1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu

107 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Tác giả Bùi Thị Tâm, Hồ Như Thủy
Người hướng dẫn Bùi Thị Tâm
Trường học Trường Đại Học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 763,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Lịch sử vấn đề (12)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (16)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.1. Những quan niệm về từ, từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian (19)
      • 1.1.1. Các quan niệm về từ (19)
      • 1.1.2. Các quan niêm khác nhau về từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian (0)
        • 1.1.2.1. Quan niệm của ông Diệp Quang Ban về từ chỉ thời gian ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 2) (0)
        • 1.1.2.2. Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 1) (23)
        • 1.1.2.3. Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt) (0)
        • 1.1.2.4. Quan niệm của tác giả Đào Thản ( trong cuốn Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật) (25)
        • 1.1.2.5. Quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh ( trong cuốn Tiếng việt hiện đại) (0)
    • 1.2. Thời gian và thời gian nghệ thuật (31)
      • 1.2.1 Khái niệm thời gian (0)
      • 1.2.2. Khái niệm từ chỉ thời gian nghệ thuật (0)
  • CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU (36)
    • 2.1. Những nét chính về cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu (36)
      • 2.1.1. Cuộc đời (36)
      • 2.1.2 Tác phẩm (37)
      • 2.2.1 Danh từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
      • 2.2.2 Phó từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
      • 2.2.3. Đại từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
    • 2.3. Một số nhận xét về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (60)
      • 2.3.1. Vị trí của từ chỉ thời gian (0)
      • 2.3.2. Từ chỉ thời gian đƣợc dùng với các biện pháp tu từ (0)
  • CHƯƠNG 3: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC DÙNG TỪ CHỈ THỜI GIAN (67)
    • 3.1. Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện khát khao giao cảm với đời (67)
      • 3.1.1. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện cái nhìn cuộc sống tươi đẹp (67)
      • 3.1.2. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha (71)
    • 3.2. Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu đôi lứa (77)
      • 3.2.1. Niềm khát khao mãnh liệt tình yêu đôi lứa (77)
      • 3.2.2. Tình yêu đôi lứa thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp (83)
    • 3.3. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn (86)
      • 3.3.1. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nhà thơ về nỗi buồn (86)
      • 3.3.2. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn về sự tiếc nuối cho những phút giây yêu thương trôi qua quá ngắn ngủi (90)
  • KẾT LUẬN (93)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Khi nhắc đến phong trào thơ mới, Xuân Diệu luôn được nhớ đến như một người dẫn đầu quan trọng Ông không chỉ thành công trong sự nghiệp nghệ thuật mà còn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả Nghiên cứu về Xuân Diệu và tác phẩm của ông đã thu hút nhiều ý kiến độc đáo từ các nhà phê bình.

Hoài Thanh-Hoài Chân đã nhận định rằng Xuân Diệu là một trong những nhà thơ mới nhất, mang trong thơ mình nỗi niềm của thanh niên hiện đại và hương xưa của đất nước Ông không được chào đón như Huy Cận, nhưng sau gần năm năm, tiếng khen chê về thơ Xuân Diệu vẫn không ngừng Tác giả nhấn mạnh rằng thơ của Xuân Diệu không chỉ phản ánh tinh thần của nòi giống mà còn thể hiện sự cần thiết của sự thay đổi và phát triển Ông cho rằng việc yêu cầu ngày mai phải giống hệt ngày hôm qua là điều vô lý Xuân Diệu sống vội vàng, đắm say trong tình yêu và cảnh đời, muốn tận hưởng cuộc sống ngắn ngủi của mình.

Các nhà phê bình đã đánh giá cao Xuân Diệu, khẳng định vị trí quan trọng của ông trong văn học và giá trị nội dung, nghệ thuật trong thơ Đặc biệt, thời gian được coi là yếu tố quan trọng trong tác phẩm của ông Những nhận xét này một lần nữa khẳng định giá trị tư tưởng nghệ thuật mới mẻ trong thơ Xuân Diệu, mặc dù họ chưa chỉ ra được những điểm hay và nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm của ông.

* Trong cuốn Đến với thơ Xuân Diệu do Ngô Viết Dinh tuyển chọn [5] có tổng hợp một số bài viết tiêu biểu nhƣ sau:

Bài viết của Hoài Thanh về Xuân Diệu cho thấy rằng lời văn của tác giả mang nét bỡ ngỡ, giống như trẻ con học nói hay người nước ngoài mới bắt đầu học tiếng Việt Tuy nhiên, chính sự bỡ ngỡ này lại là điểm mạnh của Xuân Diệu, khi dòng tư tưởng của ông quá sôi nổi để có thể tuân theo những khuôn mẫu có sẵn Ý kiến này tuy đề cập đến việc sử dụng từ ngữ trong thơ của Xuân Diệu, nhưng vẫn còn chung chung và chưa đi sâu vào giá trị nghệ thuật cụ thể của tác phẩm.

Nguyễn Quốc Túy trong bài viết "Xuân Diệu nhà thơ mới trữ tình cảm xúc" nhấn mạnh rằng nghệ thuật thơ của Xuân Diệu luôn tràn đầy cảm giác và "thức nhọn giác quan" Ông chỉ ra rằng ngôn ngữ thơ của Xuân Diệu thể hiện nét riêng qua việc sử dụng nhiều từ biểu hiện cảm xúc Tuy nhiên, người viết nhận thấy rằng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ của Xuân Diệu.

Trong bài viết của Đỗ Lai Thúy, nỗi ám ảnh về thời gian trong thơ Xuân Diệu được thể hiện qua nhiều khía cạnh Ông nhận định rằng thơ Xuân Diệu là một "thế giới rộng mở, đa thanh", nơi mà các giai âm như "Mùa thu" thể hiện sự nhận thức về thời gian, "Vội vàng" phản ánh cách ứng xử với thời gian, "Gửi hương cho gió" thể hiện tình yêu như một chiến thắng trước thời gian, và "Thơ thơ" là nghệ thuật vĩnh cửu hóa thời gian Những âm giai này thay nhau nổi lên, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu, đồng thời vẫn giữ được tính xuyên suốt và nhất quán.

Diệu, theo cách nhìn tổng quát, giúp người viết có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi ám ảnh thời gian trong thơ Xuân Diệu Tuy nhiên, thời gian này vẫn mang tính cá nhân và chưa được phân tích từ góc độ nghệ thuật chuyên sâu Do đó, nghiên cứu của người viết được xem là một vấn đề mới mẻ và có tính chuyên biệt.

Trong tác phẩm "Một đời người, một đời thơ" của Lê Tiến Dũng, Xuân Diệu thể hiện nỗi khát khao sống và giao cảm, nhưng cũng ẩn chứa nỗi lo âu về giới hạn của con người, đặc biệt là giới hạn thời gian Ông nhận thức rằng thời gian không chờ đợi ai, và tuổi trẻ không thể trở lại, điều này khiến ông cảm thấy hốt hoảng Mặc dù Xuân Diệu chú trọng đến việc sử dụng từ chỉ thời gian, nhưng cái nhìn của ông lại liên kết với nhiều vấn đề khác, dẫn đến việc từ chỉ thời gian trong thơ ông chưa được phân tích một cách riêng biệt.

Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt trong hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió", thể hiện một cách sâu sắc mối quan hệ giữa thời gian và cảm xúc Lý Hoài Thu nhận định rằng thời gian là "chất xúc tác" tạo nên sự nồng nàn, đắm đuối mà chỉ những người thực sự lưu luyến mới cảm nhận được Xuân Diệu khéo léo ví von quy luật vận động của thời gian trong đời người như quy luật tự nhiên, từ xuân sang đông, từ vui sang buồn Ông đã tạo ra một hình tượng thời gian độc đáo và đa dạng thông qua khả năng "biểu diễn" cảm xúc Ngôn từ trong hai tập thơ này được Lý Hoài Thu mô tả là "thế giới ngôn ngữ trữ tình, chan chứa cảm xúc và có rất nhiều mới lạ", cho thấy sự sáng tạo và cá tính trong cách tổ chức câu thơ Qua đó, thời gian trong thơ Xuân Diệu được nhìn nhận một cách nghiêm túc, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn về từ chỉ thời gian trong tác phẩm của ông.

Trong bài viết "Nhà thơ Xuân Diệu" của Phạm Tiến Duật, tác giả đã khẳng định rằng ngôn ngữ của Xuân Diệu luôn chứa đựng một trái tim trung thực và nỗi niềm khám phá Những tác phẩm của ông mở ra cái nhìn sâu sắc về sự nghiệp thơ văn, với nhiều vấn đề lớn được nghiên cứu như nội dung, hồn thơ và tư tưởng nghệ thuật Đặc biệt, công trình của Lý Hoài Thu đã khai thác nhiều khía cạnh nổi bật trong thơ Xuân Diệu, từ nghệ thuật thời gian đến ngôn từ Mặc dù có nhiều bài viết hay về phong cách nghệ thuật thời gian, như của Đỗ Lai Thúy và Lê Tiến Dũng, nhưng vẫn còn thiếu sự hệ thống trong nghiên cứu Người viết nhận thấy còn nhiều vấn đề, đặc biệt là từ chỉ thời gian, chưa được tìm hiểu sâu sắc, do đó, nghiên cứu này mang tính mới mẻ và chuyên sâu, nhằm khám phá giá trị nổi bật trong việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng 8.

Mục đích nghiên cứu

- Khi bước vào nghiên cứu đề tài “ Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ

Bài viết "Thơ thơ và Gửi hương cho gió" khám phá sâu sắc và chi tiết những nét độc đáo trong việc sử dụng từ chỉ thời gian nghệ thuật của Xuân Diệu trong thơ.

- Đề tài này giúp tôi khăng định giá trị cao hơn, mới mẽ, độc đáo hơn về từ chỉ thời gian đƣợc sử dụng trong thơ Xuân Diệu

Chúng tôi đã có cơ hội tiếp xúc sâu sắc với thơ ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt là tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu, từ đó hiểu rõ hơn về những đóng góp quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

Việc áp dụng kiến thức đã học vào các vấn đề cụ thể giúp đánh giá đúng giá trị của ngôn ngữ, đặc biệt là trong việc sử dụng từ ngữ của nhà thơ Xuân Diệu.

Đây là nghiên cứu đầu tiên của tác giả, với hy vọng không chỉ là luận văn tốt nghiệp mà còn là đóng góp quan trọng trong việc nhìn nhận và đánh giá nhà thơ vĩ đại Xuân Diệu.

Phương pháp nghiên cứu

Những quan niệm về từ, từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian

1.1.1 Các quan niệm về từ

Về định nghĩa từ, hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau và chưa có một định nghĩa thống nhất Nhiều nhà ngôn ngữ học đã hệ thống hóa các quan niệm về từ Trong bài luận văn tốt nghiệp này, tác giả sẽ trình bày các quan niệm về từ, đặc biệt là lớp từ chỉ thời gian, mà tác giả đã học và tiếp xúc Những quan niệm này sẽ là cơ sở để tác giả tìm hiểu về lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân Diệu Dưới đây là các quan niệm về từ của một số nhà ngôn ngữ học.

Theo tác giả Nguyễn Văn Tư trong cuốn "Bài giảng môn ngữ pháp tiếng Việt", từ tiếng Việt được định nghĩa là một hoặc một số âm tiết cố định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định và nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tương ứng với một kiểu nghĩa nhất định Định nghĩa này cũng được xây dựng dựa trên quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong tác phẩm của ông.

Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt được định nghĩa là những đơn vị mà ngôn ngữ sử dụng để thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy Ông nhấn mạnh rằng việc kết hợp các đơn vị này lại với nhau là rất quan trọng, và những đơn vị đó chính là từ.

Hai quan niệm về từ đều đưa ra định nghĩa đầy đủ và chung nhất, nhưng vẫn còn thiếu sự rõ ràng trong các khía cạnh cụ thể Theo các nhà ngôn ngữ học như M B Emeneu, Cao Xuân Hạo, và Nguyễn Thiện Giáp, từ tiếng Việt được hiểu là trùng với âm tiết, trong khi quan niệm thứ hai cho rằng từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng với âm tiết.

Trong cuốn "Từ vựng học tiếng Việt", Nguyễn Thị Thu Thủy định nghĩa rằng từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, mang tính sẵn có, cố định và bắt buộc để tạo câu Bà cũng đồng quan điểm với các tác giả khác rằng từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng với âm tiết Cụ thể, Nguyễn Văn Tu cho rằng từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất và nghĩa, đồng thời có tính chất biện chứng và lịch sử.

Tác giả Nguyễn Kim Thản khẳng định rằng từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có khả năng tách biệt khỏi các đơn vị khác trong lời nói Từ không chỉ là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm và ngữ nghĩa mà còn liên quan đến từ vựng, ngữ pháp và chức năng ngữ pháp.

Hồ Lê định nghĩa từ là đơn vị ngôn ngữ có vai trò xác định thực tại không liên kết, hoặc mô phỏng âm thanh, với khả năng kết hợp tự do, cấu trúc vững chắc và ý nghĩa nhất thể.

Tác giả Đái Xuân Ninh định nghĩa rằng từ là đơn vị cơ bản trong cấu trúc ngôn ngữ, nằm giữa hình vị và cụm từ Từ được hình thành từ một hoặc nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó, tức là hình vị, và tạo thành một khối hoàn chỉnh.

Tác giả Lưu Vân Lăng định nghĩa rằng từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất trong ngôn ngữ, có thể bao gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một tiếng tự do, và không nhất thiết phải theo quan hệ cú pháp thuần Việt Từ có âm tiết cố định, bất biến, mang ý nghĩa nhất định, và tuân theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo câu và là thành phần lớn nhất trong từ vựng.

Theo ý kiến của các tác giả trong nhóm 2, có sự thống nhất rõ ràng về quan niệm về từ, thể hiện sự đầy đủ và dễ hiểu Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã khái quát những quan niệm này một cách hiệu quả Điều này tạo nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu về lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân.

Diệu ở những chương tiếp theo

Theo Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, từ được định nghĩa là đơn vị cơ bản và cốt lõi để tạo nên các đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, và văn bản Từ đóng vai trò quan trọng như viên gạch xây dựng tòa lâu đài ngôn ngữ, do đó, nó là đối tượng nghiên cứu của bốn phân ngành: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, và phong cách Định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của từ trong tiếng Việt, cho thấy rằng từ là tiền đề thiết yếu để hình thành khối ngôn ngữ hoàn chỉnh và có giá trị sử dụng cao.

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt tập 1 của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung, từ được định nghĩa là "đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có thể hoạt động tự do trong câu." Định nghĩa này cho thấy từ có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm ngữ âm học, ngữ nghĩa, ngữ pháp học và cách sử dụng Như vậy, từ được nhìn nhận một cách mới mẻ và đầy đủ hơn trong tiếng Việt.

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa từ là "đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ" Ông nhấn mạnh rằng từ có thể được xem xét từ hai phương diện: nghĩa từ vựng và ngữ pháp Về nghĩa từ vựng, từ được nghiên cứu qua các thuật ngữ như nghĩa của từ, cấu trúc nghĩa, trường nghĩa, cũng như các hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa và trái nghĩa Về mặt ngữ pháp, từ được phân tích theo cách cấu tạo và phân loại thành các lớp ngữ khác nhau, gọi là từ loại Tác giả khẳng định rằng từ không chỉ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ mà còn có nhiều phương diện sử dụng và nghiên cứu đa dạng.

Từ những quan niệm của các tác giả đã được nghiên cứu, người viết có cái nhìn toàn diện và mới mẻ về từ trong tiếng Việt Điều này tạo nền tảng khoa học quan trọng cho việc khảo sát lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân Diệu.

1.1.2 Các quan niệm khác nhau về từ chỉ thời gian và cách phân loại từ chỉ thời gian

1.1.2.1 Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban về từ chỉ thời gian

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt tập 2 của tác giả Diệp Quang Ban, từ chỉ thời gian được phân loại thành hai loại chính: danh từ chỉ thời gian và phụ từ chỉ thời gian Tác giả nhấn mạnh rằng những từ này là đơn vị ngôn ngữ giúp thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy thông qua việc kết hợp chúng với nhau.

Thời gian và thời gian nghệ thuật

Thời gian thường được hiểu là vòng tuần hoàn 24 giờ, với ngày và đêm, cùng với chu kỳ 12 tháng trong một năm Tuy nhiên, thời gian là một khái niệm đặc biệt và phức tạp Ngay từ xa xưa, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu và khám phá ý niệm về thời gian, mở ra những hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất của nó.

Theo Newton, thời gian là độc nhất, tuyệt đối và có giá trị phổ quát, trong khi Eintstein cho rằng thời gian chỉ là ảo ảnh, với những khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai cũng chỉ là những ảo ảnh dai dẳng Mặc dù hai quan niệm này có vẻ đối lập, nhưng cả hai đều mang lại những góc nhìn đúng đắn và độc đáo về thời gian Thời gian tồn tại khắp mọi nơi, nhưng đồng thời cũng chỉ là những cảm nhận về sự khác biệt giữa các mốc thời gian Hai quan niệm của Newton và Eintstein đã bổ sung cho nhau, giúp làm phong phú hơn ý niệm về thời gian trong cuộc sống.

Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, thời gian được định nghĩa là hình thức tồn tại của vật chất, trong đó vật chất luôn chuyển động liên tục và không ngừng Thời gian là vô cùng và vô tận.

Theo tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn Từ điển tiếng Việt, thời gian được định nghĩa là hình thức tồn tại của vật chất, diễn ra một chiều qua ba trạng thái: hiện tại, quá khứ và tương lai.

Thời gian là khái niệm quen thuộc, nhưng để hiểu và cảm nhận nó một cách sâu sắc không phải ai cũng làm được Trong văn học nghệ thuật, thời gian không chỉ đơn thuần là sự trôi chảy tự nhiên được đo bằng giây, phút, mà đã trở thành một yếu tố nghệ thuật phong phú và đa dạng.

Theo Trần Đình Sử, thời gian nghệ thuật là thời gian được cảm nhận qua tâm lý, phản ánh những biến cố thẩm mỹ trong thế giới nghệ thuật Khác với thời gian khách quan đo bằng lịch và đồng hồ, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, cho phép hồi tưởng về quá khứ từ hiện tại Nó có thể khiến một khoảnh khắc trở nên dài dằng dặc như nghìn năm, hoặc làm cho năm tháng trôi qua như chốc lát Thời gian nghệ thuật còn có thể cảm nhận như ngừng trôi khi ta đắm say trong cảm xúc.

Trong cuốn lý luận văn học năm 2000, Hà Minh Đức nhấn mạnh rằng sự vận động của thời gian trong tác phẩm văn học phản ánh nhịp độ cuộc sống Ông cho rằng có những khoảng thời gian ngắn chứa đựng nhiều sự kiện làm thay đổi nhanh chóng cuộc sống và con người Việc tái hiện thời gian trong văn học không chỉ là miêu tả sự vận động của cuộc sống mà còn thể hiện quan niệm của con người về sự tồn tại và tâm lý trước các biến cố Cảm xúc nhớ nhung có thể khiến một phút chờ đợi kéo dài như nhiều năm, trong khi những khoảnh khắc hạnh phúc lại trôi qua rất nhanh.

Người nghệ sĩ có khả năng điều chỉnh thời gian theo góc nhìn nghệ thuật riêng của từng nhà thơ, có thể là làm cho thời gian trở nên mỏng hơn hoặc kéo dài hơn Đôi khi, tác giả còn quay ngược thời gian để hồi tưởng về quá khứ từ hiện tại.

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi, khi đứng giữa chiến khu Việt Bắc, đã cảm nhận niềm vui giữa núi đồi, nhưng trong tâm trí ông vẫn luôn hồi tưởng về những ngày tươi đẹp ở Hà Nội thân yêu.

“ Sáng mát trong nhƣ sáng năm xƣa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa ”

Thời gian trong tác phẩm "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi được miêu tả linh hoạt, có thể trải dài từ quá khứ đến tương lai, hoặc đồng hiện cả hai trong khoảnh khắc hiện tại Nhịp độ của thời gian trong văn chương có thể nhanh chóng, chậm rãi, đều đặn, êm đềm hoặc căng thẳng, tạo nên sự phong phú trong cảm xúc và trải nghiệm của nhân vật.

Những tháng ngày vui vẻ, hạnh phúc thì con người lại thấy thời gian trôi qua thật quá nhanh chóng:

“ Ngày vui ngắn chẳng tày gang”

( Truyện kiều – Nguyễn Du) Hay có những lúc con người cảm thấy một ngày dài đến vô tận

“ Sầu đông càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

Trong nghệ thuật, thời gian được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của các nhà thơ, không còn là một chiều chuyển động tự nhiên Cảm nhận về thời gian, dù ngắn hay dài, nhanh hay chậm, hoàn toàn phụ thuộc vào từng tác giả Sự cảm thụ này tạo nên những thi hứng khác nhau trong tác phẩm của mỗi nhà thơ, khi họ đối diện với cuộc sống và con người Thời gian không chỉ là một khái niệm mà còn là nét nghệ thuật riêng biệt trong thi phẩm của họ, và nhiều nhà thơ đã thể hiện quan niệm về thời gian qua những vần thơ của mình.

Hay độc đáo hơn với cảm nhận về thời gian của Tản Đà

“ Đời người thử ngẫm mà hay

Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê”

Thời gian trong tác phẩm "Đời đáng chán" của Tản Đà không thay đổi nhanh hay chậm, mà vẫn tồn tại như vốn có Tuy nhiên, nó bị chi phối bởi cái nhìn tâm tư của nhân vật trữ tình, tạo nên một thời gian nghệ thuật liên tục Thời gian này không chỉ phản ánh sự liên tục của những thay đổi có ý nghĩa mà còn bao gồm hiện tại, quá khứ và tương lai, đồng thời mang trong mình những khoảnh khắc có giá trị.

Thời gian nghệ thuật là sự phản ánh cảm nhận của con người về thời gian trong từng giai đoạn lịch sử và sự phát triển của xã hội Nó thể hiện cái nhìn độc đáo của tác giả về cách tồn tại của con người trong thế giới Các phương tiện biểu hiện thời gian nghệ thuật chủ yếu là những từ chỉ thời gian như: “hôm qua, hôm nay, ngày xưa, dạo ấy, hồi ấy…”

“ Cho ta xin, cho ta xin sắc đỏ,

Xin màu xanh về tô lại khung trời Tròi ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ?

Hôm xƣa đâu rồi, trời ơi, trời ơi!”

( Xuân đầu – Gửi hương cho gió)

Có khi thời gian nghệ thuật đƣợc biêu hiện bằng các dấu hiệu thời gian: tuổi trẻ, tuổi già, Xuân – hạ - thu – đông, bằng hoa mai nở…

“ Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”

( Cảnh ngày hè – Nguyễn trãi)

KHẢO SÁT VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU

Những nét chính về cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu, tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn được biết đến với bút danh Trảo Nha, sinh ra tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nhưng quê quán ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Ông là con trai của Ngô Xuân Thọ và bà Nguyễn Thị Hiệp, lớn lên tại Quy Nhơn Sau khi tốt nghiệp tú tài, Xuân Diệu đã dạy học tư và làm viên chức ở Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), trước khi chuyển ra Hà Nội để theo đuổi sự nghiệp viết văn.

Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940) là một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp của ông, người đã tốt nghiệp cử nhân Luật năm 1943 và làm tham tá thương chánh tại Mỹ Tho trước khi chuyển về Hà Nội Ngoài việc sáng tác thơ, ông còn tích cực viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong, đồng thời là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt.

Xuân Diệu, được biết đến là "ông hoàng thơ tình" và là một trong những nhà thơ lãng mạn trữ tình tiêu biểu của Việt Nam, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và đóng vai trò quan trọng trong phong trào "Thơ mới" Các tác phẩm nổi bật của ông bao gồm "Thơ thơ" (1938), "Gửi hương cho gió" (1945) và truyện ngắn "Phấn thông vàng".

Xuân Diệu, một nhà thơ nổi bật, đã tham gia phong trào Việt Minh vào năm 1944 và tích cực hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc sau Cách mạng Tháng Tám Ông đảm nhận vai trò thư ký tạp chí Tiền Phong của Hội và sau đó làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ tại Việt Bắc Các tác phẩm của ông, như "Trường ca" (1945), đã góp phần quan trọng vào nền văn học Việt Nam thời kỳ này.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, nổi bật với “dòng thơ công dân” Thơ của ông có sự chuyển biến phong phú về giọng điệu, bao gồm giọng trầm hùng, tráng ca, giọng chính luận và giọng thơ tự sự trữ tình Những tác phẩm tiêu biểu của ông như "Ngọn quốc kỳ" (1945) và "Một khối hồng" thể hiện rõ nét sự đa dạng trong phong cách sáng tác.

Xuân Diệu, một trong những cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, đã để lại khoảng 450 bài thơ, cùng với một số truyện ngắn, bút ký, tiểu luận và phê bình văn học Ông là tác giả của nhiều tác phẩm nổi bật như "Thanh ca" (1982) và "Tuyển tập Xuân Diệu" (1983) Ngoài sự nghiệp văn chương, Xuân Diệu còn từng là đại diện Quốc hội Việt Nam khóa I và được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức vào năm 1983 Ông đã được truy tặng giải thưởng cho những đóng góp của mình.

Hồ Chí Minh đợt I về Văn học nghệ thuật (1996) Tên của ông đƣợc cho một đường phố tại Hà Nội (22; tr3)

Thơ thơ được viết vào năm 1938 ra đời trước Gửi hương cho gió 7 năm

Năm 1945, Xuân Diệu cho ra đời tập thơ "Gửi hương cho gió", đánh dấu sự khởi đầu cho con đường sáng tác thơ của ông và tạo nên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trong văn học Hai tác phẩm "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" ca ngợi tình yêu và cuộc sống, với "Thơ thơ" thể hiện tiếng nói rạo rực của tuổi trẻ và niềm khát khao giao cảm với đời Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc nỗi đau trước thời gian trôi chảy và sự mong manh của đời người, qua những câu thơ đầy xúc động và triết lý nhân sinh Trong khi "Thơ thơ" là bản tình ca nồng nàn, "Gửi hương cho gió" lại mang nỗi buồn sâu lắng, xuất phát từ tình yêu bị phụ bạc, cô quạnh và lo sợ về tương lai Tình yêu được ví như hương hoa đẹp, nhưng người yêu lại là cơn gió vô tình, khiến tâm hồn thi sĩ luôn mang nỗi đau và sự tuyệt vọng.

2.2 Khảo sát về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu Đƣợc mệnh danh là ông hoàng thơ tình, Xuân Diệu không chỉ đƣợc biết đến với những trang thơ tình ngọt ngào, chan chứa yêu thương, mà bên cạnh đó, thơ Xuân Diệu còn có sức hút mạnh liệt bởi tài năng sử dụng ngôn từ hết sức tài tình và độc đáo Đặc biệt, đó chính là cái khă năng sử dụng rất thành công và khéo léo lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió được ông viết ở thời kì trước Cách Mạng Tháng Tám năm

Năm 1945, qua việc phân tích từ chỉ thời gian trong hai tập thơ "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió", người viết nhận thấy hồn thơ rạo rực và sôi nổi, cùng với trái tim tràn đầy tình yêu thương và trân trọng cuộc sống của một nhà thơ lãng mạn Để khảo sát lớp từ chỉ thời gian, người viết đã thống kê tần số xuất hiện của chúng trong hai tập thơ này.

Bảng 2.2: Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

Tập thơ Từ loại Số lần xuất hiện

Số bài thơ xuất hiện trên toàn tập thơ

Gửi hương cho gió ( 50 bài)

Tổng cộng 181 100% 50 Đây là bảng thống kê mà người viết thống kê ở cả hai tập thơ Thơ thơ và

Gửi hương cho gió giúp ta có cái nhìn tổng quát về lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ, từ đó dễ dàng và cụ thể hơn trong việc tìm hiểu lớp từ này.

2.2.1 Danh từ chỉ thời gian trong tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió

Trong tập "Thơ thơ", danh từ chỉ thời chiếm ưu thế với tần số cao 105/147, tương đương 71.4% tổng số danh từ Xuân Diệu thường sử dụng các danh từ như Xuân, ngày, chiều, đặc biệt là danh từ chỉ thời gian "đêm".

Bảng 2.2.1.1 : Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ trong tập thơ Thơ thơ

Danh từ chỉ thời gian

Và đêm nay lòng tôi lạnh lẽo Như sáng trăng trên mặt nước thu lờ

Trăng vừa đủ sáng để gây mơ Gió nhịp theo đêm , không vội vàng

Sao buổi đầu xuân êm ái thế! Cánh hồng kết những nụ cười tươi ngày 10/105 9.5%

Em buồn, em nhớ, chao! Em nhớ

Em gọi thầm anh suốt cả ngày

Danh từ "đêm" là từ được sử dụng nhiều nhất, chiếm 13.3% trong tổng số danh từ Ngoài ra, "xuân" cũng là một danh từ quan trọng trong ngữ cảnh này.

Xuân Diệu thể hiện rõ ràng trong hai tập thơ nổi bật là Thơ thơ và Gửi hương cho gió Bên cạnh danh từ "xuân", từ "chiều" cũng xuất hiện với tần suất đáng kể, góp phần làm phong phú thêm nội dung thơ ca của ông.

Trong tập thơ "Gửi hương cho gió", Xuân Diệu đã sử dụng khoảng 34 danh từ chỉ thời gian, chiếm 79,6% tổng số danh từ trong tác phẩm, cao hơn so với 25 danh từ chỉ thời gian (9,5%) trong tập "Thơ thơ" Tỷ lệ này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong việc sử dụng danh từ chỉ thời gian của tác giả Hầu hết các bài thơ trong "Gửi hương cho gió" đều có sự hiện diện của danh từ chỉ thời gian, với 50/50 bài thơ có chứa chúng Dưới đây là bảng thống kê tỷ lệ phần trăm các danh từ chỉ thời gian trong tập thơ này.

Bảng 2.2.1.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ thời gian trong tập Gửi hương cho gió

Danh từ chỉ thời gian

Tỉ lệ phần trăm ( %) Câu thơ Đêm 23/ 144 16 %

Rủ màn bỗng thấy trăng mơ sáng Thôi giậy trông ngoài đêm tỏa sương

Xuân 19/ 144 13.2 % Xuân ta đã cất trong thơ phú

Tuổi trẻ trong thơ thắm với đời

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn

Em có nhớ một buổi chiều yên tĩnh Chúng ta chìm trong một biển ái ân

Theo bảng thống kê, thời gian đêm về chiếm ưu thế rõ rệt trong các tác phẩm, với 13.3% trong tập "Thơ thơ" và 16% trong "Gửi hương cho gió" Đêm về là thời điểm con người trầm tư, suy ngẫm về cuộc sống và những cảm xúc yêu thương chân thành Xuân Diệu thể hiện điều này một cách rõ ràng và sâu sắc hơn trong thơ của mình.

“ Một tối trăng cao gieo mộng tưởng

Vào lòng gió nhẹ thẩn thơ bay.”

( Với bàn tay ấy – Thơ thơ)

“ Ấy nỗi buồn kêu xé của ngày qua

Hay lời than rền của đêm xa”

(Tiếng gió – Thơ thơ) Đêm có khi lại là lúc Xuân Diệu cảm thấy lạnh lẽo, bơ vơ bởi những ái tính quạnh quẽo và cất tiếng thở than:

“ Và đêm nay lòng tôi lạnh lẽo

Như sáng trăng trên mặt nước thu lờ

Tôi là một kẻ bơ vơ Yêu những ái tình quạnh quẽo”

Một số nhận xét về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió

hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu

2.3.1 Vị trí của các từ chỉ thời gian

Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ có vị trí rất đa dạng và phong phú Dù tần số xuất hiện cao hay thấp, các lớp từ này đều được phân bố ở nhiều vị trí khác nhau, bao gồm đầu dòng, giữa dòng và cuối dòng thơ.

Từ chỉ thời gian ở vị trí đầu dòng thơ:

“Số anh là khổ, phận anh là

Suốt đời nuốt khổ vào trong ngực”

“ Khi chiều giăng lưới qua muôn gốc cây

Khi con chim én tìm không ra bầy Khi nước suối đã lờ mờ khép mắt Khi lá lìa, mặt đất cũng buồn lây

Và trên trời mờ ảnh một làn mây”

(Khi chiều giăng lưới – Gửi hương cho gió)

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gỏ cửa Tháng giêng ngon nhƣ một cặp môi gần

Từ chỉ thời gian vị trí ở giữa dòng thơ:

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Sao buổi đầu xuân êm ái thế!

Cánh hồng kết những nụ cười tươi”

(Nụ Cười Xuân – Thơ thơ)

Gió mƣa, mƣa gió âm u Dưới trần nhà đã nghe thu lạnh rồi Càng cao, càng lạnh trao ôi Trên cung xanh vắng lạnh thôi mấy chừng”

( Bụi mưa mờ cũ – Gửi hương cho gió)

Từ chỉ thời gian ở vị trí cuối dòng thơ:

Hỡi gió mờ, người chứa cả mùa đông Trong phổi của người u uất vô cùng

“ Anh một mình nghe tất cả buổi chiều

Và chầm chậm nghe trong hồn hiu quạnh”

Mây trắng ngang hàng tự thưở xưa Bao giờ viễn vọng đến bây giờ

Từ chỉ thời gian có khi lại xuất hiện ở đầu dòng và cuối dòng

“ Giờ ly biệt lại đến gần từng phút

Chúng tôi thấy đã xa nhau một chút”

(Biệt ly êm ái – Thơ thơ)

Bao giờ viễn vọng đến bây giờ Sao vàng lẻ một trăng riêng chiếc

Từ chỉ thời gian lại xuất hiện ở giữa dòng và cuối dòng:

Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ Trở về đây và đem trở về đây

(Xuân đầu- Gửi hương cho gió)

Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?

Em hờ hững, để cho lòng anh lạnh.”

(Kỷ niệm – Gửi hương cho gió)

Ta sẽ thôi yêu nhƣ đã dấu Không hề oán hận lá khoai khô”

(Nước đổ lá khoai- Thơ thơ)

Từ chỉ thời gian xuất hiện ở đầu dòng và giữa dòng:

“ Ta nằm trong võng mắt đong đƣa Khi ấy ngày thu dọi nắng dừa Nhan sắc chóp hàng mi óng ả Đầu ta ân ái dịu dàng mƣa”

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

“ Xuân của đất trời nay mới đến

Trong tôi xuân đến đã lâu rồi

Xuân Diệu có phong cách độc đáo khi sử dụng từ chỉ thời gian bằng cách đảo ngược vị trí của chúng, không tuân theo thứ tự từ ngắn đến dài như ngày, tháng, năm.

Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ Trở về đây và đem trở về đây

(Xuân đầu- Gửi hương cho gió)

Tôi đã nguôi quên hận tháng ngày

Tôi lại đa mang hận tháng ngày

Việc đảo vị trí các từ chỉ thời gian trong bài thơ "Với bàn tay ấy" nhằm nhấn mạnh nỗi tiếc nuối và xót xa về những tháng ngày tươi đẹp đã qua Đồng thời, đây cũng là một lời khẩn cầu tha thiết, mong thời gian trôi chậm lại và trả lại những khoảnh khắc tuổi trẻ, với mong muốn "trở về đây và đem trở về đây".

Các từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu, dù xuất hiện ở vị trí nào hay có bị đảo ngược, đều mang những đặc điểm và giá trị nghệ thuật riêng Mỗi từ thể hiện dụng ý của tác giả, góp phần tạo nên sự độc đáo và thành công trong tác phẩm.

2.3.2 Từ chỉ thời gian đƣợc sử dụng với các biện pháp tu từ

Trong thơ Xuân Diệu, tác giả sử dụng phong phú các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ và hoán dụ, đặc biệt là trong việc diễn đạt các từ ngữ liên quan đến thời gian Những biện pháp này được áp dụng một cách độc đáo, tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu cho tác phẩm.

Biện pháp so sánh là cách sử dụng hai vế để đối chiếu một sự vật hoặc hiện tượng Những từ thường được sử dụng trong so sánh bao gồm: như, giống như, tựa, dường như Việc áp dụng biện pháp so sánh giúp bài thơ, câu thơ trở nên sinh động, dễ hiểu và mang tính hiện thực, gần gũi hơn.

Ta sẽ thôi yêu nhƣ đã dấu Không hề oán hận lá khoai khô”

Trong bài thơ "Nước đổ lá khoai," tác giả sử dụng biện pháp so sánh để thể hiện những khía cạnh của tình yêu, thường là những mối tình dang dở và chia ly Niềm đau từ tình yêu đơn phương khiến Xuân Diệu đôi khi cảm thấy muốn từ bỏ, giống như sự im lặng và giấu kín mối tình thầm lặng của mình.

Xuân Diệu đã khéo léo sử dụng hình ảnh thiên nhiên của tháng giêng để thể hiện sự ngọt ngào trong tình yêu đôi lứa.

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gỏ cửa Tháng giêng ngon nhƣ một cặp môi gần

Xuân Diệu so sánh hai trạng thái thời gian trái ngược để nhấn mạnh sự ngắn ngủi của những giây phút yêu thương và gần gũi Qua đó, ông thể hiện sự cảm nhận thời gian tinh tế và sâu sắc của mình.

Phút gần gũi cũng nhƣ giờ chia biệt Tưởng trăng tàn, hoa tạ với thời gian

Biện pháp so sánh trong thơ thể hiện rõ nỗi buồn của nhà thơ trước tình yêu và cuộc sống Dù có những nỗi đau, tình yêu vẫn luôn mang đến vị ngọt ngào và sự say đắm cho những tâm hồn yêu thương.

Biện pháp ẩn dụ là cách diễn đạt một sự vật hay hiện tượng này để thể hiện sự vật hay hiện tượng khác Việc sử dụng từ chỉ thời gian trong biện pháp ẩn dụ không chỉ làm cho ý nghĩa của câu thơ, bài thơ trở nên sâu sắc hơn mà còn tạo ra nhiều tầng ý nghĩa, khiến cho tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn.

Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi

Mùa xuân không chỉ là thời khắc của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của tuổi trẻ và tình yêu Mỗi năm, mọi người háo hức chờ đón xuân về, nhưng trong thơ, xuân mang ý nghĩa sâu sắc hơn, thể hiện niềm yêu mến cuộc sống và khát khao mãnh liệt với đời Tình yêu đôi lứa trong mùa xuân mang đến cảm xúc mãnh liệt, không cho phép ai có một giờ phút yên ổn.

“Tình si” không chỉ đơn thuần là trạng thái si mê trong tình yêu, mà là cách mà tác giả tự gọi mình Xuân Diệu chọn từ “tình si” thay vì “tôi”, “anh” hay “em”, thể hiện một trái tim luôn nồng nàn và tha thiết với tình yêu.

Mùa cúc năm nay sắc đã già

Ai tìm ta hộ dáng thu qua

Mùa cúc không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà còn tượng trưng cho tuổi trẻ và tình yêu Theo thời gian, tuổi trẻ sẽ phai nhạt, giống như mùa cúc dần qua đi Dáng thu qua gợi nhớ về người yêu, một tình yêu không trọn vẹn, nhưng hình ảnh của người ấy vẫn còn đọng lại trong tâm trí, với hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm thấy nhau.

Biện pháp ẩn dụ mà Xuân Diệu sử dụng thể hiện rõ tâm tư và tình cảm sâu sắc của tác giả Những trăn trở về tình yêu và cuộc sống được gói ghém trong những câu thơ đầy cảm xúc và thiết tha.

MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC DÙNG TỪ CHỈ THỜI GIAN

Ngày đăng: 07/07/2023, 00:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, (1998). Ngữ pháp tiếng việt (tập 2). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt (tập 2)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung, (1998).Ngữ pháp tiếng việt (tập 1). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt (tập 1)
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Đỗ Hữu Châu, (1981). Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
4. Mai Ngọc Trừ, (1991). Vầng thơ Việt Nam dưới ánh sánh ngôn ngữ học. Nxb ĐH và GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vầng thơ Việt Nam dưới ánh sánh ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Trừ
Nhà XB: Nxb ĐH và GDCN
Năm: 1991
5. Ngô Viết Dinh, (tuyển chọn), (2000). Đến với thơ Xuân Diệu. Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Xuân Diệu
Tác giả: Ngô Viết Dinh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2000
6. Trần Thanh Đạm, (2004). Từ tiếng việt Trường giải và liên tưởng. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tiếng việt Trường giải và liên tưởng
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
7. Hà Minh Đức, (2000). Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Ngô Phúc Hậu, (2002). Viết cho em. Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết cho em
Tác giả: Ngô Phúc Hậu
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
9. Lưu Vân Lăng, (1998). Ngôn ngữ và tiếng việt. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và tiếng việt
Tác giả: Lưu Vân Lăng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
10. Hồ Lê, (1976). Vấn đề cấu tạo từ tiếng việt hiện đại. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ tiếng việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1976
11. Đỗ Thị Kim Liên, (1999). Ngữ pháp tiếng việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Lữ Huy Nguyên tuyển chọn), (2008). Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
13. Đái Xuân Ninh, (1978). Hoạt động của từ tiếng việt. Nxb KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ tiếng việt
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1978
14. Nguyễn Hữu Quỳnh, (1994). Tiếng việt hiện đại. Nxb Từ điển bách khoa. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 1994
15. Trần Đình Sử, (2000) Thi pháp văn học hiện đại Việt Nam. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học hiện đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
16. Đào Thản, (1998). Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật. Nxb Khoa học và xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội
Năm: 1998
17. Nguyễn Kim Thản, (1991). Cơ sở ngữ pháp tiếng việt. Nxb Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nxb Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 1991
18. Hoài Thanh – Hoài Chân, (1942). Thi Nhân Việt Nam. Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi Nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1942
19. Uyên Thao. Đợt sóng mới của làng thơ Việt Nam hôm nay: Xuân Diệu, Tập chí giáo dục phổ thông 1 – 11- 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợt sóng mới của làng thơ Việt Nam hôm nay: Xuân Diệu
Tác giả: Uyên Thao
Nhà XB: Tập chí giáo dục phổ thông
Năm: 1960
20. Lý Hoài Thu, (1997). Thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 ( Thơ thơ và Gửi hương cho gió). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 ( Thơ thơ và Gửi hương cho gió)
Tác giả: Lý Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 2 : Bảng  phân loại từ chỉ thời gian: - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 1.1 2 : Bảng phân loại từ chỉ thời gian: (Trang 31)
Bảng 2.2: Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2 Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian (Trang 38)
Bảng 2.2.1.1 : Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.1.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ (Trang 39)
Bảng 2.2.1.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.1.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ (Trang 40)
Bảng 2.2.2.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%)  các phó từ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.2.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ (Trang 48)
Bảng 2.2.2.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.2.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ (Trang 49)
Bảng 2.2.3.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.3.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ (Trang 54)
Bảng 2.2.3.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.3.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ (Trang 55)
BẢNG PHỤ LỤC - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
BẢNG PHỤ LỤC (Trang 97)
Bảng 2  PHÓ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ THƠ THƠ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2 PHÓ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ THƠ THƠ (Trang 99)
Bảng 3  ĐẠI TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ THƠ THƠ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 3 ĐẠI TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ THƠ THƠ (Trang 101)
Bảng 2  PHÓ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2 PHÓ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm