1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Nghề: Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ - Trung cấp) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

199 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp (Nghề: Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ - Trung cấp)
Tác giả Cử nhân Quách Kiều Trang, Th.S Tăng Thúy Liễu
Người hướng dẫn Th.S Tăng Thúy Liễu
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thể loại Giáo trình môn học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: (33)
    • 1.1. Bản chất, chức năng tài chính doanh nghiệp (9)
      • 1.1.1. Bản chất tài chính doanh nghiệp (9)
      • 1.1.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp (10)
    • 1.2. Vị trí tài chính doanh nghiệp (12)
    • 1.3. Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp (13)
    • 1.4. Vai trò quản lý tài chính doanh nghiệp (13)
    • 1.5. Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp (0)
    • 1.6. Tổ chức tài chính doanh nghiệp (16)
      • 1.6.1. Khái niệm (16)
      • 1.6.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp (16)
      • 1.6.3. Nội dung hoạt động tài chính doanh nghiệp (27)
  • Chương 2 (109)
    • 2.1. Quản lý tài sản lưu động (33)
      • 2.1.1. Khái niệm và phân loại tài sản lưu động của doanh nghiệp (33)
      • 2.1.2. Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động (38)
      • 2.2.3. Lập kế hoạch khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp (75)
  • Chương 3 (136)
    • 3.1. Đầu tư dài hạn và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn (109)
      • 3.1.1. Khái niệm (109)
      • 3.1.2. Phân loại đầu tư (110)
      • 3.1.3. Ý nghĩa của quyết định đầu tư dài hạn của DN (111)
    • 3.2. Yếu tố lãi suất trong các quyết định đầu tư dài hạn và giá trị thời gian (113)
      • 3.2.1. Yếu tố lãi suất trong các quyết định đầu tư dài hạn của DN (113)
      • 3.2.2. Giá trị theo thời gian của tiền tệ (114)
    • 3.3. Chi phí và thu nhập của dự án đầu tư (119)
    • 3.4. Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư (121)
      • 3.4.1. Phương pháp giá trị hiện tại ròng (NPV) (121)
      • 3.4.2. Phương pháp tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) (123)
      • 3.4.3. Phương pháp chỉ số doanh lợi (PI) (125)
      • 3.4.4. Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP) (126)
  • Chương 4 (157)
    • 4.1. Khái niệm về đòn bẩy (136)
    • 4.2. Đòn bẩy hoạt động (136)
      • 4.2.1. Phân tích ảnh hưởng đòn bẩy hoạt động (136)
    • 4.3. Đòn bẩy tài chính (143)
    • 4.4. Đòn bẩy tổng hợp (146)
  • Chương 5 (0)
    • 5.1. Khái niệm chi phí vốn (157)
      • 5.2.1.1. Chi phí sử dụng vốn vay trước khi tính thuế thu nhập (158)
      • 5.2.1.2. Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế (159)
      • 5.2.2. Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu (159)
    • 5.3. Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) (166)
    • 5.4. Chi phí sử dụng vốn biên tế (167)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Như vậy có thể hiểu: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh

Bản chất, chức năng tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Bản chất tài chính doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có vốn tiền tệ ban đầu để đầu tư vào tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, và chi trả lương, thưởng Việc sử dụng vốn tiền tệ thường xuyên yêu cầu doanh nghiệp phải có nguồn thu để bù đắp, tạo nên quá trình luân chuyển vốn Qua đó, doanh nghiệp hình thành các mối quan hệ kinh tế quan trọng.

- Thứ nhất: Những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước

Tất cả doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, đều có nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Ngân sách nhà nước cung cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể hỗ trợ các công ty liên doanh hoặc cổ phần thông qua việc mua cổ phiếu hoặc cho vay bằng cách mua trái phiếu, tùy thuộc vào mục đích quản lý của từng ngành kinh tế, từ đó quyết định tỷ lệ góp vốn và mức độ cho vay.

- Thứ hai: Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác

Sự đa dạng hóa hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã hình thành các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhau, cũng như với các nhà đầu tư, người cho vay, và các bên liên quan khác Những mối quan hệ này phát sinh trong quá trình doanh nghiệp vay vốn và hoàn trả nợ, bao gồm cả việc trả lãi cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

- Thứ ba: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và các phòng ban, phân xưởng, tổ đội sản xuất rất quan trọng trong việc quản lý và thực hiện các giao dịch tài chính, bao gồm nhận và thanh toán tạm ứng cũng như thanh toán tài sản.

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên thể hiện qua việc phân phối thu nhập cho người lao động, bao gồm tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần.

Các quan hệ kinh tế được thể hiện qua sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, thường được gọi là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này không chỉ phản ánh doanh nghiệp như một đơn vị kinh tế độc lập và chủ thể trong quan hệ kinh tế, mà còn thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa tài chính doanh nghiệp và các khâu khác trong hệ thống tài chính của đất nước.

Như vậy có thể hiểu:

Tài chính doanh nghiệp liên quan đến các mối quan hệ kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính, kết hợp với quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể.

1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp:

Tài chính doanh nghiệp có 3 chức năng chính sau: a Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp:

Chức năng phân phối của doanh nghiệp thể hiện qua việc phân phối thu nhập từ doanh thu bán hàng và các hoạt động khác Nhìn chung, các doanh nghiệp thực hiện phân phối thu nhập theo nhiều cách khác nhau.

- Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau:

 Bù đắp các chi phí không được trừ

 Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông

 Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp b Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh

Giám đốc tài chính thực hiện kiểm tra và kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính Chức năng này đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn, bao gồm tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, và việc thanh toán các khoản công nợ Việc kiểm tra kỷ luật tài chính và quản lý giúp phát hiện những mất cân đối và sơ hở trong điều hành, từ đó đưa ra quyết định kịp thời để ngăn chặn tổn thất và nâng cao hiệu quả kinh doanh Chức năng giám đốc tài chính là toàn diện và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Ví dụ: Công ty A là doanh nghiệp mới thành lập có dữ liệu sau:

- Tổng vốn đầu tư cho dự án kinh doanh là 10.000 triệu đồng, trong đó vốn tự có của công ty là 5.000 triệu đồng, và vốn vay là 5000 triệu đồng

Năm 2014, công ty ghi nhận doanh thu 20.000 triệu đồng và chi phí phát sinh 15.000 triệu đồng Công ty quyết định chia 40% lợi nhuận sau thuế cho cổ đông.

- LN trước thuế và lãi vay 5.000 2.000

Vị trí tài chính doanh nghiệp

Tài chính của doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính quốc gia và là khâu cơ sở của hệ thống tài chính

Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng trong quản lý sản xuất kinh doanh, giúp xác định nhu cầu vốn và tạo nguồn tài chính cần thiết Để đạt được mục tiêu sản xuất, cần tổ chức sử dụng vốn một cách hợp lý và hiệu quả, đồng thời theo dõi và quản lý chặt chẽ chi phí Việc kiểm soát tình hình tiêu thụ sản phẩm và tính toán bù đắp chi phí là cần thiết, cùng với việc sử dụng đòn bẩy tài chính để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua phân phối lợi nhuận cho người lao động.

TCDN được xem là một phần quan trọng của hệ thống tài chính Việt Nam, trong đó ngân sách Nhà Nước đóng vai trò chủ đạo, góp phần củng cố và phát triển hệ thống tài chính quốc gia.

Tài chính doanh nghiệp bao gồm: Tài chính của các đơn vị, các tổ chức SXKD hàng hoá và cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế.

Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển với nhiều mục tiêu như tối đa hoá lợi nhuận và doanh thu, nhưng tất cả đều hướng tới việc tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Chủ sở hữu cần thấy giá trị đầu tư của họ gia tăng, và khi doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng giá trị tài sản, họ cũng đã tính đến sự biến động của thị trường và rủi ro trong kinh doanh Quản lý tài chính doanh nghiệp là công cụ để đạt được mục tiêu này.

Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp, bao gồm quyết định đầu tư, huy động vốn, phân phối và ngân quỹ, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong quản lý tài chính, nhà quản lý cần cân nhắc cả yếu tố bên trong và bên ngoài để đưa ra quyết định nhằm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, đồng thời đảm bảo phù hợp với lợi ích của họ.

Vai trò quản lý tài chính doanh nghiệp

Quản lý tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, quyết định tính độc lập và sự thành bại trong kinh doanh Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, cùng với sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, tầm quan trọng của quản lý tài chính càng được nâng cao Mọi đối tác và hợp tác với doanh nghiệp đều có thể hưởng lợi từ hiệu quả quản lý tài chính Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm các phương pháp, hình thức và công cụ nhằm quản lý hoạt động tài chính trong những điều kiện cụ thể để đạt được các mục tiêu nhất định.

Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm quản lý tài sản, huy động vốn, quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, cùng với kiểm soát tài chính của doanh nghiệp.

Trong các quyết định của doanh nghiệp, cần chú trọng đến lợi ích không chỉ của cổ đông và nhà quản lý, mà còn của người lao động, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ Những đối tượng này đều có nhu cầu tiềm năng về dòng tiền của doanh nghiệp Việc giải quyết vấn đề này liên quan đến các quyết định nội bộ trong doanh nghiệp cũng như các mối quan hệ với đối tác bên ngoài Do đó, nhà quản lý tài chính phải đảm bảo cân bằng giữa trách nhiệm nội bộ và các mối quan hệ bên ngoài.

DN vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận đánh giá của người ngoài DN như cổ đông, chủ nợ, khách hang, Nhà nước…

Quản lý tài chính trong doanh nghiệp có thể được tiếp cận từ hai góc độ: cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và cơ chế quản lý tài chính trong doanh nghiệp Hoạt động quản lý tài chính liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực khác trong doanh nghiệp, và việc quản lý tài chính hiệu quả có thể khắc phục những thiếu sót trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc kỹ lưỡng có thể dẫn đến tổn thất nghiêm trọng cho doanh nghiệp và nền kinh tế Do đó, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong môi trường nhất định sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Hoạt động tài chính của doanh nghiệp, dù quy mô lớn hay nhỏ, đều tuân theo những nguyên tắc quản lý tài chính chung Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những đặc thù riêng, do đó việc áp dụng các nguyên tắc này cần phải phù hợp với các điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.

 Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận

Quản lý tài chính cần dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn các khoản đầu tư khác nhau tùy thuộc vào mức độ rủi ro mà họ sẵn sàng chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng Khi đầu tư vào các dự án có rủi ro cao, họ mong đợi sẽ nhận được lợi nhuận cao tương ứng.

Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền là khái niệm quan trọng để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, yêu cầu đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm cụ thể, thường là hiện tại Đối với nhà đầu tư, một dự án được chấp nhận khi lợi ích vượt trội hơn chi phí Trong bối cảnh này, chi phí cơ hội của vốn được xem như tỷ lệ chiết khấu.

Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần duy trì mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả, vì vậy dòng tiền là yếu tố quan trọng hơn lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và vào, cùng với việc tái đầu tư, phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Khi đưa ra quyết định kinh doanh, doanh nghiệp cần xem xét dòng tiền sau thuế, đặc biệt là từ các dự án sinh lợi Trong môi trường cạnh tranh, việc kiếm lợi nhuận bền vững và tìm kiếm các dự án tốt ngày càng khó khăn Do đó, doanh nghiệp cần hiểu rõ các dự án sinh lợi và điều chỉnh quyết định tài chính để bảo vệ lợi ích của cổ đông.

Trong quản lý tài chính, cả chung và doanh nghiệp, nguyên tắc đạo đức và trách nhiệm xã hội đóng vai trò quan trọng Hành vi đạo đức thể hiện sự đúng đắn trong công việc, và luật lệ cùng quy tắc phản ánh tiêu chuẩn xử sự mà nhà quản lý tài chính cần tuân thủ Những hành vi vô đạo đức có thể làm mất niềm tin, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài việc tối đa hóa giá trị tài sản cho cổ đông, nhà quản lý tài chính cũng cần có trách nhiệm với xã hội.

1.6 Tổ chức tài chính doanh nghiệp Để sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trong SXKD cần thiết phải tổ chức tài chính doanh nghiệp

Tổ chức tài chính doanh nghiệp là quá trình áp dụng các chức năng tài chính để xây dựng và thực hiện các quyết định tài chính chính xác, nhằm tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ hiệu quả Mục tiêu là đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

1.6.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp

Mô hình tổ chức tài chính doanh nghiệp không phải là một khái niệm tĩnh mà luôn trong trạng thái biến đổi Nó phụ thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm.

Hiện nay theo luật DN 2015, ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

Các đặc điểm riêng về hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp.

- Tổ chức và huy động vốn

Dưới đây xem xét việc tổ chức quản lý tài chính của một số loại hình doanh nghiệp phổ biến: a Công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo luật doanh nghiệp hiện hành tại Việt Nam, có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (Điều 47)

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:

- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50

Thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong giới hạn số vốn đã góp, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật doanh nghiệp.

- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 52, 53 và 54 của Luật doanh nghiệp hành cổ phần

Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp (Điều 48)

Tổ chức tài chính doanh nghiệp

Để sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trong SXKD cần thiết phải tổ chức tài chính doanh nghiệp

Tổ chức tài chính doanh nghiệp là quá trình áp dụng các chức năng tài chính để xây dựng và thực hiện các quyết định tài chính chính xác, nhằm tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ hiệu quả Mục tiêu của việc này là đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

1.6.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp

Mô hình tổ chức tài chính doanh nghiệp không phải là một khái niệm tĩnh mà luôn trong trạng thái biến đổi Nó phụ thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm.

Hiện nay theo luật DN 2015, ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

Các đặc điểm riêng về hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp.

- Tổ chức và huy động vốn

Dưới đây xem xét việc tổ chức quản lý tài chính của một số loại hình doanh nghiệp phổ biến: a Công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo luật doanh nghiệp hiện hành, tại Việt Nam có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (Điều 47)

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:

- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50

Thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong giới hạn số vốn đã góp, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật doanh nghiệp.

- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 52, 53 và 54 của Luật doanh nghiệp hành cổ phần

Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp (Điều 48)

Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được xác định khi đăng ký doanh nghiệp, là tổng giá trị phần vốn góp mà các thành viên cam kết đóng góp vào công ty.

Các thành viên công ty phải thực hiện việc góp vốn đúng loại tài sản đã cam kết trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Việc góp vốn bằng tài sản khác chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của đa số thành viên còn lại Trong thời gian này, các thành viên sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết.

Sau thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, nếu vẫn có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, sẽ được xử lý theo quy định.

+ Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty;

+ Thành viên chưa góp vốn đủ phần vốn góp như đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp;

+ Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên

Trong trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty cần đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên trong vòng 60 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn Các thành viên chưa góp vốn sẽ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đã cam kết Giấy chứng nhận phần vốn góp sẽ bao gồm các nội dung chủ yếu liên quan đến giá trị phần vốn đã góp.

+ Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

+ Vốn điều lệ của công ty;

Các thông tin cần thiết bao gồm họ tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc các chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên cá nhân; và tên, số quyết định thành lập hoặc mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên tổ chức.

+ Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên;

+ Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;

+ Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty

Trong trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, hủy hoại, hư hỏng hoặc tiêu hủy, thành viên có quyền yêu cầu công ty cấp lại giấy chứng nhận này theo quy trình và thủ tục được quy định trong Điều lệ công ty.

 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Điều 73)

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là loại hình doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu Chủ sở hữu công ty có trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, nhưng chỉ trong phạm vi số vốn điều lệ đã đăng ký.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần Điều lệ công ty

Chủ sở hữu doanh nghiệp cần phải đóng góp đầy đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Trong trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định, chủ sở hữu công ty cần đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo giá trị số vốn thực góp trong vòng 30 ngày kể từ ngày cuối cùng Chủ sở hữu sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước khi thực hiện việc đăng ký thay đổi vốn điều lệ.

Chủ sở hữu công ty cổ phần phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty Điều này bao gồm cả thiệt hại phát sinh do việc không góp, không góp đủ hoặc không góp đúng hạn vốn điều lệ.

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;

+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

- Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn

Ngày đăng: 07/07/2023, 00:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm