Trong quá trình lao động sử dụng công cụ thông thường hay máy móc hiện đại, áp dụng cộng nghệ đơn giản hay phức tạp, tiên tiến đều có thể tiềm ẩn và phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hạ
Mục đích, ý nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của công tác bảo hộ
Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
Trong quá trình lao động, việc sử dụng công cụ và máy móc, dù đơn giản hay phức tạp, đều tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Một môi trường làm việc có thể chứa nhiều yếu tố nguy hiểm, và nếu không được phòng ngừa, chúng có thể dẫn đến chấn thương, giảm khả năng lao động hoặc thậm chí tử vong Do đó, việc cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo an toàn, vệ sinh tại nơi làm việc là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng suất lao động và phát triển sản xuất Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến công tác bảo hộ lao động như một lĩnh vực thiết yếu.
Đảm bảo an toàn cho người lao động là ưu tiên hàng đầu, nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ tai nạn dẫn đến chấn thương, tàn phế hoặc tử vong.
- Đảm bảo người lao động khoẻ mạnh, không bị mắc các bệnh nghề nghiệp và các bệnh tật khác do điều kiện lao động xấu gây ra
- Bồi dưỡng kịp thời và duy trì sức khoẻ, khả năng lao động cho người lao động
- Công tác bảo hộ lao động chiếm một vị trí quan trọng trong những yêu cầu khách quan của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.2 Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
1.1.2.1 Ý nghĩa chính trị: nhất, sức lao động, lực lượng lao động được bảo vệ và phát triển Công tác bảo hộ lao động tốt góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đời sống người lao động
Nếu công tác bảo hộ lao động không hiệu quả, điều kiện làm việc nặng nhọc và độc hại có thể dẫn đến nhiều tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nghiêm trọng, từ đó làm giảm uy tín của chế độ và doanh nghiệp.
Công tác bảo hộ lao động đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc đời sống và hạnh phúc của người lao động Đây là một yêu cầu cần thiết và là nguyện vọng chính đáng của họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mọi người đều mong muốn có sức khỏe, an toàn, và trình độ nghề nghiệp cao để đạt năng suất lao động tốt, từ đó góp phần vào hạnh phúc gia đình và sự phát triển của xã hội.
Công tác bảo hộ lao động đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trong sáng và lành mạnh, nơi mọi người lao động đều khỏe mạnh và có vị trí xứng đáng Điều này giúp họ làm chủ xã hội, thiên nhiên và khoa học kỹ thuật.
Nếu tai nạn lao động được ngăn chặn, người lao động sẽ có sức khỏe tốt hơn Điều này giúp Nhà nước và xã hội giảm thiểu tổn thất trong việc khắc phục hậu quả, đồng thời có thể tập trung đầu tư vào các công trình phúc lợi xã hội khác.
Ngoài ra việc chăm lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc
1.1.2.3 Ý nghĩa về lợi ích kinh tế
Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt
Trong sản xuất, việc bảo vệ sức khỏe người lao động và tạo điều kiện làm việc thoải mái là rất quan trọng Khi người lao động không lo lắng về tai nạn hay bệnh nghề nghiệp, họ sẽ làm việc với tâm trạng thoải mái và nâng cao năng suất lao động Điều này giúp hoàn thành kế hoạch sản xuất, từ đó tăng phúc lợi và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, đồng thời đảm bảo sự đoàn kết nội bộ và thúc đẩy sản xuất.
Điều kiện và môi trường làm việc kém có thể dẫn đến tai nạn lao động và bệnh tật, gây khó khăn cho sản xuất Tai nạn lao động và ốm đau, dù ít hay nhiều, đều gây thiệt hại về người và tài sản Do đó, việc thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động là cần thiết để góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững.
Tính chất và nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động
1.2.1 Tính chất của công tác bảo hộ lao động
1.2.1.1 Bảo hộ lao động mang tính pháp luật:
Tính chất luật pháp của bảo hộ lao động được thể hiện qua các quy định về công tác bảo hộ lao động, bao gồm quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn Những quy định này là văn bản pháp luật bắt buộc mà mọi người phải tuân theo để bảo vệ sinh mạng, toàn vẹn thân thể và sức khỏe của người lao động Vi phạm tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động trong quá trình sản xuất là hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ lao động, đặc biệt là các quy phạm an toàn có tính bắt buộc cao Các yêu cầu và biện pháp đã được quy định cần phải được thực hiện nghiêm túc, vì chúng liên quan trực tiếp đến tính mạng con người và tài sản quốc gia.
1.2.1.2 Bảo hộ lao động mang tính khoa học công nghệ:
Bảo hộ lao động gắn liền với sản xuất Khoa học kỹ thuật về bảo hộ lao động gắn liền với khoa học công nghệ sản xuất
Người lao động trong dây chuyền sản xuất phải đối mặt với bụi, khí độc, tiếng ồn và rung động từ máy móc, những yếu tố này có thể dẫn đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Để giảm thiểu những nguy cơ này, cần áp dụng các biện pháp khoa học và công nghệ hiệu quả.
Khoa học kỹ thuật về bảo hộ lao động là một lĩnh vực tổng hợp, kết hợp các thành tựu từ các môn khoa học cơ bản như vật lý, hóa học, sinh học, cùng với các ngành kỹ thuật như cơ khí, điện và mỏ.
Để thực hiện hiệu quả công tác bảo hộ lao động, cần tổ chức nghiên cứu khoa học và kỹ thuật bảo hộ lao động liên quan đến sự phát triển của kỹ thuật sản xuất Việc cải tiến trang bị, công nghệ và kỹ thuật an toàn sẽ giúp giảm nhẹ lao động của con người, tiến tới loại bỏ các điều kiện lao động nguy hiểm và độc hại.
1.2.1.3 Bảo hộ lao động mang tính quần chúng:
Quần chúng lao động đóng vai trò quan trọng trong xã hội, là lực lượng chủ chốt thực hiện các quy trình và biện pháp kỹ thuật an toàn Để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, việc tự giác thực hiện công tác bảo hộ lao động của quần chúng là điều cần thiết.
Hàng ngày, người lao động tiếp xúc với máy móc và quy trình sản xuất, từ đó phát hiện các yếu tố nguy hiểm có thể gây hại Họ không chỉ đề xuất biện pháp giải quyết mà còn tự mình thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn và bệnh nghề nghiệp.
Công tác bảo hộ lao động cần huy động các biện pháp khoa học kỹ thuật và công nghệ, đồng thời vận động quần chúng thực hiện các biện pháp pháp luật Để nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo hộ lao động, sự tự giác và tích cực thực hiện từ mọi cấp quản lý, người sử dụng lao động và người lao động là rất quan trọng.
1.2.2 Nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động
1.2.2.1.Tình hình tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay
( Các bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam 21 bệnh)
Năm 1976, Nhà nước đã công nhận 8 bệnh nghề nghiệp Năm 1991, Nhà nước bổ sung thêm 8 bệnh nghề nghiệp Năm 1997, Nhà nước bổ sung thêm 5 bệnh nghề nghiệp
- Bệnh bụi phổi do Silic;
- Bệnh bụi phổi do Amiang;
- Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất của chì;
- Bệnh nhiễm độc Benzen và các đồng đẳng của Benzen;
- Bệnh nhiễm độc Thủy ngân và các hợp chất của Thủy ngân;
- Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn;
- Bệnh rung chuyển nghề nghiệp;
- Bệnh sạm da nghề nghiệp;
- Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc.;
- Bệnh viêm gan do virus nghề nghiệp;
- Bệnh do Leptospiria nghề nghiệp;
- Bệnh nhiễm độc Asen và các hợp chất của Asen nghề nghiệp;
- Bệnh nhiễm độc Nicontin nghề nghiệp;
- Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp;
- Bệnh giảm áp nghề nghiệp;
- Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp
1.2.3 Quyền và nhiệm vụ của người sử dụng lao động
1.2.3.1 Nhiệm vụ của người sử dụng lao động
(Điều 13 chương VI NĐ06/CP của TTCP)
Hàng năm, khi doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, cần thiết lập kế hoạch về an toàn vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc.
Để đảm bảo an toàn cho người lao động, cần trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện nghiêm túc chế độ an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của Nhà nước.
Phân công trách nhiệm và cử người giám sát thực hiện các quy định, nội quy, và biện pháp an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp là rất quan trọng Đồng thời, cần phối hợp với công đoàn cơ sở để xây dựng và duy trì hoạt động của mạng lưới an toàn viên về vệ sinh lao động.
Xây dựng nội quy và quy trình an toàn lao động cần phải tương thích với từng loại máy móc, thiết bị và vật tư, bao gồm cả khi có sự đổi mới về công nghệ, máy móc, thiết bị và địa điểm làm việc, theo các tiêu chuẩn quy định của Nhà nước.
Doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định về khai báo và điều tra tai nạn lao động cũng như bệnh nghề nghiệp Hàng năm, doanh nghiệp phải báo cáo kết quả thực hiện các biện pháp an toàn vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội cùng Sở Y tế tại địa phương.
1.2.3.2 Quyền của người sử dụng lao động
(Điều 14 chương VI NĐ06/CP của TTCP)
- Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội quy, biện pháp an toàn vệ sinh lao động;
- Khen thưởng những người chấp hành tốt, và kỷ luật người vi phạm qui định, nội qui trong công tác an toàn, vệ sinh lao động;
Khiếu nại quyết định của thanh tra viên an toàn vệ sinh lao động với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là quyền lợi của người lao động, tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi quyết định mới, người lao động vẫn phải tuân thủ quyết định hiện tại.
1.2.3.4 Quyền và nhiệm vụ của người lao động a Nhiệm vụ người của lao động
(Điều 15 chương VI NĐ06/CP của TTCP)
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, nội quy về an toàn vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao;
Cần sử dụng và bảo quản đúng cách các phương tiện bảo vệ cá nhân và thiết bị an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc Trong trường hợp làm mất hoặc hư hỏng, người sử dụng sẽ phải bồi thường.
Người lao động cần báo cáo ngay lập tức cho người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, độc hại và sự cố nguy hiểm Họ cũng có quyền tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi được người sử dụng lao động yêu cầu.