Đề tài:“Một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với học sinh tại trường THPT Tân Kỳ ” TÁC GIẢ: Đậu Minh Nghĩa Trường THPT Tân Kỳ Lương Văn Việt Trường THPT T
Trang 1SÁNG KIẾN
(Lĩnh vực: Quản lý)
Đề tài:“Một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với học sinh tại trường THPT Tân Kỳ ”
TÁC GIẢ: Đậu Minh Nghĩa (Trường THPT Tân Kỳ)
Lương Văn Việt (Trường THPT Tân Kỳ) Nguyễn Thị Ngọc (Trường THPT Tân Kỳ)
Năm thực hiện: 2022
Trang 22 Đóng góp mới của đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 2
4.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 2
4.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm 2
4.4 Các phương pháp xử lý số liệu 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM THIỂU HÀNH VI BẮT NẠT BẰNG LỜI NÓI 3
1.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 3
1.1.1.1 Khái niệm bắt nạt bằng lời nói 3
1.1.1.3 Đặc điểm của bắt nạt bằng lời nói ở HS THPT 4
1.1.1.4 Nguồn gốc của bắt nạt 6
1.1.1.5.Giáo dục phòng chống bắt nạt 7
1.2 Cơ sở thực tiễn đề tài 8
1.2.1 Ở nước ngoài 8
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Ý nghĩa của đề tài 9
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỆU HÀNH VI BẮT NẠT BẰNG LỜI NÓI ĐỐI VỚI HS TẠI TRƯỜNG THPT TÂN KỲ 10
2.1 Thực trạng bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ 10
2.1.1 Thuận lợi 10
2.1.2 Khó khăn, hạn chế 10
2.2 Đánh giá chung thực trạng hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ 11
2.2.1 Mức độ phổ biến của hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT Tân Kỳ 11
2.2.2 Nhận thức và ứng xử của HS về hành vi bị bắt nạt bằng lời nói 12
2.2.2.1 Mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT Tân kỳ 12
2.2.2.2 Mức độ nhận thức của HS trường THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói 13
2.2.2.3 Ứng xử của HS trường THPT Tân Kỳ với bắt nạt bằng lời nói 14
2.2.3 Thái độ của HS trường THPT Tân Kỳ đối với hành vi bắt nạt bằng lời nói 16
2.2.4 Sự khác biệt về giới trong bắt nạt bằng lời nói đối với HS trường THPT Tân Kỳ 17
Trang 3bằng lời nói qua các buổi sinh hoạt đoàn thường kỳ tại nhà trường 20
2.3.2 Tổ chức cuộc thi tuyên truyền bằng hình thức thuyết trình với chủ đề “bắt nạt bằng lời nói, thực trạng và giải pháp” 24
2.3.3 Tổ chức giáo dục kỹ năng phòng tránh bắt nạt bằng lời nói thông qua tiết thực hành ngoại khóa giáo dục công dân 27
2.3.4 Giải pháp phát huy hiệu quả vai trò của các thành viên tổ tư vấn tâm lý trong việc phát hiện, ngăn chặn hành vi bắt nạt bằng lời nói và hỗ trợ kịp thời các em bị bắt nạt bằng lời nói 32
2.3.5 Xây dựng mô hình lớp học thân thiện, hạnh phúc 36
2.3.6 Tổ chức trang page và group kín trên facebook để trao đổi về chủ đề bắt nạt bằng lời nói 37
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỆU HÀNH VI BẮT NẠT BẰNG LỜI NÓI ĐỐI VỚI HS TẠI TRƯỜNG THPT TÂN KỲ 38
3.1 Thử nghiệm tác động một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS trường THPT Tân Kỳ- Tỉnh Nghệ An 38
3.1.1 Mục đích thử nghiệm 38
3.1.2 Nội dung thử nghiệm 38
3.1.3 Quy trình thử nghiệm 39
3.2 Đánh giá chung kết quả thực trạng sau khi áp dụng một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ 40
3.2.1 Nhận thức và ứng xử của HS về hành vi bị bắt nạt 40
3.2.1.1.Mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT Tân Kỳ 40
3.2.1.2 Mức độ nhận thức của HS trường THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói 41
3.2.1.3 Ứng xử của HS trường THPT Tân Kỳ với bắt nạt bằng lời nói 42
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
1 Kết luận 45
1.1 Quá trình nghiên cứu đề tài 45
1.2 Ý nghĩa của đề tài 46
1.3 Phạm vi ứng dụng 46
2 Kiến nghị 47
2.1 Đối với sở GD&ĐT Nghệ An: 47
2.2 Đối với nhà trường: 47
2.3 Đối với các bậc phụ huynh: 47
2.4 Đối với HS: 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC
Trang 6trưởng kinh tế đã mang lại lợi ích to lớn cho sự phát triển mạnh mẽ về giáo dục Thành tựu to lớn đó đã góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đồng thời phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, góp phần hội nhập vào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số bất cập, yếu kém đó là chưa chú trọng đúng mức tới việc giáo dục đạo đức, lối sống và đặc biệt là vấn đề bạo lực học đường Hiện tượng này đang trở thành vấn đề nghiêm trọng không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới Trong giai đoạn hiện nay một bộ phận không nhỏ HS ở các trường THPT có biểu hiện lệch lạc về hành
vi, lối sống Một trong những biểu hiện của hành vi đó là hiện tượng bắt nạt bằng lời nói Hiện tượng này đã được nói đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tin bài, video,… Bắt nạt bằng lời nói thường là những lời đe dọa, xúc phạm đến các bạn cùng trang lứa Điều đó phản ánh thực trạng xuống cấp trầm trọng về đạo đức của một bộ phận không nhỏ thanh niên Có những vụ vi phạm đạo đức nghiêm trọng của HS mà chúng ta không ngờ tới mà xuất phát từ lý do chính là bắt nạt bằng lời nói Chính vì vậy giáo dục để giảm thiểu, tiến tới ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng bắt nạt bằng lời nói đang là mối quan tâm của nhà trường, gia đình và toàn xã hội Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn luận đến hiện tượng nêu trên nhưng bắt nạt bằng lời nói vẫn có chiều hướng gia tăng so với trước Đặc biệt trong số đó có nhiều hiện tượng bắt nạt bằng lời nói đã dẫn đến bạo lực học đường gây ra nhiều sang chấn chấn tâm lý nặng nề
Ở Việt Nam mặc dù đã ban hành pháp luật về phòng chống bạo lực học đường nhưng hiện tượng này vẫn xảy ra Có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính
là từ hành vi bắt nạt bằng lời nói Vấn nạn này không chỉ xâm phạm quyền của công dân, gây ra nhiều sang chấn tâm lý nặng nề cho nạn nhân mà còn tạo áp lực đối với sự phát triển của cộng đồng và nền KT-XH
Bản thân chúng tôi thì có người là nhà quản lý trường học hơn 10 năm, có người trực tiếp làm công tác chủ nhiệm, chúng tôi nhận thấy hiện tượng bắt nặt bằng lời nói xảy ra ngày càng nhiều với nhiều hình thức khác nhau
Vì vậy, chúng tôi luôn suy nghĩ trăn trở: Làm thế nào để giảm thiểu tình trạng bắt nạt bằng lời nói, đặc biệt là giữa HS và HS, giữa giáo viên và HS để tiến tới xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc Qua thực tiễn quản lý và công tác chủ nhiệm chúng tôi đã có nhiều sáng kiến giáo dục đạo đức HS nhất là công tác giáo dục giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói tương đối hiệu quả Vì vậy với mong muốn chia sẻ sáng kiến của bản thân và mong muốn được sự góp ý bổ sung của các bạn đồng nghiệp nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm giảm thiểu
hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ”
2 Đóng góp mới của đề tài
Trang 7tính vĩ mô hoặc các giải pháp cụ thể nhưng chỉ ứng dụng ở một số lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống xã hội Đặc biệt, các đề tài đề cập đến các giải pháp về giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT tại các đơn vị trường học trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung, địa bàn huyện Tân Kỳ nói riêng gần như chưa thấy triển khai và áp dụng
Đề tài này đã đi sâu nghiên cứu thực trạng, ứng dụng, đúc rút kinh nghiệm
và đề xuất một số giải pháp Qua đó, giúp các em tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra Góp phần tạo nên một môi trường giáo dục
an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng chống bạo lực học đường để xây
dựng:“Trường học hạnh phúc”
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Bắt nạt bằng lời nói ở HS trung học phổ thông Tân Kỳ” tập trung làm rõ các đặc điểm hành vi bắt nạt bằng lời nói, những nguyên nhân dẫn đến hành vi bắt nạt bằng lời nói Trên cơ sở đó, dự án xây dựng và thử nghiệm biện pháp tác động giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi đã đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận bao gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp nhiều tài liệu liên quan
- Phương pháp khái quát hóa những nhận định độc lập
4.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Dự án sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Các phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã có trên thế giới và Việt Nam liên quan đến đề tài
4.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm
- Dự án sử dụng các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, trắc nghiệm chẩn đoán nhân cách bằng hình ảnh và phương pháp thực nghiệm
- Các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu được sử dụng để khảo sát đặc điểm hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS THPT Điều này được khảo sát ở các phương diện:
1) Mức độ và hình thức phổ biến
Trang 8- Phương pháp thực nghiệm: sử dụng để kiểm tra kết quả tác động của các giải pháp Điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng trong đánh giá hiệu quả của biện pháp tác động mà dự án thực hiện
- Thái độ của HS THPT với bắt nạt bằng lời nói được đánh giá qua phản ứng của HS với tình huống bắt nạt trong phiếu điều tra
- Sự khác biệt về giới trong bắt nạt bằng lời nói được nhận định thông qua phân tích tương quan từ dữ kiện thu thập được qua điều tra bằng bảng hỏi
- Nguyên nhân chính của bắt nạt bằng lời nói giữa HS THPT với nhau được xác định thông qua thống kê tần suất các nguyên nhân dẫn đến hành vi bắt nạt được HS khai báo trong phiếu điều tra
- Tính hiệu quả của tác động can thiệp được nhận định qua tỷ lệ các đánh giá tích cực từ phía HS sau khi tham gia các hoạt động do dự án thiết kế Các đánh giá được thu thập qua phiếu khảo sát sau tác động
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM THIỂU HÀNH VI BẮT
NẠT BẰNG LỜI NÓI 1.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm bắt nạt bằng lời nói.
Bắt nạt được định nghĩa là hành vi hung tính về thể chất và lời nói có khả năng gây tổn hại thân thể hoặc tâm lý cho nạn nhân (Bosworth et al., 1999) trích
lục (Bosworth, K., Espelage, D L., & Simon, T R (1999) Factors associated
Trang 9(https://www.stopbullying.gov/at-risk/effects/index.html) hướng dẫn về phòng chống bắt nạt chỉ ra rằng trẻ bị bắt nạt có thể gặp phải các vấn đề về thể chất và sức khỏe tâm thần tiêu cực Trẻ bị bắt nạt có nhiều khả năng trải qua:
1) Trầm cảm và lo lắng, tăng cảm giác buồn bã và cô đơn, thay đổi giấc ngủ
và thói quen ăn uống, và mất hứng thú với các hoạt động mà họ từng thích (những vấn đề này có thể tồn tại đến tuổi trưởng thành)
2) Sức khỏe
3) Giảm thành tích học tập; bỏ lỡ, bỏ qua, hoặc bỏ học Một số lượng nhỏ trẻ
em bị bắt nạt có thể trả thù thông qua các biện pháp cực kỳ bạo lực.12 trong số 15 trường hợp bắn súng vào trường học vào những năm 1990 là những người từng bị
Thứ hai: Đánh nhau, phá hoại tài sản và bỏ học
Thứ ba: Tham gia vào hoạt động tình dục sớm
Thứ tư: Có án hình sự hay lạm dụng đối với người khác
* Trẻ em chứng kiến bắt nạt có nhiều khả năng:
Thứ nhất: Tăng tỷ lệ sử dụng thuốc lá, rượu hoặc các loại thuốc khác
Thứ hai: Có vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng, bao gồm trầm cảm và lo lắng Thứ ba: Bỏ lỡ hoặc bỏ học
1.1.1.3 Đặc điểm của bắt nạt bằng lời nói ở HS THPT
- Lứa tuổi ảnh hưởng đến hành vi bắt nạt
Một số nghiên cứu cho thấy sự phổ biến và hình thức bắt nạt khác nhau giữa các nhóm tuổi Trong một phân tích tổng hợp từ 153 nghiên cứu đã thực hiện, Cook, Williams, Guerra, Kim và Sadek (2010) Đỉnh điểm của bắt nạt là những năm học trung học (tức là 12–15 tuổi), và bắt nạt có xu hướng giảm dần vào cuối trung học (Hymel & Swearer, 2015 Hymel, S., & Swearer, SM (2015)1 Đối với các hình thức bắt nạt, với độ tuổi ngày càng tăng dường như có một sự thay đổi từ
1
Hymel & Swearer, 2015 Hymel, S., & Swearer, S M (2015) Four decades of research on school bullying: An introduction American Psychologist, 70, 293–299
Trang 10nhiều lần trong một khoảng thời gian và phổ biến rộng rãi trong các trường học trên cả hai giới (AAUW, 1993, 20013; Bosworth và cộng sự, 1999; Fineran &
Bennett, 1999; Smith & Brain, 2000; Timmerman, 2003)
Mặc dù con trai có bắt nạt các cô gái, nhưng hầu hết hành vi bắt nạt của chúng là nhắm vào các bé trai khác (Espelage & Holt, 2001)4 Tương tự, các cô gái
có xu hướng bắt nạt các cô gái khác, nhưng họ cũng bắt nạt các chàng trai (Basile, Espelage, Rivers, McMahon, & Simon, 2009)5
Các bé trai ở Châu Âu và Hoa Kỳ báo cáo nhiều sự bắt nạt hơn là thủ phạm
và nạn nhân hơn là các cô gái (Almeida, 19996
; Boulton & Underwood, 1992; Lösel & Bliesener, 1999; Nansel và cộng sự, 2001; Pellegrini & Long, 2002; Siann
et al., 1994; Vettenburg, 1999) Nói chung, con trai tham gia vào bắt nạt về thể chất và trực tiếp, chẳng hạn như đẩy, xô hoặc đá, trong khi các cô gái tham gia bắt nạt bằng lời nói và gián tiếp, chẳng hạn như loại trừ có chủ ý khỏi nhóm, lan truyền tin đồn, trêu chọc hoặc đặt tên (Almeida, 1999; Batsche & Knoff, 1994; Olweus, 1999 Owens và cộng sự, 20007
)
Timmerman cũng phát hiện đặc điểm về giới trong bắt nạt: các chàng trai cho biết đã bị bắt nạt bằng lời nói nhiều hơn; các cô gái cho biết đã bị bắt nạt về thể chất nhiều hơn Đối với trẻ em trai, các loại bắt nạt bằng lời nói phổ biến bao
gồm những lời lăng mạ về đồng tính luyến ái
- Bắt nạt có liên quan đến thành kiến
Các nghiên cứu gần đây cho thấy bắt nạt liên quan đến thành kiến Nguy cơ bắt nạt và bị bắt nạt không bằng nhau giữa các nhóm HS Một số nghiên cứu chỉ ra
Espelage, D., & Holt, M (2001) Bullying and victimization during early adolescence: Peer influ-ences and
psychosocial correlates In R Geffner & M Loring (Eds.), Bullying behavior: Current issues, research, and
intervention (pp 132-142) Binghamton, NY: Haworth Press
5
Basile, K., Espelage, D., Rivers, I., McMahon, P., & Simon, T (2009) The theoretical and empirical links between
bullying behavior and male sexual violence perpetration Aggression and Violent Behavior, 14, 336-347
6
Almeida, A M T (1999) Portugal In P K Smith, Y Morita, J Junger-Tas, D Olweus, R Catalano, & P Slee
(Eds.), The nature of school bullying: A cross-national perspective (pp 174-186) London, New York: Routledge
7
Owens, L., Shute, R., & Slee, P (2000) “Guess what I just heard!”: Indirect aggression among teenage girls in
Australia Aggressive Behavior, 26, 67-83
Trang 11Brooks, DS, Hamm, Liên doanh, Lambert, K., & Gravelle, M (2012) Các kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở Mỹ bởi Blake, Lund, Zhou và Benz (2012)9
Một nghiên cứu ở Anh cho thấy gần hai phần ba số trẻ em có nhu cầu đặc biệt được xác định là bị bắt nạt so với chỉ một phần tư trẻ em bình thường (Thompson, Whitney, & Smith, 1994)10 Một cuộc khảo sát hàng năm (Khảo sát hành vi thanh thiếu niên Massachusetts - Bộ Giáo dục Massachusetts, 1998)11
, so sánh các HS đồng tính nam, đồng tính nữ và lưỡng tính với các bạn dị tính Kết quả cho thấy rằng các HS thiểu số tình dục có khả năng tự tử gấp 4 lần và có khả năng bỏ học cao gấp 5 lần vì cảm thấy không an toàn với những hành vi quấy rối tình dục và bắt nạt
1.1.1.4 Nguồn gốc của bắt nạt.
Việc đề xuất các biện pháp can thiệp giảm thiểu tình trạng bắt nạt dựa trên
cơ sở lý luận là các lý thuyết tâm lý học về bắt nạt và gây hấn
Thuyết bản năng của S Freud (1920), và Konrad Lorenz (1966) đã xem xét
sự gây hấn như là một bản năng bẩm sinh Thuyết này khẳng định gây hấn là cần thiết nhằm đảm bảo cho các cá thể tồn tại Các cá thể phải gây chiến với nhau để giành cơ hội tiếp cận với những nguồn tài nguyên có giá trị như lương thực, đất đai, địa vị xã hội… Gây hấn, bắt nạt là cần thiết trong nỗ lực đấu tranh để tồn tại12
Thuyết bẩm sinh với đại diện là Cesare Lombroso (1835 -1909), nhà tội phạm học Italia, coi những dị dạng về sinh lí, giải phẫu cơ thể người là nguồn gốc của hành vi gây hấn (bao gồm cả bắt nạt) Chẳng hạn, những người trán thấp, mũi tẹt, quai hàm và xương gò má lớn, mắt xếch, lông mày đen rậm, bàn chân to bè…
là những người có đặc điểm thuận lợi để phát sinh hung tính Nhà nhân chủng học người Mỹ W.Sheldon đã cố gắng tìm mối liên hệ giữa hành vi cá nhân với kiểu
8
Farmer, T W., Petrin, R., Brooks, D S., Hamm, J V., Lambert, K., & Gravelle, M (2012) Bullying involvement and the school adjustment of rural students with and without disabilities Journal of Emotional and Behavioral Disorders,20, 19–37
9
Blake, J J., Lund, E M., Zhou, O., & Benz, M R (2012) National prevalence rates of bully victimization among students with disabilities in the United States School Psychology Quarterly, 27, 210–222
10
Thompson, D., Whitney, I., & Smith, P K (1994) Bullying of children with special needs in mainstream schools
Support for Learning, 9(3), 103-106
11
Massachusetts Department of Education (1998, April) 1998 Massachusetts Youth Risk Behavior Survey results
Boston
12
Trích theo Trần Thị Minh Đức (2011), Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội, sách chuyên khảo,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 12những hụt hẫng và đau đớn Doller và Miller (1939) cho rằng nếu một người bị ngăn cản hoạt động để đạt tới mục đích nào đó thì sẽ có nguy cơ bị hụt hẫng Anh
ta sẽ phản ứng đối với những hụt hẫng đó bằng cách gây hấn với người hoặc vật thể cản trở hoạt động của anh ta nhằm mau chóng thoát khỏi trạng thái không thể chịu nổi đó
1.1.1.5.Giáo dục phòng chống bắt nạt.
Trẻ em bị bắt nạt thường được bảo “hãy tự giải quyết các vấn đề của mình” Tuy nhiên, khi bắt nạt được lặp đi lặp lại, nạn nhân ngày càng khó ứng phó hơn vì ngày càng mất đi quyền lực Một nghiên cứu về các cách thức trẻ em phản ứng với việc bắt nạt và đánh giá hiệu quả của các chiến lược khác nhau trong việc giảm các vấn đề bắt nạt của trẻ được thực hiện 1852 trẻ em và thanh thiếu niên Canada trong độ tuổi từ 4-19 tuổi (trung bình 12.6 tuổi) trả lời một bảng câu hỏi trên website Rất ít người được hỏi cho biết họ được thúc đẩy bởi các chiến dịch giáo dục công cộng hoặc thông tin về bắt nạt Những người tham gia chỉ ra rằng họ có động lực ngăn chặn bắt nạt bởi nhu cầu riêng của họ để tự kiểm soát và được thúc đẩy bởi cảm xúc của họ Một số lượng đáng kể trả lời rằng họ không làm gì để ngăn chặn bắt nạt Và cuối cùng, khi việc bắt nạt càng kéo dài, các HS càng nhận
ra sự kém hiệu quả của chiến lược ứng phó của họ Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của sự hỗ trợ của người lớn đối với HS Điều quan trọng là cung cấp cho trẻ em và thanh thiếu niên những chiến lược ứng phó có hiệu quả với bắt nạt, vì thường thì những chiến lược trẻ sẽ sử dụng chỉ làm gia tăng và trầm trọng hóa nạn nhân13 Như vậy các chương trình giáo dục phòng chống bắt nạt là thực sự
13
Wendy Craig, Debra Pepler, Julie Blais (2007) Responding to Bullying What Works? First Published October 1,
2007 Research Article https://doi.org/10 1177/0143034307084136
14
Haataja, A., Boulton, A., Voeten, M., & Salmivalli, C (2014) The KiVa antibullying curriculum and outcome: Does fidelity matter? Journal of School Psychology, 52, 479–493
Trang 13Tóm lại, các chương trình toàn trường để ngăn ngừa bắt nạt thường thành công khi được thiết kế chuyên sâu, có độ lâu dài thích hợp, và được thực hiện với
độ trung thực cao Sự tham gia của phụ huynh HS làm gia tăng hiệu quả các chương trình phòng chống bắt nạt Việc nâng cao nhận thức của các HS về vai trò của cả nhóm có tác động tích cực đến giảm thiểu bắt nạt Do vậy, tăng cường các tiêu chuẩn và phản hồi về chống bắt nạt trong lớp học là rất quan trọng Điều quan trọng khác là khi các giáo viên truyền đạt rõ ràng thái độ chống bắt nạt của họ đến
HS thì sẽ giảm thiểu được hiện tượng bắt nạt Như vậy, các chương trình dựa trên trường học để giảm thiểu bắt nạt là một lựa chọn đúng đắn15
Các nghiên cứu cũng khẳng định, mặc dù HS trong độ tuổi đi học cũng bị bắt nạt và bạo lực bởi các giáo viên và nhân viên, việc bắt nạt cùng lứa tuổi là phổ biến hơn nhiều (AAUW, 1993 , 2001; Timmerman, 2003)
Trong một bài đánh giá gần đây, Juvonen và Graham (2014) báo cáo rằng khoảng 20-25% thanh niên đang trực tiếp tham gia vào việc bắt nạt với tư cách thủ phạm, nạn nhân, hoặc cả hai Các nghiên cứu quy mô lớn được tiến hành ở các nước phương Tây cho thấy 4-9% thanh niên thường xuyên tham gia vào các hành
vi bắt nạt và 9-25% trẻ em tuổi đi học bị bắt nạt Các trường hợp thanh thiếu niên vừa bắt nạt và bị bắt nạt (bắt nạt / nạn nhân) cũng đã được xác định
Trong một nghiên cứu khác, mỗi tháng có 282.000 HS ở các trường Trung học cơ sở (THCS) Mỹ bị tấn công Cũng tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) cũng khẳng định 43% HS cả nam lẫn nữ thuộc
độ tuổi từ 13 đến 17 tuổi từng bị dọa nạt hoặc chế giễu trên mạng internet
Trang 14Gia Trang với “Hung tính ở trẻ em” (2002); Lê Ngọc Dung, Hồ Bá Thông với
“Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên” (2004); Nguyễn Phương Thảo và cộng sự với “Bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường” (2005); Nguyễn Thị Phương với “Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của HS Trường phổ thông trung học dân lập Đinh Tiên Hoàng” (2006); Hoàng Xuân Dung với “Khác biệt giới trong hành vi gây hấn của HS trung học phổ thông” (2010).Các nghiên cứu này đã tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về hành vi gây hấn, bạo lực và bắt nạt tạo cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu thực tiễn về bắt nạt học đường Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra tính cấp thiết của vấn đề bắt nạt học đường ở Việt Nam, đề xuất các biện pháp giảm thiểu tình trạng này
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thủy cho thấy, chẳng hạn, có 16,4% HS thường xuyên chứng kiến hành vi gây hấn (bao gồm cả bắt nạt), 80,9% thỉnh thoảng chứng kiến và chỉ có 2,7% HS là chưa bao giờ chứng kiến hành vi gây hấn Lam Ngọc (2016) tổng hợp các nghiên cứu cho biết khoảng 80% HS thông báo từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua Trong đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục…) chiếm tỷ lệ cao nhất là 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập…) chiếm 41%; và bạo lực tình dục (tin nhắn với nội dung tình dục, sờ, hôn, hiếp dâm, yêu cầu chạm vào bộ phận sinh dục, lan truyền tin đồn tình dục…) chiếm 19% Vĩnh Hà dẫn nghiên cứu của Phạm Minh Mục, Trung tâm Nghiên cứu tâm lý học đường và Giáo dục học (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) cho thấy, tình trạng HS bị mắng chửi, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm từ bạn học chiếm tỷ lệ 38,49% Đáng chú ý, các tác giả chỉ ra hiện tượng “vô cảm” trong cả xã hội lẫn trong giới HS đối với hành vi bạo lực và bắt nạt – hiện tượng tiềm ẩn rủi ro cao cho công tác giáo dục ứng xử trong HS
Như vậy, vấn đề bắt nạt bằng lời nói, những tác hại của nó và cách thức giảm thiểu bắt nạt bằng lời nói ở HS trung học phổ thông đã và đang là vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu và giải quyết
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Tìm hiểu thực trạng bắt nạt bằng lời nói từ đó có sơ sở đề xuất thử nghiệm một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ
Tiểu kết chương I: Qua các nghiên cứu về bắt nạt nói chung và bắt nạt bằng lời nói nói riêng cho thấy hành vi bắt nạt là phổ biến ở HS trung học Bắt nạt có đặc điểm riêng gắn với giới tính, lứa tuổi và môi trường Bên cạnh đó là nhận thức, thái độ và cảm nhận của HS là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến hành vi bắt nạt Có thể thay đổi thực trạng bắt nạt bằng các giải pháp cụ thể
Những kết luận khái quát trên là cơ sở để nhóm tác giả dự án xây dựng chiến lược nghiên cứu và đề xuất giải pháp cho vấn đề bắt nạt bằng lời nói ở HS THPT Tân Kỳ
Trang 15CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỆU HÀNH VI BẮT NẠT BẰNG LỜI NÓI ĐỐI VỚI HS TẠI TRƯỜNG THPT TÂN KỲ
2.1 Thực trạng bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ
2.1.1 Thuận lợi
- Hằng năm SGD&ĐT luôn có các văn bản hướng dẫn giáo dục đạo đức cho
HS kịp thời, giúp nhà trường có cơ sở đề ra kế hoạch giáo dục HS từ đầu năm
- Nhà trường có một tập thể sư phạm đoàn kết, công tác giáo dục đạo đức
HS luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các buổi họp hội đồng, giáo viên chủ nhiệm, tổ chuyên môn
- Trường THPT Tân Kỳ thường xuyên tổ chức các chương trình, hoạt động ngoại khóa sinh động nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống cho HS
- Nhà trường đã giao cho nhóm giáo dục công dân, BCH đoàn trường tiến hành lồng ghép giáo dục đạo đức HS vào các buổi sinh hoạt Đoàn thường kỳ, hoạt động NGLL… có tính giáo dục cao, các tổ chuyên môn trong nhà trường phối hợp đồng bộ trong công tác giáo dục đạo đức HS
- Tập thể giáo viên có trình độ, nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm, đoàn kết nội bộ, có tinh thần học hỏi phấn đấu vươn lên
- Các hoạt động giáo dục HS luôn được các bậc phụ huynh quan tâm, giúp
đỡ, góp phần không nhỏ nâng cao thành tích giáo dục chung của nhà trường
- Công tác giáo dục HS của nhà trường trong những năm gần đây có nhiều bước phát triển, chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, các nhiệm vụ trọng tâm của ngành được tổ chức thực hiện đạt kết quả tốt Số lượng HS khá, giỏi
về học lực, xếp loại hạnh kiểm khá, tốt dần tăng lên
2.1.2 Khó khăn, hạn chế
- Các em HS ở độ tuổi này không còn là trẻ con mà cũng chưa là người lớn thực sự, tâm lý phát triển phức tạp, nhiều lúc ương ngạnh, hiếu thắng, thậm chí có những biểu hiện bất cần có thể dẫn tới hành động tiêu cực Tính cách các em cũng
dễ nóng nảy, hay cãi cọ, cáu gắt, vui buồn vô cớ, có bạn dễ làm những việc điên rồ, ngông cuồng, quá khích, chống đối Một thực tế cho thấy tỷ lệ tội phạm hay các vụ
án bạo lực, tự hành xác, tự tử phần lớn rơi vào lứa tuổi này HS như những mầm cây xanh tươi, nếu chăm bón tốt thì sẽ có hoa thơm trái ngọt, nếu lơ là, gió bão, mưa nắng cuộc đời sẽ làm những mầm xanh trụi lá
- Là HS ở một huyện miền núi, số HS trải dài ở nhiều xã đặc biệt khó khăn dẫn đến việc quan tâm con em học tập của phụ huynh còn nhiều hạn chế Cùng với
đó là công tác phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh trong việc giáo dục HS cũng gặp nhiều khó khăn
Trang 16- Ngân sách chi thường xuyên nhà trường còn hạn chế, gây ảnh hưởng không nhỏ cho các hoạt động ngoại khóa giáo dục đạo đức HS
- Cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy, diện tích các phòng học còn nhỏ, sân chơi bãi tập chưa tốt, các phòng chức năng còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học theo chương trình
- Do ảnh hưởng của mạng di động đã dẫn tới HS sa vào các trò chơi trên điện thoại, ảnh hưởng quá trình học tập của các em
- Một số giáo viên chưa có kinh nghiệm trong công tác tư vấn tâm lý cho
HS Bên cạnh đó nhiều giáo viên chủ nhiệm còn chưa thực sự quan tâm đến HS, thiếu sự phối hợp với gia đình để nắm rõ hoàn cảnh của các em nên chưa phát hiện được hành vi bắt nạt để có các giải pháp ngăn chặn sớm
2.2 Đánh giá chung thực trạng hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trường THPT Tân Kỳ
2.2.1 Mức độ phổ biến của hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT Tân Kỳ
Chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra trên 259 HS từ lớp 10 đến lớp 12 năm học 2020-2021 của trường THPT Tân Kỳ, cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Thống kê khách thể nghiên cứu thực trạng
Trường
Tổng Khối
Bằng hành động Bằng lời nói trực tiếp Qua phương tiện khác
Biểu đồ 2.1 Mức độ phổ biến của hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS trường THPT
Tân Kỳ
Trang 17Nhận xét :
Qua biểu đồ 2.1 ta thấy trong cả 3 trường hợp được khảo sát là chứng kiến việc bắt nạt, đã từng bắt nạt và từng bị bắt nạt cho thấy hành vi bắt nạt bằng lời nói
trực tiếp chiếm tỉ lệ cao nhất
Đối với người chứng kiến thì hành vi bắt nạt bằng lời nói chiếm tỉ lệ cao 39.38% trong khi đó bắt nạt bằng hành động ít hơn chiếm 32.82%; bắt nạt qua
phương tiện khác là 27.80%
Đối với hành vi từng bắt nạt người khác: hành vi đã từng bắt nạt người khác bằng lời nói chiếm tỉ lệ rất cao 51.35% ; bắt nạt bằng hành động 28.96%; bắt nạt
qua phương tiện khác 19.69%
Đối với trường hợp từng bị bắt nạt: bắt nạt bằng ngôn từ vẫn chiếm tỉ lệ biểu hiện cao nhất chiếm 47.50%; các trường hợp bị bắt nạt bằng hành động chiếm
28.50%; bắt nạt qua phương tiện khác chỉ chiếm 24.70%
Số liệu khảo sát câu nói bắt nạt HS đã từng nói hay đã từng nghe cũng thể hiện sự phổ biến của bắt nạt bằng lời nói Số liệu thể hiện ở bảng 2.2 cho thấy trên 50% HS đã từng nghe và nói những câu bắt nạt điển hình của HS lứa tuổi THPT hiện nay16
Bảng 2.2 Các hành vi bắt nạt bằng lời nói phổ biến ở HS trường THPT Tân Kỳ
B “Nhìn cái nhà thằng này đã biết không phải người tốt" 128 49.42%
C “Đã xấu còn thích đăng ảnh”, "Chỉnh nát hết rồi" 181 69.88%
E “Học xã hội dễ bỏ mẹ, bọn lười động não mới theo khối xã hội"
134 51.74%
F “Học như thế này thì học làm gì" 189 72.97%
H “Đến cả mày cũng thi được điểm cao hơn tao nữa" 152 58.69%
Kết luận: Qua sơ đồ 2.1 và bảng 2.2 thì Bắt nạt bằng lời nói (BNBLN) là
hiện tượng phổ biến trong HS trường THPT Tân Kỳ hiện nay
2.2.2 Nhận thức và ứng xử của HS về hành vi bị bắt nạt bằng lời nói
2.2.2.1 Mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT Tân kỳ.
16
Các câu nói này được trích từ câu 9 phiếu điều tra
Trang 18Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng câu hỏi 8 phiếu khảo sát, tiến hành xử lý
và cho ra kết quả mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt của HS trường THPT Tân Kỳ như sau:
78.38%
21.62%
Đúng hoàn toàn Đúng một phần
Biểu đồ 2.2 Mức độ nhận diện hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT
Tân kỳ
Nhận xét:
Trong số 259 HS tham gia khảo sát có:
- 203 HS nhận diện đúng và đầy đủ về hành vi bắt nạt bằng lời nói, chiếm tỉ
lệ 78.38%
- 56 HS chiếm tỉ lệ 21.62% nhận diện chưa đầy đủ về hành vi bắt nạt bằng lời nói, chỉ nhận diện được một số hành vi bắt nạt và bỏ sót các hành vi bắt nạt khác
- Không có HS nào nhận diện sai về hành vi bắt nạt bằng lời nói
Kết luận: Các HS nhận ra được hành vi nào là hành vi bắt nạt bằng lời nói
hay nói cách khác nhận diện đúng hành vi bắt nạt bằng lời nói
2.2.2.2 Mức độ nhận thức của HS THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói.
Chúng tôi tiến hành khảo sát câu hỏi 4 trong phiếu khảo sát và biết được mức độ nhận thức của HS THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói như sau:
Biểu đồ 2.3 Nhận thức của HS trường THPT Tân Kỳ về tác hại của BNBLN
Trang 19Nhận xét:
Trong số 259 HS tham gia khảo sát, có:
- 252 HS trả lời có: chiếm tỉ lệ 97.29%
- 2 HS trả lời không: chiếm tỉ lệ 0.78 %
- 5 HS trả lời không rõ: chiếm tỉ lệ 1.93 % Kết luận: Số liệu khảo sát cho thấy đại bộ phận (97,29%) HS THPT Tân Kỳ
nhận thức chính xác cả về khái niệm lẫn tác động tiêu cực của hành vi bắt nạt bằng lời nói Hầu như không có HS nhận thức sai hoặc không biết về tác hại của loại hành vi này
2.2.2.3 Ứng xử của HS THPT Tân Kỳ với bắt nạt bằng lời nói.
Chúng tôi tiến hành khảo sát câu hỏi 7 phiếu khảo sát với 259 em HS của trường THPT Tân Kỳ đã cho kết quả sau:
Rất nhiều các em chưa biết cách ứng xử với hành vi bắt nạt bằng lời nói cả trong trường hợp bị bắt nạt và cả trường hợp chứng kiến bắt nạt
Bảng 2.3 Ứng xử của HS với bắt nạt bằng lời nói
Phản ứng khi A nói với B “Ê, con ghẻ”
Phản ứng khi là B là người bị
bắt nạt
Số chọn
Phản ứng khi là người chứng kiến
Số chọn
Đáp trả tương xứng, chửi lại 32 Lên tiếng can thiệp, lên án 24 Xuất chiêu bất ngờ: đáp trả bằng
cách ngược lại hay dùng óc khôi
Nói với người khác để nhờ
Cho đối phương thấy những ưu
Cách xử lí đúng bao gồm: 1)Xuất chiêu bất ngờ (chiếm 14,20%); 2) Cho đối
phương thấy những ưu điểm của bản thân (chiếm 14,81%); 4) Chia sẻ với bạn bè
(chiếm 7,41%); 5) Nói với cha mẹ, thầy cô (chiếm 9,26%), với tổng là 45,68%
Trang 20Cách xử lí sai bao gồm: 1) Đáp trả, chửi lại (chiếm 19,75%); 2) Bỏ đi chỗ
khác (chiếm 16,05%); 3) Im lặng (chiếm 12,35%); 4) Đau khổ một mình (chiếm
6,17%), với tổng là 54,32%
- Khi là người chứng kiến:
Cách xử lí đúng bao gồm: 1) Lên tiếng can thiệp (chiếm 19,05%); 2) Nói với
người khác để can thiệp (chiếm 9,52%); 3) Góp ý cho A (chiếm 10,32%) với tổng
là 38,89%
Cách xử lí sai bao gồm: 1)Tức giận nhưng im lặng (chiếm 28,57%); 2) Bỏ đi
chỗ khác (chiếm 22,22%); 3) Mặc kệ, coi như không nghe thấy (4,76%) ; Coi đó là lỗi của người bị bắt nạt(chiếm 3,18%); và 5) Hùa theo A (chiếm 2,38%) với tổng
tỷ lệ là 61,11%
Kết luận: Số liệu khảo sát cho thấy đại bộ phận HS THPT (trên 50%) chưa
biết cách ứng xử với hành vi bắt nạt bằng lời nói cả trong trường hợp bị bắt nạt
(54.32%) lẫn trường hợp chứng kiến bắt nạt (61,11%)
Kết quả khảo sát bằng trắc nghiệm hình ảnh và phỏng vấn (phụ lục II) cho
thấy trong số 19 HS được phỏng vấn 8 HS sẽ làm ngơ, bỏ đi khi chứng kiến bắt
nạt
Em N.T.H.G: “Em rất tức giận và bức xúc với tình huống này, nhưng em nghĩ một số người và trong đó kể cả em thường sẽ không xen vào chuyện đó và lựa
chọn đứng ngoài hoặc là bỏ đi vì em sợ bị dính líu hoặc ảnh hưởng”
Kết quả phỏng vấn cho thấy có 8 HS lên tiếng can thiệp
Em N.T.A.N: “Theo em, khi chứng kiến hai bạn nam bắt nạt một bạn nữ trong lớp tất nhiên em thấy rất khó chịu Đã là bạn học cùng lớp, mà là nam lại bắt nạt nữ thì chắc chắn bạn nam đó chẳng có cái gì gọi là nam tính hay cao thượng cho lắm Trong trường hợp nếu các bạn đó là bạn thân của em, chắc chắn
là em sẽ lên tiếng Em sẽ nói rằng là “Tụi mày không có quyền lên tiếng đánh giá, nói ra những lời nói đó” Còn nếu như em không thân với các bạn đó lắm, hoặc không có mối liên hệ gì với các bạn, em vẫn cảm thấy khó chịu và thể hiện ở ánh mắt mà em dành cho hai bạn nam đó Em sẽ thể hiện cho hai bạn thấy sự bức xúc
của mình, còn lại em sẽ không góp ý gì nhiều”
Em T.H L.L: “Đầu tiên em sẽ hỏi rõ xem rốt cuộc là có chuyện gì Nếu hai bạn nam đó nói quá đáng và không dừng hành động đó lại thì xin lỗi dù cùng lớp
em cũng sẽ chửi lại ngay”
Em N.M.T với vai trò là người chứng kiến:“Trong trường hợp này thì em khá là bức xúc cho hai bạn nữ Nếu có thể em sẽ tới nói chuyện và cố gắng hòa
Trang 21giải cho các bạn vì em cũng không muốn các bạn trong cùng lớp lại gây mất đoàn
kết với nhau”
Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy có 3 HS phân vân (tùy hoàn cảnh)
Em N.V.N : “Theo ý kiến của em câu nói này vừa mang ý tiêu cực lẫn tích cực Một là bạn nam đang muốn xúc phạm và làm tổn thương bạn gái, hai là bạn nam thực sự đang có ý tốt muốn khuyên nhủ bạn gái này Và muốn biết nó mang ý
nghĩa gì thì mình còn phải xét hoàn cảnh của nó nữa”
Đối với tình huống chứng kiến bắt nạt, kết quả khảo sát bằng trắc nghiệm hình ảnh và phỏng vấn cho thấy trong số 19 HS được phỏng vấn 2 HS làm ngơ, im
mạnh thì em sẽ nhờ người lớn hoặc ai đó có khả năng giúp đỡ”
Em N.N.T.N: “em sẽ cảm thấy xấu hổ vì thực sự là họ nói đúng Nhưng nếu nghĩ kĩ thì em thấy mỗi người sẽ có một khả năng thế mạnh khác nhau, vậy nên không thể đánh giá con người chỉ qua việc học hành hay điểm số em chơi thể thao
rất tốt Vậy nên chẳng có gì phải xấu hổ ở đây”
Kết quả khảo sát cũng cho thấy khi chứng kiến bắt nạt 15 HS phản kháng,
trong đó 11 HS phản kháng bằng lời nói; 4 HS phản kháng bằng cả lời nói lẫn hành
động
Em N.T.T.T: “ Nếu như cách đây vài năm, em sẽ rất bực mình và cảm thấy
bị xúc phạm nặng nề và có thể ngay lúc đó em sẽ xông tới và tát thẳng vào mặt một trong hai bạn trai đó Nhưng bây giờ em nhận ra những kẻ mà nói được điều đó với mình thì họ không phải dạng người thuộc tầm mình nên em chẳng phải phí lời với những kẻ dưới tầm mình làm gì Nhưng chắc chắn em sẽ có một cách khác để trả đũa nó Em sẽ đem một mặt nào đó của nó mà nó thua mình ra và có thể dùng
bạo lực bằng lời nói để tấn công lại nó”
Như vậy: Số liệu khảo sát cho thấy đại bộ phận (trên 50%) HS trường THPT
Tân Kỳ chưa biết cách ứng xử với hành vi bắt nạt bằng lời nói
Kết luận: HS trường THPT Tân Kỳ đã nhận diện đúng hành vi bắt nạt bằng
lời nói, nhận thức được tác hại của bắt nạt bằng lời nói, nhưng chưa biết cách ứng
xử phù hợp với bắt nạt bằng lời nói
2.2.3 Thái độ của HS trường THPT đối với hành vi bắt nạt bằng lời nói
Trang 22Để biết được thái độ của HS với bắt nạt bằng lời nói, chúng tôi tiến hành sử dụng câu hỏi 6 trong phiếu để khảo sát và biết thái độ của HS với bắt nạt bằng lời
nói, cả ở tư cách người bắt nạt, bị bắt nạt và chứng kiến bắt nạt thể hiện ở bảng 2.4
Bảng 2.4.Thái độ của HS với bắt nạt
Thái độ khi A nói với B “Mày là đồ phế thải”:
Thái độ của A Số
chọn Thái độ của B
Số chọn
Thái độ của người chứng kiến
Số chọn
Oai, hả hê 31 Tức giận 37 Tức giận 25 Phấn khích 21 Khó chịu 40 Khó chịu, bức xúc 48
Nhận xét:
Khi là A (người bắt nạt): số HS có phản ứng đúng là: 1) Áy náy (chiếm 12,1%); 2) hối hận (chiếm 10,4%), với tổng 22,5% Số HS có phản ứng sai là: 1)
Bình thường (chiếm 14,6%); 2) Phấn khích (chiếm 18,1%); 3) Thoải mái (chiếm
12,1%); 4) Tự tin (chiếm 6,0%); và 5) Hả hê ( chiếm 26,7%), với tổng là 77,5 %
Khi là B (bị bắt nạt): số HS có phản ứng đúng là: 1) Tức giận (chiếm
21,4%); 2) Khó chịu (chiếm 23,1%), chiếm tổng thể 44,5% Số HS có phản ứng
sai là: 1) Bình thường (chiếm 4.1%); 2) Thất vọng về bản thân (chiếm 15,0%); 3)
Mất tự tin (chiếm 17,3%); 4) Xấu hổ (chiếm 11,6%); 5) Đau khổ (chiếm 7,5%),
với tổng cộng 55, 5%
Khi là người chứng kiến: số HS có phản ứng đúng là: 1)Tức giận (chiếm
20,8%); 2) Khó chịu, bức xúc (chiếm 23,3%), với tổng cộng 44,1% Số HS có phản ứng sai: 1) Bình thường (chiếm 14,2%); 2) Vui vẻ (chiếm 7,5%); 3) Trêu
chọc B (chiếm 28,3%); 4) Phấn khích (chiếm 4,2%); 5) Hả hê (chiếm 1,7%), chiếm
tổng cộng 55,9%
Như vậy: Đa số HS có cách xủ lí sai khi đặt mình vào vị trí người đi bắt nạt (77,5%), bị bắt nạt (55,5%) và chứng kiến bắt nạt(55,9%)
Kết luận chung: HS THPT có thái độ chưa phù hợp với bắt nạt bằng lời nói
2.2.4 Sự khác biệt về giới trong bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT Tân Kỳ
Trang 23Bảng 2.5 Khác biệt giới trong việc tham gia vào BNBLN
Nội dung tham gia Chứng kiến Đi bắt nạt Bị bắt nạt
HS nữ tham gia vào BNBLN nhiều hơn các nam HS (chủ yếu là đi bắt nạt)
2.2.5 Nguyên nhân của hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS trường THPT Tân Kỳ
Để tìm hiểu đâu là nguyên nhân của hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT Tân Kỳ Chúng tôi sử dụng câu hỏi 10 trong phiếu khảo sát câu hỏi Sau khi tiến hành khảo sát và thống kê, chúng tôi đã có được kết quả ban đầu như sau:
Kết quả khảo sát nhận thức của HS về nguyên nhân của bắt nạt bằng lời thể hiện ở bảng 2.6
Trang 24Bảng 2.6 Nhận thức của HS về nguyên nhân của bắt nạt bằng lời nói
Nguyên nhân dẫn đến bắt nạt bằng lời nói? Chọn
Tỷ lệ (%)
a Ở nhà bố mẹ thường xuyên cãi nhau hay đã ly hôn 31 6.71
b Bố/mẹ mất hoặc không sống chung với bố mẹ 18 3.89
i Do'' cái tôi'' quá cao, thích ra oai, tỏ vẻ ta đây 54 11.69
k Do thiếu khả năng kiềm chế cảm xúc và hành vi 47 10.17
m Không biết có thể gây tổn thương người khác bằng lời nói 45 9.74
Nhận xét: Qua tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bắt nạt bằng lời nói cho thấy
nguyên nhân chính là nhận thức cá nhân chiếm tỉ lệ rất cao, trong đó:
- Do thiếu trách nhiệm với lời nói 46 /462 chiếm 9,96%;
- Do thiếu khả năng kiềm chế cảm xúc và hành vi 47/462 chiếm 10,17%;
- Vô tâm, coi chỉ là sự đùa giỡn 48/462 chiếm 10,39%;
- Không biết có thể gây tổn thương người khác bằng lời nói 45/462 chiếm 9,74%;
- Đặc biệt, tỏ vẻ ta đây là nguyên nhân chính chiếm tỉ lệ cao nhất 54/462 lựa chọn chiếm 11,69%
Qua đó ta thấy: Lứa tuổi HS trường THPT Tân Kỳ có sự thay đổi lớn về tâm sinh lý, nhu cầu thể hiện “cái tôi” rất cao Một bộ phận HS thể hiện theo khuynh hướng tiêu cực Nhiều giá trị, chuẩn mực đang dần thay đổi nhưng do giới hạn về nhận thức nên không có sự chọn lọc, có thể tiếp nhận những giá trị, chuẩn mực không phù hợp Nhu cầu khẳng định “cái tôi” cao nên nhiều khi khẳng định bằng
sự lệch lạc trong đó có hành vi bắt nạt bằng ngôn từ
Qua điều tra bằng bảng hỏi cho thấy HS nhận định nguyên nhân từ gia đình không phải là nhóm nguyên nhân chính Kết quả cho thấy :
1) Ở nhà bố mẹ thường xuyên cãi nhau hay đã ly hôn 6,71%
2) Bố/mẹ mất hoặc không sống chung với bố mẹ 3,89%
Trang 253) Bố mẹ để cho các bạn quá tự do 6,49%
Kết luận: Nguyên nhân chính của bắt nạt bằng lời nói giữa HS trường THPT
Tân Kỳ với nhau là do các em chưa biết cách ứng xử phù hợp với bắt nạt bằng lời nói, chưa kiểm soát cảm xúc của bản thân
Kết luận chung phần thực trạng: Nhìn chung, thực trạng bắt nạt bằng lời ở
HS trường THPT Tân Kỳ hiện nay là đáng báo động Thực trạng này có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu Trong khi hoạt động phòng chống bạo lực học đường hiện nay luôn đóng vai trò quan trọng Vì vậy, trong thời gian có hạn, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS trường THPT Tân Kỳ Từ đó góp phần tạo nên môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng chống bạo lực
học đường cũng như góp phần xây dựng xây dựng:“Trường học hạnh phúc”
2.3 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS trường THPT Tân Kỳ - Tỉnh Nghệ An
2.3.1 Tuyên truyền cho các em HS nhận thức đúng đắn về hành vi bắt
nạt bằng lời nói qua các buổi sinh hoạt đoàn thường kỳ tại nhà trường
nạt bằng lời nói, cách giải quyết mâu thuẫn để vượt qua khó khăn khi bị bắt nạt Điều này có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tầm nhận thức, hiểu biết cho các
em HS để hạn chế hành vi bắt nạt bằng lời nói ở HS trường THPT Tân Kỳ
*Thành phần tham gia: 41 chi đoàn trường THPT Tân Kỳ
- Kinh phí thực hiện: Xin hỗ trợ từ phụ huynh, quỹ đoàn, các nhà tài trợ
*HS điều hành hoạt động: Bí thư các chi đoàn của 41lớp
Hình 2.1: Tuyên truyền cho các bạn HS nhận thức đúng đắn về hành vi bắt nạt bằng lời nói qua buổi sinh hoạt đoàn thường kỳ tại nhà trường THPT Tân
Trang 26Link 20190331154319568.htm
https://vtv.vn/song-moi/bat-nat-hoc-duong-gay-ra-nhieu-hau-qua-tai-hai-Hình 2.2: https://vtv.vn/song-moi/bat-nat-hoc-duong-gay-ra-nhieu-hau-qua-tai-hai-Hình ảnh cắt ra từ clips về hậu quả của bắt nạt đối với các em HS
Đoạn clip phóng sự ghi lại câu chuyện một nữ sinh lớp 9 đã bị bạn đánh đập
dã man tại một trường THCS ở Hưng Yên Gia đình nạn nhân đã gửi đoạn clip ghi lại hình ảnh này đến cơ quan báo chí để được giúp đỡ
Người nhà của em HS bị đánh hội đồng cho biết, em HS này đã bị các bạn bắt nạt và từng đánh một vài lần từ đầu năm học này đến nay, nhưng đây là lần nghiêm trọng nhất, thậm chí nhóm này còn quay clip và phát tán lên mạng
Theo hàng xóm xung quanh, em HS bị đánh là một HS ngoan ngoãn và hiền lành, gia đình thuộc diện khó khăn Bố em không biết chữ, làm phụ hồ, mỗi tháng chỉ kiếm được 1 - 2 triệu đồng; mẹ em là công nhân dệt may, lương tháng tăng ca cũng chỉ được 4 - 5 triệu đồng
Trang 27Đến chiều 30/3, theo ghi nhận của phóng viên, tình hình sức khỏe của em
HS bị đánh đã có tiến triển Em trả lời với báo chí rằng mình bị các bạn bắt nạt là
do các bạn bắt em viết hộ một văn bản để nộp cho cô giáo, nhưng em không viết Khi cô giáo bắt nộp các bạn không có để nộp, nên quay ra đánh em
Các nghiên cứu khoa học về hiện tượng bắt nạt học đường đã chỉ ra rằng bắt nạt gây ra nhiều hậu quả tai hại Nạn nhân có thể bị cô lập, bị loại khỏi nhóm bạn, học hành giảm sút, ít tham gia hoạt động trường lớp Ngoài ra, hậu quả về mặt phát triển cảm xúc còn kéo dài cho đến mãi sau này, như: cô đơn, lo âu, trầm cảm, thu mình, kém tự tin Có những em sẽ thấy cuộc sống thật khó khăn, nhìn đâu cũng thấy đe dọa, nguy hiểm rình rập, không có ai yêu thương, thấy bản thân mình vô dụng Nguy hiểm hơn, khi bị bắt nạt, có gần 13% các em có suy nghĩ trả thù Điều này khiến các em có thể gây nên những hành động bạo lực nguy hiểm, không kiểm soát được Từ đó tạo ra môi trường học đường kém thân thiện, thậm chí kém an toàn cho HS
Chúng ta là HS đang ngồi ghế nhà trường, mục tiêu là đến trường để học tập nên cần phải yêu thương, giúp đỡ nhau trong học tập Chúng ta ngồi đây hãy cùng nhau đẩy lùi hành vi bắt nạt nhất là bắt nạt bằng lời nói để mỗi ngày đến trường là một niềm vui cùng để nhau xây dựng trường học hạnh phúc
Hoạt động 2: Trò chơi vật tay để tìm cách giải quyết mâu thuẫn (30p)
Mô tả: Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một
vấn đề hay trải nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó
Lợi ích của phương pháp: Giúp tạo ra sự vui vẻ, thúc đẩy tính chủ động,
kích thích thảo luận trong lớp vì HS phải làm việc để thực hiện vai trò của mình
Cách thực hiện:
Giáo viên phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS
HS tiến hành chơi Đánh giá sau trò chơi Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi Rút ra những kĩ năng thông qua trò chơi
Ví dụ:
Giáo viên: Cả lớp chúng ta sẽ chơi trò chơi vật tay để tìm ra người chiến thắng
Phổ biến luật chơi: Chia lớp thành 2 nhóm Mỗi nhóm sẻ cử một đại diện, 2 người ngồi đối diện vào nhau, bỏ 2 tay lên bàn và tiến hành trò chơi vật tay Hai người dùng sức lực của mình để giành chiến thắng Sự hiếu thắng đến cao trào khi một trong 2 bạn đã phạm quy nhấc tay khỏi bàn và giành ưu thế, các cổ động viên
Trang 28cổ vũ nhiệt tình cho đại diện của nhóm mình Đứng trước tình hình như vậy thì giáo viên có hiệu lệnh: “Dừng lại”
Sau khi trò chơi kết thúc, giáo viên đưa ra câu hỏi:
- Các em thấy trò chơi thế nào? Nó giống với biểu hiện nào trong cuộc sống hằng ngày?
- Khi hai bên cùng vật tay các em có cảm giác gì? Các em muốn điều gì khi hai bên dùng hết sức lực của mình để vật? Khi đã dừng vật các em thấy thế nào?
- HS trả lời
- Giáo viên viết các câu trả lời của HS lên bảng và cho các em nêu ý kiến Cuối cùng giáo viên kết luận: Điều này giống với khi chúng ta có căng thẳng với ai đó, hai bên đều cố gắng đẩy tình huống đến mức căng nhất và khiến chúng
ta mệt mỏi Việc học cách thương lượng để giải quyết mâu thuẫn là quan trọng trong cuộc sống Nó giúp chúng ta hòa thuận hơn với mọi người bởi vì mâu thuẫn luôn xảy ra trong mọi mối quan hệ, nếu nó xảy ra mà không giải quyết đúng thì sẽ làm cho mối quan hệ trở nên xấu đi
Giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: Các em thường mâu thuẫn về những vấn đề
gì? Mâu thuẫn không được giải quyết hòa bình các em thường làm gì? Hậu quả? Theo em cần làm gì để giải quyết mâu thuẫn? Đưa ra quan điểm của bản thân khi đứng trước các mâu thuẫn bạn bè?
HS trả lời các câu hỏi Giáo viên nhận xét, kết luận: Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ
gặp rất nhiều mâu thuẫn, nó khiến ta căng thẳng mệt mỏi Và có nhiều cách để giải quyết mâu thuẫn xảy ra nhưng đối với các em, đặc biệt là HS nam thì thường giải quyết bằng bạo lực, với các bạn gái thì thường bắt nạt bằng lời nói Cách giải quyết này sẽ để lại hậu quả lâu dài Do đó khi mâu thuẫn xảy ra việc tốt nhất là các em tìm cách giải quyết bằng biện pháp thương lượng Nếu không được có thể nhờ sự trợ giúp của bạn bè, của người lớn Bởi khi mâu thuẫn được giải quyết khiến chúng
ta cảm thấy thoải mái, vui vẻ hơn
+ KN giao tiếp và ứng xử: Được củng cố thông qua quá trình giao tiếp giữa các em HS với nhau, giữa GV và HS trong quá trình thực hiện trò chơi