lợi nhuận tài chính ngay năm sau đó Năm 2003
BRI niêm yết, và trở thành ngân hàng vi mô lớn về bền vững tài chính hàng đầu
Indonexia và khu vực (Nguyễn Văn Chiến và Nguyễn Văn Du, 2013)
Các khoản vay TCVM tại BRI cung cấp vốn lưu động, vốn đầu tư cho người vay với điều kiện bắt buộc người vay phải có thế chấp, được xác định một cách lỏng
lẻo và nới lỏng dần đối với khách hàng có uy tín BRI tập trung vào đối tượng
doanh nghiệp vừa và nhỏ Năm 2015, các khoản vay trung và dài hạn chiếm khoảng
70% tổng vốn vay của BRI ( BRI bank, 2016) Tuy nhiên đối với khách hàng là
người rất nghèo thì BRI đã bỏ qua, và không sử dụng cơ chế cho vay theo nhóm
như GB tại Bangladesh, nhưng BRI có tham gia chương trình của Chính phủ nhằm
tạo thu nhập cho người nông dân và ngư dân nhỏ, được giám sát và quản lý bởi các
chi nhánh BRI (Nguyễn Văn Chiến và Nguyễn Văn Du, 2013)
Thành công của BRI là xây dựng được mạng lưới hoạt động rộng khắp, đến cuối năm 2015 BRI có 19 văn phòng giao dịch cấp vùng, 467 chi nhánh văn phòng,
603 chi nhánh phụ, và hơn 5000 đơn vị BRI trong cả nước Dư nợ cho vay 581,09
ngàn tỷ Rp, số dư tiền gửi tiết kiệm là 669 ngàn tỷ Rp, tỷ lệ nợ xấu 2,02%, tỷ lệ an
toàn vốn là 20,59% cao hơn nhiều so với tỉ lệ quy định tối thiểu là 8% Chỉ số tài
chính của BRI cũng tương đối tốt với tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) 4,19%; Tỷ
suất sinh lời trên vốn củ sở hữu (ROE) 29,89% và lợi nhuận ròng là 25,41 ngàn tỷ
Rp (BRI bank, 2016)
1.4.3 Mô hình ngân hàng CARD-Philippines
Tiền thân của Ngân hàng CARD là một tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động về lĩnh vực TCVM và trực thuộc CARD (một quỹ xã hội ở Philippines) NGO
này thành lập năm 1989 nhằm vận dụng mô hình GB vào Philippines Tổ chức này
Trang 28đã đưa các dịch vụ TCVM đến với phụ nữ nghèo ở nông thôn và đặc biệt là những
người không có đất, giúp họ khởi nghiệp với các hoạt động sản xuất - kinh doanh
nhỏ để tăng thu nhập và nâng cao đời sống (Nguyễn Văn Chiến và Nguyễn Văn Du,
2013)
Năm 1997 CARD NGO được Ngân hàng Trung ương Philippines cấp giấy phép hoạt động như một ngân hàng nông thôn tại thành phố San Pablo Từ đó, Ngân
hàng có cơ sở pháp lý để huy động tiền gửi từ công chúng và hoạt động cho vay
Đến năm 2015, Ngân hàng này với 69 chi nhánh và 471 văn phòng phục vụ dịch vụ
TCVM, phục vụ cho 1.688.673 khách hàng, dư nợ khoảng 15 tỷ Php (khoảng 298
triệu USD), tỉ lệ hoàn trả lên đến 99,04% Ngân hàng CARD có mô hình hoạt động
tương đối giống với GB ở Bangladesh, phần lớn là người rất nghèo và không có đất
Năm 2015, Ngân hàng CARD có chỉ số tài chính khá tốt với tỷ suất sinh lời trên tài
sản (ROA) 7,3%; Tỷ suất sinh lời trên vốn củ sở hữu (ROE) 32,3% (CARD bank,
2016)
1.4.4 Bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính vi mô cho Việt Nam
Qua các mô hình TCVM thành công của các nước trên thế giới như Bangladesh, Indonesia và Philppines chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho
TCVM Việt Nam
Các ngân hàng thương mại có thể chuyển hướng tới phục vụ giống như ngân hàng vi mô của Grameen tại Bangladesh, ngân hàng Rakyat Indonesia, CARD
Philippines với những khoản cho vay nhỏ, giúp chia nhỏ rủi ro qua nhiều khách
hàng, và kinh nghiệm ở các nước trên thế giới thấy được tỷ lệ hoàn trả vốn vay
tương đối cao, tới trên 90% Tuy nhiên, để một ngân hàng vi mô hoạt động thành
công, các ngân hàng thương mại Việt Nam phải có các dịch vụ vi mô như: các
khoản cho vay nhỏ; cho vay kết hợp với gửi tiết kiệm; cho vay, gửi tiết kiệm kết
hợp với bảo hiểm đồng thời chia sẻ kiến thức về tài chính, cách thức làm ăn đối với
người nghèo Ngoài ra cần phát triển một mạng lợi rộng khắp tạo sự tiện lợi cho
giao dịch và đi lại thuận tiện cho người nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn, ở đó tập
trung nhiều người nghèo
Trang 29Tài chính vi mô tuy có nhiều dịch vụ về tài chính lẫn phi tài nhưng trong đó dịch vụ tín dụng vẫn chiếm phần lớn Vì vậy, dịch vụ TCVM chưa đáp ứng đủ nhu
cầu của những người nghèo nhất Cần xây dựng những dịch vụ kèm theo như tư
vấn, bảo hiểm, tích lũy đầu tư và các chương trình xã hội khác như tập huấn, đào
tạo về các kỹ năng trong cuộc sống như sức khỏe, tìm kiếm việc làm, hỗ trợ kỹ
thuật nông nghiệp ở vùng nông thôn là rất cần thiết cho những hộ nghèo Người
lao động nghèo cần tiếp cận những dịch vụ đa dạng với thủ tục pháp lý đơn giản
Đối với tín dụng cần có những gói cho vay phù hợp với từng đối tượng, hộ gia đình, tổ vay vốn và có một chính sách lãi suất phù hợp kết hợp với tiết kiệm và
bảo hiểm để người nghèo có được một khoản tích lũy khi hoàn trả vốn vay
Đối với tiết kiệm đây là một việc làm rất quan trọng đối với người lao động nghèo Vì vậy dịch vụ này cần phải có những chính sách đặc biệt để khuyến khích
họ tham gia
Dịch vụ TCVM có rất nhiều hoạt động, chứ không chỉ cung cấp dịch vụ tín dụng mà còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội… nhưng rất
nhiều người còn nhầm lẫn TCVM với tín dụng vi mô Mặt khác, việc cung cấp các
dịch vụ tài chính và dịch vụ xã hội không phải là một hoạt động từ thiện Hoạt động
TCVM cần áp dụng các nguyên tắc kinh doanh lành mạnh, hoạt động theo hướng
bù đắp đủ chi phí và có lãi
Qua các mô hình thành công trên thế giới cho thấy TCVM mang lại khả năng sinh lời cao không thua các ngành kinh doanh khác Điều này cho thấy TCVM có
khả năng phát triển bền vững Khả năng sinh lời của TCTCVM góp phần gia tăng
nguồn vốn, tăng số lượng khách hàng tiếp cận các dịch vụ TCVM, qua đó góp phần
xóa đói giảm nghèo, tự tạo việc làm và tăng thu nhập
Trang 30TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm , cho những cá nhân và hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm giúp họ phát
triển sản xuất, tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống Dịch vụ tài chính vi mô ra
đời giúp cho những người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp tiếp cận và sử
dụng được dịch vụ tài chính và đây cũng là công cụ giúp an sinh xã hội góp phần
tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ đói nghèo
Dịch vụ tài chính vi mô thường có hai dịch vụ cơ bản tín dụng và tiết kiệm
Ngoài ra, một số tổ chức TCVM khác cũng cung cấp thêm các dịch vụ phi tài chính
như bảo hiểm, thanh toán và các chương trình phát triển cộng đồng
Phát triển dịch vụ TCVM là việc hoàn thiện, cải tiến các dịch vụ hiện có và hình thành các dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng hiện tại của tổ chức
TCVM hoặc cho những nhóm khách hàng mới, qua đó giúp cho tổ chức TCVM
ngày càng phát triển và cạnh tranh
Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ tài chính vi mô bao gồm độ sâu tiếp cận, tỷ suất sinh lời, tính bền vững tài chính và độ rộng tiếp cận Các nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển dịch vụ tài chính vi mô bao gồm các yếu tố thuộc về tổ
chức tài chính vi mô và yếu tô môi trường hoạt động của TCVM
Đưa ra các mô hình TCVM thành công trên thế giới như Ngân hàng Grameen tại Bangladesh, ngân hàng Rakyat Indonesia, ngân hàng CARD Philippines Từ đó
rút ra bài học kinh nghiệm cho TCVM Việt Nam
Trang 31
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH VI MÔ TẠI QUỸ CEP
2.1 Tổng quan về Quỹ CEP
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Quỹ CEP
Vào đầu thập niên 90, Liên đoàn Lao động TP.HCM đã bắt đầu gắn kết các hoạt động công đoàn với hoạt động xã hội và triển khai rộng rãi trên toàn thành phố
nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo, trong đó ưu tiên tạo việc làm cho CBNV và
người lao động nghèo Tuy nhiên, một trong những trở ngại khi thực hiện hoạt động
tạo việc làm là thiếu nguồn tín dụng sẵn có để người lao động nghèo có thể bắt đầu
công việc kinh doanh nhỏ, tạo thu nhập
Liên đoàn Lao động TP.HCM đã thực hiện nhiều cuộc khảo sát, học tập những
mô hình tạo việc làm và cải thiện an sinh cho người nghèo hiệu quả của một số
quốc gia trên thế giới Trong đó, mô hình Ngân hàng Grameen của Bangladesh –
được xem là mô hình phù hợp nhất với bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam ở thời
điểm này Thông qua hoạt động cung cấp các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm nhỏ cho
các hộ gia đình nghèo ở cả nông thôn và thành thị, góp phần giảm nghèo hiệu quả
Tháng 7/1991, Liên đoàn Lao động TP.HCM đã thực hiện thí điểm một số chương trình tín dụng, tiết kiệm tại các quận/huyện đô thị và nông thôn của
TP.HCM (bao gồm quận 1, quận Gò Vấp, huyện Củ Chi và Cần giờ) theo mô hình
của Ngân hàng Grameen
Ngày 02/11/1991, Ủy ban Nhân dân TP.HCM ra quyết định cho phép Liên đoàn Lao động TP.HCM chính thức thành lập “Quỹ trợ vốn cho người lao động
nghèo tự tạo việc làm” (gọi tắt là Quỹ CEP) Mục đích của Quỹ CEP là xây dựng
mối quan hệ mật thiết với nhân dân lao động, hỗ trợ những khoản vay nhỏ giúp họ
tạo việc làm, tăng thu nhập, phấn đấu làm ăn vươn lên, cải thiện tình trạng nghèo
đói
Năm 2011 đánh dấu một chặng đường tròn 20 năm hoạt động Quỹ CEP đã cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho 208.000 thành viên thông qua
Trang 32mạng lưới 26 chi nhánh, góp phần tích cực giảm nghèo cho hàng trăm ngàn hộ gia
đình nghèo Đến năm 2015, Quỹ CEP tiếp tục phát triển bền vững và đã mở rộng
phạm vi phục vụ Quỹ CEP đã tập trung mở rộng cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho
công nhân, lao động nghèo và người có thu nhập thấp tại các khu công nghiệp, khu
chế xuất của TP.HCM và vùng ngoại thành TP.HCM, các tỉnh lân cận Quỹ CEP
cũng đã thành lập hai chi nhánh mới tại tỉnh Bến Tre và Bình Dương để tăng hiệu
quả tiếp cận cộng đồng nghèo, mở rộng mạng lưới phục vụ của CEP lên 33 chi
nhánh với 17 chi nhánh tại các quận, huyện của TP.HCM và 16 chi nhánh tại các
tỉnh Bến Tre, Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang
và Vĩnh Long (Quỹ CEP, 2016a)
2.1.2 Bộ máy tổ chức và mạng lưới của Quỹ CEP
2.1.2.1 Bộ máy tổ chức
Bộ máy tổ chức của CEP bao gồm Hội đồng Quản trị có 5 thành viên đại diện
từ các tổ chức cơ quan đoàn thể, xã hội, kinh doanh Giám đốc điều hành CEP và
Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP.HCM là thành viên HĐQT Chủ tịch Hội Đồng
Quản Trị CEP là thành viên đương nhiệm cao nhất của Ban Thường vụ LĐLĐ
TP.HCM Các thành viên HĐQT do LĐLĐ thành phố đề cử với mục tiêu duy trì sự
hiện diện của các cơ quan đoàn thể hoạt động vì lợi ích cộng đồng Cấp dưới HĐQT
là Ban Giám đốc, gồm Giám đốc và Phó Giám đốc chịu trách nhiệm về mọi hoạt
động của CEP, điều hành 6 phòng nghiệp vụ tại văn phòng chính Các phòng
nghiệp vụ giám sát và hỗ trợ mạng lưới chi nhánh Được minh họa theo hình 2.1
Trang 33Nguồn: Quỹ CEP (2016b)
Hình 2.1: Bộ máy tổ chức Quỹ CEP
trong cộng đồng dân cư
Một cụm gồm 5 đến 8 nhóm với trên 40 thành viên, mỗi cụm được công nhận như là một đơn vị của chi nhánh Cụm trưởng chịu trách nhiệm hướng dẫn và quản
lý hoạt động tín dụng, tiết kiệm của nhóm và đảm bảo hiệu quả hoạt động của cụm
Số thành viên nhóm có thể khác nhau, đối với loại hình nhân dân lao động từ 5 đến 8 thành viên (thường là 5), đối với loại hình công nhân viên từ 10 đến 30 thành
viên
Mỗi thành viên của CEP được chọn trên cơ sở có thu nhập hàng tháng, phân loại tài sản theo giá trị và phân loại chỉ số về nhà cửa với ưu tiên cho những khách