Thông qua nội dung trong chương này chúng ta sẽ có được các nhận định về tình hình sử dụng nguồn vốn tại Công ty, đánh giá được hiệu quả hoạt động cũng như sức khỏe tài chính của Công ty
Mục tiêu nghiên cứu
Để đánh giá tình hình sử dụng vốn của công ty, cần phân tích hiệu quả sử dụng tài sản và nhân viên, chính sách đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán, cũng như khả năng sinh lợi từ việc đầu tư vốn chủ sở hữu và tài sản vào sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, sự hợp lý trong cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho các tài sản cũng là yếu tố quan trọng cần xem xét.
DH và tài sản NH
- Đề nghị một số giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở công ty.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích cơ cấu và so sánh giúp đánh giá sự biến động về giá trị và tỷ trọng của tài sản và nguồn vốn Qua việc phân tích từng khoản mục trong tài sản và nguồn vốn, cũng như vốn lưu động và nhu cầu vốn lưu động, ta có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính Phương pháp này còn xác định ảnh hưởng của các nhân tố, đánh giá khả năng thanh toán và đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, đồng thời xác định cơ cấu nguồn vốn và cách tài trợ cho tài sản lưu động (TSLĐ) và tài sản cố định (TSCĐ).
Phương pháp phân tích tỷ số tài chính bao gồm việc sử dụng các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động, cơ cấu tài chính và lợi nhuận Những chỉ tiêu này giúp đánh giá khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động của tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động (TSLĐ), cấu trúc vốn, rủi ro tài chính, cũng như khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Phương pháp số chênh lệch, một biến thể của phương pháp thay thế liên hoàn, được sử dụng để xác định ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, số vòng quay tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Phương pháp này dựa trên việc phân tích số chênh lệch giữa các chỉ tiêu của năm hiện tại và năm trước.
Phương pháp phân tích Dupont là công cụ xác định ROE thông qua mối quan hệ với ROA, giúp thiết lập phương trình phân tích Phương pháp này tách một tỷ số thành tích thành nhiều tỷ số tài chính khác, từ đó làm rõ mối quan hệ và tác động của các yếu tố như hiệu quả sử dụng tài sản và nguồn vốn Nhờ vào việc phân tích này, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết sách phù hợp và hiệu quả, dựa trên tác động khác nhau của từng yếu tố nhằm tăng cường suất sinh lợi.
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm và phân loại vốn của doanh nghiệp
2.1.1.Khái ni ệm vốn của doanh nghiệp
Vốn là giá trị mà doanh nghiệp cần đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội tối ưu Do đó, có thể khẳng định rằng vốn đóng vai trò quan trọng trong việc khởi đầu và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp liên tục luân chuyển và thay đổi hình thái, tạo thành quá trình luân chuyển vốn không ngừng.
- Vốn của doanh nghiệp xét từ nguồn hình thành có thể chia ra thành vốn của chủ sở hữa DN và các khoản nợ phải trả
Vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp là nguồn tài chính thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, các thành viên trong công ty liên doanh hoặc cổ đông trong công ty cổ phần Đây là số vốn mà chủ sở hữu phải đầu tư để mua sắm và xây dựng tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khi mới thành lập, vốn chủ sở hữu chỉ bao gồm vốn điều lệ, tức là số vốn được ghi trong điều lệ của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, vốn chủ sở hữu có thể tăng thêm từ các quỹ doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch đánh giá lại tài sản và chênh lệch tỷ giá Ngoài ra, nguồn vốn chủ sở hữu còn bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp.
Các khoản nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn từ ngân hàng và tổ chức tín dụng, cùng với các khoản phải trả khác chưa đến kỳ hạn như khoản phải trả khách hàng, khoản phải nộp ngân sách nhà nước, và khoản phải trả công nhân viên Mặc dù các khoản phải trả này không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng chúng là các khoản nợ hợp pháp, cho phép doanh nghiệp coi chúng như một nguồn vốn.
- Vốn của DN xét từ mặt sử dụng:
Có thể chia ra làm vốn kinh doanh và vốn đầu tư
+ Vốn kinh doanh là số vốn doanh nghiệp đang trực tiếp sử dụng vào mục đích kinh doanh
Vốn đầu tư là số tiền mà doanh nghiệp đã hoặc đang chi ra nhưng chưa mang lại hiệu quả ngay lập tức Khoản vốn này thường nằm trong các dự án chưa hoàn thành và các chứng khoán có giá trị, với tiềm năng phát huy hiệu quả trong tương lai.
- Căn cứ vào đối tượng đầu tư : vốn chia làm 2 loại:
+ Vốn đầu tư vào bên trong DN tạo nên các loại TSLĐ và TSCĐ
Vốn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp bao gồm cả đầu tư ngắn hạn và các hình thức như góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu của các đơn vị khác hoặc của Nhà nước.
2.1.3.Nguyên t ắc bảo to àn và nâng cao hi ệu qu ả sử dụng vốn
Vốn sản xuất kinh doanh là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, do đó, việc bảo toàn vốn là yêu cầu thiết yếu trong mọi quá trình sản xuất Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đời sống của cán bộ, công nhân viên được cải thiện, khả năng thanh toán với khách hàng và nghĩa vụ đóng góp với nhà nước cũng được nâng cao Vì vậy, bảo toàn vốn luôn là mục tiêu phấn đấu của tất cả các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế.
Nguy cơ phá sản của doanh nghiệp thường bắt nguồn từ việc hao hụt vốn sản xuất và khó khăn trong khả năng thanh toán Để bảo toàn vốn, doanh nghiệp cần tổ chức tài chính hiệu quả, lựa chọn các phương án tối ưu để tạo lập nguồn tài chính Đồng thời, cần áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm tăng nhanh vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo doanh nghiệp có thể duy trì và mở rộng quy mô sản xuất ngay cả khi thị trường có biến động.
2.1.4 M ục ti êu và ý ngh ĩa của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Mục tiêu của bài viết là phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty qua các năm, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại Qua việc phân tích này, chúng ta sẽ nhận diện được các điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý vốn, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của công ty.
Việc phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là rất quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp Qua đó, họ có thể nhận diện thực trạng tài chính trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai, đồng thời xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động của công ty Từ những thông tin này, các giải pháp phù hợp sẽ được đề ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
Tài sản cố định
TSCĐ là những tư liệu lao động quan trọng, có đặc điểm chính là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất mà không thay đổi hình thái vật chất từ chu kỳ đầu tiên cho đến khi bị loại bỏ khỏi quá trình sản xuất.
Những tư liệu được coi là TSCĐ khi đồng thời thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
- Thời gian sử dụng trên một năm
- Giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
Trong nền kinh tế hàng hóa, việc xây dựng và mua sắm tài sản cố định (TSCĐ) phải được thực hiện bằng vốn tiền tệ Nếu thiếu một trong bốn điều kiện cần thiết, chúng ta gọi đó là công cụ hoặc dụng cụ Vốn cố định của doanh nghiệp thể hiện giá trị ứng trước cho TSCĐ hiện có và có đặc điểm luân chuyển tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Vòng tuần hoàn của vốn cố định chỉ hoàn thành khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng và đã được khấu hao đủ.
TSCĐ bao gồm các loại như TSCĐ hữu hình, TSCĐ thuê tài chính, TSCĐ vô hình và giá trị hao mòn lũy kế Bên cạnh đó, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, ký quỹ, ký cược dài hạn và chi phí xây dựng cơ bản dở dang cũng được coi là TSCĐ.
2.2.3.T ầm quan trọng của việc quản lý TSCĐ
Vốn cố định của doanh nghiệp chủ yếu được sử dụng cho các hoạt động đầu tư dài hạn và đầu tư chiều sâu, bao gồm mua sắm, xây dựng, nâng cấp tài sản cố định hữu hình và vô hình, cũng như các hoạt động đầu tư tài chính như mua trái phiếu, cổ phiếu và góp vốn cổ phần Khi có vốn nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn cố định để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hiệu quả theo nguyên tắc hoàn trả Do đặc điểm của vốn cố định và tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị hao mòn của tài sản cố định sẽ dần được chuyển vào chi phí sản xuất, vì vậy, việc quản lý tốt tài sản cố định là rất quan trọng trong doanh nghiệp.
Mặt khác, giá trị TSCĐ lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ vốn cố định của
Quản lý vốn cố định trong doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là quản lý giá trị mà còn bao gồm việc quản lý tài sản cố định (TSCĐ) Để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần thực hiện tốt việc quản lý và sử dụng TSCĐ theo các quy định hiện hành, từ đó huy động tối đa TSCĐ vào sản xuất.
2.2.4.Nâng cao hi ệu quả sử dụng TSCĐ
Một số biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp:
- Biện pháp bao trùm tổng quát là sử dụng TSCĐ để kinh doanh có lãi
- Huy động tối đa TSCĐ hiện có vào hoạt động kinh doanh
- Khi có biến động lớn về giá cả thị trường, cần xác định giá đánh lại của TSCĐ để làm căn cứ cho việc tính khấu hao chính xác
- Thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý để đảm bảo thu hồi đầy đủ, kịp thời vốn cố định
Để kéo dài tuổi thọ của tài sản cố định (TSCĐ) và giảm thiểu hư hỏng trước thời hạn, việc bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên và thực hiện sửa chữa lớn định kỳ là rất quan trọng.
Doanh nghiệp cần chú trọng đổi mới tài sản cố định (TSCĐ) kịp thời để nâng cao sức cạnh tranh Việc kết hợp hiệu quả các hình thức tự mua sắm, thuê, cho thuê và dự trữ TSCĐ sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro là rất quan trọng để bảo toàn vốn Các biện pháp này bao gồm việc mua bảo hiểm tài sản, trích lập quỹ dự phòng tài chính và đầu tư ra ngoài doanh nghiệp.
Tài sản lưu động
Tài sản lưu động (TSLĐ) là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng và thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh TSLĐ bao gồm tiền mặt, chứng khoán thanh khoản cao, khoản phải thu và dự trữ tồn kho Các đặc điểm cơ bản của TSLĐ là tính thanh khoản cao và khả năng luân chuyển nhanh chóng trong hoạt động kinh doanh.
TSLĐ chỉ được sử dụng một lần trong quá trình sản xuất kinh doanh Để tổ chức chu kỳ kinh doanh mới, doanh nghiệp cần phải mua sắm lại toàn bộ TSCĐ, ngoại trừ một phần tư liệu lao động.
- Sau mỗi lần sử dụng, TSLĐ bị thay đổi hình dạng ban đầu
-Trị giá TSLĐ hạch toán hết một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh
- Tốc độ luân chuyển của TSLĐ nhanh hơn nhiều so với TSCĐ
- Tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gởi ngân hàng, tiền đang chuyển Loại này có tính lưu động cao nhất nên được xếp vào mục đầu tiên
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm chứng khoán, góp vốn liên doanh và cho vay vốn, với thời gian thu hồi không quá một năm Đây là loại hình đầu tư có tính lưu động cao, chỉ đứng sau tiền mặt.
Các khoản phải thu là số tiền mà khách hàng và các bên liên quan nợ doanh nghiệp, và chúng sẽ được thanh toán trong thời gian ngắn, thường dưới một năm.
Hàng tồn kho bao gồm các loại tài sản như vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa trong kho, hàng gửi bán, hàng đang vận chuyển và sản phẩm dở dang Những tài sản này có thời gian luân chuyển ngắn, thường không quá một năm, do đó được phân loại là tài sản lưu động (TSLĐ).
Tài sản lưu động khác bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, cùng với các khoản thế chấp, ký cược và ký quỹ ngắn hạn.
- Chi sự nghiệp: là các khoản chi sự nghiệp chưa được phê duyệt, quyết toán
2.3.3.T ầm quan trọng của việc quản lý TSLĐ
Giá trị tài sản lưu động (TSLĐ) của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp Mặc dù nhiều vụ phá sản không chỉ do quản trị vốn lưu động kém, nhưng sự bất lực trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ TSLĐ và các khoản nợ ngắn hạn có thể là nguyên nhân dẫn đến thất bại.
Mọi hoạt động kinh tế hàng ngày tại doanh nghiệp đều liên quan đến vốn lưu động và ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản lưu động Do đó, việc quản lý hiệu quả tài sản lưu động là yếu tố quyết định trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng cường tích lũy cho doanh nghiệp.
2.3.4.Nâng cao hi ệu quả sử dụng TSLĐ
Muốn quản lý tốt TSLĐ chặt chẽ, đúng đắn cần phải:
- Thỏa mãn nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời phải sử dụng vốn tiết kiệm
- Đảm bảo chấp hành các chính sách, chế độ về tài chính, tín dụng của Nhà nước và định mức vốn lưu động của DN
- Kết hợp chặt chẽ giữa vận động của vật tư, hàng hóa với tiền vốn
- Thực hiện tốt việc phân công, phân cấp quản lý vốn kết hợp giữa quản lý chuyên môn với quản lý của quần chúng
Trong doanh nghiệp, TSLĐ có nhiều loại khác nhau với tính chất và đặc điểm vận động riêng biệt Do đó, việc quản lý TSLĐ cần được thực hiện theo từng loại cụ thể, bao gồm quản lý hàng tồn kho, quản lý vốn bằng tiền và quản lý các khoản phải thu.
Giới thiệu về các chỉ tiêu tài chính
2.4.1.Ch ỉ ti êu v ề khả năng thanh toán
2.4.1.1.Tỷ số thanh toán hiện hành
Tỷ số thanh toán hiện hành =
TSLĐ bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu và các tài sản lưu động khác Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả cho người bán, nợ ngân hàng, nợ dài hạn đến hạn, thuế phải trả và các chi phí ngắn hạn khác.
Tỷ số thanh toán hiện hành phản ánh khả năng của công ty trong việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tỷ số này là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp Để xác định tính hợp lý của tỷ số này, cần so sánh với tỷ số của các công ty cạnh tranh hoặc với tỷ số của năm trước nhằm nhận diện sự tiến bộ hoặc suy giảm.
Tỷ số thanh toán hiện hành là chỉ số quan trọng phản ánh khả năng thanh toán nợ của công ty Khi tỷ số này giảm, điều đó cho thấy khả năng thanh toán giảm và có thể báo hiệu những khó khăn tài chính sắp tới Ngược lại, tỷ số thanh toán hiện hành cao cho thấy công ty có khả năng thanh toán nợ tốt Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao, có thể là dấu hiệu của việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả, khi công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động, dẫn đến tình trạng tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải thu và hàng tồn kho ứ đọng Hàng tồn kho, mặc dù có thể làm tăng tỷ số thanh toán hiện hành, lại có tính thanh khoản kém do cần thời gian và chi phí để chuyển đổi thành tiền.
2.4.1.2.Tỷ số thanh toán nhanh
Tỷ số thanh toán nhanh =
Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên các tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, thường được gọi là "tài sản có tính thanh khoản".
“Tài sản có tính thanh khoản” này bao gồm tất cả TSLĐ trừ HTK
Hệ số này đánh giá khả năng tài sản lưu động đáp ứng nhanh chóng các khoản nợ ngắn hạn Các khoản có thể sử dụng ngay để thanh toán nợ đến hạn bao gồm tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn.
Hệ số thanh toán cao cho thấy khả năng thanh toán tốt, nhưng nếu hệ số quá lớn có thể dẫn đến mất cân đối tài sản lưu động, khi đó vốn sẽ tập trung quá nhiều vào tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn, gây ra hiệu quả không tối ưu.
2.4.2.Ch ỉ ti êu th ể hiện hiệu quả hoạt động
2.4.2.1.Số vòng quay khoản phải thu (KPT)
Các khoản phải thu bao gồm hóa đơn bán hàng chưa thu tiền, phát sinh từ chính sách bán chịu của công ty, cùng với các khoản tạm ứng chưa thanh toán và khoản trả trước cho người bán.
Số vòng quay KPT là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả thanh toán hóa đơn của khách hàng Khi khách hàng thanh toán đầy đủ, các KPT sẽ quay một vòng Nếu số vòng quay thấp, điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều Ngược lại, nếu số vòng quay quá cao, sức cạnh tranh sẽ giảm, dẫn đến doanh thu bị ảnh hưởng tiêu cực.
Công ty cần xem xét kỹ lưỡng từng KPT để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý
*Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân =
Kỳ thu tiền bình quân đo lường số ngày cần thiết để thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng, phản ánh hiệu quả quản lý của công ty đối với các khoản phải thu do bán chịu Một kỳ thu ngắn cho thấy tốc độ thu hồi nhanh, trong khi tỷ số cuối năm thấp hơn đầu năm là dấu hiệu tích cực cho tình hình tài chính của công ty.
Số ngày tồn kho (của 1 vòng)
Chỉ tiêu này cho thấy việc rút ngắn chu kỳ sản xuất và thu mua hàng hóa giúp giảm hàng tồn kho (HTK), từ đó tăng hệ số vòng quay HTK Sự gia tăng này không chỉ giảm rủi ro tài chính cho công ty mà còn làm giảm chi phí bảo quản và hao hụt do thời gian sản phẩm nằm trong kho ngắn lại Kết quả là, hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp được cải thiện.
Liên hệ giữa tỷ số thanh toán hiện thời và tỷ số thanh toán nhanh giúp xác định xem công ty có giữ nhiều hàng tồn kho dưới dạng tài sản ứ đọng hay không Việc duy trì lượng hàng tồn kho lớn sẽ dẫn đến số ngày tồn kho của công ty tăng cao.
2.4.2.3.Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Hệ số sử dụng tổng tài sản, hay còn gọi là số vòng quay tổng tài sản, là chỉ tiêu quan trọng đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, không phân biệt giữa tài sản lưu động (TSLĐ) và tài sản cố định (TSCĐ) Chỉ số này cho biết mỗi đồng tài sản tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu; chỉ số càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao, điều đó có thể cho thấy công ty đang hoạt động gần hết công suất, gây khó khăn trong việc mở rộng hoạt động mà không có thêm vốn đầu tư.
2.4.2.4.Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Tỷ số này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định (TSCĐ) như máy móc, thiết bị và nhà xưởng, phản ánh doanh thu tạo ra từ mỗi đồng TSCĐ đầu tư Tỷ số càng lớn cho thấy hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao Khi phân tích, cần lưu ý sử dụng nguyên giá TSCĐ ở mẫu số; nếu dùng giá trị tài sản ròng sau khấu hao, cần xem xét phương pháp tính khấu hao, vì nó ảnh hưởng lớn đến độ chính xác của tỷ số.
2.4.2.5.Hiệu suất sử dụng TSLĐ
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng và kiểm soát tài sản lưu động (TSLĐ) của doanh nghiệp Nó cho biết số vòng quay của TSLĐ trong kỳ sản xuất, kinh doanh Số vòng luân chuyển TSLĐ càng cao chứng tỏ tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng nhanh TSLĐ quay vòng nhanh có ý nghĩa quan trọng, vì với một đồng vốn ít hơn, doanh nghiệp có thể tạo ra kết quả tương đương hoặc thậm chí cao hơn so với trước đây.
2.4.3.1.Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tỷ số này phản ánh tỷ lệ phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay Tổng nợ bao gồm tất cả các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn mà công ty phải trả Tổng tài sản là toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm lập báo cáo.
Giới thiệu về phương pháp phân tích Dupoint
Phân tích Dupont là một kỹ thuật phân tích tài chính, chia tỷ số ROA và ROE thành các thành phần liên quan để đánh giá tác động của từng phần Kỹ thuật này giúp các nhà quản lý nội bộ có cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình tài chính của công ty và đưa ra quyết định cải thiện hiệu quả tài chính Phân tích Dupont dựa trên hai phương trình cơ bản.
ROA = Hệ số lãi ròng x Số vòng quay TTS
= (Lợi nhuận ròng/ Doanh thu) x (Doanh thu/Tổng tài sản)
ROE được tính bằng công thức: Hệ số lãi ròng nhân với Số vòng quay tài sản và Hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu Cụ thể, ROE = (Lãi ròng/Doanh thu) x (Doanh thu/Tài sản) x {1/(Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tài sản)}.
Qua phân tích Dupont cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn CSH (ROE) của một
DN có thế phát triển lên bằng 3 cách:
-Sử dụng hiệu quả tài sản hiện có (tăng vòng quay vốn)
-Gia tăng đòn cân nợ
-Tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Khi doanh thu tăng và doanh nghiệp có lãi, việc tăng nợ vay sẽ làm tăng ROE Ngược lại, khi hoạt động giảm và thua lỗ, nợ vay cao sẽ khiến ROE giảm nghiêm trọng, cho thấy ROE phụ thuộc vào đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính lớn có thể nâng cao suất sinh lời của vốn chủ sở hữu khi hoạt động hiệu quả, nhưng cũng có thể làm giảm suất sinh lời khi hoạt động kém, dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp trở nên bi thảm.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân tích Dupont
Hệ số lãi ròng Vòng quay TTS
Giới thiệu chung về Công ty ANGIMEX
Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX) được thành lập vào ngày 23/7/1976 theo quyết định số 73/QĐ – 76 của Chủ tịch Trần Tấn Thời và chính thức hoạt động từ tháng 9/1976 Ban đầu, công ty mang tên “Công ty ngoại thương tỉnh An Giang” và đã trải qua nhiều năm phát triển, thay đổi tên gọi phù hợp với sự biến động của nền kinh tế và hoạt động của công ty.
Vào ngày 31/12/1979, Công ty ngoại thương tỉnh An Giang được đổi tên thành “Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu An Giang” theo quyết định số 422/QĐ/UB của UBND Tỉnh Đến năm 1989, do yêu cầu tổ chức lại ngành ngoại thương, công ty tiếp tục đổi tên thành “Công ty xuất nhập khẩu An Giang” Trụ sở chính hiện tại của công ty tọa lạc tại đường 01 Ngô Gia Tự, thành phố Long Xuyên, An Giang Sau gần 30 năm hoạt động, công ty đã vượt qua nhiều khó khăn và thử thách để trở thành một trong những doanh nghiệp uy tín hàng đầu của tỉnh, đồng thời nằm trong top năm doanh nghiệp hàng đầu về lĩnh vực kinh doanh gạo trên toàn quốc Từ quy mô nhỏ ban đầu, công ty đã mở rộng với nhiều xí nghiệp chế biến, cửa hàng, kho, trạm và các phòng ban nghiệp vụ, cùng đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và tài năng.
Năm 1998, ANGIMEX được Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp, giúp mở rộng thị trường trong và ngoài nước Công ty đã tăng cường hợp tác với các đối tác đầu tư và liên doanh quốc tế, như ANGIMEX - KITOKU (Nhật Bản) và ANGIMEX - VIETSING (Hồng Kông), đạt hiệu quả cao trong nhiều năm qua Uy tín của ANGIMEX ngày càng được nâng cao trên thị trường quốc tế.
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu
Công ty ANGIMEX chuyên chế biến lương thực, đặc biệt là gạo, và xuất khẩu nông sản Ngoài ra, công ty còn hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm công nghệ, cung cấp vật tư nông nghiệp, điện máy, hàng tiêu dùng, vận tải thủy, kinh doanh siêu thị và dạy tin học.
3.2.1.Xu ất khẩu: ANGIMEX có năng lực sản xuất 300.000 tấn gạo/năm, sức chứa kho trên 70.000 tấn, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000 Mỗi năm Công ty xuất khẩu từ 300.000 – 350.000 tấn gạo các loại
Bảng 3.1: Cơ cấu hình thức tiêu thụ Bảng 3.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo
Biểu đồ 3.1: Hình thức tiêu thụ năm 2006.
Biểu đồ 3.1: Thị trường tiêu thụ năm 2006
Biểu đồ 3.2: Thị trường xuất khẩu năm 2006
Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Philippines, Singapore, Malaysia, Inđonesia, Châu Phi, Iran, Iraq, Cuba, Hông Kông, Cambodia,…
Hình thức tiêu thụ Tỷ lệ (%) Xuất khẩu trực tiếp 71.79
3.2.2.Nh ập khẩu: Các thiết bị, vật tư nông nghiệp, phân bón và hàng tiêu dùng thiết yếu khác
3.2.3.Thương mại: Công ty có cửa hàng thương mại - dịch vụ, siêu thị, đại lý…kinh doanh đa dạng các sản phẩm của các nhà sản xuất trong và ngoài nước như: hàng gia dụng, kim khí điện máy, nước giải khát, phân bón, xe gắn máy HONDA, điện thoại di động S-FONE
3.2.4.D ịch vụ công nghệ thông tin: Hợp tác với Học viện công nghệ quốc gia Ấn Độ - NIIT - thành lập trung tâm đào tạo chuyên viên công nghệ thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế tại An Giang.
Cơ cấu tổ chức công ty, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
3.3.1.M ạng lưới tổ chức Công ty ANGIMEX
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mạng lưới tổ chức của Công ty ANGIMEX (1)
3.3.2.Các đơn vị th ành viên
- Các xí nghiệp chế biến lương thực
ANGIMEX sở hữu 15 điểm kho thu mua phân bố đồng đều tại các vùng nguyên liệu quan trọng cả trong và ngoài tỉnh, cùng với 5 xí nghiệp chuyên sản xuất lương thực và chế biến gạo xuất khẩu.
- Đại lý HONDA Việt Nam
Công ty hiện có 3 cửa hàng bán xe và làm dịch vụ do Honda Việt Nam uỷ nhiệm
- Trung tâm phát triển CNTT – Angimex
Trung tâm có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, trung tâm cũng cung cấp chương trình đào tạo chuyên viên công nghệ thông tin hệ 2 năm cho các chuyên ngành như chuyên viên phần mềm và chuyên viên quản trị mạng.
- Đại lý điện thoại di động S-FONE
Cung cấp tất cả các sản phẩm và dịch vụ, bảo hành và chăm sóc khách hàng của mạng điện thoại di động CDMA mang thương hiệu S-FONE
3.3.3.Ch ức năng, n hi ệm vụ của các ph òng ban
Phòng nhân sự - hành chánh đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Giám đốc về tổ chức, hành chính, văn thư và lưu trữ Ngoài ra, phòng còn đảm nhiệm công tác điều vận, lao động - tiền lương, đào tạo, thi đua - khen thưởng, an toàn bảo hộ lao động, phòng cháy chữa cháy, hợp tác xã và hợp đồng tiêu thụ lúa chất lượng cao.
(1) Xem sơ tổ chức mạng lưới ANGIMEX ở bảng phụ lục số 1
Phòng tài chính - kế toán có nhiệm vụ nắm bắt tình hình tài chính và tiền tệ của công ty, quản lý và kiểm tra hoạt động tài chính, hạch toán kinh tế, cũng như báo cáo tài chính Ngoài ra, phòng còn theo dõi việc sử dụng vốn và tài sản, quản lý hoạt động thu chi và thanh toán, đồng thời bồi dưỡng đội ngũ kế toán viên cho công ty.
Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổng thể cho công ty nhằm đầu tư và phát triển kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động Phòng cũng thực hiện các công việc liên quan đến kinh doanh nội địa và quốc tế, bao gồm quản lý hợp đồng xuất nhập khẩu.
Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty
3.4.1.Tình hình ho ạt động kinh doanh
Theo báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của 3 năm gần đây cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty như sau:
Năm 2004, Công ty đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch mà tỉnh giao, với lợi nhuận đạt mức cao nhất từ trước đến nay Mặc dù khả năng doanh số và lợi nhuận có thể cao hơn, nhưng việc chính phủ dừng hạn ngạch ở mức 3,5 triệu tấn đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Công ty.
Về kinh doanh lương thực, kim ngạch xuất khẩu cả tỉnh đạt 100 triệu USD, trong đó Công ty đã chiếm đến 50% kim ngạch
Kinh doanh khối thương mại đang đối mặt với nhiều thách thức do cạnh tranh gay gắt, đặc biệt trong lĩnh vực phân bón và hàng bách hóa tiêu dùng Tuy nhiên, Honda vẫn duy trì được sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình trong năm 2004.
Năm 2005, hạt gạo Angimex đã đạt được thành công lớn nhờ nguồn hàng cân đối, giá cả cạnh tranh và nhu cầu cao trên thị trường quốc tế, với lợi nhuận đạt 77 triệu USD và tổng lượng xuất khẩu 310.000 tấn Kim ngạch xuất khẩu lương thực của tỉnh vượt 165 triệu USD, trong đó Công ty chiếm 47% kim ngạch gạo Năm nay, Công ty cũng đã thâm nhập vào thị trường Iran và tăng cường xuất khẩu sang Châu Phi.
Công ty đã đối mặt với nhiều thách thức trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, bao gồm xe Honda, phụ tùng và phân bón, do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Tuy nhiên, nhờ vào nỗ lực không ngừng và khả năng khai thác tốt các cơ hội kinh doanh, công ty đã đạt được những kết quả khả quan Đặc biệt, việc mở rộng sang dịch vụ sửa chữa và kinh doanh mạng điện thoại di động S-Fone đã góp phần quan trọng vào việc tăng doanh thu cho công ty.
Năm 2006, giá xuất khẩu gạo tăng lên 254,87 USD/tấn, tăng 9 USD so với năm 2005, trong khi giá xuất khẩu của Công ty đạt 268,28 USD/tấn, tăng 14,75 USD/tấn Mặc dù sản lượng tiêu thụ thấp, Công ty vẫn đạt hiệu quả kinh doanh khả quan nhờ vào lợi nhuận tăng Nguyên nhân cho sự giảm sút sản lượng tiêu thụ là do Công ty không tham gia vào cuộc chiến giá cả để ký hợp đồng xuất khẩu với giá thấp và bị ảnh hưởng bởi lệnh dừng xuất khẩu của Chính phủ trong 6 tháng cuối năm.
Khối kinh doanh thương mại của công ty đã có sự phát triển khả quan và đạt lợi nhuận Công ty quyết định mở thêm các cửa hàng Head Honda mới, bao gồm Cửa hàng Honda Angimex III và Cửa hàng Honda Thoại Sơn Đồng thời, S-Fone cũng đã bắt đầu phát triển và đạt lợi nhuận, với hoạt động bán hàng đại lý được chú trọng phát triển bền vững.
3.4.2.Cơ cấu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảng 3.3: Bảng tóm tắt báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Lưu chuyển tiền tệ từ HĐKD (43,338) 87,210 24,436
Lưu chuyển tiền tệ từ HĐĐT (6,227) (7,030) (30,458)
Lưu chuyển tiền tệ từ HĐTC 42,514 (79,168) 5,987
Tăng (giảm) tiền trong kỳ (7,051) 1,012 (35)
Năm 2004, công ty ghi nhận dòng tiền ra từ hoạt động kinh doanh là 43.338 triệu đồng, trong khi trích quỹ tiền mặt đạt 7.051 triệu đồng Hoạt động đầu tư tiêu tốn khoảng 6.227 triệu đồng, bao gồm thu lãi từ các khoản đầu tư và thanh lý tài sản cố định Để bù đắp cho dòng tiền ra, công ty đã sử dụng 42.514 triệu đồng từ hoạt động tài chính, chủ yếu từ vay nợ và lãi tiền gửi Cuối kỳ, quỹ tiền mặt còn lại là 3.098 triệu đồng.
Năm 2005, công ty ghi nhận quỹ tiền mặt từ hoạt động kinh doanh đạt 87.210 triệu đồng, trong khi chi phí cho hoạt động đầu tư là 7.030 triệu đồng, bao gồm mua sắm tài sản cố định, góp vốn liên doanh và đầu tư vào các đơn vị khác Hoạt động tài chính tiêu tốn 79.168 triệu đồng, chủ yếu là chi trả nợ gốc vay Như vậy, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đã được sử dụng để bù đắp cho các hoạt động đầu tư và tài chính, và cuối kỳ, quỹ tiền mặt còn lại là 4.110 triệu đồng.
*Năm 2006: Với những dòng tiền ra vào từ hoạt động kinh doanh, số dư là
Công ty đã chi 30.436 triệu đồng cho hoạt động đầu tư, chủ yếu vào mua sắm và xây dựng tài sản cố định cùng các tài sản dài hạn khác, cũng như đầu tư góp vốn liên doanh và vào các đơn vị khác Để bù đắp cho khoản chi này, ngoài việc sử dụng tiền đầu kỳ và doanh thu từ hoạt động kinh doanh, Công ty còn phải huy động tiền từ hoạt động tài chính Cuối kỳ, quỹ còn lại là 4.075 triệu đồng.
Kế hoạch phát triển năm 2007
Theo dự báo, nhu cầu toàn cầu về gạo sẽ tiếp tục tăng cao, đạt khoảng 418,19 triệu tấn, trong khi nguồn cung chỉ khoảng 416 triệu tấn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt.
Vào năm 2007, chỉ tiêu xuất khẩu gạo ban đầu của Việt Nam là khoảng 4.5 triệu tấn, trong khi hiện tại Hiệp hội đã ký hợp đồng xuất khẩu 3.5 triệu tấn gạo thuộc cấp Chính phủ.
*Các chỉ tiêu kinh doanh năm 2007
-Gạo – ngành kinh doanh chủ lực: kinh doanh xuất khẩu và cung ứng xuất khẩu với sản lượng 250.000 tấn
-Ngành hàng khác (xe Honda, phân bón: 20.000 tấn, dịch vụ sửa xe, dịch vụ điện thoại di động): doanh thu tăng 15% so với năm 2006
Kinh doanh ngành hàng mới bao gồm xuất khẩu 1.320 tấn cá tra fillet và nhập khẩu 20.000 tấn bã đậu nành Số lượng bã đậu nành này sẽ được cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản và tiêu thụ 20.000 tấn thức ăn gia súc.
- Đa dạng hóa sản phẩm chế biến gạo
*Chiến lược, định hướng kinh doanh
- Mở rộng dịch vụ Honda và sửa chữa xe Honda trên phạm vi toàn ĐBSCL
Trung tâm NIIT đang mở rộng dịch vụ công nghệ thông tin bằng cách xem xét việc đào tạo các ngành phổ thông, bao gồm lắp ráp phần cứng và tin học văn phòng.
Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu gạo và giảm sự lệ thuộc vào chính phủ là cần thiết, bao gồm việc giảm tỷ lệ xuất khẩu và tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ để sản xuất các sản phẩm tiêu dùng Điều này không chỉ giúp gia tăng tỷ suất lợi nhuận mà còn hạn chế rủi ro và chiếm lĩnh thị trường nội địa Đồng thời, việc kinh doanh nguồn phụ phẩm giá rẻ cũng sẽ góp phần tăng thêm lợi nhuận cho công ty.
- Xây dựng mô hình riêng cho ngành thương mại dịch vụ.
Tình hình sử dụng vốn tại Công ty ANGIMEX
Tình hình sử dụng vốn trong chính sách đầu tư tài sản
4.1.1.Tình hình thanh toán c ủa Công ty
Bảng 4.1: Tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh ĐVT: Triệu đồng.
Tỷ số thanh toán hiện hành 1.11 1.28 1.07
Tỷ số thanh toán nhanh 0.56 0.72 0.33
Biểu đồ 4.1: Tỷ số thanh toán
Tỷ số thanh toán hiện hành của Công ty qua các năm đều lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán là bình thường và chấp nhận được Năm 2005, tỷ số này đạt 1.28, cao hơn so với 1.11 của năm 2004 Tuy nhiên, vào năm 2006, mặc dù tỷ số thanh toán hiện hành vẫn lớn hơn 1 (1.07), nhưng có xu hướng giảm sút.
Tỷ số thanh toán hiện hành Năm
Tỷ số thanh toán nhanh của công ty trong các năm 2004, 2005 và 2006 cho thấy giá trị tốt, nhưng đã có xu hướng giảm vào năm 2006, báo hiệu những khó khăn tài chính sắp tới Công ty cần xác định nguyên nhân và thực hiện các biện pháp khắc phục Bảng cân đối kế toán cho thấy hai khoản hàng tồn kho (HTK) và khoản phải thu (KPT) chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động, cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn chủ yếu phụ thuộc vào hai khoản này, mà việc chuyển đổi thành tiền cần thời gian và chi phí Do đó, để đánh giá chính xác khả năng thanh toán, cần so sánh tỷ số thanh toán với khả năng chuyển đổi thành tiền của HTK và KPT.
4.1.2 Hi ệu quả trong đầu tư tài sản lưu động
4.1.2.1.Số vòng quay khoản phải thu
Bảng 4.2: Số vòng quay KPT ĐVT:Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Kỳ thu tiền bình quân 25.86 15.87 7.25
Biểu đồ 4.2: Số vòng quay KPT
Số vòng quay các KPT đã tăng gần gấp đôi qua các năm, từ 13.92 vòng vào năm 2004, tương ứng với thời gian thu hồi nợ là 25.86 ngày, lên 22.68 vòng vào năm 2005 với thời gian thu nợ giảm xuống còn 15.87 ngày, và đạt 49.67 vòng vào năm 2006 với thời gian thu nợ chỉ còn 7.25 ngày Sự gia tăng này cho thấy khả năng thu hồi vốn của Công ty ngày càng nhanh chóng, đồng thời hiệu quả sử dụng vốn cũng được cải thiện do thời gian vốn bị chiếm dụng ngày càng ít.
Số vòng quay KPT giảm mạnh qua các năm do biến động thị trường xuất nhập khẩu gạo ảnh hưởng đến thị phần xuất khẩu của Công ty Năm 2004, thị trường truyền thống Châu Á gặp khó khăn, như Indonesia đóng cửa và Nigeria, Philippines giảm nhập khẩu gạo, buộc Công ty phải tìm kiếm khách hàng mới, chuyển hướng sang thị trường Châu Phi Để thu hút khách hàng mới, Công ty nới lỏng chính sách tín dụng, dẫn đến số lượng khách hàng tăng và KPT cao trong năm 2004 Tuy nhiên, sau đó, khi thị phần ổn định, Công ty thắt chặt chính sách tín dụng để hạn chế vốn bị chiếm dụng KPT cũng giảm do lệnh hạn chế xuất khẩu của Chính phủ, ảnh hưởng đến số lượng khách hàng.
Thời gian tín dụng của Công ty dành cho khách hàng thường là một tháng Mặc dù Công ty không áp dụng chính sách chiết khấu cho việc trả nợ sớm, nhưng nếu khách hàng thanh toán chậm, họ sẽ phải chịu mức phạt lãi suất cao hơn ngân hàng, từ 1.3% đến 1.5% Sự gia tăng nhanh chóng của các khoản phải thu (KPT) đang làm giảm sức cạnh tranh của Công ty Để giảm vốn bị chiếm dụng, Công ty đã áp dụng chính sách giảm bán chịu, nhưng điều này lại dẫn đến việc giảm lượng khách hàng và doanh thu.
Theo bảng phụ lục 1 (2), KPT luôn thấp hơn nợ ngắn hạn, cho thấy Công ty sử dụng vốn vay nhiều hơn vốn tự có Điều này giúp Công ty giảm thiểu rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh đồng tiền đang trượt giá nhanh chóng.
4.1.2.2.Số vòng quay hàng tồn kho
Bảng 4.3: Số vòng quay HTK ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
(2) Xem chi tiết bảng phụ lục 1 ở phần phụ lục phía sau
Biểu đồ 4.3: Số vòng quay HTK
Vào năm 2004, Công ty ghi nhận số vòng quay hàng tồn kho (HTK) là 13.45 vòng, với thời gian tồn kho trung bình cho mỗi vòng là 26.77 ngày Đến năm 2005, số vòng quay tăng lên 26.97 vòng, trong khi thời gian tồn kho giảm xuống còn 13.35 ngày Tuy nhiên, vào năm 2006, số vòng quay giảm còn 18.69 vòng, với thời gian tồn kho cho mỗi vòng là 19.26 ngày.
Vào năm 2005, số vòng quay hàng tồn kho (HTK) của Công ty tăng lên nhờ vào tốc độ doanh thu (DT) tăng trong khi tốc độ HTK giảm, dẫn đến thời gian hàng trong kho giảm gần 14 ngày Sự cải thiện này xuất phát từ việc Công ty đã giải quyết lượng HTK tồn đọng từ năm 2004 với giá cao Trong vụ Đông Xuân 2005, Công ty áp dụng chính sách quản trị HTK định hướng theo từng giai đoạn, kết hợp hiệu quả giữa tồn kho, bán hàng, mua sắm và sản xuất giao hàng, giúp giảm lượng HTK Mặc dù Chính phủ hạn chế xuất khẩu vào tháng 7/2005 có thể gây ứ đọng HTK, nhưng Công ty đã cân đối tồn kho hợp lý và ký hợp đồng với giá cao Trong quý III, Công ty đã ký hợp đồng 52,750 tấn gạo và quý IV là 9,700 tấn gạo, duy trì hoạt động kinh doanh liên tục và góp phần giảm lượng HTK vào cuối năm 2005.
Vào năm 2006, số vòng quay hàng tồn kho (HTK) giảm xuống còn 18.69 vòng, dẫn đến việc số ngày hàng trong kho tăng thêm khoảng 6 ngày so với năm 2005 Nguyên nhân chính là do Công ty quyết định không giải phóng lượng HTK với các hợp đồng ký giá thấp trong cuộc chiến giá cả vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 Thêm vào đó, lệnh dừng xuất khẩu của Chính phủ trong 6 tháng cuối năm cũng đã khiến lượng HTK bị ứ đọng Tuy nhiên, tình hình này không đáng lo ngại vì lượng HTK sẽ được giải quyết cho các hợp đồng xuất khẩu của Chính phủ vào năm 2007.
Tỷ số thanh toán của Công ty cho thấy khả năng thanh toán tốt nhờ vào số vòng quay KPT và HTK nhanh chóng Hai khoản này có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng khi đến hạn nợ, cho thấy sự hợp lý trong việc duy trì tỷ số khả năng thanh toán.
Tỷ số thanh toán tổng quát của Công ty không thấp hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ được đảm bảo Tuy nhiên, tỷ số này không nên quá cao, vì điều đó có thể làm giảm hiệu quả hoạt động do Công ty có thể đã đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho và các khoản đầu tư có thời gian hoàn trả chậm Do Công ty hoạt động theo mùa vụ, việc quản lý tài chính hợp lý là rất quan trọng.
HTK và KPT cao là điều không thể tránh khỏi trong các công ty xuất nhập khẩu Do đó, các công ty cần cân đối chúng ở mức độ hợp lý để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.
4.1.2.3.Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động
Bảng 4.4: Hiệu suất sử dụng TSLĐ ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Hiệu suất sử dụng TSLĐ 6.61 11.72 12.95
Biểu đồ 4.4: Hiệu suất sử dụng TSLĐ
Vào năm 2004, TSLĐ của Công ty đạt 6.61 vòng, tăng lên 11.71 vòng vào năm 2005 và 12.95 vòng vào năm 2006, cho thấy tốc độ luân chuyển TSLĐ ngày càng nhanh Điều này cho thấy Công ty đã tạo ra kết quả tốt hơn với một đồng vốn ít hơn, phản ánh sức sản xuất và khả năng tiết kiệm vốn ngày càng cao Phân tích cho thấy tỷ trọng TSLĐ & ĐTNH giảm qua các năm, chủ yếu do sự giảm mạnh của tỷ trọng các KPT và HTK, hai khoản mục chiếm tỷ trọng cao trong TSLĐ & ĐTNH, cùng với sự giảm nhẹ trong tỷ trọng các tài sản ngắn hạn khác.
Để tăng tốc độ luân chuyển vốn, biện pháp cơ bản không phải là giảm vốn, vì việc này sẽ dẫn đến giảm quy mô kinh doanh và giảm năng lực hoạt động.
Để đánh giá hiệu suất sử dụng TSLĐ cạnh tranh của Công ty, cần so sánh tốc độ tăng vốn với tốc độ tăng doanh thu nhằm có cái nhìn khách quan hơn.
Bảng 4.5: So sánh tốc độ tăng (giảm) DT với NV và số vòng luân chuyển TSLĐ
Tốc độ tăng (giảm) DT 28.60% -10.68%
Tốc độ tăng (giảm) nguồn vốn -14.98% -1.72%
Tốc độ tăng (giảm) vòng quay TSLĐ 77.34% 10.48%
Lợi thế của vốn CSH trong việc gia tăng đòn bẩy tài chính
4.2.1.T ỷ số nợ tr ên t ổng t ài s ản
Bảng 4.9: Hệ số nợ ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Tỷ số nợ trên TTS 74.17% 56.51% 57.01%
Tỷ số nợ trên tổng tài sản năm 2004 là 74.17%, sang năm 2005 giảm còn 56.51% và giữ mức 57.01% vào năm 2006 Điều này cho biết, trong năm 2004 có đến
74,17% tài sản của Công ty được tài trợ bằng vốn vay, cho thấy mức độ tài trợ tài sản bằng vốn vay rất cao Phần lớn vốn vay là nợ ngắn hạn, dẫn đến việc Công ty phải trả một lượng tiền lớn hàng năm cho việc chiếm dụng vốn, gây khó khăn trong khả năng thanh toán và tăng mức độ rủi ro tài chính Với tỷ số này, Công ty gặp khó khăn trong việc huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài, vì các chủ nợ đánh giá thấp khả năng trả nợ của Công ty.
Vào năm 2005 và 2006, tình hình công nợ của Công ty đã có những cải thiện tích cực, với khoảng 57% tài sản được tài trợ bằng vốn vay ngắn hạn Để giảm thiểu rủi ro tài chính, Công ty cần nhanh chóng tăng quy mô vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảo khả năng tự chủ về nguồn vốn.
Nguồn vốn tín dụng của Công ty đã giảm qua các năm, chủ yếu do việc cắt giảm các khoản vay và nợ ngắn hạn Nợ dài hạn gần như không tồn tại, cho thấy rằng nợ ngắn hạn chủ yếu được sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Biểu đồ 4.7: Tỷ số nợ trên tổng tài sản
4.2.2.T ỷ số nợ d ài h ạn tr ên v ốn
Bảng 4.10: Tỷ số nợ trên vốn CSH và tỷ số nợ dài hạn trên vốn CSH ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Tỷ số nợ trên vốn CSH 285.47% 115.04% 109.72%
Tỷ số nợ DH trên vốn CSH 6.13% - -
Trong năm 2004, Công ty đã nhận được sự tài trợ vượt trội so với vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ lên tới 185.47% Điều này cho thấy Công ty đã tận dụng hiệu quả nguồn vốn vay để phát triển hoạt động kinh doanh.
Tỷ số nợ trên tổng tài sản vào năm 2004 cho thấy sự giảm mức tài trợ trong năm 2005 và 2006, chỉ còn hơn vốn CSH 15.04% và 9.72% tương ứng Sự giảm nợ phải trả và tăng cường cấu trúc vốn CSH trong tổng vốn cho thấy tính chủ động trong kinh doanh của Công ty được cải thiện, đồng thời nâng cao khả năng độc lập tài chính Để đánh giá mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên, cần xem xét tỷ số nợ dài hạn trên vốn CSH.
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu thấp hơn tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu, cho thấy phần lớn nợ của Công ty là nợ ngắn hạn Trong hai năm 2005 và 2006, Công ty không vay nợ dài hạn, điều này giúp giảm rủi ro tài chính khi lợi nhuận không đủ để trả lãi vay.
Biểu đồ 4.8: Tình hình tài trợ bằng vốn vay bên ngoài so với vốn CSH.
Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản
4.3.1.Hi ệu quả sử dụng vốn luân lưu
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ biểu hiện vốn luân lưu duơng ở Công ty
Tỷ số nợ trên tổng tài sản Tỷ số nợ trên vốn CSH
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn CSH
Bảng 4.11 cho thấy vốn luân lưu của công ty dương qua các năm, chứng tỏ việc tài trợ từ nguồn vốn rất hiệu quả Tất cả tài sản cố định (TSCĐ) được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn, cho thấy sự ổn định trong tài chính Doanh nghiệp không chỉ có đủ vốn dài hạn để tài trợ cho TSCĐ mà còn dư thừa để đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn khác Vốn luân lưu dương cũng cho thấy tổng tài sản lưu động (TSLĐ) lớn hơn nợ ngắn hạn, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt và có khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản quay vòng nhanh.
Bảng 4.11: Vốn luân lưu ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Biểu đồ 4.9: Vốn luân lưu
Vốn luân lưu tăng từ 16,404 triệu đồng ở năm 2004 lên 27,041 triệu đồng ở năm
Năm 2005, nguồn vốn tự có của doanh nghiệp đã tăng từ 55,571 triệu đồng lên 84,685 triệu đồng, cho thấy sự gia tăng vốn lưu động dựa trên nguồn vốn tự có là rất tích cực Điều này chứng tỏ doanh nghiệp không chỉ hoạt động hiệu quả mà còn có khả năng huy động thêm vốn từ bên ngoài.
Năm 2006, vốn luân lưu giảm xuống còn 6,991 triệu đồng do TSCĐ tăng 35.91% và TSLĐ giảm 19.15% Mặc dù nguồn vốn dài hạn chỉ tăng 0.77% và nợ vay ngắn hạn giảm 3.98% so với năm 2005, vốn luân lưu vẫn duy trì ở mức dương Đồng thời, doanh nghiệp đã đầu tư phát triển và xây dựng thêm hai cửa hàng, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của TSCĐ, nhanh hơn so với nguồn vốn dài hạn.
Việc giảm vốn trong năm này đã làm giảm mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp, nhưng đây là một chiến lược nhằm tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lợi mới, từ đó nâng cao vị thế của công ty Nếu doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận hoặc huy động thêm nguồn vốn dài hạn trong quá trình phát triển, thì sự giảm vốn này chỉ là hiện tượng tạm thời và không đáng lo ngại Vốn dài hạn sẽ dần dần tăng lên tương ứng với mức tài sản cố định được đầu tư, và vốn lưu động sẽ phục hồi trở lại.
Vốn luân lưu của Công ty giảm mạnh trong năm 2006, chủ yếu do TSLĐ giảm, đặc biệt là KPT khách hàng Mặc dù hàng tồn kho tăng 28.42%, nhưng VLL giảm cho thấy Công ty không gặp tình trạng cạn dự trữ Để đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào, Công ty đã mở rộng hợp tác với nhiều đối tác mới, bao gồm Công ty TNHH Đức Thành, Công ty TNHH Tiền Giang, cùng ba đối tác khác tại khu vực Lấp Vò, Thốt Nốt, Phú Hòa Trong trường hợp thiên tai ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu xuất khẩu, Công ty có thể bổ sung nguồn từ Campuchia.
4.3.1.2.Nhu cầu vốn luân lưu
Bảng 4.12: Nhu cầu vốn luân lưu ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Nhu cầu vốn luân lưu 10,646 21,016 2,361
Biểu đồ 4.10: Nhu cầu vốn luân lưu
Nhu cầu vốn lưu động năm 2005 tăng gấp đôi so với nhu cầu vốn lưu động năm
Năm 2005, mặc dù nợ phải thu và hàng tồn kho giảm, nhưng tốc độ giảm của các khoản này vẫn cao hơn so với nợ ngắn hạn, dẫn đến nhu cầu vốn lưu động tăng mạnh Công ty cần chú ý không nên sử dụng vốn lưu động để tài trợ chủ yếu cho hàng tồn kho, vì đây không phải là quyết định tài chính hợp lý Việc sử dụng vốn dài hạn cho nhu cầu ngắn hạn có thể gây tốn kém, trong khi tín dụng ngắn hạn với chi phí thấp hơn nên được ưu tiên sử dụng.
Năm 2006, doanh nghiệp đã giảm thiểu tình trạng nhu cầu vốn luân chuyển quá cao, với nhu cầu vốn luân chuyển chỉ còn 2,361 triệu đồng Điều này cho thấy doanh nghiệp đã cân đối hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản lưu động và nguồn vốn dài hạn cho tài sản cố định, từ đó nâng cao sự ổn định và an toàn tài chính.
Bảng 4.13: Vốn bằng tiền ĐVT: Tiệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Nhu cầu vốn luân lưu 10,646 21,016 2,361
Biểu đồ 4.11: Vốn bằng tiền
Theo bảng 4.13, trong ba năm gần đây, vốn bằng tiền của doanh nghiệp luôn dương, cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu vốn luân chuyển của doanh nghiệp không chỉ đủ mà còn dư thừa Số tiền dư này gần như tương đương qua các năm, cho thấy doanh nghiệp có nhu cầu vốn luân chuyển dương, điều này thường thấy trong các doanh nghiệp.
DN có ngành hoạt động theo thời vụ Tuy nhu cầu vốn luân lưu dương nhưng vốn luân
Năm triệu đồng lưu của doanh nghiệp vẫn đủ để tài trợ, cho thấy tình hình tài chính rất lành mạnh Hiệu quả sử dụng vốn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh là tốt.
Biểu đồ 4.12: Sự tài trợ nhu cầu vốn luân lưu bằng vốn luân lưu
Tóm lại: Vốn luân lưu dương phản ánh TSCĐ được tài trợ một cách vững vàng
Công ty có nợ ngắn hạn thấp, dẫn đến nhu cầu vốn luân lưu dương, và vốn luân lưu đủ để đáp ứng nhu cầu này Vốn bằng tiền và các khoản phải thu đã đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tổng tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn, cho thấy khả năng thanh toán tốt của Công ty vào năm 2006 Sự độc lập tài chính ở mức cao, và Công ty còn có khả năng vay dài hạn do nợ dài hạn chiếm tỷ lệ rất nhỏ và không có vay thêm trong các năm 2005.
Sơ đồ 4.2: Mối quan hệ giữa NC VLL, VLL và vốn bằng tiền ĐVT: Triệu đồng
Vốn luân lưu Nhu cầu VLL Vốn bằng tiền
4.3.2.Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Bảng 4.14: Khả năng sinh lời của tổng tài sản ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Khả năng sinh lời của TTS (ROA) 5.44% 10.20% 9.00%
Biểu đồ 4.13: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Theo bảng 4.14, mỗi đồng tài sản mà Công ty đầu tư vào hoạt động kinh doanh trong năm 2004 sẽ tạo ra 0.0544 đồng lợi nhuận, và con số này tăng lên 0.1020 đồng lợi nhuận trong các năm tiếp theo.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đã tăng qua các năm, mặc dù năm 2006 có xu hướng sụt giảm do lợi nhuận sau thuế giảm Nguyên nhân không phải do hiệu quả kinh doanh kém, vì lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn tăng đều hàng năm Tuy nhiên, năm 2006, Công ty phải chịu thêm thuế chuyển quyền sử dụng đất và thuế bổ sung cho năm 2004, dẫn đến lợi nhuận giảm Lợi nhuận năm 2005 cao hơn năm 2006 còn nhờ vào khoản thu nhập khác Điều này cho thấy Công ty có khả năng sắp xếp và quản lý tài sản hiệu quả, mang lại lợi nhuận ổn định hàng năm Để đánh giá chính xác khả năng sinh lời của tổng tài sản, cần xem xét ảnh hưởng của hệ số lãi ròng và số vòng quay tổng tài sản qua phương pháp Dupont.
ROA (2004): 5.44% = 1.03% x 5.2971 (vòng) ROA (2005): 10.20% = 1.27% x 8.0128 (vòng) ROA (2006): 9% = 1.24% x 7.2827 (vòng)
Bảng 4.15: Hệ số lãi ròng và hệ số lãi gộp
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Biểu đồ 4.14: Hệ số lãi ròng và hệ số lãi gộp
Hệ số lãi ròng năm 2005 đã tăng 0.25% so với năm 2004, cho thấy hiệu suất sinh lợi có sự cải thiện, mặc dù mức tăng này là rất nhỏ.
Hệ số lãi gộp năm 2005 đạt 8.86%, cao hơn so với 7.85% của năm 2004, nhờ vào nỗ lực cắt giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và lao động Điều này cho thấy Công ty hoạt động hiệu quả hơn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sự kết hợp giữa hệ số lãi ròng và số vòng quay tài sản tạo ra dấu hiệu lạc quan, với ROA năm 2005 gần gấp đôi so với năm 2004, chứng tỏ tính hiệu quả trong phân phối và quản lý nguồn lực Tỷ lệ lợi nhuận cho vốn chủ sở hữu và chủ nợ trong năm 2005 cũng cao gần gấp đôi so với năm trước, cho thấy Công ty đã cải thiện tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thông qua việc gia tăng vòng quay tài sản, đặc biệt là vòng quay tài sản lưu động.
Hệ số lãi ròng năm 2006 giảm nhẹ 0.04% so với năm 2005, trong khi hệ số lãi gộp tăng từ 8.86% lên 9.05%, cho thấy Công ty vẫn duy trì hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ Để đánh giá xu hướng giảm của hệ số lãi ròng, cần xem xét kết hợp với số vòng quay tài sản Chỉ tiêu ROA cũng cần được tính toán để có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động của Công ty.
Một số giải pháp đề nghị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
Quá trình phân tích tình hình sử dụng vốn tại ANGIMEX cho thấy việc quản lý nguồn vốn tương đối hiệu quả Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, công ty có thể áp dụng thêm một số giải pháp đề xuất.
Công ty cần tăng vòng quay toàn bộ vốn, đặc biệt là cải thiện tốc độ chu chuyển vốn lưu động để nâng cao lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn Phân tích cho thấy biện pháp đầu tiên cần thực hiện là tăng nhanh vòng quay của hàng tồn kho (HTK), vì đây là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tài sản lưu động (TSLĐ).
Công ty cần mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bằng cách tận dụng tối đa nguồn vốn bên ngoài để tăng doanh thu và lợi nhuận Việc này sẽ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh, đặc biệt khi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có thể tăng đáng kể Tận dụng vốn vay bên ngoài sẽ mở ra cơ hội trên thị trường, từ đó giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Công ty có thể xem xét vay vốn dài hạn với tỷ lệ thấp trong những năm gần đây, nhưng cần đảm bảo tỷ suất tự tài trợ duy trì ở mức chấp nhận được từ 40% đến 50%.
Vào năm 2006, hàng tồn kho (HTK) của Công ty có dấu hiệu tăng trở lại, đòi hỏi việc đánh giá lại các khoản mục hàng hóa để xác định nguyên nhân tăng cao và xây dựng chính sách tồn kho hợp lý hơn cho tương lai Bên cạnh đó, sự gia tăng HTK còn bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường và chính sách hạn chế xuất khẩu, gây khó khăn và làm giảm kết quả hoạt động của Công ty.
Công ty cần xây dựng chính sách kinh doanh và chiến lược tồn kho linh hoạt, tương tự như năm 2005, để đạt được thành công Để thực hiện điều này, cần có đội ngũ nhân viên chuyên phân tích các yếu tố nội bộ và ngoại vi, theo dõi sự biến động và tình huống trên thị trường Việc này giúp xác định kịp thời cơ hội và rủi ro, từ đó tận dụng cơ hội vàng và khắc phục rủi ro trong kinh doanh.
Khoản phải thu bình quân của Công ty vào năm 2006 quá thấp, cho thấy chính sách tín dụng quá chặt chẽ, dẫn đến doanh số giảm và lợi nhuận không đạt kỳ vọng Do đó, Công ty nên nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng trong năm tới, xây dựng chính sách bán chịu để KPT có thể chuyển hoá thành tiền trong thời gian hợp lý Công ty có thể lập bảng kê thời hạn các tài khoản KPT khách hàng để quản lý khoản phải thu quá hạn và chưa quá hạn, từ đó đưa ra quyết định về chính sách tín dụng hoặc thu hồi nợ Ngoài ra, Công ty có thể thu hút khách hàng bằng cách giảm giá cho những khách hàng thanh toán trước hạn, ví dụ như chính sách tín dụng 5/10 Net 30 cho hợp đồng xuất khẩu gạo, trong đó giảm giá 5% cho khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày.