Mục tiêu môn học - Về kiến thức: + Trình bày được những kiến thức cơ bản của lĩnh vực tài chính, tiền tệ: Những vấn đề chung về tài chính, về hoạt động của các khâu ngân sách nhà nước,
Trang 1Ban hành kèm theo Quyết định số: 979/QĐ-CĐVX-ĐT ngày 12 tháng 12 năm 2019
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Cơ điện Xây dựng Việt Xô
Ninh Bình, năm 2019
Trang 2doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 3Nhà nước, quy luật lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế thị trường cũng như các hình thức thanh toán, phương pháp huy động vốn của nền kinh tế thị trường Vì
thế cuốn “Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ” ra đời nhằm đáp ứng một phần
nhu cầu cung cấp kiến thức về tài chính và tiền tệ cho các chủ thể Giáo trình được biên soạn theo từng mảng chuyên sâu về hệ thống tài chính, cung cấp những kiến thức cơ bản theo lĩnh vực Tuy nhiên, sẽ còn những thiếu sót nhất định, ban biên soạn rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để giáo trình được viết ngày càng hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày … tháng … năm ……
Tham gia biên soạn
1 Chủ biên: ThS Hoàng Thị Thu Vân
2 ThS Tạ Thị Thanh Giang
Trang 4MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
CHƯƠNG 1: TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 9
1 Nguồn gốc ra đời, bản chất, chức năng và vai trò của tiền tệ 9
1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của tiền tệ 9
1.2 Bản chất của tiền tệ 10
1.3 Chức năng của tiền tệ 10
1.4 Vai trò của tiền 15
2 Các chế độ lưu thông tiền tệ 16
2.1 Chế độ lưu thông tiền kim loại 16
2.2 Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu 17
2.3 Chế độ lưu thông tiền tệ quốc tế 20
2 4 Chế độ lưu thông tiền tệ Việt Nam 20
3 Quy luật lưu thông tiền tệ 20
3.1 Nội dung quy luật lưu thông tiền tệ 20
3.2 Cung – Cầu tiền tệ 20
3.3 Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ 22
3.4 Các khối tiền trong lưu thông 22
4 Lạm phát, thiểu phát và biện pháp ổn định tiền tệ 23
4.1 Lạm phát 23
4.2 Giảm phát và thiểu phát 27
4.3 Vận dụng các biện pháp ổn định tiền tệ trong điều kiện của Việt Nam hiện nay 29
5 Câu hỏi và bài tập 31
CHƯƠNG 2: TÍN DỤNG – BẢO HIỂM – NGÂN HÀNG 32
1 Tín dụng 32
1.1 Những vấn đề chung về tín dụng 32
1.2 Các hình thức tín dụng 33
1.3 Lãi suất tín dụng 36
2 Bảo hiểm 39
2.1 Những vấn đề chung về bảo hiểm 39
Trang 53.2 Ngân hàng thương mại 52
4 Câu hỏi và bài tập 54
CHƯƠNG 3: THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 55
1 Thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế thị trường 55
1.1 Khái niệm 55
1.2 Nội dung thanh toán bằng tiền mặt 55
1.3 Ưu nhược điểm của thanh toán tiền mặt 56
2 Thanh toán không dùng tiền mặt 56
2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt 56
2.2 Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt 56
2.3 Các nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt 57
2.4 Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt 59
3 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 60
3.1 Thanh toán bằng Séc 60
3.2 Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi 66
3.3 Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu 67
3.4 Thanh toán bằng thư tín dụng 69
3.5 Thẻ thanh toán 70
4 Câu hỏi ôn tập chương 71
CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH 72
1 Tiền đề ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính 72
1.1 Tiền đề sản xuất hàng hóa và tiền tệ 72
1.2 Tiền đề Nhà nước 72
2 Bản chất của tài chính 73
2.1 Biểu hiện bên ngoài của tài chính 73
2.2 Nội dung kinh tế - xã hội của tài chính 73
3 Chức năng của tài chính 74
3.1 Chức năng phân phối 74
3.2 Chức năng giám đốc 76
4 Hệ thống tài chính của Việt Nam 76
Trang 61 Những vấn đề chung về ngân sách Nhà nước 81
1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước (NSNN) 81
1.2 Đặc điểm của NSNN 81
1.3 Vai trò của NSNN 82
2 Nội dung hoạt động chủ yếu của ngân sách Nhà nước (NSNN) 84
2.1 Thu ngân sách Nhà nước 84
2.2 Chi ngân sách Nhà nước 87
3 Tổ chức hệ thống NSNN và sự phân cấp ngân sách ở Việt Nam 89
3.1 Tổ chức hệ thống ngân sách Nhà nước 89
3.2 Phân cấp quản lý NSNN 89
4 Chu trình quản lý NSNN 91
4.1 Hình thành NSNN 91
4.2 Chấp hành ngân sách (thực hiện ngân sách) 92
4.3 Quyết toán NSNN 93
5 Câu hỏi ôn tập 94
CHƯƠNG 6: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 95
1 Những vấn đề chung về thị trường tài chính 95
1.1 Khái niệm, đối tượng, công cụ của thị trường tài chính 95
1.1.1 Khái niệm 95
1.2 Điều kiện hình thành thị trường tài chính 99
1.3 Phân loại thị trường tài chính 99
1.4 Chức năng, vai trò của thị trường tài chính 102
2 Vai trò của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển TTTC 105
2.1 Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế cho sự hình thành và phát triển TTTC 105
2.2 Nhà nước tạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời và phát triển của TTTC 105
2.3 Nhà nước đào tạo con người cho thị trường tài chính 106
2.4 Nhà nước thực hiện việc giám sát đối với hoạt động tài chính 106
3 Câu hỏi ôn tập 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 72 NSLĐ Năng suất lao động
14 TTTC Thị trường tài chính
Trang 8Thời gian thực hiện môn học: 60 giờ (Lý thuyết: 35 giờ; Thực hành, thảo luận,
bài tập: 21 giờ; Kiểm tra: 04 giờ)
Vị trí, tính chất môn học
- Vị trí: Môn học lý thuyết tài chính tiền tệ thuộc nhóm các môn học cơ sở được
bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung Trong nhóm các môn học cơ sở, môn lý thuyết tài chính tiền tệ được bố trí sau các môn kinh tế chính trị và kinh tế vi mô, lý thuyết thống kê
- Tính chất: Môn học lý thuyết tài chính tiền tệ cung cấp những kiến thức cơ bản, nền tảng về tài chính và tiền tệ làm cơ sở cho học sinh nhận thức các môn chuyên môn
Mục tiêu môn học
- Về kiến thức:
+ Trình bày được những kiến thức cơ bản của lĩnh vực tài chính, tiền tệ: Những vấn đề chung về tài chính, về hoạt động của các khâu ngân sách nhà nước, bảo hiểm, ngân hàng, việc thanh toán trong nền kinh tế thị trường và hoạt động của thị trường tài chính
+ Trình bày được những nội dung cơ bản về tiền tệ; tín dụng về hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tồn tại trong nền kinh tế thị trường
+ Trình bày được các yếu tố, hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
- Về kỹ năng:
+ Vận dụng kiến thức của môn học và kết hợp với các môn học khác để giải thích một số các hiện tượng kinh tế trong nền kinh tế hiện nay
+ Phân loại được các hình thức tiền tệ và các hình thức về tín dụng ngân hàng
+ Viết được quy trình thanh toán của các hình thức thanh toán trong nền kinh tế thị trường
+ Xử lý được các vấn đề về hoạt động tài chính trên góc độ phương pháp luận thông qua các câu hỏi thảo luận, câu hỏi ôn tập trong quá trình học tập môn học
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có ý thức tích cực, chủ động trong quá trình học tập
+ Tuân thủ những yêu cầu về phẩm chất của nghề kế toán là trung thực, chính xác, khoa học
Trang 9Chương 3: Thanh toán trong nền kinh tế thị trường Chương 4: Những vấn đề cơ bản về tài chính Chương 5: Ngân sách Nhà nước
Chương 6: Thị trường tài chính
Trang 10Chương nêu ra các nội dung chủ yếu về tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, chế độ lưu thông tiền, lạm phát, các nguyên nhân và hậu quả của lạm phát từ đó
có biện pháp phòng tránh và xử lý lạm phát
Mục tiêu:
- Trình bày được vai trò và chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng của nó đối với mọi hoạt động của nền kinh tế
- Nhận biết được nguồn gốc ra đời và tiến hoá của tiền tệ qua các hình thái của nó
- Trình bày được lịch sử tiến hoá của các chế độ tiền tệ, hệ thống tiền tệ quốc tế và sự tiến hoá của nó từ xưa đến nay
- Vận dụng được quy luật lưu thông tiền tệ vào thực tiễn, thấy được những luận điểm khác nhau về lạm phát, nguyên nhân, tác động và các giải pháp hạn chế và phòng chống lạm phát
Nội dung chính
1 Nguồn gốc ra đời, bản chất, chức năng và vai trò của tiền tệ
1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của tiền tệ
Quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã dần đến sự xuất
hiện những vật ngang giá chung Vật ngang giá chung là những hàng hoá có thể
trao đổi trực tiếp được với nhiều hàng hoá thông thường khác Đặc điểm của chúng là: Có giá trị sử dụng thiết thực, quí hiếm, dễ bảo quản, vận chuyển và mang tính đặc thù địa phương
Thời kỳ đầu vật ngang giá chung thường là những hàng hoá có giá trị sử dụng thiết thực cho từng khu vực hoặc nhiều vùng có điều kiện tự nhiên và phong tục xã hội tưng tự nhau: muối ăn, da thú
Khi trao đổi hàng hoá đã trở thành nhu cầu thường xuyên của các bộ lạc, dân tộc, thì vật ngang giá chung được gắn vào kim loại
Kim loại được sử dụng làm vật ngang giá chung đầu tiên là sắt và kẽm sau
đó đến đồng rồi đến bạc Đầu thế kỷ 19, vàng bắt đầu đóng vai trò là vật ngang giá chung và kim loại này được gọi là kim loại tiền tệ
Khi vàng độc chiếm vị trí vật ngang giá chung, thì cái tên vật "ngang giá
chung" được thay thế bằng tiền tệ - (Hình thái tiền của giá trị hàng hoá) Thế giới hàng hoá được chia thành 2 cực: một phía là những hàng hoá thông thường, trực tiếp biệu hiện giá trị sử dụng và mỗi hàng hoá chỉ có thể thoả mãn được một hay vài nhu cầu nào đó của con người Phía bên kia - Cực đối lập là vàng - tiền
tệ có thể trao đổi trực tiếp được với mọi hàng hoá khác Vàng - Tiền là một
loại hàng hoá đặc biệt
Trang 11hoá, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ Nó trực tiếp thẻ hiện hao phí lao động
xã hội và quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Tiền có thể thỏa mãn một số nhu cầu của người sở hữu nó, tương ứng với giá trị mà người
đó tích lũy
- Trong nền kinh tế trị trường phát triển: Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ, hoặc trong việc trả nợ 1.3 Chức năng của tiền tệ
13.1 Thước đo giá trị
Tiền tệ được dùng để đo lường giá trị hàng hoá, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, giá trị của tiền được gọi là "chuẩn mực", để giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác phải so sánh với nó Như vậy, thông qua quan hệ này các hàng hoá biểu hiện giá trị của mình thành những lượng có cùng tên giống nhau về chất và có thể so sánh được với nhau về lượng
Thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền là thước đo hao phí lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá Đây là chức năng cơ bản nhất của tiền
Để thực hiện chức năng này tiền phải có các điều kiện sau:
- Tiền phải có đầy đủ giá trị: Tất cả hàng hoá đều có giá trị nội tại, vì vậy
để đo được những giá trị này, thì "thước đo"- tiền tệ buộc phải có một lượng giá trị nào đó Nếu thước đo (tiền tệ) không có giá trị bản thân, thì không thể là cơ
sở để so sánh với giá trị hàng hoá được
Trong lịch sử đã có những đồng tiền vàng lưu thông Đó là thước đo giá trị chuẩn mực nhất, khi thực hiện thước đo giá trị đã phát sinh so sánh trực tiếp giữa giá trị của hàng hoá và vàng Lịch sử này được lặp đi, lặp lại nhiều lần và trở thành "thói quen" của những người tham gia trao đổi trên thị trường, nên sau
đó không cần có mặt của những đồng tiền vàng, những người trao đổi hàng hoá vẫn có thể ước lượng được giá trị hàng hoá tương đối chính xác Như vậy "phép đo" giá trị vẫn được thực hiện vẫn được thực hiện mà không cần sự hiện diện của thước đo - vàng Đó là cơ sở dẫn đến hiện tượng "phi vật chất" chức năng thước đo giá trị
- Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả:
Tiêu chuẩn giá cả là một lượng vàng nhất định, được luật pháp của Nhà nước ấn định cho tiền đơn vị và tên gọi của nó
Theo nguyên lý chung, hệ thống thước đo giá trị bao gồm: Tiền đơn vị; tiền ước số: tức là phần thập phân của tiền đơn vị và tiền bội số của tiền đơn vị Tiền
Trang 12có sẽ mua được bao nhiêu hàng, tức là sức mua của đồng tiền đó cao hay thấp Mỗi quốc gia có thước đo giá trị riêng, cơ sở để xác lập thước đo giá trị ở mỗi quốc gia là NSLĐ và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường của quốc gia đó Chính vì thế mà trên thị trường quốc tế hiện nay, tiền đơn vị của quốc gia này có thể là có thể là ước số hoặc bội số của tiền đơn vị quốc gia kia
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền đã chuyển giá trị của hàng hoá thành tên gọi mới, đó là giá cả Giá cả của hàng hoá là biểu hiện bằng tiền giá trị của nó
Thực chất của giá cả hàng hoá là tỷ lệ so sánh giữa giá trị của nó với giá trị của tiền tệ Chính vì thế mà giá cả của hàng hoá tỷ lệ thuận với giá trị của nó và
tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền tệ
1.3.2 Phương tiện lưu thông (phương tiện trao đổi):
Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được sử dụng làm môi giới trung gian, trong trao đổi hàng hoá, nó vận động đồng thời và ngược chiều với sự vận động của hàng hoá
H - T - H (Hàng hoá - Tiền tệ - Hàng hoá)
Trong nền kinh tế, tiền tệ làm phương tiền trao đổi khi nó được dùng để mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc thanh toán các khoản nợ
Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả của nền kinh
tế, bởi nó đã tiết kiệm được chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp (H - H), thể hiện:
- Quá trình trao đổi hàng hoá được tách thành hai giai đoạn riêng biệt là bán và mua: + Giai đoạn bán hàng (H - T): Thời kỳ chuyển hoá giá trị của hàng hoá thành tiền Đây là công việc khó khăn nhất của những người sản xuất hàng hoá trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
+ Giai đoạn mua hàng (T - H): Những người sở hữu tiền có thể thực hiện giai đoạn này một cách dễ dàng
- Lưu thông hàng hoá tách rời hành vi mua và bán cả về không gian và thời gian: Người sản xuất hàng hoá có thể bán chổ này, mua chỗ khác; bán lúc này mua lúc khác Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ phải có đủ điều kiện sau:
a Phải sử dụng tiền mặt
Tiền mặt là tiền đang có giá trị lưu hành, chúng có hình dáng, kích thước
và tiêu chuẩn giá cả nhật định, được luật pháp Nhà nước thừa nhận
Trang 13Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, bắt buộc phải sử dụng tiền mặt, vì trong quá trình trao đổi này có sự chuyển quyền sở hữu giữa người sở hữu hàng hoá và sở hữu tiền
b Có thể sử dụng tiền dấu hiệu
Mục đích của người bán hàng không phải là để trở thành kẻ sở hữu tiền vĩnh viễn, mà là để mua hàng hoá, đạt đến một giá trị sử dụng mới
Do vậy, tiền tệ đối với họ chỉ là "môi giới thoáng qua", chính vì vậy mà khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông có thể sử dụng tiền đủ giá (tiền vàng) hoặc tiền dấu hiệu (giấy bạc ngân hàng cũng được)
c Lưu thông chỉ chấp nhận một lượng tiền nhất định
Số lượng hàng hoá đưa vào lưu thông trong kỳ với tổng giá cả đã được xác định Do đó lưu thông cũng chỉ có thể chấp nhận một khối lượng tiền nhất định,
để thực hiện các quan hệ trao đổi
Số lượng tiền tăng hay giảm trong lưu thông phụ thuộc vào hai yếu tố:
+ Tổng giá cả hàng hoá đưa ra lưu thông: Giả sử không có hiện tượng mua
bán chịu hàng hoá, không có lưu thông ngoại tệ, chỉ có lưu thông một loại tiền duy nhất, thì tổng giá cả của hàng hoá trong lưu thông tăng lên số lượng tiền cần thiết cho lưu thông cũng sẽ tăng lên (số lượng tìên cần thiết cho lưu thông tỷ
lệ thuận với tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông)
+ Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ: Khác với hàng hoá thông thường,
sau quá trình lưu thông , chúng sẽ đi vào tiêu dùng Còn tiền tệ - hàng hoá đặc biệt, lại luôn luôn vận động trong lưu thông Một đơn vị tiền tệ có thể thực hiện được nhiều lần giá trị của hàng hoá
- Tốc độ lưu thông tiền tệ là một đại lượng chỉ rõ trong một thời gian nhất định, một đơn vị tiền tệ thực hiện được bao nhiêu lần chức năng phương tiện lưu thông Trong thực tế hiện nay số lượng và chủng loại các phượng tiện lưu thông rất đa dạng và phong phú Nếu số lượng hàng hoá đưa ra trao đổi là cố định, số lượng phương tiện lưu thông cũng cố định và các hành vi trao đổi giả sử cũng là một số lượng cố định, thì một số đơn vị tiền tệ này có số lần trao đổi tăng lên, tất yếu số đơn vị tiền tệ kia số lần trao đổi phải giảm xuống và ngược lại
Tổng hợp lại số lần trao đổi của các đơn vị tiền tệ sẽ được bù trừ cho nhau
để hình thành nên tốc độ lưu thông tiền tệ bình quân: Tốc độ lưu thông bình quân tiền tệ, là một đại lượng chỉ rõ trong một thời gian nhất định, số lượng tiền trong lưu thông thực hiện được bao nhiêu lần chức năng phương tiện lưu thông (chức năng chi trả)
Nội dung của quy luật lưu thông tiền tệ: Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của của tiền tệ trong thời kỳ đó
Trang 14Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện
1.3.3 Phương tiện dự trữ giá trị
Thực hiện chức năng này khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông trở về trạng thái tĩnh chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai
Dự trữ giá trị là tích luỹ một lượng giá trị nào đó bằng những phương tiện chuyển tải giá trị, được xã hội thừa nhận, với mục địch có thể chuyển hoá thành hàng hoá hoặc dịch vụ trong tương lai
Chức năng này là quan trọng, vì mọi người không muốn chi tiêu hết thu nhập của mình ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai
Thực hiện chức năng dự trữ giá trị, các phương tiện chuyển tải giá trị phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau:
+ Giá trị dự trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực Nghĩa là có một số lượng cụ thể cân, đong, đo, đếm được Chứ không phải là một lượng tiền "tưởng tượng"
+ Giá trị dự trữ bằng những phương tiện được xã hội thừa nhân: Các phương tiện này có thể được pháp luật thừa nhận Cũng có thể chúng được đảm bảo bằng thông lệ của địa phương hay quốc gia
+ Giá trị dự trữ mang tính thời gian; chính vì thế mà chủ sở hữu thường chọn những phương tiện chuyển tải giá trị phù hợp để đáp ứng được nhu cầu về thời gian mà mình mong muốn:
Nếu dự trữ trong tương lai gần: Thì người ta thường sử dụng ngay các loại dấu hiệu giá trị hiện có
Nếu dự trữ trong tương lai xa hơn: Thì người ta thường chọn các loại ngoại
tệ tự do chuyển đổi vững giá hoặc vàng
Còn nếu dự trữ với mục đích dự trữ, không ấn định thời gian sử dụng số giá trị này, thì lúc này giá trị dự trữ mang mục đích cất trữ Từ trước đến nay và trong tương lai xa hơn nữa kim loại vàng vẫn đáp ứng được mọi yêu cầu của mục đích cất trữ
Thực tế giá trị đã được dự trữ thì không thể tự nó "lớn lên" theo thời gian Thậm chí nó còn giảm đi, nếu người sở hữu không biết lựa chọn các phương tiện chuyển tải giá trị phù hợp Vì vậy trong nền kinh tế thị trường, những người am hiểu kinh doanh tiền tệ, thường tìm đến phương tiện chuyển tải giá trị có khả năng
tự tăng thêm giá trị theo thời gian như: các loại trái khoán, các loại bất động sản, tác phẩm nghệ thuật Đó là những phương thức dự trữ giá trị tốt nhất
Trang 151.3.4 Phương tiện thanh toán
Tiền là phương tiện để thanh toán các khoản nợ về hàng hoá, dịch vụ đã trao đổi trước đây
Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ được sử dụng
để sử dụng để thanh toán các khoản nợ về mua chịu hàng hoá, mà chúng còn được sử dụng để thanh toán các khoản vượt ra ngoài phạm vị trao đổi hàng hoá như: nộp thuế, trả lương, các khoản đóng góp và chi dịch vụ
Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán có thể sử dụng tiền đủ giá (vàng) hoặc các loại dấu hiệu giá trị Đặc biệt có thể sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, để giải quyết các khoản nợ trong nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế thị trường ngày cáng phát triển, thì doanh số thanh toán không dùng tiền mặt càng chiếm tỷ trọng lớn, doanh số thanh toán bằng tiền mặt tương ứng giảm xuống
Chức năng phương tiện thanh toán xuất hiện, đã phát sinh quan hệ tín dụng giữa người mua và người bán chịu hàng hoá Điều đó làm cho khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tại một thời điểm nhất định có sự thay đổi Công thức
về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông của quy luật lưu thông tiền tệ được viết chi tiết như sau:
M = TG - (GBC + GBT) + GTT
LTTM: Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông TG: Tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ
GBC: Giá cả hàng hoá, dịch vụ bán chịu GBT: Giá cả hàng hoá được thực hiện thanh toán bù trừ GTT: Giá cả hàng hoá đến hạn thanh toán
LTT: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ Khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, thì khả năng thanh toán của từng dối tượng trong dây chuyền lưu thông hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng Nếu một trong các đối tượng của "dây chuyền" không có khả năng thanh toán, thì lập tức dây chuyền bị phá vỡ và khả năng khủng hoảng cục bộ có thể xẩy ra
1.3.5 Phương tiện thanh toán quốc tế và tiền tệ thế giới
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao giữa các quốc gia, quan hệ tiền tệ quốc tế cũng ngày càng được mở rộng và tăng cường Tất cả cả các hoạt động đối ngoại đều liên quan đến các khoản chi phí bằng tiền Nhưng vì mỗi quốc gia có một thước đo giá trị riêng, cho nên những khoản giao dịch bằng tiền giữa hai nước, đều phải tiến hành so sánh giữa hai đồng tiền
Đó chính là quan hệ tỷ giá
Trang 16Sau khi đã có tỷ giá giữa các đồng tiền, thì mọi giao dịch quốc tế đều có thể diễn ra một cách bình thường và thuận lợi
Như vậy, ở đây tiền đã thực hiện chức năng phưpng tiện trao đổi quốc tế Tuy nhiên tuỳ theo tính chất "mạnh", "yếu" mà các đồng tiền tham gia vào quá trình trao đổi quốc tế, với mức độ khác nhau Có những đồng tiền sau khi đã xác định xong tỷ giá, chúng không có khả năng lưu thông ra khỏi biên giới quốc gia Trong khi đó một số ít đồng tiền khác, phạm vi thực hiện chức năng phương tiện trao đổi lại rất rộng, chúng được lưu thông ở nhiều nước Trong thực tiễn nhiều nước đã sử dụng đồng Dollar Hoa Kỳ (USD) để tính giá trị tài sản quốc gia, tính thu nhập bình quân đầu người và để dự trữ giá trị
1.4 Vai trò của tiền
1.4.1 Tiền tệ là phương tiện để mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa
Tiền tệ là SP của nền kinh tế hàng hoá Nhưng khi tiền xuất hiện, nó lại trở thành công cụ thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển lên mức cao hơn, bởi vì:
- Tiền đã làm cho giá trị của các hàng hóa được biểu hiện một cách đơn giản Nghĩa là giá giá của các hàng hoá đều được biểu hiện bằng tiền, do đó chúng có thể so sánh với nhau một cách dễ dàng
Trên cơ sở này những người lao động có thể so sánh được với nhau về mức độ
và trình độ lao động của mình đã bỏ ra cho xã hội trong cùng một đơn vị thời gian
- Tiền đã làm cho giá trị của các hàng hóa được biểu hiện một cách thuận lợi: Người sở hữu hàng hoá chỉ cần chuyển đổi hàng hoá của mình thành tiền, rồi từ đó họ đạt tới giá trị sử dụng mới một cách dễ dàng
- Tiền tệ đã làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian
và thời gian Chính vì thế đã làm cho sự lựa chọn của những người tham gia vào quá trình trao đổi càng trở nên thận trọng và chính xác hơn
- Tiền tệ đã làm cho việc hạch toán hiệu quả SXKD trở nên thuận tiện và đầy đủ
1.4.2 Tiền tệ biểu hiện quan hệ xã hội
Đó là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá Những người sản xuất hàng hoá là sản xuất riêng lẻ và độc lập, nhưng
họ lại có quan hệ mật thiết với nhau thông qua trao đổi Trong quan hệ này tiền
là "sợi dây" liên hệ giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau
Tuỳ theo điều kiện và trình độ của mỗi người, tuỳ theo thị trường và thời điểm tiêu thụ Có người thì bán được hết hàng, trong khi đó hàng hoá của nhiều người lại không tiêu thụ được Quá trình này đã phân hoá những người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo và như vậy dẫn đến địa vị của họ trong xã hội cũng khác nhau Chính vì vậy mà người ta đã coi việc chuyển hoá hàng hoá thành tiền: Được hay không được, nhanh hay chậm, được nhiều hay được ít gắn với "số phận" và sự "may rủi" của từng người Do đó đã dẫn đến tình trạng trong xã hội, tiền tệ được mọi người sùng bái
Trang 171.4.3 Tiền tệ là phương tiện phục vụ cho mục đích người sở hữu chúng
Tuỳ thuộc vào tính chất của phương thức sản xuất xã hội, tuỳ thuộc vào địa
vị của người sở hữu tiền, mà tiền được sử dụng với mục đích khác nhau
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các cá nhân, các tổ chức, kể cả Nhà nước, muốn đạt được mục đích của mình, đều phải sử dụng phương tiện tiền tệ ở mức độ thích hợp
Tiền là biểu hiện bên ngoài của tài chính Ở đâu còn chính quyền và luật pháp, thì ở đó vẫn còn thế lực của đồng tiền, và đằng sau chúng là những người
sở hữu tiền tệ Thế lực này chưa thể bị tước bỏ khi nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng
2 Các chế độ lưu thông tiền tệ
2.1 Chế độ lưu thông tiền kim loại Kim loại đóng vai trò vật ngang giá chung, là bước phát triển quan trọng của lịch sử trao đổi hàng hoá, cùng với sự phát triển của quan hệ trao đổi, chế độ lưu thông tiền kim loại cũng phát triển từ thấp đến cao; những kim loại kém giá trị bị loại khỏi dần vật ngang giá chung, kim loại quí dần dần được thay thế vào vị trí này Theo sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, chế độ lưu thông tiền kim loại cũng phát triển từ thấp đến cao (từ các kim loại kém giá đến các kim loại quí)
2.2.1 Chế độ lưu thông tiền kém giá
Tiền kém giá đúc bằng kẽm và đồng, chúng đã từng được lưu thông trong một thời gian khá dài ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Lưu thông loại tiền này phản ánh đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá kém phát triển: Chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến
Khi phương thức SX TBCN hình thành và phát triển thì chế độ lưu thông tiền kém giá không còn phù hợp nữa
2.2.2 Chế độ lưu thông tiền đủ giá
Lưu thông tiền đủ giá là lưu thông tiền bạc hay tiền vàng Đây là đặc trưng khởi đầu của nền kinh kế thị trường Nhưng lưu thông kim loại quí, cũng được phát triển theo từng giai đoạn, cụ thể:
a Chế độ bản vị bạc
Chế độ bản vị bạc là chế độ lưu thông tiền tệ mà bạc được sử dụng làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông
b Chế độ song bản vị
Song bản vị là chế độ lưu thông tiền tệ chuyển tiếp từ bản vị bạc sang bản
vị vàng Trong chế độ này, bạc và vàng đều được sử dụng làm thước đo giá trị
và phương tiện lưu thông
Trang 18Chế độ song bản vị tồn tại ở một số nước châu Âu trong thời gian khá dài: như ở nước Anh trên một trăm năm (1717- 1821; Đức mãi đến 1871; Áo- 1892; Hoa kỳ - 1900 Mới chấm dứt lưu thông bạc để chuyển sang chế độ bản vị vàng
- Tự do lưu thông: Tiền vàng được thanh toán không hạn chế Các loại tiền kém giá và giấy bạc ngân hàng được tự do đổi lấy tiền vàng theo giá danh nghĩa của chúng Tiền vàng hao mòn trong mức "chênh lệch công" vẫn được thanh toán bình thường, nếu hao mòn quá mức sẽ được Nhà nước đổi lại tiền mới
- Vàng được tự do luân chuyển giữa các quốc gia: Các DN xuất - nhập khẩu có quyền thu chi bằng tiền vàng Xuất - nhập khẩu vàng thoi không bị cản trở
Chế độ bản vị vàng là chế độ lưu thông tiền tệ ổn định nhất trong lịch sử
SX và trao đổi hàng hoá Vì lưu thông tiền vàng không xảy ra lạm phát
Nhưng lưu thông vàng cũng bộc lộ nhiều nhược điểm, đó là:
+ Lưu thông vàng dẫn đến lãng phí của cải xã hội, vì vàng hao mòn nhiều trong lưu thông
+ Thị trường sẽ thiếu phương tiện lưu thông, do không đủ vàng để đúc thành tiền, khi lưu thông hàng hoá và dịch vụ ngày càng mở rộng và phát triển Chính vì những nhược điểm trên, cho nên trong lưu thông vàng dần dần được thay bằng các loại dấu hiệu giá trị
2.2 Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu
2.2.1 Bản chất và chức năng
a Khái niệm
Tiền dấu hiệu là những phương tiện thay thế cho tiền vàng trong lưu thông,
để thực hiện các quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ Tiền dấu hiệu còn được gọi là dấu hiệu giá trị
Tiền dấu hiệu không có giá trị nội tại, chúng chỉ có giá trị danh nghĩa pháp định Do đó theo nguyên lý chúng không thể so sánh được với giá trị hàng hoá
b Tiền dấu hiệu thay thế cho tiền đủ giá (tiền vàng) trong lưu thông trong những
chức năng mà lưu thông không yêu cầu phải sử dụng tiền đủ giá Đó là:
- Chức năng phương tiện lưu thông
- Chức năng phương tiện thanh toán
Trang 19- Chức năng dự trữ giá trị trong tương lai gần (dự trữ tạm thời)
- Chức năng phương tiện trao đổi quốc tế Tiền dấu hiệu không thực hiện được các chức năng: Thước đo giá trị; phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới
Trên thực tế tiền dấu hiệu gồm nhiều loại khác nhau, phạm vị thực hiện các chức năng của từng loại tiền dấu hiệu cũng khác nhau
2.2.2 Các loại tiền dấu hiệu
Trên thị trường các nước hiện nay, đang lưu thông phổ biến các loại tiền dấu hiệu sau đây:
Lưu thông thương phiếu có tác dụng không những đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hoá, mà còn giảm một cách đáng kể khối lượng tiền mặt trong lưu thông
c Séc và ngân phiếu thanh toán
- Séc là lệnh của chủ tài khoản, được lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của ngân hàng, yêu cầu NH trích một số tiền nhất định trên TK của mình để trả cho người được hưởng có tên trên Séc hay người cầm tờ Séc đó
Séc là một loại công cụ lưu thông tín dụng được sử dụng rộng rãi ở những nước có hệ thống ngân hàng phát triển Lưu thông bằng Séc có tác dụng giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông
- Ngân phiếu thanh toán Ngân phiếu thanh toán do ngân hàng trung ương phát hành vào lưu thông, là phương tiện thanh toán coi như tiền Có nhiều loại ngân phiếu thanh toán, mỗi loại
có mệnh giá khác nhau; thời gian hiệu lực của từng loại do NHTƯ ấn định cụ thể
Trang 20Khác với Séc chỉ được sử dụng cho những đối tượng có TK tại ngân hàng Ngân phiếu thanh toán sử dụng cho mọi đối tượng Ngân phiếu thanh toán, góp phần tiết kiệm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
d Các phương tiện thanh toán và lưu thông hiện đại
Hiện nay ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã thử nghiệm
và đưa vào sử dụng các phương tiện thanh toán và lưu thông hiện đại, chúng cũng là những phương tiện tín dụng Những phương tiện này đã thay thế một khối lượng tiền trong lưu thông Mặt khác việc sử dụng chúng lại an toàn, tiết kiệm và thuận tiện
Những phương tiện thanh toán và lưu thông hiện đại đang được sử dụng là: + Tiền điện tử
+ Các thông minh (Smart cards) + Các siêu thông minh (Super Smart cards) + Các Lade
Các quốc gia đi đầu trong việc sử dụng các phương tiện các phương tiện hiện đại này là: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Bỉ, Đan Mạch, Thụy Điển, Luc-Xăm-bua Việt Nam đang áp dụng các điện tử Khi điều kiện cơ sở hạ tầng và chuyển giao công nghệ cho phép, nước ta cũng sẽ dần dần sử dụng các phương tiện thanh toán và lưu thông hiện đại, để hòa nhập với thị trường khu vực và trên thế giới
2.2.3 Ý nghĩa của lưu thông tiền dấu hiệu
- Thứ nhất: Khắc phục được tình trạng thiếu phương tiện lưu thông, trong
ĐK kinh tế thị trường phát triển
Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, khối lượng hàng hóa và dịch
vụ tăng lên trong lưu thông với tốc độ nhanh Sự gia tăng khối lượng giá trị thay đổi, đòi hỏi khối lượng tiền tăng lên tương ứng (nếu các yếu tố tác động khác không thay đổi)
Thị trường sẽ bị thiếu phương tiện lưu thông nếu chỉ sử dụng kim loại quí cho mục đích này Nhưng do lưu thông tiền dấu hiệu, nên mâu thuẫn về thiếu phương tiện lưu thông đã được giải quyết
- Thứ hai: Lưu thông tiền dấu hiệu tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội
Do lưu thông tiền dấu hiệu nên không phải sử dụng vàng, vì vậy đã loại trừ được hao mòn vàng không cần thiết Mặt khác tiền dấu hiệu thường có “mệnh giá” lớn, do đó số lượng phát hành vào lưu thông giảm tương ứng, và do đó giảm được chi phí phát hành
Tuy nhiên sử dụng những loại tiền dấu hiệu giá trị, cũng còn có một số nhược điểm:
+ Xuất hiện nhiều dấu hiệu giá trị giả
+ Giấy bạc ngân hàng thường bị lạm phát
Trang 212.3 Chế độ lưu thông tiền tệ quốc tế Chế độ lưu thông tiền quốc tế là tập hợp những quy định thống nhất giữa các quốc gia trong việc tổ chức và điều hành các quan hệ tiền tệ phát sinh giữa các nước.Sau đây là một số chế độ tiền tệ quốc tế điển hình:
- Chế độ tiền tệ quốc tế Paris năm 1867- Chế độ bản vị vàng
- Chế độ tiền tệ Gieno (Italy) – Chế độ bản vị Anh
- Chế độ tiền tệ Bretton Woods – Chế độ bản vị đôla Mỹ
- Chế độ tiền tệ Giamica- Chế độ bản vị SDR
- Chế độ tiền tệ Châu Âu
2 4 Chế độ lưu thông tiền tệ Việt Nam
2.4.1 Giấy bạc ngân hàng Việt Nam
- Là tiền dấu hiệu do NHNN Việt Nam độc quyền phát hành và lưu thông, được thanh toán không hạn chế với mọi khoản trao đổi hàng hóa dịch vụ
- Mọi hành vi làm giả, phá hoại giấy bạc, từ chối nhận lưu hành đồng tiền
do ngân hàng Nhà nước phát hành đều vi phạm pháp luật và xử lý theo pháp luật hiện hành
2.4.2 Nguyên tắc phát hành giấy bạc ngân hàng
- Giấy bạc ngân hàng được phát hành thông qua con đường tín dụng
- Phát hành giấy bạc ngân hàng phải phù hợp với nhu cầu luân chuyển hàng hóa và dịch vụ
- Nhà nước thống nhất quản lý và điều hành việc phát hành giấy bạc ngân hàng
3 Quy luật lưu thông tiền tệ
3.1 Nội dung quy luật lưu thông tiền tệ
Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả hàng hóa trong lưu thông và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ trong thời kỳ đó
Công thức: Kc=H
V=Q×P
V Trong đó: Kc là khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H là tổng giá cả hàng hóa trong lưu thông
Q là khối lượng hàng hóa trong lưu thông
P là giá cả bình quân hàng hóa trong lưu thông
V là tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ Khi tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, công thức xác định khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông có thể viết lại như sau:
Trang 223.2.1 Cầu tiền tệ và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ
a Cầu tiền tệ
- Cầu tiền tệ là số lượng tiền tệ mà dân chúng và doanh nghiệp cần nắm giữ
để thỏa mãn các nhu cầu giao dịch dự phòng và tích lũy
- Cầu tiền tệ được hình thành từ các bộ phận sau:
+ Cầu giao dịch bao gồm các giao dịch: Trả lương, thanh toán nợ, mua nguyên vật liệu,…
+ Cầu dự phòng cá nhân dự trữ để đề phòng các rủi ro bất ngờ
+ Cầu tích lũy: Tích lũy tiền cho nhu cầu chi trong tương lai
b Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ
- Giá trị các khoản giao dịch: Nếu số lượng và số lần giao dịch trong kỳ là cố định thì giá trị các khoản giao dịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức cầu tiền tệ
- Lãi suất tiền gửi: Lãi suất tiền gửi giảm thì cầu tiền sẽ tăng và lãi suất tăng thì cầu tiền sẽ giảm
- Tập quán, thói quen của dân chúng trong việc sử dụng tiền
- Thu nhập của dân chúng: Nếu thu thập tăng thì dân chúng sẽ có nhu cầu tích lũy một lượng tiền nhất định để mua sắm các tài sản có giá trị lớn hoặc đi du lịch làm cho cầu tăng và ngược lại
- Sự ổn định của nền kinh tế và hệ thống chính trị: Khi nền kinh tế vững mạnh và hệ thống chính trị ổn định sẽ làm cầu tiền tệ tăng, dân chúng tích lũy tiền trong ngắn hạn để thỏa mãn nhu cầu mua sắm Khi nền kinh tế chính trị không ổn định dân chúng sẽ không dám giữ tiền mà chuyển sang giữ vàng, ngoại tệ cầu tiền giảm
3.2.2 Cung tiền tệ và các nhân tố ảnh hưởng đến cung tiền tệ
a Cung tiền tệ
Là việc tạo ra và đưa vào lưu thông tổng phương tiện đóng vai trò tiền để đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền trong nền kinh tế
- Khối lượng tiền này được cung ứng từ các tác nhân sau:
+ Ngân hàng trung ương: Phát hành tiền thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cầm cố các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi và các chứng từ có giá khác của các tổ chức tín dụng; mua chứng khoán chính phủ trong nghiệp vụ thị trường mở; mua vàng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
+ Các tổ chức tín dụng: Cung ứng tiền cho lưu thông bằng cách:
Cho khách hàng vay quá mức vốn của mình: (số cho vay vượt mức là số tiền không có thực do NHTM và các tổ chức tín dụng tạo ra);
Cho khách hàng "thấu chi", thể hiện:
Trang 23Xử lý các chứng từ thanh toán của khách hàng bằng cách ghi Có trước và ghi Nợ sau
Cho khách hàng phát hành Séc quá số dư trên tài khoản của họ Những nghiệp vụ này được gọi là nghiệp vụ tạo tiền của ngân hàng thương mại
+ Các tổ chức phi ngân hàng: Cung cấp cho nền kinh tế quốc dân những
phương tiện chuyển tải có giá trị như: Thương phiếu, tín phiếu kho bạc, công trái, trái khoán công ty
b Các nhân tố ảnh hưởng đến cung tiền tệ
- Chỉ số trượt giá và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế: Lạm phát được hiểu là giá cả của hàng hóa, dịch vụ tăng lên liên tục trong một thời kỳ nhất định Khi
có lạm phát, tiền trong lưu thông nhiều hơn khối lượng hàng hóa trong lưu thông Khi chỉ số trượt giá tăng, tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế tăng làm cho cung tiền trong nền kinh tế tăng
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ:Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Thu nhập tăng dẫn đến tiền tích lũy trong dân cư trong nền kinh tế nhiều, từ đó cung tiền tăng lên
- Mức độ thâm hụt ngân sách, thu không đủ chi: Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách
- Mức độ thâm hụt cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định Cán cân thanh toán của một quốc gia được xác định là thâm hụt (Deficit) bằng cách cộng các khoản ghi nợ
và ghi có của cán cân thanh toán, nếu tổng các khoản ghi Có nhỏ hơn ghi Nợ, cán cân thanh toán thâm hụt Thâm hụt trong cán cân thanh toán cho thấy dư cung của một nước trong thị trường quốc te, và chính phủ có thể sau đó phải giảm giá đồng tiền hoặc mở rộng khoản dự trữ chính thức để hỗ trợ giá trị của
nó, từ đó làm cung tiền tăng
3.3 Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ
V=Q×PV
Ba yếu tố tác động đến khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông:
Khối lượng hàng hóa trong lưu thông
Giá cả hàng hóa dịch vụ tác động đến cầu tiền tệ
Tốc độ lưu thông của tiền tệ
Trang 243.4.1 Các khối tiền
a Định nghĩa Khối lượng tiền trong lưu thông là tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hóa đơn vị tại một thị trường nhất định và trong một thời gian nhất định
b Các bộ phận cấu thành khối lượng tiền trong lưu thông
Ms = M3 + Các phương tiện trao đổi khác Trong đó: M3 = Khối tiền tài sản
M3 = M2 + thương phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu các loại, cổ phiếu Trong đó: M2: Khối tiền mở rộng
M2 = M1 + Tiền gửi ngắn hạn M1 khối tiền giao dịch: Tiền mặt, vàng, ngân phiếu, Séc, tiền gửi không kỳ hạn
3.4.2 Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông(M n )
- Là khối lượng tiền đáp ứng đủ nhu cầu lưu thông hàng hóa của nền kinh
tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định
- Để kiểm soát được sự cân bằng giữa Ms /Mn người ta so sánh như sau:>1 biểu hienj của lạm phát,= 1 đây là sự cân bằng lý tưởng của quản lý tiền tệ và quản lý vĩ mô trong nền kinh tế, <1 biểu hiện của giảm phát
4 Lạm phát, thiểu phát và biện pháp ổn định tiền tệ
4.1 Lạm phát
4.1.1 Khái niệm
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế khá phổ biến trong kinh tế hàng hoá tiền tệ, khi yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ không được tôn trọng Khi nền kinh tế có lạm phát thì sẽ xuất hiện hiện tượng kinh tế chung là:
- Giá cả toàn bộ hàng hoá không ngừng tăng lên
- Trong lưu thông tràn ngập khối lượng tiền giấy
- Tiền trong nước bị mất giá so với ngoại tệ và vàng
Lạm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó khối lượng tiền thực tế đưa vào lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông, làm cho giá cả của hàng hoá tăng lên một cách liên tục và kéo dài dẫn đến đồng tiền quốc gia bị mất giá so vơứi vàng và ngoại tệ
Trang 25- Lạm phát vừa phải: Là lạm phát khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ
“một con số”, tổng tỷ lệ lạm phát cả năm dưới 10%, đây là lạm phát tích cực Chính phủ thường duy trì mức lạm phát này để khuyến khích SX phát triển và chi tiêu trong dân chúng
Loại lạm phát này thường thấy ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Nguyên nhân của lạm phát này thường do:
+ Hiện tượng kinh tế tự nhiên
+ Nhà nước duy trì mức độ lạm phát này với mục đích riêng của mình
- Lạm phát phi mã: Là lạm phát xẩy ra khi giá cả hàng hóa bắt đầu tăng với
tỷ lệ hai hoặc ba con số (20%, 100%, 200% năm)
Thông thường lạm phát phi mã ảnh hưởng xấu, gây tác hại nghiệm trọng đến nền kinh tế
- Siêu lạm phát: Là loại lạm phát khi giá cả hàng hóa tăng gấp nhiều lần lạm phát phi mã
Trong lịch sử đã xẩy ra tình trạng siêu lạm phát ở một số quốc gia: như ở Đức năm 1923; Ở Nam Tư tháng 12 năm 1993 lạm phát ở mức 569.000% và tỷ
lệ lạm phát cả năm khoảng một tỷ % Do lạm phát cao như vậy nên Nhà nước phát hành vào lưu thông giấy bạc mệnh giá 50 tỷ Dina Giá cả Nam Tư ở thời kỳ này đã đứng ở mức cao: giá một kg thịt bò giá 10 tỷ Dina, một tem thư giá 1.000.000 Dina
Lạm phát này làm tốc độ lưu thông tiền tệ tăng rất nhanh, lượng tiền trong lưu thông thừa ngày càng nhiều hơn, dẫn đến tốc độ lạm phát đẩy nhanh hơn Luc này tiền tệ hoàn toàn không thực hiện chức năng thước đo giá trị, nền kinh
tế bị khủng hoảng trầm trọng Siêu lạm phát gây ra tai hoạ lớn cho nền kinh tế, phá hoại hầu hết các quan hệ hạ tầng của nền kinh tế quốc dân
b Căn cứ vào mức độ biểu hiện của giá cả trên thị trường, lạm phát được chia thành
- Lạm phát ngầm: Là loại lạm phát kiềm chế, giá cả tăng chậm, lan dần và lành mạnh Loại lạm phát này không gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
- Lạm phát công khai: Là loại lạm phát giá cả tăng nhanh rất dễ thấy Lạm phát này thường ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
c Căn cứ tác động của lạm phát đối với nền kinh tế:
- Lạm phát cân bằng và có dự đoán trước: Là lạm phát mà giá cả tăng với một tốc độ giống nhau, tỷ lệ tăng của giá cả không ảnh hưởng đến thu nhập, vì Nhà nước đã dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát để điều chỉnh các chính sách cho phù hợp
- Lạm phát không cân bằng: Là loại lạm phát giá cả thay đổi nhanh và không giống nhau
Lúc này, tuỳ thuộc vào khả năng dự đoán được hay không của Nhà nước
Trang 26+ Nếu lạm phát không cân bằng, nhưng có thể dự đoán trước thì không tác hại đến phân phối thu nhập quốc dân, nhưng sẽ thiệt hại về hiệu quả kinh tế + Nếu lạm phát không cân bằng, không dự đoán trước thì gây ra tác hại đối với hiệu quả nền kinh tế quốc dân và phân phối lại thu nhập quốc dân
4.1.3 Nguyên nhân và hậu quả của lạm phát
a Nguyên nhân của lạm phát
- Những nguyên nhân có liên quan đến chính sách của Nhà nước như:
+ Nhà nước phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, mà không sử dụng các hình thức khác
+ Chính sách thuế không hợp lý, chưa khai thác hết các nguồn thu, nội dung còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế … gây thất thu cho ngân sách + Chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, nên khuyến khích các ngành có chi phí cao, kém hiệu quả
- Những nguyên nhân liên quan đến nền kinh tế: Như nền kinh tế trong
nước kém phát triển, sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, chi phí cao,
- Những nguyên nhân liên quan đến các điều kiện quốc tế: Như khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực và thế giới, chiến tranh xayy ra…
- Những nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự nhiên: Như thiên tai, động đất
- Những nguyên nhân liên quan đến tình hình chính trị: Do khủng hoảng hệ thống chính trị, làm cho việc điều hành SX không được quan tâm và điều cốt lõi
là dân chúng không tín nhiệm vào đồng tiền pháp định của Nhà nước
b Ảnh hưởng của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Tuỳ theo mức độ của lạm phát khác nhau mà ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế cũng khác nhau Nếu để xẩy ra lạm phát phát phi mã và siêu lạm phát thì ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội của quốc gia, thể hiện:
- Tiền tệ - ngân hàng: Lạm phát làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng thước đo giá trị, không tính toán được các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Người dân không tin vào đồng tiền, nên tìm đến hàng hoá, ngoại tệ, vàng để cất trữ mà không đưa ra đầu tư Điều này làm cho tín dụng bị thu hẹp, hoạt động bình thường của ngân hàng bị phá vỡ, làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loại không kiểm soát được
- Tài chính – kinh tế: Lạm phát làm cho sản xuất bị thu hẹp, vì lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống, do giá cả vật tư tăng lên liên tục
Hơn nữa lạm phát làm cho sản xuất phát triển không đồng đều, mất cân đối giữa các ngành, vì vốn sẽ chạy vào những ngành nào có lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh
Trang 27- Xã hội: Lạm phát là giảm khối lượng hàng hoá tiêu dùng của dân cư, đặc
biệt đời sống của người làm công ăn lương ngày càng khó khăn Họ tìm mua bất
cứ hàng hoá nào dù không có nhu cầu, vì không dám giữ tiền
Vì vậy lạm phát sẽ làm người giàu đầu cơ tích trữ (người có hàng hoá) và làm nghèo nhanh chóng những người giữ tiền Hơn nữa do thu hẹp sản xuất, nên thất nghiệp sẽ tăng cao và dẫn đến vấn đề xã hội phức tạp
Khi nền kinh tế có lạm phát, chính phủ phải có các chính sách để khắc phục hậu quả lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức độ hợp lý
4.1.4 Biện pháp ổn định tiền tệ chống lạm phát
Mục tiêu của kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược là ổn định tiền tệ, chống lạm phát vừa tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động vừa kích thích tăng trưởng kinh tế Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể, Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp thích hợp
a Biện pháp cấp bách
Biện pháp được áp dụng với mục đích giảm tức thời “cơn sốt lạm phát” để
có cơ sở áp dụng những biện pháp ổn định lâu dài Khi xảy ra lạm phát phi mã hoặc siêu lạm phát, thì những biện pháp tình thế có thể được áp dụng:
- Chính sách tiền tệ quốc gia: Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, cụ thể: + Ngừng phát hành tiền vào lưu thông
+ Tăng lãi suất tiền gửi, thu hút tiền mặt của dân cư và doanh nghiệp vào ngân hàng, giảm sức ép đối với hàng hoá trên thị trường Đồng thời khuyến khích tiền gửi tiết kiệm dài hạn, gửi thời gian càng dài thì lãi suất càng cao + Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hạn chế vốn tín dụng của NHTM
+ Ấn định hạn mức tín dụng cho các NHTM tức là quy định cho các NHTM mức cấp vốn tín dụng tối đa, nếu cho vay vượt quá mức quy định các NHTM phải chịu phạt
+ NHTƯ bán các loại các laọi trái phiếu ngân hàng ra thị trường tiền tệ để thu hút vốn tiền tệ của các NHTM, doanh nghiệp, dân cư
- Chính sách tài chính quốc gia:
- Cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết, nhằm làm giảm bớt tình trạng lạm phát
- Khuyến khích nhập khẩu hàng hoá, để đưa vào thị trường trong nước các mặt hàng đang còn thiếu hoặc lên giá, nhằm mục đích tăng quĩ hàng hoá tiêu dùng, cân đối với số lượng tiền trong lưu thông
- Bán vàng, ngoại tệ ra thị trường để thu hút tiền mặt ngoài lưu thông vào ngân hàng
- Phát hành trái phiếu Chính phủ để vay nợ trong dân cư, các doanh nghiệp,