ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH TRẦN LỢI PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH Ngành QUẢN TRỊ KINH DOANH Mã ngành 9340101[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
TRẦN LỢI
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA THANH NIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH
Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã ngành: 9340101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH
QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRÀ VINH, NĂM 2023
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Trà Vinh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Nguyễn Đoan Khôi
Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp
trường, họp tại: Trường Đại học Trà Vinh
Vào lúc giờ ngày … tháng … năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc gia;
Thư viện Trường Đại học Trà Vinh
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập hiện nay, một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển đất nước là sự tăng lên về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Vì thế, khởi nghiệp đang là chủ đề rất được quan tâm của chính phủ, với mục tiêu tăng tỷ lệ doanh nghiệp/dân số Việt Nam, đặc biệt là thúc đẩy sự tạo lập doanh nghiệp trong giới trẻ (Cục Phát triển Doanh nghiệp, 2017)
Chính phủ cũng đã có chính sách khuyến khích và thúc đẩy thành lập doanh nghiệp và trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như sự tích cực triển khai các hoạt động trợ giúp doanh nghiệp như việc thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân dân Lý giải cho tình trạng chỉ thích làm thuê, không thích làm chủ của thanh niên, có ý kiến cho rằng, chương trình giáo dục phổ thông và đại học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu kiến thức về khởi nghiệp tại Việt Nam Chính vì những lý do đó, thanh niên Việt Nam thiếu kiến thức, thiếu tự tin và tầm nhìn cần thiết để khởi nghiệp
Vậy thì câu hỏi quản lý được đặt ra là các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, gia đình và xã hội cần làm gì để thanh niên Việt Nam nói chung
và thanh niên Tỉnh Trà Vinh có niềm đam mê và tự tin khởi nghiệp Xuất phát từ câu hỏi này thì nghiên cứu về “Phân tích các yếu tố tác động đến
ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” là rất cần thiết và được lựa chọn để thực hiện luận án Tiến sĩ Quản trị kinh doanh
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tỉnh Trà Vinh và đề xuất các hàm ý quản trị để nâng cao ý định khởi nghiệp trong thời gian tới
Trang 41.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: phân tích các yếu tố tác động đến ý định
khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Đối tượng khảo sát: nghiên cứu tập trung vào đối tượng
thanh niên theo Luật Thanh niên, là các thanh niên có tuổi từ 18 đến
34 tuổi
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào các cá nhân thanh niên
chưa khởi nghiệp ở Trà Vinh và có ý định khởi nghiệp, bao gồm cả người dân tộc Khmer Luận án phân tích và đo lường các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại tỉnh Trà Vinh; từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị để nâng cao ý định khởi nghiệp trong thời gian tới
Thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên
cứu từ năm 2017 – 2020, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để kiểm định
mô hình thông qua hai giai đoạn: (1) nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ nhằm kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung và chuẩn hóa thang
đo (2) Phương pháp nghiên cứu định lượng chính thức nhằm kiểm định các giả thuyết
- Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận với 2 nhóm: Nhóm 1 gồm 8 chuyên gia trong lĩnh vực khởi nghiệp; Nhóm 2 gồm 10 thanh niên đã khởi nghiệp
- Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện qua điều tra khảo sát Nghiên cứu định lượng sơ bộ thông qua phỏng vấn trực tiếp với mẫu nghiên cứu vừa đủ theo phương pháp thuận tiện (110 thanh niên) Khảo sát chính thức được thực hiện bằng bảng câu hỏi soạn sẵn đối với các thanh niên tại tỉnh Trà Vinh Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với 400 quan sát được thu thập, được phân bổ tại các địa bàn có tỷ lệ người dân tộc khá cao, đặc thù của tỉnh Trà Vinh
Trang 5CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 KHỞI NGHIỆP (ENTREPRENEURSHIP)
Khái niệm về khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách
tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau Theo Richard (1734), Khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa Khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy
và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp
sự chấp nhận rủi ro, sáng tạo hoặc sự cải tiến trong một tổ chức mới đang tồn tại” – theo Ủy ban cộng đồng Châu Âu (2003) Oviatt & McDougall (2005) thì cho rằng Khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm
và dịch vụ trong tương lai
Khởi nghiệp (từ tiếng Anh là Entrepreneurship) được định nghĩa
là một quá trình thiết kế, thử nghiệm và vận hành một cơ sở (ý tưởng) kinh doanh, thường mới khởi đầu ở dạng quy mô nhỏ (Yetisen et al., 2015) Xem xét từ góc độ cá nhân, khởi nghiệp được định nghĩa là năng lực và sự sẵn sàng để phát triển, tổ chức và quản lý một doanh nghiệp bằng cách chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận (Albadri & Nasereddin, 2019)
2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG
2.2.1 Doanh nhân khởi nghiệp (Entrepreneurs)
Có 02 cách tiếp cận chính khi định nghĩa về doanh nhân khởi nghiệp Một là cách tiếp cận về đặc điểm cá nhân của người khởi nghiệp Hai là cách tiếp cận hành vi
2.2.2 Lý thuyết tâm lý học
Lý thuyết tâm lý học tập trung vào khía cạnh tinh thần hoặc cảm xúc của một cá nhân hướng đến hành vi khởi nghiệp, trong đó có nhấn mạnh vai trò đặc điểm cá nhân của người khởi nghiệp đối với hành vi này (Landström, 2010)
2.2.3 Lý thuyết xã hội học
Lý thuyết này cho rằng ngữ cảnh (môi trường kinh doanh, chính trị, luật pháp, văn hóa) và mạng lưới xã hội có tác động đến tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của doanh nhân (Granovetter, 1985, 1992; Thornton et al., 2011)
Trang 62.2.4 Lý thuyết kinh tế học
Một trong những lý thuyết kinh tế học và hành vi khởi nghiệp điển hình là lý thuyết giá trị kỳ vọng được xây dựng lần đầu tiên bởi Feather (1982, 1992) Lý thuyết giá trị kỳ vọng còn được gọi là lý
thuyết động cơ (Cognitive-motivational theory) có liên quan đến mức
độ kỳ vọng của cá nhân với giá trị mong đợi (có thể tích cực hoặc tiêu
cực) nhằm hướng đến mục tiêu cụ thể
2.2.5 Lý thuyết nguồn lực khởi nghiệp
Lý thuyết khởi nghiệp dựa trên nguồn lực cho rằng việc tiếp cận nguồn lực của các nhà sáng lập là một yếu tố tiên lượng quan trọng về hành vi khởi nghiệp do xét thấy cơ hội và tăng trưởng do sự gắn kết được với nguồn lực (mới) mang lại (Alvarez & Busenitz, 2001)
2.2.6 Lý thuyết ý định khởi nghiệp
Lý thuyết này có tương quan mật thiết với tiến trình tạo lập rủi
ro kinh doanh và phù hợp với động cơ khởi nghiệp dựa trên nhu cầu cần thiết Theo lý thuyết này, doanh nhân khởi nghiệp sẽ phát triển ý định khởi nghiệp được tích lũy từ sự tự nhận thức về tư duy và hành động tùy thuộc vào khả năng thích nghi Khả năng thích nghi
(Adaptability) được định nghĩa là năng lực tự điều chỉnh để phù hợp
với tình huống mới (Merriam-Webster, 1987)
Ý định khởi nghiệp (tiếng Anh là Entrepreneurial Intention)
được định nghĩa là ý định bắt đầu khởi sự kinh doanh của một cá nhân, một trạng thái thúc đẩy cá nhân đi đến quyết định thành lập doanh nghiệp mới (Wu & Wu, 2008;Miranda et al., 2017)
2.3 CÁC KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
Nguồn gốc nghiên cứu tập trung về ý định khởi nghiệp (entrepreneurial intent – EI) được viết bởi 1 chuỗi bài báo do Shapero (1975), Shapero & Sokol (1982), Bird (1988), và Katz & Gartner (1988) (Christopher Shlaegel & Michael Koning, 2014) Ý định Khởi nghiệp là một phạm trù phức tạp liên quan tới nhiều hoạt động như nhận biết và đánh giá cơ hội, động cơ, tìm kiếm và phân bổ nguồn lực, chấp nhận rủi ro, sáng tạo giải quyết vấn đề, quản trị doanh nghiệp (Ajzen, 1987)
Trang 72.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Bảng 2.1 Lược khảo tóm tắt công trình nghiên cứu liên quan đến ý định khởi nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy
“sự hình thành ý định khởi nghiệp là quá trình phức tạp, cần kết hợp các mô hình ý định truyền thống và một số lý thuyết mới với mô hình truyền thống để giải thích tốt hơn”
Fitzsimmons &
Douglas (2011);
Lý thuyết dự định hành vi (TPB) Ajzen (1991); Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (Krueger & cộng sự, 2000)
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Krueger & cộng sự, (2000) và chỉ dừng lại ở mức độ tương tác giữa nhận thức mong muốn khởi nghiệp và tính khả thi đến biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp
Nabi & Liñán (2013)
Lý thuyết dự định hành vi (TPB) Ajzen (1991)
Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh suy thoái, rủi ro trong kinh doanh đang xảy ra,
và đây là 1 gợi ý rất thú vị, vì suy thoái có thể vừa là cơ hội vừa là nguy cơ tùy thuộc vào tâm thế của nhà khởi nghiệp
Bhandari (2012) ;
Hadjimanolis &
Poutziouris (2011)
Lý thuyết dự định hành vi (TPB) Ajzen (1991)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa nền tảng gia đình và ý định khởi nghiệp Nghiên cứu này tập trung nhiều vào đặc tính nhân khẩu học của thanh niên tác động đến ý định khởi nghiệp
Kết quả chỉ rõ mối quan hệ giữa nền tảng giáo dục và ý định khởi nghiệp Các kết quả thực nghiệm cho rằng: “có khác biệt về thái độ và ý định khởi nghiệp khi tham gia vào các chương trình giáo dục khởi nghiệp”
Trang 8Nghiên cứu Lý thuyết nền Nhận xét
Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa yếu tố kinh nghiệm khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp
Qua kết quả nghiên cứu chỉ ra yếu tố kinh nghiệm là một gợi
ý cần thiết để hình thành nên thái độ gắn kết với khởi nghiệp cho luận án này
Choo & Wong
(2006)
Lý thuyết dự định hành vi (TPB) Ajzen (1991)
Rào cản khởi nghiệp là 1 trong những yếu tố thường xuyên xuất hiện trong quá trình khởi nghiệp, tuy vây,
rào cản có thể biến thành cơ
hội hoặc nguy cơ tùy thuộc vào tư duy của nhà khởi nghiệp (Nabi & Liñán, 2013) Một số người sẽ xem
đó là cơ hội, một số khác xem là nguy cơ Nếu là cơ hội sẽ tác động thuận chiều đến ý định khởi nghiệp, nếu nguy cơ thì sẽ tác động ngược chiều đến ý định” Vì vậy, nghiên cứu này chỉ thấy được nguy cơ mà không thấy được cơ hội, và khi đó vai trò của yếu tố động cơ khởi nghiệp sẽ quyết định trong trường hợp
này
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Tóm lại: Qua lược khảo các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp,
tác giả luận án có cùng quan điểm với Ajzen (1991) và Nabi & Liñán (2013) Theo đó, để có thể trở thành một nhà khởi nghiệp thì trước tiên
Trang 9họ phải có tâm thế, động cơ khởi nghiệp và cả tính chấp nhận rủi ro Dựa vào các kết quả được lược khảo, nghiên cứu mô hình hóa mối quan hệ giữa các nhân tố: tâm thế khởi nghiệp, giáo dục khởi nghiệp, sự đam mê, động cơ khởi nghiệp, rào cản khởi nghiệp, môi trường thể chế, giáo dục khởi nghiệp, hành vi khởi nghiệp và sự sẵn sàng kinh doanh
2.5 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Kết quả tổng quan các nghiên cứu của quốc tế và trong nước cho thấy ý định khởi nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó,
tập trung vào các nhân tố như: thái độ khởi nghiệp, động cơ khởi
nghiệp, hành vi khởi nghiệp, giáo dục khởi nghiệp, các đặc điểm cá nhân, kinh nghiệm khởi nghiệp, các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh Bên cạnh những yếu tố có tính đồng nhất về kết quả nghiên
cứu như thái độ và nhận thức (Elfving và cộng sự, 2009; Shariff và Saud, 2009); thì các yếu tố khác vẫn chưa có sự thống nhất về kết quả nghiên cứu như: hành vi khởi nghiệp (Ruhle và cộng sự, 2010; Paco và cộng sự, 2011), giáo dục khởi sự kinh doanh (Johansen và Schanke, 2013; Gorman và cộng sự, 1997), đặc điểm cá nhân (Tong
và cộng sự, 2011), kinh nghiệm khởi nghiệp (Basu và Virick, 2008; Davidsson, 1995), Chính sách hỗ trợ từ Chính phủ đối với khởi sự kinh doanh (Lüthje và Frank, 2003), giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn (BarNir và Watson, 2011; và Shinnar và Giacomin, 2012)
Lý thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen (1991), có nhấn mạnh vai trò đặc điểm cá nhân của doanh nhân khởi nghiệp là quan trọng như thái độ, quy chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi có tác động đến ý định khởi nghiệp và được thực hiện ở nhiều nơi như ở Việt Nam (Phan Anh Tú & Giang Thị Cẩm Tiên, 2014), Nam Phi (Nieuwenhuizen & Swanepoel, 2015), Malaysia (Kadir et al., 2012), Scandinavia và Mỹ (Autio et al., 2001), hay Nauy (Kolvereid, 1996), thế nhưng lý thuyết này đã bỏ qua hoặc ít nhắc đến vai trò quan trọng của yếu tố ngữ cảnh, chẳng hạn như môi trường giáo dục khởi nghiệp, môi trường kinh doanh, đặc điểm gia đình (Kolvereid, 1996; Carr & Sequeira, 2007; Walter & Dohse, 2009)
Ngoài ra, kết quả tổng quan nghiên cứu cho thấy, trong các mô hình nghiên cứu trước đây, yếu tố “sự hỗ trợ của chính phủ” ít được đưa vào kiểm chứng Một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề này nhưng trong các bối cảnh xã hội khác nhau, dẫn đến những kết luận khoa học mang tính riêng biệt phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội
Trang 102.6 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tác giả tổng hợp và điều chỉnh)
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1.1 Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu sơ bộ bao gồm nghiên cứu sơ bộ định tính khám phá các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tỉnh Trà Vinh Nghiên cứu sơ bộ định tính điều chỉnh từ các thang đo đã có của các nghiên cứu trước và nghiên cứu sơ bộ định lượng để xây dựng bảng câu hỏi khảo sát dùng cho nghiên cứu chính thức
Ý định khởi nghiệp
Sự đam mê khởi nghiệp
Sự sẳn sàng kinh doanh
Kinh nghiệm kinh doanh
Tâm thế khởi nghiệp
Môi trường thể chế
Hành vi khởi nghiệp
Giáo dục khởi nghiệp
Động cơ khởi nghiệp
Rào cản khởi nghiệp
Các biển kiểm soát: Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ giáo dục, nền tảng gia đình
Trang 113.1.1.2 Nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức sử dụng cách hỏi trực tiếp 400 thanh niên chưa từng khởi nghiệp và có ý định khởi nghiệp Mẫu cho nghiên cứu định lượng chính thức được chọn theo cách lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất Dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát định lượng chính thức trước tiên được xử lý bằng phần mền SPSS 16.0 để đánh giá hệ số Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Sau đó, phân tích hồi qui tương quan được sử dụng để kiểm định mô hình lý thuyết
và các giả thuyết về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên
3.1.2 Quy trình nghiên cứu
Qui trình nghiên cứu được thực hiện như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Đề xuất của tác giả)
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng bảng câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính
Mô hình Nghiên cứu
dự kiến
Mô hình và Thang đo chính thức
Cơ sở lý thuyết
và các mô hình nghiên cứu trước
-Khảo sát bằng bảng câu hỏi trực tiếp
-Phân tích số liệu:
+ Kiểm định Cronbach’s Alpha + Phân tích nhân tố khám phá EFA
+ Phân tích hồi quy + T-test, ANOVA Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và hàm ý quản trị
Trang 123.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ định tính và điều chỉnh thang đo gốc
Thang đo trong luận án này được xây dựng dựa vào các lý thuyết
về ý định khởi nghiệp Nội dung bảng hỏi được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với ngữ cảnh khởi nghiệp tại Việt Nam dựa vào nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm tập trung với 2 nhóm (chuyên gia và thanh niên đã khởi nghiệp)
3.2.2 Kết quả nghiên cứu sơ bộ định tính và điều chỉnh thang đo
Thông qua các thang đo của các nghiên cứu lặp lại, người phỏng vấn sẽ được hỏi về tính rõ nghĩa của câu hỏi và tự chọn các biến phù hợp với quan điểm của mình Các biến của 1 khái niệm sẽ được chọn theo nguyên tắc các biến quan sát có nhiều người chọn nhất Các biến quan sát không có người chọn hoặc có ít người chọn sẽ không được đưa vào thang đo
3.2.3 Nghiên cứu sơ bộ định lượng
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp các thanh niên tỉnh Trà Vinh thông qua bảng câu hỏi chi tiết Mẫu nghiên cứu sơ bộ định lượng có kích thước n = 110 và được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện
3.2.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo
Nguyên tắc kiểm định các biến
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo
Bảng 3.20 Thống kê các biến trong mô hình sau khi phân tích Cronbach’s Alpha
Alpha
1 EP: Sự đam mê khởi
nghiệp EP1, EP2, EP3 0,816
4 EE: Tâm thế khởi nghiệp EE1, EE2, EE3, EE4, EE5 0,882
5 IE: Môi trường thể chế IE1, IE2, IE3, IE4, IE5,
IE6, IE7 0,887
6 EB: Hành vi khởi nghiệp EB1, EB2, EB3, EB4,
EB5, EB6 0,890
Trang 13STT Thang đo Biến đặc trưng Cronbach’s
10 EI: Ý định khởi nghiệp EI1, EI2, EI3, EI4, EI5 0,826
(Nguồn: Thống kê của tác giả)
3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Sau khi tiến hành nghiên cứu định tính để xác định các yếu tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp thanh niên, các biến quan sát của thang đo đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn tại Trà Vinh Kết quả thang đo các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên
3.4 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC
Nghiên cứu chính thức được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu
để kiểm chứng thang đo và các giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên phiếu điều tra với bảng câu hỏi chi tiết trên mẫu đã chọn Tác giả phỏng vấn trực tiếp thanh niên chưa khởi nghiệp tại tỉnh Trà Vinh, sau đó sẽ thu lại bảng câu hỏi để tiến hành phân tích
3.5 XÂY DỰNG BẢNG CÂU HỎI
Để tiến hành thực hiện nghiên cứu định lượng, tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi phục vụ điều tra
3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Phân tích thống kê: Các phương pháp thống kê được sử dụng
trong đề tài như sau: Sử dụng phương pháp đồ thị, phương pháp phân tích thống kê mô tả với các chỉ tiêu như: tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn
Phương pháp đồ thị: Theo Mai Văn Nam (2008), định nghĩa
rằng phương pháp đồ thị là phương pháp trình bày và phân tích các thông tin thống kê bằng các biểu đồ, đồ thị và bản đồ thống kê
Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Theo Mai Văn Nam
(2008), định nghĩa rằng phương pháp phân tích thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình