1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM

239 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Thương Mại Dịch Vụ Và Giải Quyết Tranh Chấp Về Hợp Đồng Thương Mại Dịch Vụ Ở Việt Nam
Tác giả Hà Công Anh Bảo
Người hướng dẫn GS, TS Nguyễn Thị Mơ
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh doanh
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (16)
  • 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA ĐỀ TÀI (24)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (0)
    • 1.1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại dịch vụ và tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (28)
      • 1.1.1. Hợp đồng thương mại dịch vụ (28)
      • 1.1.2. Tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (42)
    • 1.2. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (54)
      • 1.2.1. Các phương thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (0)
      • 1.2.2. Những yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ của doanh nghiệp (65)
    • 1.3. Đánh giá tác động của việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (67)
      • 1.3.1. Những tác động tích cực (0)
      • 1.3.2. Những tác động tiêu cực (70)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG KÝ KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM (72)
    • 2.1. Thực trạng ký kết, thực hiện hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam (72)
      • 2.1.1. Số lượng các hợp đồng thương mại dịch vụ ngày càng tăng (0)
      • 2.1.2. Hợp đồng thương mại dịch vụ quốc tế gia tăng về số lượng và giá trị (0)
      • 2.1.3. Nhiều hợp đồng thương mại dịch vụ phức tạp được ký kết và thực hiện (0)
    • 2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ tại Việt Nam (76)
      • 2.3.1. Những thuận lợi và kết quả (106)
      • 2.3.2. Những khó khăn, bất cập và nguyên nhân (109)
      • 2.3.3. Phân tích một số vụ tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (0)
  • Chương 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIẢI QUYẾT THÀNH CÔNG CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (0)
    • 3.1. Dự báo về sự gia tăng các tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ tại Việt Nam (120)
      • 3.1.1. Cơ sở dự báo (120)
      • 3.1.2. Số liệu dự báo (123)
    • 3.2. Các giải pháp đối với doanh nghiệp (126)
      • 3.2.1. Nhóm giải pháp về việc ký kết hợp đồng thương mại dịch vụ (126)
      • 3.2.2. Nhóm giải pháp về thực hiện hợp đồng thương mại dịch vụ (134)
      • 3.2.3. Nhóm giải pháp về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại dịch vụ (137)
      • 3.2.4. Nhóm giải pháp khác (142)
    • 3.3. Một số kiến nghị (143)
      • 3.3.1. Đối với Nhà nước (143)
      • 3.3.2. Đối với tòa án kinh tế (152)
      • 3.3.3. Đối với các trung tâm trọng tài thương mại (154)
  • KẾT LUẬN (157)
  • PHỤ LỤC (172)

Nội dung

Đó là lý do để vấn đề: “Hợp đồng thương mại dịch vụ và giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam” được NCS lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ quản

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về TMDV và HĐTMDV ở nước ngoài đã được thực hiện qua nhiều công trình và bài viết, mỗi tác phẩm tập trung vào các vấn đề riêng lẻ Một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này đã đề cập đến các phương thức GQTC liên quan đến TMDV.

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về thương mại dịch vụ

Năm 2003, Takatoshi Ito và Anne O Krueger đã công bố nghiên cứu mang tên “Trade in services in the Asia-Pacific region”, phân tích sự chuyển đổi từ nền kinh tế hàng hóa sang nền kinh tế dịch vụ toàn cầu Nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng của các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm Hàn Quốc và Nhật Bản.

Khu vực Đông Á, bao gồm Đài Loan và Hồng Kông, đang chú trọng vào việc phát triển thương mại dịch vụ (TMDV) và đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thương mại hóa sản phẩm dịch vụ Bài viết nhấn mạnh rằng tự do hóa thương mại toàn cầu về dịch vụ sẽ mở ra cơ hội cho các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương xây dựng các chiến lược phát triển TMDV đa dạng.

Năm 2009, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã xuất bản cuốn sách: “Negotiating

"Trade in services is a critical issue in the stalled Doha Round negotiations, highlighting the disparity between developed countries, which have extensive experience in service trade, and developing countries, which lack this expertise As a result, developing nations face significant challenges in joining the WTO and adhering to the GATS agreement."

Cuốn sách này đã đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho các nước đang phát triển khi họ tham gia đàm phán về TMDV

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về hợp đồng, hợp đồng thương mại dịch vụ và quản trị hợp đồng

In 2008, author Anuj Saxna published the book "Enterprise Contract Management – A Practical Guide to Successfully Implementing an ECM Solution," highlighting that ineffective contract management can result in significant consequences for businesses.

1 Dịch sang tiếng Việt là: Thương mại dịch vụ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương

Đàm phán thương mại dịch vụ là một chủ đề quan trọng đối với các nước đang phát triển Nếu doanh nghiệp không kiểm soát được hợp đồng, họ sẽ không thể quản lý hiệu quả hoạt động kinh doanh Để đảm bảo kiểm soát quá trình thực hiện hợp đồng, tác giả đề xuất hai giải pháp chính: tăng cường sự kết hợp giữa công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực có trình độ.

Năm 2010, Richard Griffiths trong tác phẩm “Service Offerings and Agreements: A Guide for Exam Candidates” đã định nghĩa dịch vụ là việc cung cấp giá trị cho khách hàng thông qua các tiện lợi mà họ mong muốn, thay vì chỉ chú trọng vào chi phí và rủi ro Tác giả cũng phân tích kỹ năng quản trị doanh nghiệp cho các nhà quản lý trong các mối quan hệ liên quan đến dịch vụ và thương mại dịch vụ Cùng năm, Michael Diathesopoulos công bố “Relation contract theory and management contracts: A paradigm for the application of the Theory of the Norms”, trong đó ông phát triển mô hình các mối quan hệ hợp đồng để kiểm chứng hiệu quả quản lý hợp đồng, phân tích nghĩa vụ đơn vụ và song vụ từ cả phía người mua và người bán.

Năm 2010, Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) xuất bản Cẩm nang dành cho các

The document titled "Model Contracts for Small Firms – Legal Guidance for Doing International Business" provides sample contracts for small businesses, including detailed service agreements and accompanying appendices It serves as a practical guide for small enterprises engaged in international commercial activities.

Năm 2012, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Australia (ANAO) đã xuất bản cuốn sách:

Cuốn sách "Developing and Managing Contracts – Getting the Right Outcome, Achieving Value for Money" đã chỉ ra rằng việc soạn thảo và phát triển hợp đồng hiệu quả cần kết hợp quản lý rủi ro, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, ghi nhận các sự kiện hàng ngày, duy trì đạo đức nghề nghiệp, quản lý nguồn lực và xây dựng các mối quan hệ bền vững.

4 Dịch sang tiếng Việt là: Cung cấp dịch vụ và những thỏa thuận: cẩm nang cho nhà quản lý

5 Dịch sang tiếng Việt là: Mối liên hệ giữa lý thuyết và quản lý hợp đồng: Một mô hình cho áp dụng lý thuyết của mối quan hệ

6 Dịch sang tiếng Việt là: Các mẫu hợp đồng cho doanh nghiệp nhỏ - Cẩm nang hướng dẫn cho kinh doanh quốc tế

7 Dịch sang tiếng Việt là: Phát triển và quản lý hợp đồng – Nhận lấy những kết quả đúng và giá trị cho đồng tiền

Vào năm 2012, Mark Anderson và Victor Warner đã cho ra mắt lần tái bản thứ 3 của cuốn sách "Drafting and Negotiating Commercial Contracts" Trong tác phẩm này, hai tác giả đã nêu rõ các yêu cầu pháp lý cần thiết cho một hợp đồng thương mại, bao gồm hình thức hợp đồng, cấu trúc, kỹ năng soạn thảo và các điều khoản quan trọng như nghĩa vụ, thanh toán và bảo mật.

Các nghiên cứu liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thấy rằng việc xử lý hiệu quả các tranh chấp này có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc giải quyết tranh chấp không chỉ giúp duy trì mối quan hệ giữa các bên mà còn giảm thiểu rủi ro và chi phí phát sinh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

In 2004, authors Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby, and Constantine Partasides published the book "Dissenting Opinions in International Commercial Arbitration: Arbitration International." In this work, they clarify the concept of commercial contracts and explain why businesses prefer international commercial arbitration (ICA) over traditional court systems.

Vào năm 2005, UNCTAD và Trung tâm Trọng tài Quốc tế VN đã hợp tác dịch cuốn sách “Trọng tài và các phương pháp giải quyết tranh chấp được lựa chọn – giải quyết các tranh chấp thương mại như thế nào” sang tiếng Việt Cuốn sách này phân tích chi tiết các phương thức giải quyết tranh chấp không mang tính tài phán như hòa giải và trung gian, đồng thời nêu bật những lợi ích của việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài Ngoài ra, nó cũng nhấn mạnh rằng việc lựa chọn giữa tòa án và trọng tài để giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và quyết định của các doanh nghiệp sau khi xem xét ưu nhược điểm của từng phương thức.

Vào năm 2005, Robert C Bordone và Michael L Moffitt đã phát hành cuốn sách "The Handbook of Dispute Resolution", trong đó chia sẻ những kinh nghiệm và kỹ năng quan trọng về giải quyết tranh chấp thương mại Cuốn sách này được coi là cẩm nang quý giá cho các chuyên gia trong lĩnh vực này.

8 Dịch sang tiếng Việt là: Soạn thảo và đàm phán hợp đồng thương mại

Việc ký kết và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại quốc tế mà không nghiên cứu kỹ có thể dẫn đến rủi ro lớn, như không nhận được hàng hóa dù đã thanh toán hoặc người bán không nhận được tiền dù đã giao hàng Tác giả nhấn mạnh rằng việc giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng đã ký kết có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong cuốn sách “Executive Guide to Managing Disputes” xuất bản năm 2009, Gary L Kaplan đã chỉ ra những thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt khi xảy ra tranh chấp hợp đồng Ông cũng khuyến nghị rằng để quản lý tranh chấp hiệu quả, cần áp dụng mô hình kết hợp giữa hòa giải viên khảo cứu, trọng tài và hòa giải viên chuyên gia.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA ĐỀ TÀI

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã phân tích tình hình nghiên cứu liên quan và xác định một số câu hỏi nghiên cứu cơ bản Những câu hỏi này sẽ làm nền tảng cho việc nghiên cứu nội dung của luận án.

Hợp đồng dịch vụ (HĐTMDV) là một loại hợp đồng khác biệt so với hợp đồng thương mại hàng hóa (TMHH), với những đặc điểm riêng biệt HĐTMDV được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) của doanh nghiệp Việc hiểu rõ HĐTMDV giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình cung cấp dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Việc giải quyết tranh chấp (GQTC) về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh (HĐKD) của doanh nghiệp (DN) Quản lý quy trình ký kết hợp đồng và GQTC liên quan đến hợp đồng là yếu tố quan trọng trong công tác quản trị DN Tình hình GQTC về HĐTMDV tại Việt Nam trong thời gian qua cho thấy một số đặc điểm cần lưu ý, và các doanh nghiệp Việt Nam nên chú ý đến quy trình GQTC tại tòa án và trung tâm trọng tài thương mại (TTTM) để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Các doanh nghiệp (DN) cần chú trọng đến việc ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp (GQTC) liên quan đến hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ và kỹ năng GQTC Sự phức tạp của tranh chấp HĐTMDV thường xuất phát từ việc thiếu hiểu biết về quy trình và kỹ năng cần thiết Việc nắm vững quy trình và kỹ năng GQTC không chỉ giúp DN quản lý tốt hơn trong môi trường kinh tế thị trường hiện nay mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp và kết quả của quá trình này đối với hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (DN) và công tác quản trị DN.

- Lý thuyết liên quan đến TMDV , HĐTMDV: Hợp đồng thương mại, HĐTMDV, quản trị tranh chấp về HĐTMDV để ngăn ngừa rủi ro trong HĐKD của DN

Lý thuyết về các phương thức và kỹ năng giải quyết tranh chấp (GQTC) liên quan đến hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) nhấn mạnh tác động của việc giải quyết tranh chấp đối với hoạt động kinh doanh (HĐKD) của doanh nghiệp Việc áp dụng hiệu quả các phương thức GQTC không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

2.3 Các giả thuyết nghiên cứu

(1) Giả thuyết nghiên cứu là : HĐTMDV là loại hợp đồng mua bán dịch vụ Việc

GQTC loại hợp đồng này mang tính phức tạp hơn so với hợp đồng TMHH vì tính chất của dịch vụ là vô hình, khó xác định

Kết quả nghiên cứu (dự định) là hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về

HĐTMDV và GQTC về HĐTMDV

Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng sử dụng hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) tại Việt Nam từ năm 2005 đến nay, làm nổi bật những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) gặp phải trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTMDV Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tranh chấp phát sinh từ HĐTMDV.

Giả thuyết nghiên cứu cho rằng những bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) cùng với sự nhận thức yếu kém của doanh nghiệp (DN) về HĐTMDV là nguyên nhân chính dẫn đến việc xảy ra tranh chấp.

Nghiên cứu này nhằm phân tích và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng thuê dịch vụ (HĐTMDV) cũng như thực trạng nhận thức của doanh nghiệp (DN) đối với loại hợp đồng này Từ đó, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp cụ thể để khắc phục những nguyên nhân đã nêu.

Giả thuyết nghiên cứu cho rằng việc giải quyết các thách thức trong hoạt động thương mại dịch vụ sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVN) tránh được thiệt hại trong kinh doanh, đồng thời nâng cao chất lượng và uy tín của họ.

Kết quả nghiên cứu khẳng định và làm rõ ảnh hưởng của việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong công tác quản trị Nghiên cứu cũng đưa ra kiến nghị cho Nhà nước, cơ quan giải quyết tranh chấp, cùng với các giải pháp cho doanh nghiệp tham gia tranh chấp nhằm giúp doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại trong kinh doanh.

2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc ngành Quản trị kinh doanh, tập trung vào việc phân tích giải quyết tranh chấp hợp đồng từ góc độ quản trị doanh nghiệp NCS cần bám sát lý luận và thực tiễn về hợp đồng và giải quyết tranh chấp, đồng thời xem xét mối quan hệ giữa giải quyết tranh chấp và quản trị rủi ro để phát triển hoạt động kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tranh chấp có thể phát sinh và nếu không được giải quyết tốt, sẽ ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh Do đó, việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hợp đồng hiệu quả và có chiến lược phòng ngừa rủi ro, bao gồm cả rủi ro từ tranh chấp Luận án sẽ phân tích các vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp trong mối quan hệ với quản trị doanh nghiệp, từ lý luận đến thực trạng và các giải pháp đề xuất.

2.4.2 Hướng tiếp cận từ góc độ luật học

Đề tài luận án về HĐTMDV và GQTC yêu cầu NCS phân tích nội dung liên quan đến khía cạnh pháp lý, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc hiểu biết các quy định pháp luật trong quản trị doanh nghiệp Để GQTC hiệu quả về HĐTMDV, doanh nghiệp cần nắm vững cơ chế và kỹ năng quản trị NCS nhấn mạnh rằng hoạt động kinh doanh không chỉ cần xây dựng chiến lược kinh doanh, sản phẩm và cạnh tranh, mà còn phải có chiến lược phòng ngừa và hạn chế rủi ro khi tranh chấp phát sinh liên quan đến HĐTMDV.

Đề tài luận án sẽ được NCS phân tích từ cả hai góc độ pháp lý và kinh doanh của doanh nghiệp, với trọng tâm là quản trị kinh doanh, đồng thời kết hợp với các khía cạnh nghiệp vụ chuyên môn và luật học.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại dịch vụ và tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ

1.1.1 Hợp đồng thương mại dịch vụ

HĐTMDV là thuật ngữ phổ biến trong tài liệu nhưng chưa có định nghĩa thống nhất, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật quốc tế và Việt Nam Việc phân tích và làm rõ khái niệm HĐTMDV là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của Luận án Để hiểu rõ HĐTMDV, cần phải làm rõ các khái niệm liên quan như dịch vụ, hợp đồng và TMDV.

1.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ

Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ Cách hiểu về dịch vụ cũng thay đổi theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội trong các giai đoạn khác nhau.

Theo Karl, M cho rằng dịch vụ là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, đóng vai trò như "chất bôi trơn" cho quá trình lưu thông hàng hóa, giúp thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Tuy nhiên, khái niệm này chưa làm rõ bản chất của dịch vụ Adam, trong tác phẩm "Của cải của các quốc gia", cho rằng dịch vụ là "không mang tính sản xuất" vì không tạo ra sản phẩm vật chất hữu hình, và những nghề như cha đạo, luật sư, thầy thuốc, hay nghệ sĩ không sản sinh ra giá trị vật chất nào Ông chỉ ra rằng dịch vụ có đặc điểm không lưu trữ được và không cầm nắm được, nhưng cách hiểu này chỉ dừng lại ở những hoạt động dịch vụ cơ bản phục vụ nhu cầu thiết yếu Philip, K nhấn mạnh rằng dịch vụ là hoạt động của con người nhằm mang lại lợi ích cho người khác, là vô hình và không phát sinh vấn đề chuyển quyền sở hữu trong quá trình trao đổi.

Theo tiêu chuẩn ISO 9001-2007 của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế, dịch vụ được định nghĩa là kết quả của ít nhất một hoạt động diễn ra tại điểm tương tác giữa nhà cung cấp và khách hàng, và thường không có hình thức vật chất.

Khái niệm này nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng, trong đó nhà cung cấp dịch vụ cần xem xét nhu cầu của người sử dụng để cung cấp dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của họ Dịch vụ không chỉ kết nối người cung cấp và người sử dụng mà còn thể hiện đặc tính vô hình của dịch vụ.

Dịch vụ được định nghĩa trong từ điển Oxford Business English là "lợi ích mà thương nhân mang lại cho khách hàng nhưng không phải là hàng hóa" (Oxford Business English Dictionary, 2005) Điều này nhấn mạnh rằng dịch vụ là những lợi ích mà thương gia cung cấp cho khách hàng, và khẳng định rằng dịch vụ không phải là hàng hóa.

Theo Luật Giá của Việt Nam năm 2012, dịch vụ được định nghĩa là “Hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau.” Điều này cho thấy dịch vụ không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn được coi là hàng hóa có thể lưu thông và trao đổi trên thị trường, đồng thời được xếp vào hệ thống ngành sản phẩm của Việt Nam như các loại hàng hóa khác.

Dịch vụ có nhiều khái niệm khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận NCS đồng tình với quan điểm của Nguyễn Thị Mơ, cho rằng dịch vụ là hoạt động của con người, tạo ra sản phẩm vô hình không thể cầm nắm, có thể mang tính dân sự hoặc thương mại Dịch vụ thương mại được định nghĩa là những dịch vụ được lưu thông và trao đổi trên thị trường với mục đích sinh lợi Quan điểm này cung cấp một cái nhìn tổng quát về dịch vụ, nhấn mạnh đặc điểm của dịch vụ thương mại như hàng hóa vô hình.

1.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ

So với hàng hóa hữu hình, dịch vụ với ý nghĩa là hàng hóa vô hình có những đặc điểm dưới đây:

Dịch vụ là sản phẩm vô hình, do đó việc xác định chất lượng trở nên khó khăn hơn so với hàng hóa hữu hình Các tiêu chí định lượng như trọng lượng, màu sắc hay mùi vị không hoàn toàn phù hợp để đánh giá dịch vụ Chất lượng dịch vụ thường được xác định qua sự hài lòng của người sử dụng, mà mức độ hài lòng này có thể khác nhau giữa các cá nhân Ví dụ, một chuyến du lịch với các hướng dẫn viên khác nhau sẽ mang lại trải nghiệm hài lòng khác nhau cho du khách Do đó, việc lượng hóa, thống kê và đánh giá chất lượng dịch vụ ở cấp độ vi mô và vĩ mô trở nên phức tạp hơn.

Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm hoàn cảnh, kỹ năng và kinh nghiệm của người cung cấp Chẳng hạn, một bác sĩ giỏi không chỉ dựa vào trình độ chuyên môn và trang thiết bị hiện đại, mà còn bị ảnh hưởng bởi tâm trạng và hoàn cảnh trong quá trình chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

- Thứ ba, quá trình sản xuất dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy ra đồng thời

Hàng hóa là sản phẩm hữu hình có thể tách rời khỏi lưu thông và tiêu dùng để lưu trữ hoặc chuyển đi, tùy thuộc vào mục đích của người sở hữu Ngược lại, dịch vụ thường gắn liền với quá trình sử dụng ngay khi được cung cấp Ví dụ, khi một thợ gội đầu thực hiện dịch vụ, khách hàng sẽ sử dụng dịch vụ đó ngay lập tức; tương tự, khi một người gọi điện thoại, họ đang sử dụng dịch vụ điện thoại cùng lúc với thời điểm dịch vụ được cung cấp.

Dịch vụ không lưu trữ được, như được nêu bởi Carolina (2006), là do tính chất vô hình của chúng, khiến cho sản phẩm dịch vụ không cần phải lưu giữ trong kho Do đó, trong quá trình cung cấp dịch vụ, không tồn tại khái niệm về tồn kho hay kho dự trữ Tuy nhiên, một số dịch vụ có thể có hình thái vật chất, chẳng hạn như bản photocopy trong dịch vụ photocopy Hệ thống dịch vụ trả lời điện thoại tự động không yêu cầu sự tiếp xúc trực tiếp giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng, và có thể được xem như một sản phẩm "lưu trữ" trong một số khía cạnh.

1.1.1.3 Khái niệm về hợp đồng

Bộ luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ định nghĩa hợp đồng là sự tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên Theo Bản tuyên bố về hợp đồng năm 1979, hợp đồng được xem là một lời hứa hoặc tập hợp những lời hứa mà pháp luật bảo vệ nếu vi phạm Tương tự, Điều 2 Luật Hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc quy định hợp đồng là thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức có địa vị pháp lý bình đẳng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

Theo tác giả Nguyễn Mạnh Bách, trong xã hội phong kiến Việt Nam, vấn đề pháp lý về hợp đồng gần như không tồn tại do ảnh hưởng của nền luân lý Khổng Mạnh, nơi mà uy quyền của người gia trưởng và Thiên tử đủ để giải quyết tranh chấp mà không cần đến luật pháp Đến năm 1930, dưới thời Pháp thuộc, hai Bộ luật Dân sự đầu tiên được ban hành, lần đầu tiên đưa khái niệm hợp đồng vào luật, nhưng chủ yếu sao chép từ Bộ luật Dân sự của Pháp Đến thập niên 80, Việt Nam mới có hai văn bản quy định về hợp đồng: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và Pháp lệnh về hợp đồng dân sự 1991 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế định nghĩa hợp đồng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ, nhấn mạnh vào hình thức và mục đích kinh doanh Trong khi đó, hợp đồng dân sự nhằm thỏa mãn nhu cầu đời thường của con người, cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này trong pháp luật Việt Nam.

Năm 1995, BLDS VN ra đời đã đƣa ra khái niệm về hợp đồng dân sự tại Điều 394:

Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, khái niệm này được duy trì trong Bộ luật Dân sự 2005.

Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ

Hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp, bất kể là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hay doanh nghiệp nhận dịch vụ Việc giải quyết hiệu quả các tranh chấp phát sinh từ HĐTMDV không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí và tiết kiệm thời gian, mà còn nâng cao khả năng quản trị rủi ro trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh doanh.

Tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) phát sinh từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Để giải quyết thành công những tranh chấp này, cần có những biện pháp hiệu quả và phù hợp.

Doanh nghiệp (DN) cần tìm hiểu cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, đồng thời nghiên cứu các quy định về hợp đồng, pháp luật và cách thức giải quyết tranh chấp (GQTC) hiệu quả Mặc dù DN thường am hiểu về nghiệp vụ kinh doanh và các loại hình dịch vụ, việc nắm vững quy định pháp luật để áp dụng trong GQTC vẫn là thách thức lớn Thiếu hiểu biết về pháp luật và kỹ năng GQTC có thể dẫn đến chi phí cao hơn cho DN Khi tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) phát sinh, DN cần quyết định giữa việc đưa vụ việc ra tòa án hay trọng tài, và hiểu rõ sự khác biệt giữa hai phương thức này Nếu tranh chấp không được quy định trong HĐTMDV, DN cần có kiến thức về luật áp dụng và tìm ra quy định liên quan một cách nhanh chóng Việc tự giải quyết hay thuê luật sư cũng đặt ra nhiều câu hỏi về chi phí và hiệu quả.

Các doanh nghiệp (DN) cần xem xét kỹ lưỡng để giải quyết hiệu quả tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) Hai vấn đề quan trọng nhất mà DN cần nghiên cứu là các phương thức giải quyết tranh chấp (GQTC) và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình GQTC.

1.2.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ Để GQTC về HĐTMDV các bên tranh chấp có thể lựa chọn nhiều phương thức giải quyết khác nhau và mỗi phương thức GQTC đều có ưu nhược điểm nhất định Có 4 phương thức GQTC cơ bản là thương lượng, hòa giải, tòa án hoặc trọng tài Bên cạnh đó, cũng có một số phương thức GQTC do các bên lựa chọn và qui định trong hợp đồng Đó là: trung gian, tố tụng mini, xét xử sơ khởi có bồi thẩm đoàn Để thấy được ưu nhược điểm của mỗi phương thức GQTC, phần dưới đây sẽ phân tích từng phương thức GQTC nêu trên

1.2.1.1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp (GQTC) không cần sự tham gia của bên thứ ba, trong đó các bên đương sự trao đổi, đấu tranh, nhân nhượng và thỏa thuận để tìm kiếm biện pháp GQTC Đặc điểm chính của thương lượng là các bên cùng trình bày quan điểm và tìm ra giải pháp thích hợp nhằm duy trì mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp Quá trình thương lượng không bị ràng buộc bởi nguyên tắc pháp lý hay quy định khuôn mẫu nào, không theo cấu trúc cụ thể và không thực hiện công khai.

Pháp luật nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, nhưng không bắt buộc phải thương lượng trước khi sử dụng các phương thức tài phán như tòa án hoặc trọng tài Để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thương lượng thành công, Dự án Thương lượng của Harvard đã chỉ ra bảy yếu tố quan trọng cần xem xét: lợi ích, tính chính đáng, mối quan hệ, các phương thức giải quyết khác nếu thương lượng không thành, các lựa chọn, cam kết và cách thức thực hiện.

Thương lượng có thể diễn ra qua việc gặp gỡ trực tiếp hoặc gửi đơn khiếu nại Gặp gỡ trực tiếp thường phù hợp khi các bên có khoảng cách địa lý gần nhau, trong khi gửi đơn khiếu nại là lựa chọn phổ biến cho các bên ở xa Để khiếu nại thành công trong hợp đồng thương mại dịch vụ, cần xác định đúng đối tượng và vấn đề thương lượng Ví dụ, trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa, doanh nghiệp cần xác định nguyên nhân gây tổn thất để thương lượng hiệu quả Ngoài ra, cần chú ý đến thời hạn khiếu nại, cách giải quyết và bằng chứng liên quan.

GQTC bằng thương lượng là phương thức đầu tiên để giải quyết tranh chấp hợp đồng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, duy trì quan hệ đối tác và bảo mật thông tin Sự thành công của thương lượng phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên, điều này rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường Sự tin tưởng lẫn nhau sẽ giúp doanh nghiệp củng cố uy tín và từ bỏ thói quen kinh doanh không bền vững.

1.2.1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

Khi thương lượng không thành công, doanh nghiệp có thể giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải Hòa giải là quá trình mà các bên tham gia đàm phán với sự hỗ trợ của một bên thứ ba độc lập, được gọi là người hòa giải (Goldberg, S 1992, tr.103) Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp "hòa bình" bổ sung cho hệ thống tòa án và thực tiễn xét xử của trọng tài (Alessandra, S 2004).

Thương lượng và hòa giải đều là những phương thức giải quyết tranh chấp tự nguyện, phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên liên quan Tuy nhiên, điểm khác biệt chính giữa chúng là thương lượng diễn ra mà không có sự tham gia của bên thứ ba, trong khi hòa giải có sự hỗ trợ của bên thứ ba trong quá trình giải quyết Mặc dù vậy, cả hai phương thức này đều cho phép các bên tranh chấp tự thỏa thuận về cách thức giải quyết, với ít sự can thiệp từ pháp luật và quy trình chính thức.

Trong quá trình hòa giải, người hòa giải không có quyền quyết định mà chỉ hỗ trợ các bên đạt được giải pháp trung hòa thông qua kỹ năng và biện pháp kỹ thuật Các bên tham gia phải ký cam kết bảo mật thông tin từ quá trình hòa giải Nếu hòa giải không thành công, các bên có thể tiếp tục giải quyết tranh chấp qua trọng tài hoặc tòa án, và thông tin thu được trong quá trình hòa giải sẽ không được coi là bằng chứng hợp pháp.

Hòa giải được chia thành hai loại: hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng Hòa giải trong tố tụng diễn ra khi cơ quan xét xử yêu cầu các bên tự hòa giải trước khi ra phán quyết, nhằm tôn trọng sự tự quyết của các bên Hình thức này được thực hiện tại tòa án hoặc trọng tài theo yêu cầu của các bên Ngược lại, hòa giải ngoài tố tụng là quá trình hòa giải thông qua bên thứ ba mà các bên lựa chọn, thường do các tổ chức trọng tài hoặc các tổ chức hòa giải thương mại chuyên nghiệp thực hiện, như Quy tắc hòa giải Trung tâm Hệ thống Trọng tài châu Âu - Ả Rập và Quy tắc hòa giải của VIAC.

Quy trình hòa giải không có tính thống nhất, mỗi trung tâm và người hòa giải áp dụng quy trình riêng phù hợp với vụ tranh chấp Thông thường, quy trình bắt đầu khi hai bên tranh chấp đề nghị hòa giải với hòa giải viên hoặc tổ chức hòa giải; một bên cũng có thể đơn phương yêu cầu hòa giải Hòa giải chỉ diễn ra khi có sự đồng ý của các bên Trong quá trình này, người hòa giải sử dụng kỹ năng GQTC để giúp các bên tìm ra giải pháp Bất kỳ bên nào hoặc người hòa giải có quyền chấm dứt quá trình nếu thấy không hiệu quả, chẳng hạn khi có bằng chứng cho thấy một bên thiếu thiện chí.

Hòa giải là một phương thức linh hoạt, cho phép các bên thay đổi thái độ mà không gây căng thẳng, với các giải pháp thường mang lại lợi ích cho tất cả Đây là một quá trình bảo mật, tự nguyện và phù hợp với nhu cầu của các bên, giúp đạt được giải pháp hòa hợp, bền vững và hiệu quả Tuy nhiên, hòa giải không nên được áp dụng cho các tranh chấp chủ yếu liên quan đến vấn đề pháp lý, như việc giải thích thuật ngữ trong hợp đồng, vì những vấn đề này chỉ có thể được giải quyết qua tòa án Nếu hòa giải thành công, các bên sẽ lập Biên bản hòa giải có chữ ký của cả hai bên và người hòa giải Ngược lại, nếu một bên không thiện chí thực hiện, Biên bản hòa giải sẽ bị vi phạm mà không có cơ chế bảo đảm thi hành Nếu hòa giải không thành công, các bên có thể đưa vụ việc ra Tòa án hoặc Trung tâm Trọng tài Thương mại.

Đánh giá tác động của việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Việc GQTC về HĐTMDV có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, với cả tác động tích cực và tiêu cực.

1.3.1 Những tác động tích cực

Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) thành công sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Mặc dù chưa có nhiều tài liệu phân tích mối quan hệ giữa GQTC về HĐTMDV và năng lực cạnh tranh, nhưng việc giải quyết nhanh chóng các tranh chấp này được cho là có tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định bởi khả năng sản xuất sản phẩm đúng lúc, đúng giá và đáp ứng nhu cầu khách hàng hiệu quả hơn so với các đối thủ Do đó, năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ bao gồm các yếu tố như chất lượng dịch vụ, giá thành dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Việc giải quyết nhanh chóng và thành công các tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ không chỉ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh mà còn góp phần nâng cao hiệu quả về thời gian và tiết kiệm chi phí Quan trọng hơn, quá trình này giúp đáp ứng kịp thời các nhu cầu và vấn đề của khách hàng.

- GQTC về HĐTMDV một cách nhanh chóng và thành công sẽ khẳng định uy tín của

Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường thương mại dịch vụ (TMDV) được xây dựng từ nhiều yếu tố, bao gồm việc chấp hành hợp đồng dịch vụ, chất lượng cơ sở vật chất, và nguồn nhân lực hỗ trợ dịch vụ Ngoài ra, khả năng tranh tụng tại tòa án và trọng tài, kỹ năng soạn thảo hợp đồng, cũng như quản lý các hợp đồng đã ký kết và quy trình giải quyết tranh chấp (GQTC) cũng đóng vai trò quan trọng Những yếu tố này chỉ thực sự được thể hiện khi doanh nghiệp gặp phải tranh chấp và giải quyết thành công, nhanh chóng Việc giải quyết tranh chấp hiệu quả không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí mà còn khôi phục "phong độ" và tăng cường sự tự tin khi tham gia vào thị trường TMDV.

Giải quyết tranh chấp kịp thời từ hợp đồng không chỉ ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh mà còn giúp doanh nghiệp rút ra bài học kinh nghiệm quý giá Kết quả kinh doanh bao gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận, và việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ một cách nhanh chóng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành hợp đồng, thu lợi ích và duy trì dòng tiền Mỗi lần giải quyết tranh chấp thành công là cơ hội để doanh nghiệp xem xét lại quy trình liên quan đến hợp đồng dịch vụ, từ đó cải thiện quản lý tranh chấp và quản trị kinh doanh.

Giải quyết thành công tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ giúp lãnh đạo doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò và sự cần thiết của quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh Rủi ro trong hợp đồng thương mại dịch vụ có thể xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng, nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào lợi nhuận mà không đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, dẫn đến việc không xây dựng quy trình quản trị rủi ro, bao gồm quản trị rủi ro hợp đồng, và từ đó dễ dàng gặp phải tranh chấp.

Quản trị rủi ro là quá trình khoa học và hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu tổn thất từ rủi ro, đồng thời biến rủi ro thành cơ hội thành công (Hubbard, Douglas, 2009, tr.46) Để đánh giá cấp độ quản trị rủi ro, nhiều mô hình như phân tích PEST, mô hình CCTA với bốn cấp độ chuyên môn hóa, và mô hình của Chapman đã được đề xuất Những mô hình này giúp doanh nghiệp xác định mức độ quản trị rủi ro hiện tại và xây dựng quy trình quản trị rủi ro cụ thể, bao gồm rủi ro từ khách hàng, thị trường, yếu tố pháp luật, văn hóa, sự kiện bất khả kháng, chi phí tranh chấp, và rủi ro mất uy tín Bằng cách chuẩn bị các phương án đối phó, doanh nghiệp có thể hạn chế tổn thất trong các tranh chấp tương lai.

Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại dịch vụ thành công không chỉ giúp giảm áp lực cho nhân viên mà còn nâng cao ý thức và kỹ năng thực hiện hợp đồng của họ Khi nhân viên nhận thức rõ về nguyên nhân gây ra tranh chấp, họ sẽ có động lực để phân tích và rút ra bài học từ những sai sót đã xảy ra Những kinh nghiệm này sẽ nhắc nhở họ cần chú ý và cẩn trọng hơn trong công việc, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp đồng thương mại dịch vụ, nơi đòi hỏi kiến thức và kỹ năng chuyên môn cao.

Giải quyết thành công các tranh chấp hợp đồng TDMV sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng đàm phán và thương lượng, đồng thời tăng cường sự tự tin khi tham gia tranh tụng tại tòa án và trọng tài.

Thành công trong việc giải quyết tranh chấp không chỉ mang lại sự tự tin cho doanh nghiệp trong các cuộc đàm phán mà còn nâng cao vị thế của họ trên thị trường Một doanh nghiệp nhỏ có thể khẳng định uy tín và tuân thủ pháp luật thông qua các vụ tranh chấp, từ đó tạo cơ sở vững chắc để đàm phán với các đối tác Kinh nghiệm từ các vụ tranh chấp trước giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về pháp luật liên quan đến dịch vụ của mình, đồng thời nắm bắt quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp Điều này sẽ trang bị cho doanh nghiệp sự tự tin và lập luận vững chắc khi đối mặt với tòa án hoặc trọng tài trong trường hợp xảy ra tranh chấp sau này.

18 Nội dung của các mô hình này đƣợc trình bày tại phụ lục 10 của Luận án

1.3.2 Những tác động tiêu cực

Khi doanh nghiệp không giải quyết thành công các tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ hoặc trì hoãn trong việc giải quyết tranh chấp, sẽ có nhiều tác động tiêu cực xảy ra.

Việc trì hoãn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Dù kết quả tranh chấp ra sao, việc không giải quyết nhanh chóng sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh Thời gian là yếu tố quan trọng, vì trì hoãn đồng nghĩa với việc HĐTMDV bị kéo dài, dẫn đến các hệ lụy như công trình xây dựng bị ngừng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thu hồi được vốn kịp thời, mất chi phí nhân công, và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Ngược lại, nhà đầu tư cũng gặp khó khăn khi không có công trình để thực hiện, không kịp giao nhà cho khách hàng, và phải chịu các chi phí phát sinh như lãi ngân hàng và phạt từ khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc không giải quyết thành công các tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ (HĐTMDV) có thể gây ra tác động tiêu cực đến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp (DN) Trong thời đại thông tin hiện nay, nếu DN thất bại trong việc giải quyết tranh chấp, không chỉ doanh thu giảm sút mà còn có nguy cơ mất đi sự tin tưởng từ khách hàng Uy tín và thương hiệu của DN được xây dựng qua những nỗ lực trong việc thực hiện HĐTMDV, nhưng có thể dễ dàng bị tổn hại bởi thông tin tiêu cực về vụ tranh chấp Các đối tác hiện tại sẽ xem xét lại các hợp đồng đang thực hiện với DN để đánh giá khả năng giữ uy tín và thực hiện đúng thỏa thuận.

DN đang lặp lại những sai lầm trong HĐTMDV đã tranh chấp, điều này khiến các đối tác tiềm năng trở nên thận trọng và có thể loại DN khỏi danh sách khách hàng Tác động xã hội không chỉ ảnh hưởng đến DN mà còn lan rộng đến toàn ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Vinaconex-Viettel đã tin tưởng vào uy tín của Seabank và ký hợp đồng mua trái phiếu DN của Vina Megastar, nhưng khi Vina Megastar gặp khó khăn tài chính, Seabank cho rằng hợp đồng bảo lãnh vượt quá thẩm quyền Sự việc này đã khiến 11 doanh nghiệp khác sử dụng dịch vụ bảo lãnh của Seabank cũng phát hiện mình rơi vào tình huống tương tự Việc Seabank không thực hiện hợp đồng và đổ lỗi cho cá nhân bà Nguyễn Thị Hương Giang đã làm giảm niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng, vì họ cho rằng ngân hàng luôn nắm quyền kiểm soát trong các hợp đồng mà doanh nghiệp không thể biết rõ quy định nội bộ.

- Việc GQTC về HĐTMDV kéo dài sẽ tác động đến tâm lý, sức khỏe của lãnh đạo

THỰC TRẠNG KÝ KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIẢI QUYẾT THÀNH CÔNG CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Ngày đăng: 07/07/2023, 00:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh. (2008), Vấn đề pháp lí về quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại, tạp chí Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề pháp lí về quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: tạp chí Luật học
Năm: 2008
2.Nguyễn Mạnh Bách. (1995), Pháp luật về hợp đồng, Nxb. CTQG, H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1995
3.Hoàng Văn Châu. (2003), Phương hướng phát triển ngành dịch vụ của thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu Hiệp định thương mại Việt Mỹ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, TP Hồ Chí Minh, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng phát triển ngành dịch vụ của thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu Hiệp định thương mại Việt Mỹ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: TP Hồ Chí Minh
Năm: 2003
4. Lê Thành Chân. (1993), Pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng có nhân tố nước ngoài, NXB TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng có nhân tố nước ngoài
Tác giả: Lê Thành Chân
Nhà XB: NXB TP. HCM
Năm: 1993
5. Bùi Ngọc Cường. (2009), Một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường ở Việt Nam, tạp chí Luật học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: tạp chí Luật học
Năm: 2009
6. Nguyễn Thị Dung. (2009), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại va đầu tư – những vấn đề pháp lý cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng trong thương mại va đầu tư – những vấn đề pháp lý cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
7. Nguyễn Bá Diến. (2005), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, ĐH quốc gia Hà Nội, trang 623 8. Vũ Ánh Dương. (2012), Thực tiễn thi hành Luật Trọng tài thương mại 2010 tại VIAC, Kỷ yếu hội thảo về trọng tài 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Nhà XB: ĐH quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9.Đỗ Văn Đại. (2008) Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. Đỗ Văn Đại. (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải. (2011), Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đặng Đình Đào, Hoàng Minh Đường. (1994), Cẩm nang thương mại dịch vụ, NXB Thống kê 13. Nguyễn Ngọc Điện. (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thương mại dịch vụ
Tác giả: Đặng Đình Đào, Hoàng Minh Đường
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1994
14. Nguyễn Minh Đức. (2011), Cơ chế và kiến nghị hoàn thiện giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng Tòa Kinh tế”, Trang điện tử của Bộ Tƣ pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế và kiến nghị hoàn thiện giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng Tòa Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Nhà XB: Trang điện tử của Bộ Tƣ pháp
Năm: 2011
15. Đỗ Đức Hồng Hà. (2012), Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp Điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp Điện tử
Năm: 2012
16. Lê Thu Hà. (2005), Bình luận khoa học về Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học về Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Nxb. Tƣ pháp
Năm: 2005
17. Trịnh Đức Hải. (2012), Chương VII Giáo trình luật thương mại và kinh doanh quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương VII Giáo trình luật thương mại và kinh doanh quốc tế
Tác giả: Trịnh Đức Hải
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2012
18. Trần Đình Hảo. (2000), Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2000, tr. 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Tác giả: Trần Đình Hảo
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2000
19. Phùng Hải Hiệp. (2012), Chuyên đề 4c, Một số sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, TAND Tối Cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề 4c, Một số sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Tác giả: Phùng Hải Hiệp
Nhà XB: TAND Tối Cao
Năm: 2012
20. Ngô Quang Huân, Nguyễn Quang Thu. (1998), Quản trị rủi ro, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro
Tác giả: Ngô Quang Huân, Nguyễn Quang Thu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
135. Báo Giáo dục Việt Nam (2014), Cầm dao đằng lưới khi bão lãnh tín dụng tại SeaBank, http://news.go.vn/kinh-te/tin-1703021/cam-dao-dang-luoi-khi-bao-lanh-tin-dung-tai-seabank.htm , truy cập ngày 09/07/2014 Link
160. Ủy ban chứng khoán, Công bố thông tin trên cổng thông tin điện tử của ủy ban Chứng khoán, http://www.hsx.vn/hsx/Uploaded/2014/02/28/20140228%20-%20ART%20-%20ton%20that%20tu%2010%25%20gia%20tri%20tai%20san%20-%20file%20dinh%20kem.pdf161. ITC. (2013), model contracts for small firms Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w