1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận pháp luật lao động là người giúp việc gia đình

28 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật về Lao động là Người giúp Việc Gia Đình
Trường học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Luật Lao Động
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Thủ Dầu Một
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 267 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy lao động là người giúp việc gia đình đã đượctrở thành một nghề và được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận như:Philippines, Pháp, Campuchia, … Trong mối quan hệ lao độ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA HÀNH CHÍNH – LUẬT

oOo

-BÀI TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

CHUYÊN ĐỀ LUẬT LAO ĐỘNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA

ĐÌNH

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

cộng đồng

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC

GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4

1.1 Khái quát về lao động là người giúp việc gia đình 4

1.1.1 Khái niệm về lao động là người giúp việc gia đình 4

1.1.2 Đặc điểm của lao động là người giúp việc gia đình 6

1.2 Nội dung pháp luật đối với lao động là người giúp việc gia đình 7

1.2.1 Khái niệm pháp luật đối với lao động là người giúp việc gia đình 8

1.2.2 Quy định của pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình 9

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 12

2.1 Thực trạng về lao động là người giúp việc gia đình 12

2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về lao động là người giúp việc gia đình .13

2.2.1 Về hợp đồng lao động 13

2.2.2 Về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 17

2.2.3 Về điều kiện làm việc, chế độ sinh hoạt 19

2.2.4 Về quản lý, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động 22

2.3 Kiến nghị về định hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật 25

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái quát về lao động là người giúp việc gia đình

1.1.1 Khái niệm về lao động là người giúp việc gia đình

“Lao động giúp việc gia đình” đã từng tồn tại từ rất lâu ngay từ thời nô lệ vàphong kiến Ở xã hội đó, gần như các gia đình khá giả trên lên đều có lao độnggiúp việc gia đình thường được gọi là: nô lệ, gia nhân, gia nô, nô bộc, … nhưngtrong xã hội thời bấy giờ thì đây không được xem là một nghề họ bị hạn chế vềquyền hoặc không có bất cứ quyền nào Mà thậm chí họ chỉ được xem như làmột loại “tài sản” Trong xã hội tư bản, thì đây được xem là một công việc Cònhiện nay, khi mà nên kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về giúp việc trongcác gia đình ngày càng tăng Vì vậy lao động là người giúp việc gia đình đã đượctrở thành một nghề và được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận như:Philippines, Pháp, Campuchia, … Trong mối quan hệ lao động này, người laođộng và người sử dụng lao động đều bình đẳng và nguyên tắc của quan hệ này làthỏa thuận, bình đẳng, tôn trọng nhau giữa các chủ thể Định nghĩa về lao động

là người giúp việc gia đình thì chưa có sự thống nhất trên thế giới, mà các quốcgia quy định khác nhau trong pháp luật của nước mình

Đầu tiên, là tại luật lao động Philippines Chương 141 luật lao độngPhilippines định nghĩa: lao động giúp việc gia đình hay dịch vụ giúp việc giađình là dịch vụ thực hiện tại nhà của người thuê, theo nhu cầu, mong muốn vềviệc bảo trì nhà cửa và hưởng thụ, bao gồm cả việc chăm nom cho sự thoải máicủa các thành viên trong gia đình của người thuê1 Ở Campuchia, Điều 4 Bộ LuậtLao động định nghĩa người lao động giúp việc gia đình như sau: Người lao độnggiúp việc là những người được thuê để làm các công việc chăm sóc chủ nhà hoặctài sản của chủ nhà để đổi lấy thù lao Nhóm người này bao gồm người giúpviệc, bảo vệ, tài xế, người làm vườn và các nghề nghiệp tương tự khác miễn là

có một “chủ nhà” thuê họ để làm việc trực tiếp tại nhà của mình2

1 Trần Linh Trang, Pháp luật về lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2015.

2 Trần Linh Trang, Pháp luật về lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2015.

Trang 5

Trong Pháp luật Pháp có định nghĩa về lao động giúp việc gia đình tại Khoản

1 Điều L7221 Bộ Luật Lao Động Pháp như sau: “Lao động giúp việc gia đình là

một người được thuê làm công việc gia đình cho các cá nhân” Không những thế

để làm rõ hơn về định nghĩa này thì tại Điều 1 Thỏa ước lao động quốc gia Pháp

đã mô tả lao động giúp việc gia đình như sau: Bản chất đặc biệt của nghề nghiệpnày là làm việc tại nhà riêng của người sử dụng lao động giúp việc gia đình Laođộng giúp việc gia đình có thể làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian, thựchiện tất cả hoặc một phần công việc nhà chẳng hạn liên quan tới vệ sinh…Người sử dụng lao động giúp việc gia đình không thu được lợi nhuận thông quacông việc này

Qua tìm hiểu pháp luật các quốc gia về lao động giúp việc gia đình có thểthấy rằng thuật ngữ này không chỉ một công việc cụ thể nhất định mà nó là baogồm nhiều công việc khác nhau trong các công việc gia đình Nhìn chung ta cóthể thấy hai tiêu chí để xem xét thế nào gọi là lao động giúp việc gia đình nhưsau:

Thứ nhất, lao động giúp việc gia đình là lao động được sử dụng để làm các

công việc trong gia đình mang tính chất giúp đỡ các hoạt động sinh hoạt của giađình Đó là những công việc chẳng hạn như: nấu ăn, dọn dẹp vệ sinh nhà cửa,giặt giũ, trông trẻ, chăm sóc người già, …

Thứ hai, Người sử dụng lao động là lao động giúp việc gia đình không được

phép thu lợi nhuận thông qua công việc này Có thể hiểu tiêu chí này là người sửdụng lao động không được phép sử dụng người lao động vào các công việc liênquan đến hoạt động thương mại

Qua hai tiêu chí nêu trên có thể định nghĩa lao động giúp việc gia đình nhưsau:

“Lao động giúp việc gia đình là lao động thực hiện các công việc trong gia đình mang tính chất giúp đỡ hoạt động sinh hoạt của gia đình Và người sử dụng lao động không được phép thu lợi nhuận từ công việc này”.

1.1.2 Đặc điểm của lao động là người giúp việc gia đình

Phân loại lao động giúp việc gia đình

Chúng ta có thể phân loại LĐGVGĐ theo thời gian làm việc

Trang 6

Nhóm một, người LĐGVGĐ làm việc theo hình thức không xác định thời

gian Trong loại hình lao động này, người lao động thường ở chung với chủ hộđược chủ hộ nuôi ăn, ở và được trả lương theo tháng

Nhóm hai, người LĐGVGĐ làm việc theo hình thức xác định thời gian.

Người LĐGVGĐ còn có thể làm việc theo giờ thỏa thuận, điều đó có nghĩa là họkhông ở chung với chủ hộ Công việc thực hiện được yêu cầu rõ ràng, trả lươngtheo giờ hoặc theo khối lượng công việc Ở hình thức này người LĐGVGĐ cóthể thực hiện công việc cho nhiều hộ gia đình khác nhau

Đặc điểm của lao động là người giúp việc gia đình

Qua quan sát dưới nhiều góc độ khác nhau có thể thấy LĐGVGĐ có nhiềuđặc điểm để phân biệt so với một số loại lao động khác Ví dụ như về độ tuổi,trình độ học vấn, chuyên môn, … Có bốn đặc điểm chính sau đây về LĐGVGĐ

Thứ nhất, về độ tuổi LĐGVGĐ có tất cả các nhóm từ 15 đến 60 tuổi, tuy

nhiên tập trung chủ yếu ở độ tuổi trung niên từ 40 trở lên Bởi lẽ ở độ tuổi nàyphần lớn họ đã có con cái lớn và đến tuổi lao động do đó họ điều kiện thoát lygia đình để đi làm xa, hơn nữa nhiều gia đình cũng thích thuê lao động ở độ tuổinày vì họ có thể ở lại với gia đình lâu hơn và có kinh nghiệm làm việc gia đìnhcũng như chăm sóc các thành viên trong gia đình tốt hơn Bên cạnh đó, có một

bộ phận là những người ở ngoài độ tuổi lao động tham gia vào thị trường laođộng này nhưng thường không được “ưa chuộng” vì nhóm người này thường cósức khỏe yếu, nắm bắt công việc chậm không làm được công việc nặng nênnhiều hộ gia đình có tâm lí ngại thuê người già vì hay đau ốm và bất tiện khi đểngười già chăm sóc gia đình Và chỉ ít độ tuổi 16 -18, sở dĩ ở độ tuổi này ở nôngthôn đa phần các em gái thường không còn đi học nên khi gia đình khó khăn thì

để có thêm thu nhập thì các em tranh thủ làm thêm nghề giúp việc gia đình, đốitượng này có cơ hội tham gia loại hình lao động bởi dễ bảo, học việc nhanh và

có thể chơi và trông em nhỏ, tuy nhiên nhóm này thường trở lại quê nhà lập giađình hoặc có mong muốn tìm kiếm một công việc khác khi đến 19-20 tuổi nêntâm lí nhiều gia đình không muốn thuê đối tượng này vì tính ổn định thấp và dễphát sinh nhiều vấn đề phức tạp vì chưa đến tuổi trưởng thành như trộm cắp, dễ

bị kẻ xấu lợi dụng, xúi giục, quan hệ bất chính với chủ nhà,… Như vậy, nhómlao động từ 40-55 là nguồn tiềm năng cho nhu cầu LĐGVGĐ

Trang 7

Thứ hai, về trình độ học vấn những thành phần tham gia vời mối quan hệ lao

động này thường là những người có trình độ học vấn thấp Quan niệm xưa naythường xem LĐGVGĐ được coi là công việc thấp hèn và thường chỉ có nhữngngười sống ở nông thôn và có trình độ học vấn thấp mới làm công việc này.Những quan niệm về nghề giúp việc gia đình chỉ dành cho người nông thôn, cótrình độ học vấn thấp và kỹ năng giao tiếp hạn chế là những điểm khá đặc trưngcủa phần lớn người LĐGVGĐ Hiện nay trong xã hội cũng xuất hiện thêm một

số người LĐGVGĐ có trình độ cao như sinh viên đại học đi làm LĐGVGĐ theogiờ tại các gia đình người nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ có lượng ítnhưng có thể thấy đây cũng là một công việc đem lại thu nhập cao so với nhiềungành nghề khác và hứa hẹn có nhiều thành phần lao động ở nhiều trình độ khácnhau muốn gia nhập

Thứ ba, Về điều kiện gia đình có thể thấy đa số người lao động lựa chọn công

việc là do kinh tế khó khăn Họ đi làm để có thêm thu nhập vì tiền công nhậnđược từ LĐGVGĐ tương đối ổn định giúp họ trang trải các nhu cầu của gia đình

và cá nhân

Thứ tư, Về đào tạo chuyên môn phần lớn người LĐGVGĐ ở nước ta chưa có

qua đào tạo nghề Đa phần những trường hợp được đào tạo để đi giúp việc chogia đình ở nước ngoài

Tóm lại, đa phần là người LĐGVGĐ đều có những đặc điểm chung về độtuổi, đặc trưng giới tính, trình độ văn hóa không cao, có hoàn cảnh xuất thân đặcbiệt Chính những đặc thù này đã tạo nên nét đặc trưng trong đối tượng lao độngcần được bảo vệ này

1.2 Nội dung pháp luật đối với lao động là người giúp việc gia đình

Pháp luật Việt Nam đã có những ghi nhận về lao động giúp việc gia đình Ở

Bộ Luật Lao động 1994, đã đề cấp đến vấn đề này tại các Điều 2, Điều 28, Điều

139 nhưng vẫn còn khá mơ hồ chưa được rõ ràng và cũng như chưa được hướngdẫn cụ thể Nhưng ở Bộ Luật Lao động 2012 thì lao động giúp việc gia đình đãđược quy định một cách rõ ràng từ khái niệm đến nghĩa vụ của các bên khi thamgia quan hệ lao động này Không những thế tại năm 2014, các vấn đề về laođộng giúp việc gia đình được hướng dẫn một các cụ thể bởi các Thông tư và

Trang 8

Nghị định đi kèm Với sự thay đổi của pháp luật này, lao động giúp việc gia đìnhđược công nhận như một nghề Và xã hội cũng có nhìn nhận khác về nhữngngười là lao động giúp việc gia đình.

1.2.1 Khái niệm pháp luật đối với lao động là người giúp việc gia đình

Ở pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “Lao động là người giúp việc gia đình”được định nghĩa là người lao động thực hiện các công việc trong gia đình củamột hay nhiều hộ gia đình khác nhau một cách thường xuyên Với định nghĩanày ta thấy rằng nhà làm luật không hạn chế phạm vi thực hiện công việc củangười LĐGVGĐ, họ có thể làm việc cho một hoặc nhiều hộ gia đình Quy địnhnày tạo điều kiện cho họ nâng cao thu nhập từ đó cải thiện cuộc sống Bởi vì đa

số những người lựa chọn công việc giúp việc gia đình thường có hoàn cảnh khókhăn hoặc không có trình độ chuyên môn, và công việc này mang lại thu nhậptương đối ổn định cho họ Hơn nữa cũng sẽ có một số trường hợp họ chỉ thựchiện công việc giúp việc gia đình ở một khoản thời gian trong ngày, đây khôngphải là công việc duy nhất của họ, nên pháp luật đã tạo điều kiện để họ tận dụngthời gian đó để lao động giúp việc cho gia đình khác Các công việc mà ngườiLĐGVGĐ có thể làm nhiều công việc như: nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chămsóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho

hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại Xuất phát từ bảnchất của công việc giúp việc gia đình, đó chỉ đơn thuần là các công việc với mụcđích chăm sóc gia đình về ăn uống, sinh hoạt,… chứ không nhằm mục đích tạo

ra thu nhập cho người sử dụng lao động nên người LĐGVGĐ sẽ không làm cáccông việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh tạo ra lợi nhận hoặc cạnh tranh trênthị trường

Ngoài ra pháp luật lao động còn quy định người làm công việc trong gia đìnhtheo hình thức khoán việc không được xem là lao động giúp việc gia đình.BLLĐ có quy định này do tính chất công việc của lao động giúp việc gia đình làlàm việc thường xuyên.Tính thường xuyên ở đây không phải là tình trạng lặp đilặp lại trong một chu kỳ làm việc mà phải là tính chất lặp đi lặp lại liên tục hằngngày của công việc Công việc của người LĐGVGĐ mang tính chất ổn định,hàng ngày họ có mặt thực hiện nghĩa vụ với tính chất làm công ăn lương và đượcbiên chế vào thành phần sinh hoạt của gia đình Nhưng trong hình thức khoán

Trang 9

việc thì những công việc chỉ mang tính thời vụ diễn ra trong một thời điểm nhấtđịnh Chẳng hạn như một người lao động được thuê mướn theo hình thức cứ đếnmột ngày nhất định trong tháng lại thực hiện công việc nhất định sao đó lại dượcnhận một khoản tiền cho dịch vụ đó thì không được coi là LĐGVGĐ mà họ lànhững người làm việc theo hình thức khoán việc Việc thực hiện công việckhoán việc của họ được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự.

1.2.2 Quy định của pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình

Hiện nay, nhu cầu sử dụng lao động giúp việc gia đình ngày càng tăng cao.Tuy nhiên trong một thời gian dài lao động giúp việc gia đình được xem như mộtcông việc không được xã hội tôn trọng Vì vậy, để làm cho người sử dụng laođộng có những hành vi và thái độ phù hợp với người lao động giúp việc gia đình,tạo những điều kiện thích hợp để người lao động giúp việc gia đình hoàn thànhtốt công việc của mình, cũng như ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên Bộluật Lao động đã có những quy định riêng về lao động là người giúp việc giađình

Thứ nhất, đó là vấn đề hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc

gia đình Nhằm cụ thể hóa về quyền và nghĩa vụ vủa các bên, tạo cơ sở cho việcgiải quyết các tranh chấp, BLLĐ 2012 đã có sự thay đổi so với BLLĐ 1994 vềhình thức của hợp đồng LĐGVGĐ BLLĐ 2012 buộc hợp đồng lao động củaquan hệ này phải được lập thành văn bản Tức là về mặt hình thức hợp đồng nàyphải được lập thành văn bản chứ không như BLLĐ 1994 thì không bắt buộc vềmặt hình thức Trên cơ sở tôn trọng sự thỏa thuận của hai bên, BLLĐ 2012 chophép hai bên tự thỏa thuận thời hạn hợp đồng lao dộng Có thể hiểu là các bên cóthể lựa chọn giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng laođộng xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việcnhất định có thời hạn dưới 12 tháng Tiếp theo là về nội dung của hợp đồng, hìnhthức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hàng ngày, chỗ ở là những nộidung cần ghi rõ trong hợp đồng Nội dung cụ thể của hợp đồng được ghi nhận tạicác văn bản hướng dẫn thi gồm: thông tin cá nhân của các bên ký hợp đồng laođộng; công việc và địa điểm làm việc; thời hạn của hợp đồng lao động; tiềnlương; tiền thưởng (nếu có); thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trang bị bảo

hộ lao động; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; ăn và chỗ ở của người lao động;

Trang 10

tiền tàu xe về nơi cư trú khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng thời hạn; hỗ trợhọc nghề, văn hóa (nếu có); trách nhiệm bồi thường của người lao động; nhữnghành vi nghiêm cấm.

Thứ hai, đó là về vấn đề quyền và nghĩa vụ của người sử dụng LĐGVGĐ và

người LĐGVGĐ Khi hợp đồng lao động được ký kết sẽ làm phát sinh quyền và

nghĩa vụ của các bên Đây có thể gọi là “quyền và nghĩa vụ đối ứng”3 Nghĩa vụđầu tiên phải được nhắc đến của người sử dụng LĐGVGĐ là: Thực hiện đầy đủthỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động Các thỏa thuận này có thể làthỏa thuận về thời hạn thực hiện hợp đồng; thỏa thuận về tiền lương, hình thứctrả lương, kỳ hạn trả lương; thỏa thuận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ tết Cũng như đối với các lao động khác, để đảmbảo cuộc sống về già hoặc không có thu nhập, đồng thời được chăm sóc sứckhỏe khi đau ốm, bệnh tật của người LĐGVGĐ, người sử dụng LĐGVGĐ cónghĩa vụ trả cho người LĐGVGĐ một khoản tiền theo quy định của pháp luật để

họ tự lo đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Bên cạnh đó người sử dụngLĐGVGĐ phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình.Người sử dụng LĐGVGĐ phải bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh cho ngườigiúp việc gia đình, nếu có thỏa thuận.Tạo điều kiện cho người giúp việc gia đìnhđược tham gia học văn hóa, học nghề Trả tiền tàu xe cho người LĐGVGĐ để họtrở về nơi cư trú, tuy nhiên họ sẽ không được thanh toán chi phí này nếu họ kếtthúc hợp đồng lao động trước thời hạn Đây là những quyền lời đáp ứng các nhucầu cơ bản nhất mà người sử dụng LĐGVGD phải đáp ứng cho ngườiLĐGVGĐ Luật cũng quy định một bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐbất kỳ lúc nào nhưng phải thông báo trước 15 ngày Vì đây là quyền và nghĩa vụđối ứng, tuy BLLĐ không quy định nhưng ta có thể thấy rằng người LĐGVGĐ

sẽ có những quyền tương ứng với những nghĩa vụ của người sử dụng LĐGVGĐ

đã nêu trên Bên cạnh đó người LĐGVGĐ cũng có những nghĩa vụ nhất địnhgồm bốn nghĩa vụ chính trong đó có một nghĩa vụ mà pháp buộc thực hiện đểbảo vệ chính người LĐGVGĐ Nghĩa vụ của họ được quy định cụ thể tại BLLĐ

2012 Cụ thể là:Thực hiện đầy đủ thỏa thuận hai bên đã ký kết trong hợp đồnglao động Trong quá trình người LDGVGĐ làm việc nếu họ làm hư hỏng, mấtmát tài sản của người sử dụng LĐGVGĐ thì phải bồi thường theo thỏa thuận

3 Quyền và nghĩa vụ đối ứng: Là quyền của bên này sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Và ngược lại.

Trang 11

hoặc theo quy định của pháp luật Nghĩa vụ tiếp theo là thông báo kịp thời chongười sử dụng lao động về những khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn,sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng LĐGVGĐ và bản thân.Cuối cùng là tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng LĐGVGĐ cóhành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc hành vi trái phápluật khác Ở đây quấy rối tình dục có thể hiểu là hình thức quấy nhiễu hướng tớigiới tính của người có liên quan, còn cưỡng bức lao động cũng được định nghĩatại BLLĐ 2012 như sau: Cưỡng bức lao động là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lựchoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ Quyđịnh này đã chuyển từ quyền thành nghĩa vụ để bắt buộc người LĐGVGĐ phải

tố giác các hành vi đó của người sử dụng LĐGVGĐ với cơ quan có thẩm quyền.Mục đích của của quy định này là để bảo vệ chính người LĐGVGĐ, người có vịtrí yếu thế hơn trong quan hệ lao động này và tạo cho họ một môi trường làmviệc tốt nhất Bên cạnh đó với mục đích tạo môi trường tốt nhất này cho ngườiLĐGVGĐ BLLĐ 2012 còn ghi nhận những hành vi nghiêm cấm đối với người

sử dụng LĐGVGĐ như sau: Nghiêm cấm ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡngbức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình Giaoviệc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động Giữ giấy tờ tùythân của người lao động

Như vậy có thể thấy những quy định của pháp luật về LĐGVGĐ ngày càng

cụ thể, xóa bỏ đi sự mơ hồ trước đó về khái niệm, hợp đồng, hay cả quyền vànghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ lao động này

Trang 12

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI

GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng về lao động là người giúp việc gia đình

Trên thực tế, nghề LĐGVGĐ mang lại thu nhập tương đối ổn định cho ngườilao động, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy, sử dụngngười giúp việc là nhu cầu nhất thiết của nhiều gia đình, nhất là tại các đô thịlớn Bởi thế, lực lượng lao động này tăng nhanh trong những năm gần đây.Theo thống kê chưa đầy đủ, lao động giúp việc gia đình tăng từ 157 nghìn ngườinăm 2008 lên 246 nghìn người năm 2016, dự báo đến năm 2020, cả nước cókhoảng 350 nghìn người4 Hiện nay, người LĐGVGĐ chủ yếu ở độ tuổi trungniên (36-55 tuổi) Bên cạnh đó, có một bộ phận đáng kể là những người ở ngoài

độ tuổi lao động (trên 55 tuổi) tham gia vào thị trường lao động này Theo kếtquả điều tra của IFGS5 2011, có 61,5% người LĐGVGĐ ở độ tuổi 36-55, 23,8%người lao động ở độ tuổi 35 trở xuống; 14,8% người lao động ở độ tuổi 56 trởlên Các kết quả nghiên cứu về giúp việc gia đình tại Việt Nam thời điểm 2015đều có chung nhận định: lao động giúp việc gia đình chủ yếu là nữ giới Nhìnchung, người lao động giúp việc gia đình có trình độ học vấn không cao Phầnlớn có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống Theo kết quả điều tra tại Hà Nội và

TP HCM của IFGS, 2011 có 85,7% người lao động có trình độ học vấn THCStrở xuống Tỷ lệ người lao động có trình độ tiểu học trở xuống là 31,8% Tỷ lệtương ứng theo điều tra của GFCD, 2012 là 84,6% và 22% Lao động giúp việcgia đình là lĩnh vực có sự tham gia của lao động chưa thành niên, trong đó phầnnhiều là nữ giới Kết quả điều tra của IFGS cho biết trong số 371 người lao động

nữ, có 3% ở độ tuổi 16-186 Tuy là công việc không quá khó nhưng giúp việc giađình đòi hỏi người lao động phải có nhiều kỹ năng về các công việc trong gia

4

Nghề giúp việc gia đình: Nhiều vấn đề cần giải quyết, laodongxanha.net, 2017.

5 Viện nghiên cứu gia đình và giới (Institute For Family and Gender Studies).

6

Tình hình Lao động giúp việc gia đình, gfcd.org.vn, 2015.

Trang 13

đình Người lao động hiện nay chưa đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu củanghề Theo trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng cho biết,LĐGVGĐ có tới hơn 90% của qua đào tạo.

Có thể thấy LĐGVGĐ ở nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu về loại laođộng này cũng tăng cao và có những nhìn nhận khác nhau từ xã hội nhưng chưađầy đủ Tuy công việc này bình đẳng như các nghề khác, sự đóng góp cho sựphát triển của xã hội là đáng kể nhưng nghề này vẫn chưa được nhiều ngườitrong xã hội xem trọng, và được gắn với tên thường gọi “ Ô Sin”

2.2 Quy định của pháp luật Việt nam về lao động là người giúp việc gia đình

Tuy pháp luật lao động hiện nay quy định rất cụ thể về vấn đề LĐGVGĐ Vớicác quy định tại BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn đi kèm thì quy định củavấn đề này đã rất rõ ràng và có những hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện.Nhưng việc thực hiện trên thực tế vần còn rất nhiều khó khăn và bấp cập Đặcbiệt là các cơ qua có thẩm quyền gặp khó khăn trong vần đề quản lý quan hệ laođộng này

2.2.1 Về hợp đồng lao động

HĐLĐ là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người lao động vàngười sử dụng lao động HĐLĐ đối với LĐGVGĐ là sự thỏa thuận giữa ngườilao động làm công việc giúp việc giúp cho gia đình với người sử dụng lao động

về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bêntrong quan hệ lao động Sau đây là quy định của pháp luật cũng như yêu cầu vềhợp động lao động đối với người giúp việc

Trước khi kí kết HĐLĐ, người sử dụng và người lao động có thể thỏa thuận

về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ hai bên trong thời gian thử việc và kết thúc thờigian thử việc theo quy định BLLĐ Thời gian thử việc không quá 06 ngày làmviệc Hai bên chỉ được thỏa thuận về việc làm thử đối với công việc thườngxuyên phải làm khi ký HĐLĐ Tiền lương trong thời gian thử việc bằng 85%mức lương đã thỏa thuận, trường hợp chưa thỏa thuận được mức tiền thì mứctiền lương trong thời gian thử việc ít nhất bằng 85% mức lương tối thiểu vùng tại

Trang 14

địa bàn nơi người lao động làm việc Thực tế có rất nhiều trường hợp người sửdụng lao động vi phạm quy định này như: yêu cầu người LĐGVGĐ thử việc dàihơn so với quy định 06 ngày như 10 ngày, 15 ngày hay thậm chí là 1 tháng;không trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc; không ký HĐLĐbằng văn bản với LĐGVGĐ khi đã hết thời gian thử việc mặc dù vẫn tiếp tục sửdụng người lao động.

Theo quy định Nghị định 27/2014/NĐ-CP hợp đồng lao động đối vớiLĐGVGĐ bắt buộc phải được lập thành văn bản Tuy nhiên, các quy định phápluật về HĐLĐ với LĐGVGĐ vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc gây tranh cãi vàthiếu khả thi trên thực tế Trên thực tế, đa số HĐLĐ với LĐGVGĐ được giao kếtbằng lời nói Bởi vì, phần lớn người LĐGVGĐ là phụ nữ nông thôn, thường lạichính là những người có quan hệ đồng hương, quan hệ họ hàng với gia đình sửdụng lao động, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, cộng thêm tâm lý, thói quen giảiquyết các quan hệ bằng tình cảm nên họ không biết hoặc không muốn ký hợpđồng lao động Theo khảo sát của GFCD, có trên 90% HĐLĐ là thỏa thuậnmiệng giữa người giúp việc và chủ hộ Khi được hỏi về ý định giao kết HĐLĐbằng văn bản thì chỉ có 48,6% LĐGVGĐ có ý định ký hợp đồng bằng văn bảnvới người lao sử dụng lao động7

7 Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng (2013), Báo cáo tóm tắt: Tổng quan tình hình lao động giúp việc gia đình tại Việt nam từ năm 2007 đến nay, Hà Nội.

Ngày đăng: 06/07/2023, 21:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w