1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lý thuyết thống kê (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Trung cấp) - Trường Cao đẳng Cơ điện Xây dựng Việt Xô

79 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Lý thuyết thống kê (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Trung cấp)
Tác giả Ths. Đỗ Văn Mạnh, Các giảng viên trong khoa kinh tế
Trường học Trường Cao Đẳng Cơ Điện Xây Dựng Việt Xô
Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC (0)
    • 1. Sự ra đời và phát triển của thống kê học (7)
    • 2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học (9)
    • 3. Cơ sở lý luận của thống kê học (11)
    • 4. Cơ sở phương pháp luận của thống kê học (11)
    • 5. Nhiệm vụ của thống kê học (11)
    • 6. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học (11)
      • 6.1. Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê (11)
      • 6.2. Tiêu thức thống kê và trị số tiêu thức thống kê (13)
      • 6.3. Chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê (13)
    • 7. Bảng thống kê và đồ thị thống kê (15)
      • 7.1. Bảng thống kê (15)
      • 7.2. Đồ thị thống kê (20)
  • CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ (22)
    • 1. Điều tra thống kê (22)
      • 1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê (22)
      • 1.2. Các loại điều tra (23)
      • 1.3. Các phương pháp điều tra thống kê (25)
      • 1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê (25)
      • 1.5. Sai số trong điều tra thống kê (27)
    • 2. Tổng hợp thống kê (27)
      • 2.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ tổng hợp thống kê (27)
      • 2.2. Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê (28)
      • 2.3. Tổ chức tổng hợp thống kê (28)
    • 3. Phân tích và dự đoán thống kê (29)
      • 3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích thống kê (29)
      • 3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê (29)
  • CHƯƠNG 3: PHÂN TỔ THỐNG KÊ (31)
    • 1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tổ thống kê (31)
      • 1.1. Khái niệm (31)
      • 1.2. Ý nghĩa (32)
      • 1.3. Nhiệm vụ (32)
    • 2. Tiêu thức phân tổ (32)
    • 3. Xác định số tổ cần thiết (33)
      • 3.1. Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính (tiêu thức chất lượng) (33)
      • 3.2. Phân tổ theo tiêu thức số lượng (33)
    • 4. Chỉ tiêu giải thích (36)
      • 4.1. Khái niệm (36)
      • 4.2. Ý nghĩa (37)
      • 4.3. Cơ sở chọn đúng các chỉ tiêu giải thích (37)
    • 5. Phân tổ liên hệ (37)
  • CHƯƠNG 4: CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ - XÃ HỘI (40)
    • 1. Số tuyệt đối trong thống kê (40)
      • 1.1. Khái niệm số tuyệt đối (40)
      • 1.2. Ý nghĩa của số tuyệt đối (40)
      • 1.3. Đặc điểm của số tuyệt đối (41)
      • 1.4. Đơn vị đo lường số tuyệt đối (41)
      • 1.5. Các loại số tuyệt đối (41)
    • 2. Số tương đối trong thống kê (43)
      • 2.1. Khái niệm số tương đối (43)
      • 2.2. Ý nghĩa của số tương đối (44)
      • 2.3. Đặc điểm số tương đối (44)
      • 2.4. Hình thức biểu hiện số tương đối (44)
      • 2.5. Các loại số tương đối (45)
      • 2.6. Điều kiện vận dụng số tương đối và số tuyệt đối (48)
    • 3. Số bình quân trong thống kê (48)
      • 3.1. Khái niệm số bình quân (48)
      • 3.2. Ý nghĩa số bình quân (48)
      • 3.3. Đặc điểm số bình quân (49)
      • 3.4. Các loại số bình quân (49)
      • 3.5. Một số điều cần lưu ý khi tính số bình quân (55)
  • CHƯƠNG 5: SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ – XÃ HỘI (59)
    • 1. Dãy số thời gian (59)
      • 1.1. Khái niệm, ý nghĩa (59)
      • 1.2. Các loại dãy số thời gian (60)
      • 1.3. Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian (60)
      • 1.4. Các phương pháp dự đoán thống kê theo dãy số thời gian (66)
    • 2. Chỉ số thống kê (66)
      • 2.1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm chỉ số thống kê (66)
      • 2.2. Phân loại chỉ số (68)
      • 2.3. Các ký hiệu thường dùng khi tính chỉ số (68)
      • 2.4. Phương pháp tính chỉ số (68)
      • 2.5. Hệ thống chỉ số (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC

Sự ra đời và phát triển của thống kê học

Trong cơ chế kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh và quản lý phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức, yêu cầu họ nâng cao trình độ thống kê Kiến thức này là điều kiện thiết yếu để cạnh tranh, giúp nghiên cứu xu hướng và dự báo mức cung cầu, từ đó đưa ra quyết định tối ưu trong hoạt động kinh doanh.

Thuật ngữ “Thống kê” được sử dụng và hiểu theo nghĩa:

Thống kê là quá trình thực tiễn bao gồm việc thu thập, tích lũy, xử lý và phân tích dữ liệu số, phản ánh các đặc trưng về dân số, văn hóa, giáo dục và các hiện tượng khác trong đời sống xã hội.

Thống kê là một môn khoa học chuyên nghiên cứu các hiện tượng trong đời sống xã hội thông qua các số liệu Nó đóng vai trò quan trọng như một công cụ trong việc lập kế hoạch và dự báo cho các nhà kinh doanh, nhà quản trị, và chuyên gia kinh tế.

Khoa học thống kê và thực tiễn có mối liên hệ chặt chẽ, trong đó khoa học thống kê sử dụng dữ liệu thực tế từ các cuộc điều tra để phân tích và nhận định về hiện tượng nghiên cứu Ngược lại, lý thuyết thống kê được áp dụng trong các hoạt động thực tiễn để giải quyết các vấn đề quản lý cụ thể Sự ghi chép và tính toán về dân số, nô lệ và tài sản đã diễn ra từ thế kỷ 23 trước Công nguyên, đặc biệt là trong thời kỳ La Mã cổ đại, cùng với sự phát triển của xã hội và hàng hóa.

Thị trường toàn cầu hiện nay đang phát triển mạnh mẽ, yêu cầu thông tin thống kê ngày càng cao Phạm vi của thống kê không ngừng mở rộng, dẫn đến sự cải tiến trong các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu Sự đa dạng trong các hoạt động thống kê thể hiện rõ nét nhờ vào việc tích hợp nhiều nguyên lý, từ đó hình thành nên khoa học thống kê.

Nền tảng của khoa học thống kê được xây dựng bởi nhà kinh tế học người Anh William Petty (1623 – 1687), thông qua các tác phẩm như “Số học chính trị” và “Sự khác biệt về tiền tệ” K Marx đã công nhận Petty là người sáng lập môn thống kê học, khi ông thiết lập một hướng nghiên cứu khoa học liên quan đến “số học chính trị”.

Một hướng nghiên cứu cơ bản khác cũng làm khoa học thống kê phát triển đó là hướng nghiên cứu của nhà khoa học người Đức G.Conbring (1606 –

Vào năm 1681, ông đã tiến hành xử lý và phân tích hệ thống mô tả chế độ Nhà nước Học trò của ông, giáo sư luật và triết học G Achenwall (1719 – 1772), lần đầu tiên giảng dạy môn "Statistics" tại trường Tổng hợp Marburg vào năm 1746 Khóa học này tập trung vào việc mô tả tình hình chính trị và các sự kiện quan trọng của Nhà nước Số liệu về Nhà nước được tìm thấy trong tác phẩm của M.B Lomonosov (1711 – 1765), trong đó các vấn đề như dân số, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, của cải và hàng hóa được minh họa bằng các số liệu thống kê Hướng phát triển này của thống kê được gọi là thống kê mô tả.

Sau đó, Giáo sư trường Đại học tổng hợp Gettinggen A Slier ( 1736 –

Ông cho rằng thống kê không chỉ phản ánh chế độ chính trị của Nhà nước mà còn bao gồm toàn bộ xã hội như là đối tượng nghiên cứu của thống kê.

Sự phát triển của thống kê được thúc đẩy bởi nhiều nhà khoa học lý thuyết và thực nghiệm, trong đó có nhà thống kê người Bỉ A Kettle (1796 – 1874), người đã có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết ổn định của các chỉ số thống kê.

Xu hướng toán học trong thống kê được hình thành từ những nghiên cứu của các nhà khoa học như Francis Galton, K Pearson, V.S Gosset và R.A Fisher Galton là người tiên phong trong lĩnh vực thống kê tại Anh, ông đã giới thiệu khái niệm về hệ thống tương hỗ và phương pháp thăm dò thống kê để đánh giá hiệu quả của việc cầu kinh Cùng với Pearson, ông đã thành lập tạp chí sinh trắc học dựa trên mô hình thống kê của mình Gosset đã phát triển lý thuyết chọn mẫu nhỏ, giúp rút ra kết luận chính xác từ các hiện tượng nghiên cứu Fisher đã phân chia các phương pháp phân tích số lượng và phát triển các kỹ thuật thống kê để so sánh trung bình của hai mẫu, từ đó xác định sự khác biệt có ý nghĩa M Mitrel cũng đã đóng góp ý tưởng về "phong vũ biểu kinh tế" Tất cả những đóng góp này tạo nên cơ sở lý thuyết cho xác suất thống kê, một trong những ngành toán ứng dụng quan trọng.

Góp phần quan trọng cho sự phát triển của thống kê là các nhà khoa học thực nghiệm; ở thế kỷ XVIII, trong công trình khoa học của I.C Kirilov (1689 –

Vào thế kỷ XVIII, V.N Tatisev (1686 – 1750) đã xem thống kê chủ yếu như một ngành khoa học mô tả Tuy nhiên, đến thế kỷ XIX, khoa học thống kê đã phát triển thành một lĩnh vực có ý nghĩa nhận thức sâu sắc, được thể hiện qua tác phẩm của V.S Porosin (1809 – 1868).

“Nghiên cứu nhận xét về nguyên lý thống kê” đã nhấn mạnh: “Khoa học thống kê không chỉ giới hạn ở việc mô tả” Còn I.I.Srezenev (1812-1880) trong quyển

Trong bài viết “Kinh nghiệm về đối tượng, các đơn vị thống kê và kinh tế chính trị”, đã nêu rõ rằng thống kê thường phát hiện ra những tiêu chuẩn hoá trong nhiều trường hợp ngẫu nhiên Nhà thống kê học nổi tiếng D.P Jurav (1810-1856) trong nghiên cứu của mình về “Nguồn gốc và ứng dụng của số liệu thống kê” đã khẳng định tầm quan trọng của việc hiểu rõ các tiêu chuẩn này.

“Thống kê là môn khoa học về các tiêu chuẩn của việc tính toán”

Trong nghiên cứu của giáo sư A.A Truprov (1874-1926) tại trường đại học Bách khoa Peterbur, thống kê được coi là phương pháp quan trọng để nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội với quy mô lớn.

Lịch sử phát triển thống kê cho thấy rằng thống kê là một môn khoa học, hình thành và phát triển từ việc tích lũy kiến thức của nhân loại Nó được rút ra từ kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, giúp con người quản lý xã hội hiệu quả hơn.

Để chuẩn bị thông tin chính xác và đầy đủ cho hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị và chuyên viên kinh tế cần trang bị kiến thức thống kê, bao gồm nhiều môn học Trước tiên, lý thuyết thống kê là môn cơ sở thiết yếu cho nghiên cứu và thống kê kinh tế xã hội, bên cạnh đó, các môn thống kê chuyên ngành cũng rất quan trọng.

Đối tượng nghiên cứu của thống kê học

- Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình KT - XH Các hiện tượng và quá trình này bao gồm: dụng sản phẩm xã hội

Nghiên cứu về đời sống và sinh hoạt của nhân dân bao gồm các khía cạnh như trình độ văn hóa, tình hình sức khỏe, cũng như các hoạt động chính trị và xã hội.

Phạm vi nghiên cứu của thống kê học tập trung vào các hiện tượng sản xuất, không bao gồm các hiện tượng tự nhiên và vấn đề kỹ thuật Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, thống kê học cần xem xét những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kỹ thuật đối với sự phát triển của sản xuất.

Thống kê học nghiên cứu mối quan hệ giữa mặt lượng và mặt chất của các hiện tượng và quá trình cụ thể, vì mọi sự vật và hiện tượng sản xuất đều có sự gắn kết chặt chẽ giữa hai yếu tố này.

Mặt lượng là yếu tố quan trọng phản ánh qui mô và tốc độ phát triển của sự vật Chẳng hạn, nó giúp nghiên cứu qui mô sản xuất của một xí nghiệp thông qua số lượng công nhân và sản phẩm sản xuất hàng ngày, cũng như phân tích kết cấu công nhân trong doanh nghiệp.

Mặt chất giúp chúng ta nhận diện và phân biệt sự vật với những sự vật khác Chẳng hạn, trong nghiên cứu về chế độ sản xuất và chế độ phục vụ, việc hiểu rõ mặt chất là rất quan trọng.

- Thống kê nghiên cứu hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn

Hiện tượng phát sinh và phát triển chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả những yếu tố tất nhiên quy định bản chất và những yếu tố ngẫu nhiên có thể dẫn đến hiểu sai lệch Để làm rõ bản chất của hiện tượng, cần nghiên cứu một số lượng lớn các hiện tượng kinh tế xã hội, từ đó giúp yếu tố tất nhiên được bộc lộ và xác định bản chất, trong khi loại trừ các yếu tố ngẫu nhiên.

+ Bên cạnh đó thống kê cũng nghiên cứu các hiện tượng cá biệt nhằm phát huy những hiện tượng tiên tiến, đồng thời khắc phục những nhược điểm

- Thống kê nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội qua những điều kiện về thời gian và địa điểm cụ thể

Hiện tượng kinh tế xã hội chỉ bộc lộ bản chất của nó trong những thời gian và địa điểm cụ thể, do đó, số liệu thống kê trở nên có ý nghĩa quan trọng Tính cụ thể và chính xác của số liệu thống kê là yếu tố then chốt để hiểu rõ các hiện tượng này.

Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng:

Cơ sở lý luận của thống kê học

- Các học thuyết kinh tế

- Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Cơ sở phương pháp luận của thống kê học

Thống kê học lấy chủ nghĩa duy vật làm cơ sở phương pháp luận, điều đó được thể hiện trên các phương diện:

- Phương pháp xem xét và đánh giá quá trình hoạt động của DN trong trạng thái động

- Xem xột mối quan hệ biện chứng, quan hệ nhõn quả

- Xây dựng các phương pháp đo lường, các công thức tính toán mang tính hệ thống, logíc…

Nhiệm vụ của thống kê học

Phản ánh chính xác các hiện tượng kinh tế, chính trị và xã hội là rất quan trọng, giúp các cơ quan, Đảng và Nhà nước quản lý và lãnh đạo hoạt động hiệu quả hơn.

Tổng kết và đánh giá những thành tựu trong phát triển kinh tế và xã hội của doanh nghiệp, ngành nghề, cũng như từng địa phương, đóng góp quan trọng vào việc tổng kết thành tựu phát triển trên các lĩnh vực của đất nước.

Cung cấp số liệu cần thiết cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của doanh nghiệp, ngành, địa phương và quốc gia, đồng thời kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch qua từng giai đoạn.

- Đảm bảo tài liệu cho việc thông tin, tuyên truyền, động viên thi đua trong DN, trong ngành và trên toàn quốc.

Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học

6.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là một hiện tượng kinh tế xã hội lớn, bao gồm các đơn vị hoặc phần tử cá biệt cần được quan sát và phân tích về mặt lượng.

+ Tổng thể CNV trong 1 DN

+ Tổng thể sinh viên trong 1 lớp, 1khoá, 1 ngành

* Phân loại tổng thể thống kê

Tổng thể bộc lộ là tập hợp các đơn vị mà chúng ta có thể quan sát hoặc nhận biết trực tiếp, chẳng hạn như tổng thể nhân khẩu hoặc tổng thể các trường đại học tại Việt Nam.

Tổng thể tiềm ẩn là tập hợp các đơn vị mà chúng ta không thể quan sát hoặc nhận biết trực tiếp Để xác định tổng thể này, cần sử dụng một hoặc một số phương pháp trung gian, ví dụ như tổng thể những người yêu thích nghệ thuật cải lương, những người mê tín dị đoan, hay những người trung thành với Tổ quốc.

Tổng thể đồng chất là tập hợp các đơn vị tương đồng về một hoặc một số đặc điểm chính, có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu.

- Tổng thể không đồng chất: Là tổng thể gồm các đơn vị khác nhau ở những đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu

Việc xác định một tổng thể là đồng chất hay không phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể Kết luận từ nghiên cứu thống kê chỉ có giá trị khi được thực hiện trên tổng thể đồng chất, tức là tổng thể thống kê cần đảm bảo tính số lớn và tính đồng chất.

- Tổng thể chung: Là tổng thể gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định

- Tổng thể bộ phận: Là tổng thể chỉ bao gồm một số đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định

Nghiên cứu thống kê tổng thể cần dựa vào các đặc điểm của đơn vị tổng thể, trong đó mỗi đơn vị đều có một đặc điểm cấu thành chung Ví dụ, tổng thể nhân khẩu Việt Nam có đặc điểm chung là người Việt Nam, bên cạnh đó còn có các đặc điểm khác như giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp.

Đơn vị tổng thể bao gồm các đơn vị cá biệt tạo nên tổng thể, và tùy thuộc vào tổng thể đó, đơn vị tổng thể có thể là con người, vật thể, yếu tố hoặc hiện tượng.

Ví dụ: Trong tổng thể dân số việt nam thì đơn vị tổng thể là mỗi người dân có quốc tịch Việt Nam

6.2 Tiêu thức thống kê và trị số tiêu thức thống kê

* Khái niệm: mỗi một đơn vị tổng thể đều có nhiều đặc điểm, tính chất

Tùy vào mục đích nghiên cứu, cần lựa chọn một hoặc nhiều đặc điểm, tính chất của đơn vị tổng thể để tiến hành nghiên cứu Những đặc điểm và tính chất này được gọi là các tiêu thức.

Ví dụ: Mỗi một người trong tổng thể nhân khẩu có các tiêu thức: tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá…

Mỗi XN trong tổng thể XN công nghiệp có các tiêu thức: Tên XN, địa chỉ

XN, hình thức sở hữu, số lượng CNV, TSCĐ, NSLĐ, giá thành ĐVSP, số lượng SPSX

* Phân loại tiêu thức thống kê:

- Tiêu thức bất biến (chung có của tất cả các đơn vị trong cùng một tổng thể) và tiêu thức biến động (riêng có ở mỗi đơn vị tổng thể)

- Tiêu thức số lượng và tiêu thức chất lượng

+ Tiêu thức số lượng: là những tiêu thức được biểu hiện trực tiếp bằng con số Ví dụ: trọng lượng, tiền lương, tuổi, cân nặng, chiều

+ Tiêu thức chất lượng (thuộc tính) là những tiêu thức phản ánh tính chất bên trong của sự vật, không biểu hiện trực tiếp bằng các con số

Ví dụ: tiêu thức giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thành phần giai cấp

Tiêu thức thay phiên là những tiêu thức chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể Chẳng hạn, tiêu thức chất lượng có thể được phân thành hai biểu hiện: đạt chất lượng và không đạt chất lượng, trong khi tiêu thức sức khỏe có thể chia thành người bị bệnh và người không bị bệnh.

6.2.2 Trị số tiêu thức thống kê:

Là những con số cụ thể của tiêu thức số lượng Ví dụ: tuổi 30, cao 1,66m, nặng 56kg, lương 8.000.000đ/tháng

6.3 Chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê

+ Giá trị HH của Công ty A năm 2017 là 18 tỷ đồng

+ Giá trị HH tồn kho của DN B ngày 1/1/2018 là 1,2 tỷ đồng

- Đặc điểm: Chỉ tiêu thống kê có hai mặt khái niệm và con số:

Khái niệm bao gồm định nghĩa và giới hạn về thực thể, không gian, thời gian của hiện tượng nghiên cứu, đồng thời chỉ rõ nội dung của chỉ tiêu thống kê.

+ Con số của chỉ tỉêu được biểu hiện bằng trị số với đơn vị tính toán phù hợp, nó nêu lên mức độ của chỉ tiêu

Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2003 đạt 21 tỷ USD, trong đó "kim ngạch xuất khẩu" là khái niệm chỉ tiêu, còn "21 tỷ" là con số cụ thể thể hiện chỉ tiêu đó.

* Các yếu tố cấu thành 1 chỉ tiêu thống kê

+ Điều kiện về không gian và thời gian

* Phân loại chỉ tiêu thống kê

- Căn cứ vào nội dung người ta chia chỉ tiêu thống kê thành 2 loại:

+ Chỉ tiêu khối lượng: là chỉ tiêu biểu hiện qui mô của hiện tượng nghiên cứu: Số lượng học sinh; số nhân khẩu, số lượng CNV, số máy móc …

Chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ phát triển và mối quan hệ tổng thể của các yếu tố như năng suất lao động, giá thành sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận, chi phí sản xuất trên mỗi đồng giá trị sản lượng, và mức lương của công nhân.

- Căn cứ vào hình thức biểu hiện của chỉ tiêu thống kê:

+ Chỉ tiêu hiện vật là chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên như: cái, con, chiếc…hay đơn vị đo lường như kg, tấn, tạ, yến…

+ Chỉ tiêu giá trị là chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ như đồng…hoặc đơn vị tiền tệ nước ngoài như USD, Yên, Mác

6.3.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê

Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu, cần đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về chương trình, kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện trong từng giai đoạn cụ thể Đồng thời, cần chú ý đến việc xem xét tính quy luật phát triển của hiện tượng và các nguyên nhân ảnh hưởng.

Hệ thống chỉ tiêu có thể được xây dựng cho từng đơn vị sản xuất kinh doanh, từng ngành kinh tế hoặc toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là tập hợp các chỉ tiêu mà các đơn vị sản xuất kinh doanh cần báo cáo theo quy định.

* Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê

+ Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu

+ Hiện tượng càng phức tạp, nhất là các hiện tượng trừu tượng, số lượng chỉ tiêu cần nhiều hơn so với các hiện tượng đơn giản

Để thu thập thông tin hiệu quả, cần điều tra các chỉ tiêu có sẵn tại cơ sở và dự đoán số lượng chỉ tiêu cần tính toán để áp dụng các phương pháp phân tích và dự đoán trong các bước tiếp theo.

+ Tiết kiệm chi phí, không để một chỉ tiêu nào dư thừa không hợp lý trong hệ thống

Bảng thống kê và đồ thị thống kê

Bảng thống kê là công cụ thể hiện số liệu thống kê một cách hệ thống và rõ ràng, giúp nêu bật các đặc trưng lượng của hiện tượng nghiên cứu.

7.1.2 Cấu thành của bảng thống kê

- Về hình thức: Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang, cột dọc, các tiêu đề và các con số

Các hàng ngang và cột dọc trong bảng thống kê thể hiện qui mô của bảng; số lượng hàng và cột càng nhiều thì qui mô càng lớn và phức tạp Để thuận tiện cho việc sử dụng và trình bày, các hàng và cột thường được đánh số thứ tự.

Tiêu đề của bảng cần phản ánh chính xác nội dung và từng chi tiết bên trong bảng Đầu tiên, tiêu đề chung là tên gọi của bảng thống kê, thể hiện nội dung một cách ngắn gọn và dễ hiểu, được đặt ở phía trên cùng Mỗi con số trong bảng sẽ phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu.

Phần chủ đề trong bài viết nêu rõ tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng thống kê, đồng thời phân chia tổng thể này thành các bộ phận cụ thể Đôi khi, phần chủ đề còn thể hiện qua thời gian hoặc tên các địa phương, vùng lãnh thổ.

Phần giải thích trong bảng tân từ bao gồm các chỉ tiêu mô tả đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, với phần chủ đề thường nằm bên trái bảng và tạo thành nội dung của hàng Phần giải thích được đặt phía trên bảng, hình thành nội dung của các cột Tuy nhiên, đôi khi vị trí của hai phần này có thể được hoán đổi cho nhau.

Ngoài hai phần chính đã đề cập, bảng thống kê còn bao gồm chú thích về nguồn tài liệu và phương pháp tính toán một số chỉ tiêu khi cần thiết.

Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau

Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)

Phần giải thích Phần chủ đề

Các chỉ tiêu giải thích (tên cột)

Tên chủ đề (tên hàng)

7.1.3 Các loại bảng thống kê

Bảng phần chủ đề không phân tổ là loại bảng mà trong đó phần chủ đề liệt kê các đơn vị tổng thể, tên gọi của các địa phương hoặc thời gian khác nhau trong quá trình nghiên cứu.

Dân số Việt nam năm 2001 theo nam, nữ, thành thị và nông thôn

(Nguồn: Niên giám thống kê 2001 - NXB thống kê Hà nội 2002)

- Loại bảng này được áp dụng khá rộng rãi trong công tác thống kê thực tế Chẳng hạn so sánh dân số giữa các tỉnh, thành phố

- Là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó

Ví dụ: Có tài liệu về số DNTM ở địa phương X

Phân tổ số DNTM theo số

CNV Tổng số Chia theo cấp quản lý

Bảng phân tổ loại này thể hiện cấu trúc và sự biến động của hiện tượng, đồng thời hỗ trợ phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng khác nhau.

- Là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ đề được phân tổ theo 2, 3,… tiêu thức kết hợp với nhau

Ví dụ: Có bảng thống kê về số lượng cán bộ giáo dục các trường đại học, cao đẳng và THCN của VN năm 1999, 2000 như sau:

- GV đại học, cao đẳng 27096 27891

1 Phân theo trình độ chuyên môn a Trên đại học 9415 11404

- GV đại học, cao đẳng 8879 10843

- GV THCN 536 561 b Đại học, cao đẳng 25319 24721

- GV đại học, cao đẳng 17676 16718

- GV đại học, cao đẳng 437 283

- GV THCN 1206 1020 d Trình độ khác 511 447

- GV đại học, cao đẳng 104 47

2 Phân theo cấp quản lý a Trung ương 25627 25980

- GV đại học, cao đẳng 21899 22105

- GV đại học, cao đẳng 5197 5786

(Niên giám thống kê - NXB thống kê 2001, 2002)

- Loại bảng này giúp ta nghiên cứu được sâu sắc bản chất của hiện tượng

7.1.4 Nguyên tắc chung của việc xây dựng bảng thống kê

Khi xây dựng bảng thống kê, cần chú ý không nên thiết kế bảng quá lớn với nhiều cột, hàng hoặc phân tổ kết hợp quá nhiều tiêu thức Nếu nghiên cứu có nhiều chỉ tiêu hoặc phân tổ theo nhiều tiêu thức, tốt nhất là nên chia thành một vài bảng thống kê nhỏ thay vì sử dụng một bảng lớn.

Các tiêu đề của bảng cần ngắn gọn, chính xác và dễ hiểu Tiêu đề chung, phản ánh nội dung chính của bảng, địa điểm và thời gian nghiên cứu, nên được viết chữ to, đậm ở giữa bảng Các tiêu đề nhỏ, tức là các đề mục của hàng và cột, phải rõ ràng về nội dung nghiên cứu của từng dòng và cột.

- Việc ghi chú đơn vị tính:

+ Nếu tất cả các con số đều có cùng một đơn vị tính thì ta có thể ghi đơn vị tính ấy ở góc trên bên phải của bảng

+ Nếu các đơn vị tính thống nhất theo dòng (hàng) nên xây dựng một cột (liền cột ghi tiêu đề) gọi là đơn vị tính

+ Nếu các con số trong một cột cùng đơn vị tính thì nó được ghi ở trong ngoặc đơn ngay dưới tiêu đề đó

- Các dòng (hàng) và cột của bảng có thể được ký hiệu bằng những chữ cái hay ghi số thứ tự để tiện sử dụng và giải thích

Các chỉ tiêu giải thích trong phần tân từ của bảng cần được sắp xếp một cách hợp lý và lôgíc Ví dụ, thứ tự nên bao gồm kế hoạch, thực hiện và tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch.

- Cách ghi các số liệu vào bảng thống kê

+ Nếu có ô nào của bảng không có số liệu phù hợp thì trong ô ghi một dấu gach ngang (-)

Đối với các chỉ tiêu có số chữ thập phân giống nhau, cần ghi thống nhất đơn vị tính theo quy định của đơn vị đo lường.

+ Nếu số liệu nào còn thiếu sau này có thể được bổ sung thì dùng ký hiệu dấu 3 chấm (…)

+ Nếu số liệu trong ô không có ý nghĩa thì dùng dấu gạch chéo (x)

+ Trường hợp có quá nhiều chữ số thì có thể ghi số tính tròn để giảm số chữ số

Các số cộng và tổng cộng có thể được đặt ở đầu hàng hoặc cuối cột tùy theo mục đích nghiên cứu Nếu ghi ở đầu hàng hoặc đầu cột, chúng giúp phân tích các đặc trưng chung của hiện tượng, trong khi các đặc trưng của từng bộ phận chỉ mang tính bổ sung Ngược lại, khi các số tổng cộng được ghi ở cuối hàng hoặc cuối cột, chúng phục vụ cho việc nghiên cứu sâu hơn vào từng tổ hoặc bộ phận cụ thể.

Phần ghi chú ở cuối bảng thống kê giải thích nội dung của một số chỉ tiêu, làm rõ nguồn gốc số liệu và các chỉ tiêu cần thiết khác.

7.2 Đồ thị thống kê 7.2.1 Khái niệm, đặc điểm, tác dụng

Đồ thị thống kê là phương pháp sử dụng hình vẽ và đường nét hình học, kết hợp với màu sắc phù hợp, để mô tả các tài liệu thống kê một cách có tính chất qui ước.

Ví dụ: Có tài liệu về cơ cấu giá trị sản xuất các ngành của Thị xã Tam Điệp 3 năm 2005, 2006, 2007

QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ

Điều tra thống kê

1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê 1.1.1 Khái niệm

Điều tra thống kê là quá trình tổ chức một cách khoa học và có kế hoạch để thu thập tài liệu liên quan đến các hiện tượng và quá trình trong lĩnh vực kinh tế xã hội.

+ Thống kê tổ chức thu thập tài liệu về từng người dân về Họ tên, tuổi, gới tính, dân tộc, trình độ văn hoá

Thống kê tài liệu trong từng doanh nghiệp về số công nhân đi làm hàng ngày, số giờ máy hoạt động và số nguyên vật liệu tiêu dùng cho sản xuất là cần thiết để nghiên cứu tình hình sản xuất của doanh nghiệp.

- Đây là giai đoạn đầu nên kết quả nghiên cứu của thống kê tốt hay xấu phụ thuộc vào mức độ đúng đắn của tài liệu ban đầu

- Là cơ sở cho tổng hợp thống kê và phân tích thống kê Không có tài liệu ban đầu thì không có tổng hợp và phân tích thống kê

Kết quả điều tra thống kê cung cấp thông tin quan trọng cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giúp họ xây dựng các chủ trương, chính sách và biện pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội.

Cung cấp tài liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời là yếu tố quan trọng cho công tác tổng hợp và phân tích thống kê, nhằm đảm bảo chất lượng của các tài liệu điều tra thống kê.

Tài liệu điều tra cần phải đầy đủ, nghĩa là phải thu thập đúng nội dung quy định và số lượng đơn vị điều tra, không được bỏ sót bất kỳ đơn vị hay mục nào trong quá trình điều tra.

- Chính xác: Nghĩa là tài liệu điều tra phải phản ánh đúng đắn, thực tế khách quan của đối tượng nghiên cứu Việc ghi chép phải trung thực

Điều tra thống kê cần được thu thập và phản ánh đúng thời điểm, theo kế hoạch đã định, nhằm theo dõi sát sao quá trình phát sinh và phát triển của hiện tượng Điều này giúp người quản lý nắm bắt tình hình và đưa ra chỉ đạo kịp thời.

1.2 Các loại điều tra 1.2.1 Phân loại theo phạm vi điều tra

- Điêu tra toàn bộ : Là tiến hành thu thập tài liệu của tất cả các đơn vị thuộc tổng thể chung không bỏ sót bất kỳ 1 đơn vị nào

Ví dụ: Điều tra dân số, điều tra tồn kho vật tư ở các DNNN năm 2004

Cung cấp tài liệu đầy đủ và chính xác với độ tin cậy cao là một ưu điểm lớn, đặc biệt trong việc đánh giá quy mô và khối lượng của hiện tượng, cũng như kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch.

+ Nhược: Chi phí tốn kém, kết quả chậm

Điều tra không toàn bộ là quá trình thu thập tài liệu từ một số đơn vị được chọn lọc từ tổng thể, với các đơn vị này phải đáp ứng những yêu cầu nhất định.

Điều tra ngân sách gia đình, giá cả hàng hóa trong thương mại, chất lượng sản phẩm, năng suất thu hoạch cây trồng và thăm dò dư luận là những hoạt động quan trọng giúp hiểu rõ hơn về tình hình kinh tế và xã hội.

+ Mục đích: Nhằm để nhận định hoặc tính toán suy rộng ra đặc điểm của tổng thể chung

+ Ưu: Nhanh, gọn, kịp thời, chi phí tiết kiệm + Nhược: So với điều tra toàn bộ thì tính toàn diện, tính chính xác thấp hơn

* Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu, thống kê thường dùng các loại điều tra không toàn bộ sau:

+ Điều tra chọn mẫu: là điều tra trên một số đơn vị tổng thể được chọn ra từ tổng thể chung theo phương pháp khoa học

Điều tra này có thể được sử dụng thay thế cho điều tra toàn bộ khi điều kiện chưa cho phép Chẳng hạn, để xác định năng suất và sản lượng lúa, có thể chọn một số diện tích lúa gặt để thực hiện tính toán.

+ Điều tra trọng điểm: Chỉ điều tra ở bộ phận chủ yếu của tổng thể chung

Loại điều tra này không suy rộng cho toàn bộ tổng thể nhưng vẫn giúp ta nắm được đặc điểm cơ bản của hiện tượng

Trong nông nghiệp, một số cây trồng được tập trung phát triển theo vùng chuyên canh, ví dụ như chè ở Thái Nguyên, Hà Giang, Phú Thọ; đay ở Hải Hưng, Thái Bình; cói ở một số tỉnh miền biển; và cao su ở các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên.

Điều tra chuyên đề tập trung vào việc nghiên cứu sâu sắc một số ít đơn vị tổng thể, thậm chí chỉ một đơn vị, nhưng lại khai thác chi tiết nhiều khía cạnh khác nhau của đơn vị đó.

Loại điều tra này nhằm nghiên cứu kỹ những điển hình (tốt, xấu), để phân tích tìm hiểu nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm thực tiễn

1.2.2 Căn cứ vào tính chất liên tục hay không liên tục của việc đăng ký, ghi chép tài liệu

Điều tra thường xuyên là quá trình thu thập tài liệu liên tục từ đơn vị tổng thể, nhằm theo dõi sát sao sự phát sinh và phát triển của hiện tượng.

+ Ví dụ: Ghi chép số công nhân đi làm hàng ngày, số NVL tiêu dùng hàng ngày, số SPSX ra hàng ngày…

Tạo khả năng theo dõi chi tiết sự phát sinh và phát triển của hiện tượng theo thời gian là rất quan trọng Điều này không chỉ giúp nắm bắt tình hình một cách rõ ràng mà còn là cơ sở chính để lập báo cáo thống kê định kỳ.

Điều tra không thường xuyên là quá trình thu thập tài liệu từ các đơn vị tổng thể một cách không liên tục, không liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của hiện tượng.

+ Ví dụ: Điều tra dân số, điều tra tình hình thiệt hại do thiên tai, điều tra tình hình dịch bệnh…

+ Tài liệu điều tra phản ánh trạng thái của hiện tượng ở một thời điểm

+ Đối tượng của loại điều tra này là những hiện tượng xảy ra không thường xuyên hoặc xảy ra thường xuyên nhưng không đòi hỏi nghiên cứu thường xuyên

+ Những hiện tượng biến động chậm, hoặc ít biến động

+ Điều tra thường xuyên định kỳ (ấn định trước thời gian)

+ Điều tra không thường xuyên bất thường (không ấn định trước thời gian)

1.3 Các phương pháp điều tra thống kê (Phương pháp thu thập tài liệu trong điều tra thống kê)

Có 2 phương pháp chính: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

Tổng hợp thống kê

2.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ tổng hợp thống kê 2.1.1 Khái niệm

Tổng hợp thống kê là quá trình tổ chức và hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu ban đầu đã được thu thập trong quá trình điều tra thống kê.

Theo tài liệu điều tra dân số ngày 1/4/2009 của Việt Nam, tổng số dân là 85.846.997 người, trong đó số nam là 42.413.143 người (chiếm 49,4%) và số nữ là 43.433.854 người (chiếm 50,6%) Dân số thành thị đạt 25.436.896 người (chiếm 29,6%), trong khi dân số nông thôn là 60.410.101 người (chiếm 70,4%).

Tài liệu điều tra thống kê được tổng hợp một cách chính xác và khoa học sẽ gia tăng giá trị và hỗ trợ hiệu quả cho các giai đoạn nghiên cứu thống kê tiếp theo.

Tổng hợp thống kê đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu thống kê, giúp nâng cao hiệu quả của phân tích và dự đoán.

- Làm cho các đặc trưng cá biệt của đơn vị tổng thể bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung của tổng thể

- Phương pháp chủ yếu của tổng hợp thống kê là phân tổ thống kê

2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê 2.2.1 Xác định mục đích tổng hợp

Mục đích của tổng hợp là khái quát hóa những đặc trưng chung của tổng thể, và những đặc trưng này được thể hiện cụ thể thông qua các chỉ tiêu thống kê.

Nội dung tổng hợp được xây dựng dựa trên một tiêu thức đã được xác định trong giai đoạn điều tra, và việc tổng hợp này cần phải phù hợp với mục đích nghiên cứu thống kê.

2.2.3 Kiểm tra tài liệu trước khi tổng hợp

Trước khi tiến hành tổng hợp, cần kiểm tra tài liệu về mặt logic, so sánh các tài liệu, và xác minh tính toán cũng như độ hợp lý Việc phát hiện các bất thường sẽ giúp thẩm tra lại thông tin Thực hiện tốt bước này sẽ giảm thiểu sai sót trong tổng hợp và phân tích thống kê, đồng thời tiết kiệm thời gian.

2.2.4 Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê 2.3 Tổ chức tổng hợp thống kê

2.3.1 Hình thức tổ chức tổng hợp thống kê

Hình thức tổ chức tổng hợp tài liệu điều tra được thực hiện theo từng bước và trong phạm vi quy định Kết quả sẽ được gửi lên cấp cao hơn để tổng hợp trong phạm vi rộng hơn Cuối cùng, quá trình tổng hợp sẽ tính toán các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm chung của toàn bộ hiện tượng nghiên cứu.

Hình thức này thường được áp dụng cho các báo cáo thống kê định kỳ và một số cuộc điều tra chuyên môn quy mô vừa và nhỏ Phương tiện tổng hợp thường thô sơ và thủ công, dẫn đến chi phí cao và kết quả thu được chậm.

- Là toàn bộ tài liệu điều tra được tập trung về một cơ quan để tiến hành tổng hợp từ đầu đến cuối

Hình thức này thường được áp dụng cho các cuộc điều tra quy mô lớn, sử dụng phương tiện cơ giới để đảm bảo tính nhanh chóng và chính xác, đồng thời giảm thiểu sức lao động của con người.

- Tổng hợp thủ công: áp dụng trong trường hợp khối lượng tài liệu không nhiều, nội dung đơn giản

- Tổng hợp bằng máy: áp dụng trong trường hợp khối lượng tài liệu lớn, nội dung phức tạp.

Phân tích và dự đoán thống kê

3.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích thống kê 3.1.1 Khái niệm

Phân tích và dự đoán thống kê là quá trình tổng hợp bản chất và quy luật của các hiện tượng kinh tế xã hội trong bối cảnh lịch sử cụ thể Qua việc sử dụng số liệu, nó giúp tính toán các mức độ tương lai của hiện tượng, từ đó cung cấp căn cứ cho quyết định quản lý Điều này bao gồm việc xác định các mức độ, nêu lên sự biến động, tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ, cũng như dự đoán tình hình phát triển tương lai của các hiện tượng.

Phân tích và dự đoán thống kê dựa vào số liệu thống kê làm tư liệu, sử dụng các phương pháp thống kê làm công cụ, và dựa trên lý luận kinh tế - xã hội.

Phân tích và dự đoán thống kê là bước quan trọng cuối cùng trong quá trình nghiên cứu thống kê, thể hiện sự tổng hợp kết quả của toàn bộ nghiên cứu Chỉ khi có phân tích và dự đoán thống kê, mục đích của nghiên cứu thống kê mới có thể được đạt được.

Phân tích thống kê và dự đoán thống kê không chỉ giúp hiểu rõ các hiện tượng kinh tế xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo và thúc đẩy sự phát triển của chúng theo các quy luật khách quan.

- Nêu rõ bản chất cụ thể và tính quy luật sự phát triển tương lai của hiện tượng kinh tế xã hội đáp ứng mục đích nghiên cứu

- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, nhằm phục vụ kịp thời cho công tác quản lý kinh tế của các ngành, các cấp

3.2 Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê 3.2.1 Lựa chọn, đánh giá tài liệu dùng để phân tích và dự đoán

- Căn cứ mục đích phân tích và dự đoán để lựa chọn tài liệu (gồm tài liệu chính và tài liệu liên quan)

- Tài liệu dùng vào phân tích và dự đoán phải được đánh giá nhằm đảm bảo chất lượng tài liệu, nội dung đánh giá tài liệu gồm:

+ Tài liệu có đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và kịp thời không, phương pháp thu thập có khoa học? (bằng cách điều tra chọn mẫu)

+ Khi đánh giá phải xem xét các tài liệu có được chỉnh lý, phân tổ khoa học không, có đáp ứng mục đích phân tích của mình không

+ Xem xét các chỉ tiêu được tính toán theo phương pháp nào, các tài liệu có đảm bảo tính chất so sánh được hay không

3.2.2 Xác định các phương pháp và các chỉ tiêu phân tích

Các phương pháp phân tích bao gồm: phân tổ, chỉ tiêu tổng hợp, dãy số thời gian, chỉ số và hồi quy tương quan Việc lựa chọn phương pháp phân tích và dự đoán cần phải được thực hiện một cách cẩn thận.

Để xác định phương pháp phân tích phù hợp nhất, cần xuất phát từ mục đích cụ thể và xem xét các đặc điểm, tính chất, sự biến động cũng như mối liên hệ của hiện tượng kinh tế xã hội.

+ Phải nắm được ưu nhược điểm, điều kiện vận dụng của mỗi phương pháp để lựa chọn một cách linh hoạt cho từng trường hợp

+ Phải biết kết hợp nhiều phương pháp để phát huy tổng hợp tác dụng của chúng giúp cho việc phân tích sâu sắc và toàn diện

3.2.3 So sánh và đối chiếu các chỉ tiêu

Việc so sánh và đối chiếu các chỉ tiêu mới giúp làm rõ đặc điểm, bản chất và xu hướng phát triển của hiện tượng, từ đó nhận diện được cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Các chỉ tiêu được so sánh cần đảm bảo tính đồng nhất về nội dung kinh tế, phạm vi, phương pháp và đơn vị tính để đảm bảo tính khả thi trong phân tích.

3.2.4 Dự đoán các mức độ tương lai của hiện tượng

Dự đoán thống kê dựa trên tài liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại, sử dụng các phương pháp phù hợp để tính toán các mức độ tương lai của hiện tượng.

Kết quả dự đoán thống kê cung cấp cơ sở khoa học và đáng tin cậy, hỗ trợ việc xây dựng kế hoạch và định hình các chính sách kinh tế - xã hội một cách chính xác, từ đó tạo điều kiện cho công tác quản lý được chủ động và có kế hoạch.

- Phương pháp dự đoán: Dự đoán dựa vào tốc độ phát triển của chỉ tiêu, dựa vào lượng tăng, giảm tuyệt đối.

PHÂN TỔ THỐNG KÊ

Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tổ thống kê

Phân tổ thống kê là quá trình chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và tiểu tổ dựa trên một hoặc nhiều tiêu thức nhất định, nhằm tạo ra những nhóm có tính chất khác nhau.

Ví dụ: Phân tổ CN của 1 DN theo các tiêu thức:

Theo bậc thợ Theo NSLĐ Theo mức lương tháng

Bậc thợ Số CN NSLĐ

Cơ sở phân tổ bao gồm:

- Mục đích, yêu cầu quản lý hoặc yêu cầu phân tích

- Tính chất của hiện tượng nghiên cứu, tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu

- Cơ cấu nội tại của tổng thể phức tạp và mối quan hệ giữa chúng

- Tính lịch sử của đối tượng quản lý và trình độ quản lý của từng thời kỳ

- Xác định loại hình, cơ cấu của tổng thể phức tạp

- Xác định qui mô của tổng thể phức tạp và qui mô của từng tổng thể bộ phận cấu thành nên tổng thể phức tạp đó

- Nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng trong cùng một hệ thống quản lý

- Xác định các cơ sở để sắp xếp các cột, các dòng trong biểu bảng thống kê tổng hợp

- Phân tổ thống kê được dùng làm cơ sở để sắp xếp tổng thể theo một trật tự nhất định

- Phân chia loại hình kinh tế - xã hội của hiện tượng nghiên cứu

- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng

- Biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng

Tiêu thức phân tổ

- Là tiêu thức được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ thống kê

- Ví dụ: Phân tổ các cửa hàng thương mại bán lẻ theo doanh thu tháng 10 năm 2016 trên địa bàn thành phố Hà Nội

Doanh thu (trđ) Số cửa hàng

- Lựa chọn tiêu thức phân tổ là việc đầu tiên cần giải quyết khi tiến hành phân tổ

- Qua lựa chọn tiêu thức phân tổ mới tìm được tiêu thức nói lên bản chất của hiện tượng nghiên cứu

- Với mục tiêu nghiên cứu khác nhau, việc lựa chọn tiêu thức phân tổ cũng khác nhau.

Xác định số tổ cần thiết

3.1 Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính (tiêu thức chất lượng)

Trong trường hợp giản đơn, số tổ đã được hình thành sẵn trong thực tế với số lượng loại hình tương đối ít Mỗi loại hình có thể được coi là một tổ riêng biệt.

Ví dụ: Phân tổ nhân khẩu theo giới tính có hai tổ hình thành sẵn là Nam và Nữ

Trong trường hợp phức tạp, việc xác định số lượng tổ và tính chất của từng tổ cần phải trải qua quá trình phân tích chi tiết đối tượng Sau đó, mới có thể quy định một cách thống nhất phương pháp sắp xếp các đơn vị tổng thể vào các tổ.

Ví dụ: Khi phân tổ theo nghề nghiệp ở thành phố Hà nội phải nghiên cứu và thành lập bảng danh mục nghề nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

3.2 Phân tổ theo tiêu thức số lượng

Theo tiêu thức này, việc phân loại các tổ khác nhau về tính chất phải dựa vào sự khác biệt giữa các lượng biến của tiêu thức Tùy thuộc vào mức độ khác nhau của các lượng biến, cách phân tổ sẽ được thực hiện một cách khác nhau.

3.2.1 Trường hợp giản đơn: là trường hợp mà tiêu thức chỉ có ít lượng biến và lượng biến không liên tục (rời rạc) Trường hợp này mỗi lượng biến được xác định là một tổ, tức là có bao nhiêu lượng biến thì có bấy nhiêu tổ

Ví dụ: Phân tổ số gia đình trong 1 địa phương theo số người/gđ

Số người/gđ Số gđ

3.2.2 Trường hợp phức tạp: là trường hợp khi tiêu thức có nhiều lượng biến mà phạm vi lượng biến rất rộng, hoặc khi lượng biến liên tục (tức là có thể nhận giá trị bất kỳ, nguyên hay thập phân) Trong trường hợp này ta ghép nhiều lượng biến vào một tổ, cách phân tổ như vậy gọi là phân tổ có khoảng cách tổ

Trong phân tổ, mỗi tổ có một phạm vi lượng biến nhất định với khoảng cách rõ rệt Mỗi tổ được xác định bởi hai giới hạn: giới hạn dưới và giới hạn trên, tương ứng với lượng biến nhỏ nhất và lớn nhất của tổ.

- Khoảng cách tổ là trị số chênh lệch giữa giới hạn trên và dưới của mỗi tổ

- Trị số giữa của tổ được xác định 2 max min x x i  x 

Ví dụ: Phân tổ các HTX nông nghiệp theo NS lúa BQ 1 ha:

NS lúa BQ 1 ha (tạ) Số HTX nông nghiệp

Hoặc phân tổ các DN công nghiệp theo số lượng CNV:

Số lượng CNV (người) Số DN công nghiệp

Khoảng cách giữa các tổ có thể đều hoặc không đều, và giới hạn trên của tổ trước có thể trùng hoặc không trùng với giới hạn dưới của tổ sau Nếu có sự trùng lặp, mức lượng biến sẽ được xếp vào tổ sau Trong một số trường hợp, có thể xuất hiện khoảng cách tổ mở.

3.2.3 Trường hợp phân tổ với khoảng cách tổ bằng nhau

Khi nghiên cứu một cách tổng thể về loại hình kinh tế xã hội với sự đồng nhất và lượng biến tương đối ổn định, việc áp dụng phân tổ có khoảng cách đều là phương pháp thích hợp.

- Trường hợp lượng biến liên tục: Trường hợp này ta thành lập các tổ theo qui định sau:

+ Giới hạn trên của tổ trước trùng với giới hạn dưới của tổ sau:

+ Trị số khoảng cách tổ đều được xác định theo công thức: n

- Trường hợp lượng biến không liên tục: là trường hợp lượng biến của đơn vị tổng thể nhận giá trị nguyên:

Để quản lý quy mô xí nghiệp trong một ngành sản xuất tại một địa phương, người ta lựa chọn tiêu thức phân tổ là số công nhân Họ tiến hành điều tra số lượng công nhân tại 20 xí nghiệp trong ngành với các số liệu giả thiết.

Giả sử rằng qui mô của xí nghiệp được phản ánh là nhỏ, trung bình, lớn và rất lớn: n = 4

Loại hình qui mô Số CN (người) Số XN

3.2.4 Ngoài ra có thể phân tổ có khoảng cách tổ mở với 3 trường hợp sau:

Tổ đầu tiên không có giới hạn dưới:

Trong đó: h: là trị số khoảng cách tổ

Xmax: Lượng biến lớn nhất của tiêu thức phân tổ

Xmin: Lượng biến nhỏ nhất của tiêu thức phân tổ n: Số tổ định chia

Ví dụ: Phân tổ các DNTM ở Hà Nội theo số nhân viên:

Tổ Số nhân viên Số DN

Tổ cuối cùng không có giới hạn trên:

Ví dụ: Phân tổ công chức viên chức trường Cao đẳng TM - DL Hà Nội:

Tổ Số nhân viên Số người

Tổ đầu không có giới hạn dưới, tổ cuối không có giới hạn trên:

Ví dụ: Phân tổ nhân khẩu địa phương X theo độ tuổi năm 2016:

Tổ Độ tuổi Số người

Chỉ tiêu giải thích

- Là những chỉ tiêu dùng để nói rõ đặc điểm của các tổ cũng như toàn bộ tổng thể

- Các chỉ tiêu giải thích là: Tổng số người, tổng diện tích và ruộng đất bình quân đầu người

- Nói rõ đặc trưng của từng tổ và toàn bộ tổng thể

- Làm căn cứ để so sánh các tổ với nhau và tính toán các chỉ tiêu phân tích khác

4.3 Cơ sở chọn đúng các chỉ tiêu giải thích

- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu:

Ví dụ: Phân tổ các địa phương theo năng suất lúa

Nếu nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến năng suất lúa, các chỉ tiêu quan trọng cần xem xét bao gồm tổng lượng phân bón, diện tích trồng giống mới, diện tích tưới tiêu chủ động và mật độ cấy.

+ Nếu mục đích nghiên cứu là quy mô sản xuất, thì các chỉ tiêu giải thích là giá trị sản lượng, diện tích canh tác, lao động, TSCĐ, vốn

- Các chỉ tiêu giải thích phải liên quan chặt chẽ đến tiêu thức phân tổ

Ví dụ: Năng suất lúa là tiêu thức phân tổ, các chỉ tiêu giải thích là diện tích gieo trồng lúa, phân bón đối với lúa

Phân tổ liên hệ

5.1 Phân tổ để nghiên cứu mối liên hệ giữa một tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả

Phân tổ đơn giản được sử dụng để phân loại tài liệu thống kê theo tiêu thức nguyên nhân, sau đó tính trị số bình quân của tiêu thức kết quả trong mỗi tổ Qua đó, việc so sánh sự biến động giữa hai tiêu thức này giúp làm rõ mối liên hệ giữa chúng.

- Ví dụ: Phân tổ để nghiên cứu tình hình sản xuất trong DN:

Tiền lương bq 1 CN (1000đ/người)

Phân tổ giản đơn là công cụ phổ biến trong phân tổ liên hệ nhờ vào tính gọn nhẹ và đơn giản của nó Tuy nhiên, phương pháp này không đủ khả năng để nghiên cứu các trường hợp phức tạp, nơi có nhiều tiêu thức nguyên nhân tác động đến tiêu thức kết quả.

5.2 Phân tổ để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả

Phân tổ theo phương pháp này nhằm nghiên cứu các mối quan hệ phức tạp và đa dạng trong các hiện tượng kinh tế - xã hội Phân tổ kết hợp là cách phân tổ phổ biến được áp dụng trong lĩnh vực này.

- Ví dụ: Nghiên cứu mối quan hệ giữa NSLĐ bình quân và bậc thợ

Các tổ Chia theo bậc thợ

- Phân tổ kết hợp được tiến hành thuận lợi khi có ít tiêu thức nguyên nhân Nếu có nhiều tiêu thức nguyên nhân, việc phân tổ khá phức tạp

Bài 1: Có tài liệu về mức tiêu thụ hàng hàng hoá của 28 tổ quầy hàng thuộc công ty kinh doanh tổng hợp quận Cầu Giấy tháng 01 năm 2016 như sau:

Mức tiêu thụ hàng hoá (trđ)

Mức tiêu thụ hàng hoá (trđ)

Mức tiêu thụ hàng hoá (trđ)

Mức tiêu thụ hàng hoá (trđ)

Hãy phân tổ số quầy hàng của công ty thành 6 tổ với khoảng cách đều nhau dựa trên mức tiêu thụ hàng hóa Kết quả phân tổ cần được trình bày dưới dạng bảng thống kê Bài 2: Có tài liệu liên quan đến tình hình lao động của doanh nghiệp.

DNTM Số lao động DNTM Số lao động

Hãy phân tổ số DNTM thành 4 tổ (khoảng cách tổ đều nhau) theo số lao động Trình bày kết quả phân tổ bằng bảng thống kê

Bài 3: Có tài liệu về mức tiêu thụ hàng hoá của 28 quầy hàng thuộc công ty thương mại X như sau:

Mức tiêu thụ hàng hoá

Mức tiêu thụ hàng hoá

Mức tiêu thụ hàng hoá

Mức tiêu thụ hàng hoá

Phân tổ số quầy hàng của công ty thành 6 tổ với khoảng cách tổ đều nhau dựa trên mức tiêu thụ hàng hóa Kết quả phân tổ sẽ được trình bày dưới dạng bảng thống kê.

CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ - XÃ HỘI

SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ – XÃ HỘI

Ngày đăng: 07/07/2023, 01:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm