1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh nhân vật Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong truyện Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây

20 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh nhân vật Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong truyện Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học dân gian
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 364,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Những mẩu chuyện được lưu truyền về kiểu nhân vật thông minh, lém lỉnh không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam (như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ,...) mà còn ở nhiều quốc gia khác (như Th’Mênh Chây ở Campuchia hay Xiêng Miệng của Lào, Sung Khâm Tu ở miền Bắc Thái Lan, hay Roman de Renart ở Pháp). Ở Việt Nam, Truyện Trạng Quỳnh mô tả nhân vật cùng tên thông minh, hay chữ nhưng chủ động từ bỏ hoạn lộ, chọc phá Chúa, nhiều lần ứng biến được thử thách của sứ thần bang giao. Còn ở Campuchia, Th’Mênh Chây được khắc họa là con người sáng dạ, luôn trót lọt thông qua những thử thách của Chúa đất, vua lẫn sứ thần Trung Hoa. Cả Trạng Quỳnh lẫn Th’Mênh Chây đều là những nhân vật thuộc vào văn học dân gian, được dân gian đắp nặn, lưu truyền nhằm thể hiện mong muốn, ý chí của mình. Qua so sánh Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, nhóm nghiên cứu nhận thấy vài nét tương đồng cơ bản về hành động, xuất thân,... giữa hai nhân vật trung tâm, cũng như đặt vấn đề về vai trò lịch sử của hai nhân vật trên trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc và lịch sử văn học thế giới. Đó chính là lý do nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “So sánh nhân vật Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong truyện Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây”. 1.2. Mục đích Lý giải vai trò của hai nhân vật trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong văn học Việt Nam, Campuchia. Nhìn nhận được vị trí của hai nhân vật trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong văn học thế giới. 4 1.3. Đối tượng so sánh Khảo sát hai nhân vật ở những đặc điểm nổi bật về tính dân tộc và tính quốc tế của nó. 1.4. Phương pháp so sánh loại hình Văn học so sánh ra đời như một “bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” (Nguyễn Văn Dân, 2003, tr.1819). Văn học so sánh là sự nghiên cứu các hiện tượng thuộc các nền văn học khác nhau. Mục đích của văn học so sánh là làm sáng tỏ bản chất, lịch sử và giá trị của văn học bằng cách so sánh các hiện tượng văn học thuộc các nền văn học khác nhau trong mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp. Các mối quan hệ quốc tế của văn học là đối tượng được văn học so sánh quan tâm hàng đầu, dẫn đến nhu cầu tìm hiểu về tiến trình văn học trên phạm vi rộng mang tính quốc tế. Ban đầu, việc nghiên cứu mối quan hệ của văn học chỉ nằm trong phạm vi của một nền văn học, nhưng về sau thì việc nghiên cứu đã tiến đến các nền văn học trên thế giới. Mối quan hệ quốc tế được hiểu là mối quan hệ giữa hai hay nhiều nước với nhau. Trong văn học, mối quan hệ quốc tế là nói đến hai hiện tượng thuộc hai nền văn học khác nhau có quan hệ tiếp xúc trực tiếp ảnh hưởng, giao lưu hay quan hệ song song loại hình không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Từ mối quan hệ của hai hiện tượng, ta tìm ra được điểm giống nhau và khác nhau của hai hiện tượng và lý giải sự giống và khác nhau đó. Từ đó, ta sẽ đưa ra những quy luật chung phát triển trên bình diện thế giới và tính độc đáo của văn chương, đặc thù của từng dân tộc. Bên cạnh đó, một tác phẩm không thể tồn tại độc lập và chỉ được nghiên cứu trong phạm vi của một nước mà còn phải tìm hiểu nhiều yếu tố khác ngoài phạm vi của một nước, ta có thể so sánh với các tác phẩm ngoài nước để thấy được vị trí của tác phẩm trong văn học thế giới. Đồng thời, việc nghiên cứu văn học trên bình diện quốc tế để một nền văn học góp phần hòa mình vào quá trình hội nhập quốc tế. 5 So sánh loại hình là nghiên cứu so sánh hai hiện tượng văn học không có ảnh hưởng giao lưu trực tiếp, trên bất cứ phương diện nào như đề tài, chủ đề, văn thể, phong cách, hình tượng, trường phái, lý luận, lịch sử phát triển,... để rút ra điểm tương đồng và những nét khu biệt. Tựu trung lại, loại so sánh này tập trung vào vấn đề xác định bản chất của mối quan hệ so sánh, tìm ra tính tất yếu, quy luật phát triển của văn học trên bình diện toàn thế giới. So sánh loại hình không hướng tới việc sắp đặt hơn thua giữa các tác phẩm, giữa các nền văn học, mà mong muốn làm rõ và lý giải mỗi tác phẩm thể hiện không khí thời đại của nó, bản thân văn chương trước hết đã phục vụ cho không gian, thời gian sinh thành ra nó. Nghiên cứu so sánh đặt vấn đề nhằm xác định tính quốc tế dân tộc của một hiện tượng văn học. Nhiều hiện tượng văn học trên thế giới có sự tương đồng dù khó có sự gặp gỡ trực tiếp như: sử thi Ramayana, Mahabharata ở Ấn Độ hay Trường ca Iliad, Odysseus của Hy Lạp đều phát triển tạo nên những thành tựu rực rỡ cho hai nền văn minh, văn hóa lớn của nhân loại; hay thể loại truyện thơ không hề tồn tại hay phát triển gì ở Trung Quốc, trong khi Việt Nam, vốn là đất nước vốn chịu ảnh hưởng từ văn hóa, văn học phương Bắc từ lâu đời lại tạo nên sự khác biệt, đặc sắc của văn học mình qua nhiều câu chuyện được thuật lại theo lối trữ tình, được yêu thích rộng khắp như Xống Chụ Xôn Xao, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều. Mặt khác truyện thơ cũng là thể loại thành công của vùng Đông Nam Á này. Tóm lại, so sánh loại hình lịch sử chủ trương lý giải việc bối cảnh thời đại đã ảnh hưởng đến kiểu văn chương và kiểu nhân vật nhằm làm xuất hiện, thúc đẩy các thể loại văn học hình thành. Nghiên cứu văn học từ góc độ loại hình giúp các khía cạnh trong tác phẩm văn học được xem xét trên cả hai bình diện đồng đại lịch đại, quan đó lý giải tính quốc tế dân tộc của hai tác phẩm, cũng như hai nền văn học sinh thành ra nó. 6 2. NỘI DUNG 2.1. Sơ lược về truyện Trạng Quỳnh và Th’mênh Chây 2.1.1. Truyện Trạng Quỳnh

Trang 1

MỤC LỤC

1 PHẦN MỞ ĐẦU 3

1.1 Lý do chọn đề tài 3

1.2 Mục đích 3

1.3 Đối tượng so sánh 4

1.4 Phương pháp so sánh loại hình 4

2 NỘI DUNG 6

2.1 Sơ lược về truyện Trạng Quỳnh và Th’mênh Chây 6

2.1.1 Truyện Trạng Quỳnh 6

2.1.2 Truyện Th’Mênh Chây 6

2.2 Truyện Trạng là một thể loại hay một kiểu truyện 7

2.3 Quỳnh và Chây những kẻ ngụp lặn giữa những đường biên 8 2.3.1 Đường biên giữa triều đình và quần chúng 8

2.3.2 Đường biên giữa nước lớn và nước nhỏ 14

2.4 Lý giải 16

2.4.1 Về điểm chung 16

2.4.2 Về điểm khác biệt 17

3 TẠM KẾT 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ 22

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Những mẩu chuyện được lưu truyền về kiểu nhân vật thông minh, lém lỉnh không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam (như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ, ) mà còn ở nhiều

quốc gia khác (như Th’Mênh Chây ở Campuchia hay Xiêng Miệng của Lào, Sung Khâm

Tu ở miền Bắc Thái Lan, hay Roman de Renart ở Pháp)

Ở Việt Nam, Truyện Trạng Quỳnh mô tả nhân vật cùng tên thông minh, hay chữ

nhưng chủ động từ bỏ hoạn lộ, chọc phá Chúa, nhiều lần ứng biến được thử thách của sứ thần bang giao Còn ở Campuchia, Th’Mênh Chây được khắc họa là con người sáng dạ, luôn trót lọt thông qua những thử thách của Chúa đất, vua lẫn sứ thần Trung Hoa Cả Trạng Quỳnh lẫn Th’Mênh Chây đều là những nhân vật thuộc vào văn học dân gian, được dân gian đắp nặn, lưu truyền nhằm thể hiện mong muốn, ý chí của mình

Qua so sánh Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, nhóm nghiên cứu nhận thấy

vài nét tương đồng cơ bản về hành động, xuất thân, giữa hai nhân vật trung tâm, cũng như đặt vấn đề về vai trò lịch sử của hai nhân vật trên trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc và lịch sử văn học thế giới

Đó chính là lý do nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “So sánh nhân vật

Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong truyện Truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây”

1.2 Mục đích

Lý giải vai trò của hai nhân vật trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong văn học Việt Nam, Campuchia

Nhìn nhận được vị trí của hai nhân vật trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây trong văn học thế giới

Trang 3

1.3 Đối tượng so sánh

Khảo sát hai nhân vật ở những đặc điểm nổi bật về tính dân tộc và tính quốc tế của

1.4 Phương pháp so sánh loại hình

Văn học so sánh ra đời như một “bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” (Nguyễn Văn Dân, 2003, tr.18-19) Văn học so sánh là sự nghiên cứu các hiện tượng thuộc các nền văn học khác nhau Mục đích của văn học so sánh là làm sáng tỏ bản chất, lịch sử và giá trị của văn học bằng cách so sánh các hiện tượng văn học thuộc các nền văn học khác nhau trong mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp Các mối quan

hệ quốc tế của văn học là đối tượng được văn học so sánh quan tâm hàng đầu, dẫn đến nhu cầu tìm hiểu về tiến trình văn học trên phạm vi rộng mang tính quốc tế Ban đầu, việc nghiên cứu mối quan hệ của văn học chỉ nằm trong phạm vi của một nền văn học, nhưng

về sau thì việc nghiên cứu đã tiến đến các nền văn học trên thế giới Mối quan hệ quốc tế được hiểu là mối quan hệ giữa hai hay nhiều nước với nhau Trong văn học, mối quan hệ quốc tế là nói đến hai hiện tượng thuộc hai nền văn học khác nhau có quan hệ tiếp xúc trực tiếp ảnh hưởng, giao lưu hay quan hệ song song/ loại hình không tiếp xúc trực tiếp với nhau

Từ mối quan hệ của hai hiện tượng, ta tìm ra được điểm giống nhau và khác nhau của hai hiện tượng và lý giải sự giống và khác nhau đó Từ đó, ta sẽ đưa ra những quy luật chung phát triển trên bình diện thế giới và tính độc đáo của văn chương, đặc thù của từng dân tộc Bên cạnh đó, một tác phẩm không thể tồn tại độc lập và chỉ được nghiên cứu trong phạm vi của một nước mà còn phải tìm hiểu nhiều yếu tố khác ngoài phạm vi của một nước, ta có thể so sánh với các tác phẩm ngoài nước để thấy được vị trí của tác phẩm trong văn học thế giới Đồng thời, việc nghiên cứu văn học trên bình diện quốc tế để một nền văn học góp phần hòa mình vào quá trình hội nhập quốc tế

Trang 4

So sánh loại hình là nghiên cứu so sánh hai hiện tượng văn học không có ảnh hưởng giao lưu trực tiếp, trên bất cứ phương diện nào như đề tài, chủ đề, văn thể, phong cách, hình tượng, trường phái, lý luận, lịch sử phát triển, để rút ra điểm tương đồng và những nét khu biệt Tựu trung lại, loại so sánh này tập trung vào vấn đề xác định bản chất của mối quan hệ so sánh, tìm ra tính tất yếu, quy luật phát triển của văn học trên bình diện toàn thế giới

So sánh loại hình không hướng tới việc sắp đặt hơn thua giữa các tác phẩm, giữa các nền văn học, mà mong muốn làm rõ và lý giải mỗi tác phẩm thể hiện không khí thời đại của nó, bản thân văn chương trước hết đã phục vụ cho không gian, thời gian sinh thành

ra nó Nghiên cứu so sánh đặt vấn đề nhằm xác định tính quốc tế - dân tộc của một hiện tượng văn học

Nhiều hiện tượng văn học trên thế giới có sự tương đồng dù khó có sự gặp gỡ trực

tiếp như: sử thi Ramayana, Mahabharata ở Ấn Độ hay Trường ca Iliad, Odysseus của Hy

Lạp đều phát triển tạo nên những thành tựu rực rỡ cho hai nền văn minh, văn hóa lớn của nhân loại; hay thể loại truyện thơ không hề tồn tại hay phát triển gì ở Trung Quốc, trong khi Việt Nam, vốn là đất nước vốn chịu ảnh hưởng từ văn hóa, văn học phương Bắc từ lâu đời lại tạo nên sự khác biệt, đặc sắc của văn học mình qua nhiều câu chuyện được thuật lại

theo lối trữ tình, được yêu thích rộng khắp như Xống Chụ Xôn Xao, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều Mặt khác truyện thơ cũng là thể loại thành công của vùng Đông Nam Á này

Tóm lại, so sánh loại hình lịch sử chủ trương lý giải việc bối cảnh thời đại đã ảnh hưởng đến kiểu văn chương và kiểu nhân vật nhằm làm xuất hiện, thúc đẩy các thể loại văn học hình thành Nghiên cứu văn học từ góc độ loại hình giúp các khía cạnh trong tác phẩm văn học được xem xét trên cả hai bình diện đồng đại - lịch đại, quan đó lý giải tính quốc tế - dân tộc của hai tác phẩm, cũng như hai nền văn học sinh thành ra nó

Trang 5

2 NỘI DUNG

2.1 Sơ lược về truyện Trạng Quỳnh và Th’mênh Chây

2.1.1 Truyện Trạng Quỳnh

Trong quyển Truyện trạng, Tinh hoa văn học dân gian người Việt, quyển 1, truyện

Trạng Quỳnh gồm 66 truyện Trạng Quỳnh vốn thông minh từ trong bụng mẹ với nhiều tài

lẻ và đức tính tốt nên được mọi người quý mến Bất cứ mọi chuyện gì cậu cũng có thể giải quyết nhanh gọn lẹ, luôn được thầy và đám bạn cùng lứa kinh phục Khi lớn lên ông luôn chống lại những điều xấu xa của tầng lớp thống trị lẫn những tính xấu của dân gian Vì vậy, ông bị chúa căm thù và đầu độc, Với mưu trí của ông, chúa cũng ăn thử món ăn có độc và chết, Quỳnh chết nhưng cũng quyết không tha cho tên bạo chúa, nên mới có câu “Trạng chết, chúa cũng băng hà”

2.1.2 Truyện Th’Mênh Chây

Truyện Th’mênh Chây tái hiện bối cảnh xã hội Campuchia ở các thế kỷ XVII đến

thế kỷ XIX Tác phẩm gồm 34 mẫu chuyện nhỏ gồm 6 truyện dành cho Sét Thây, 14 truyện

xử trí đối với vua,11 truyện nói về quan hệ với các sứ Trung Hoa và 3 truyện kể về quan

hệ của ông trạng với tần lớp nhân dân Mỗi mẫu chuyện sẽ là một tình huống, một sự kiện bất ngờ không kém phần hài hước đan xen những chân lý đời thực vốn có trong dân gian

Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh mẹ của Th’Mênh Chây có một giấc mơ tốt lành về đứa con trai của bà, và sau đó bà thực sự sinh ra một cậu bé được dự đoán là thông minh kháu khỉnh nhưng số mệnh phải làm nô lệ Từ nhỏ, Chây đã sớm hình thành trong con người mình tính cách sắc sảo cùng trí thông minh vẹn toàn Gần đó có ông chúa đất tên Sét Thây, sau một lần thua cuộc đấu trí với ông ta, Chây từ đó mà ôm lòng ấm ức và về xin mẹ cho phép đi làm nô lệ cho nhà chúa đất Từ đây muôn vàn câu chuyện dở khóc dở cười giữa Chây và chúa đất Sét Thây bắt đầu Muôn lần chúa đất thách đố tài trí của cậu và lần nào cũng thất bại và vẽ mặt thê thảm Ông ta năm lần bảy lượt tính kế hãm hại Chây nhưng đều thất bại Bất lực, chúa đất dâng Chây đến nơi tay Đức Vua, nhà Vua cũng vì nhiều lần thất bại khi thách đố Chây nên bèn nghĩ ra kế giết chết Chây Với tài trí thông minh lanh

Trang 6

lẹ của mình, cậu nhanh trí tẩu thoát và bỏ đi tu ở một ngôi chùa Đến một ngày nọ, xứ Trung Hoa khi biết được tin đồn rằng Chây đã chết, liền cho binh lính sang chiếm lấy vương quốc Khme, cùng lúc đó Chây trong trang phục của thầy tu trở về, liền giúp nhà vua chiến thắng sự thách đố của nước Tàu và giữ được vương quốc của mình Câu chuyện kết thúc, Th’mênh Chây chết và truyền lại đức tính thông minh tháo vát của mình cho nhà Vua

2.2 Truyện Trạng là một thể loại hay một kiểu truyện

Việc nên xem truyện trạng như một thể loại hay là một kiểu truyện ở Việt Nam đã

có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra Cái tên Trạng - được tạo thành bởi hệ thống Hán học ở Việt Nam thời phong kiến, tổng hợp từ những nhân vật gọi bằng danh hiệu này trong văn học dân gian, một hiện tượng mang tính dân tộc Nhân vật Trạng có thể phải trải qua thi cử hoặc không, họ nổi bật lên nhờ năng lực sử dụng ngôn ngữ

Theo chúng tôi việc xem truyện Trạng là một thể loại trong văn học dân gian hay là kiểu truyện thì cần nhìn nó rộng ra ngoài văn học dân tộc để thấy được một bức tranh tổng quan hơn Truyện trạng Việt Nam nếu bỏ qua những khác biệt mang tính địa phương thì ta

có thể thấy nó rất gần với một kiểu cổ mẫu là “trickster” “kẻ chơi khăm”

Kẻ chơi khăm là một kiểu nhân vật – một cổ mẫu xuất hiện trong rất nhiều trong văn hóa của các quốc gia Từ nền văn hóa Hi-La (Prometheus, Hermes (Mercury),…), đến các nền văn minh lưỡng hà và Ai Cập, Ấn Độ, Kẻ chơi khăm là một kẻ nằm giữa những đường biên của khái niệm, ngụp lặn, chơi đùa giữa những biên giới, giữa cái thiêng và phàm, cái tinh hoa và cái tục tĩu, dân gian và triều đình, v.v Nó là kẻ mang năng lực phá hủy và sáng tạo, đặt câu hỏi cho những quy ước, tập tục, lễ nghi, quyền lực, v.v về giá trị của chúng Kẻ chơi khăm thường khoác lên mình những hình dáng rất bên lề, yếu thế ở những lần hiện thân của nó trong các nền văn hóa: kẻ khờ, đứa trẻ, người bình dân, tên hề; trường hợp con vật thì có những con vật nhỏ yếu (thỏ, cáo, gà, …) nhưng lại có năng lực

Trang 7

thắng được những thứ được cho là mạnh mẽ ở trung tâm như: nhà vua, quan lại, người giàu,,… với con vật thì là sư tử, gấu, báo…

Nhân vật trạng Quỳnh và Th’mênh Chây đều có những đặc điểm trên Họ là kẻ từ chối quyền lực, đứng ở thế yếu và thắng được những người nằm ở trung tâm quyền lực, họ

đi xuyên qua những đường biên giữa trung tâm và ngoại vi, làm mờ nhòe nó, nỗ lực mở ra những trung tâm mới, những khả tính mới cho những thứ ngoài trung tâm

Từ điều trên chúng tôi cho rằng truyện trạng là một kiểu truyện trong văn học dân gian

2.3 Quỳnh và Chây những kẻ ngụp lặn giữa những đường biên

Những kẻ như Quỳnh và Chây luôn xuất hiện với nhiều thể tính, nếu nói những nhân vật này chỉ đại diện cho một phe là chưa đủ Nếu xét họ trong kiểu nhân vật kẻ chơi khăm thì ta có thể lấy một ví vụ mang tính hình tượng đó là người đi trên dây, anh ta phải luôn giữa được thăng bằng Nếu anh ta lệch qua bên phải thì để cân bằng lại anh phải dịch người qua bên trái và ngược lại

Vì vậy họ không theo một phe cố định nào cả, lúc thì họ có thể dùng tư cách dân gian để châm biếm vua, chúa, quan lại Lúc thì họ dùng thân phận những kẻ có học thức

và danh tiếng để chỉ ra những thói xấu của dân gian Họ làm mờ nhòe đi những đường biên bằng tiếng cười, cái cười có sức mạnh xuyên thấu biên giới, mở ra những cơ hội để nhìn nhận, đánh giá những vấn đề vốn được cho là cấm kị hay tục tĩu

2.3.1 Đường biên giữa triều đình và quần chúng

Nhân vật trạng Quỳnh

Trong Truyện Trạng Quỳnh, xuất hiện sự đả phá vua, Chúa ở những mẩu chuyện:

Chúa ngủ ngày, Tiên sư thằng bảo thái, Ngáy đèo,

Có lần Trạng bày với chúa một món ăn tên là “đại phong”, sẵn tính tò mò lại chưa từng ăn món đấy bao giờ, chúa cho Trạng chuẩn bị thức ăn ngay Nào ngờ lại sập bẫy của

Trang 8

Trạng, khi bị vua hỏi, Quỳnh giải thích: “Đại phong là gió to Gió to thì đổ chùa Đổ chùa thì tượng lo Tượng lo là lọ tương” Món “đại phong” thực chất chính là lọ tương mà người dân hay ăn mà thôi (Món “Đại phong” dâng Chúa)

Không chỉ am hiểu tục ngữ dân gian và điển tích, Quỳnh còn rành rọt và thường xuyên nói lái, chơi chữ và dùng từ Hán - Việt để châm biếm người khác, Trạng thường hay kích thích tính hiếu kỳ của chúa bằng tài năng ngôn ngữ của mình, khiến chúa nhiều lần bị

“sập bẫy”

Lần khác, Trạng vào hầu đương lúc chúa đang ngủ, bèn lấy bút viết lên tường chữ

“ngọa sơn” Lúc chúa thức dậy và tra hỏi thì Quỳnh mới giải thích: “Chữ “ngọa” nghĩa là nằm, mà nằm hẳn phải ngủ, mà ngủ tất là ngáy Chữ “sơn” nghĩa là núi, núi tất phải đèo, vậy hợp hai chữ lại là “ngáy đèo” ” Thế là chúa bị làm bẽ mặt trước cả triều đình quan

bá văn võ bằng tài nói lái tục của Trạng Quỳnh (Chúa ngủ ngày)

Có lần bị chúa bắt trói giữa sân rồng, biết chúa có tính tò mò nên Quỳnh bật cười khanh khách, chúa lại hỏi thì Quỳnh nói đang cười người đàn bà chửa, chúa không hiểu nên

cố gỏi cho bằng được thì bị Quỳnh chửi thẳng vào mặt: “Người đàn bà chửa ngủ với chồng

thì chẳng khác gì thằng ngoài đ… mẹ thằng trong, còn thằng trong thì bú c… thằng ngoài!”

Quỳnh dùng cách nói tục của dân gian để châm biếm chúa nhưng chúa chẳng thể bắt tội

Quỳnh được một lời nào nên đành ngậm đắng nuốt cay cho qua (Chửi chúa)

Thậm chí Trạng còn có tài làm thơ, nhưng thơ của Trạng là “thơ tục” Trong tiểu

truyện Mừng chúa thắng trận, thấy chúa Trịnh sau khi tuần du trở về cứ huênh hoang rằng

vừa thắng trận do đối phương bị quân ta đánh bất ngờ Trạng Quỳnh vốn chẳng ưa chúa, nay cứ nghe chúa khoe khoang mãi nên làm tặng chúa một bài thơ tục, ý muốn ví trận đánh thắng của chúa tương tự như việc ân ái nam nữ:

“Nửa đêm giờ tí trống canh ba

Thoắt tiến lên thành phá lũy ra

Một tướng thẳng vào trong cửa hiểm

Trang 9

Hai quân đứng núp chực bên hà

Quân ta đổ lộn cùng quân nó

Nước nó giao hòa với nước ta

Đánh đoạn rút về lau khí giới

Tìm nơi vũ khố để can qua.”

Bằng tài năng ngôn ngữ của mình cùng với lối nói thô tục trong sinh hoạt dân gian, Trạng Quỳnh đã đứng ra đối kháng với chúa một cách trực tiếp nhưng chúa lại chẳng thể phản bác được sự mưu mẹo, lanh lợi của Quỳnh Trạng Quỳnh không chỉ nhắm đến chúa

mà còn cả hệ thống cai trị lúc bấy giờ, những kẻ kém tài lại hay lấp liếm bằng vẻ hào nhoáng giả tạo bên ngoài như bà chính cung cùng đám quan lại chỉ biết xu nịnh kẻ bề trên Nhờ vào tài năng ngôn ngữ của mình, Trạng Quỳnh đã mạnh mẽ bóc trần những thứ dối trá bị che đậy lúc bấy giờ

Vốn dĩ chẳng ưa chúa, Quỳnh lại càng ghét bọn quan chức có thói xu nịnh bề trên Bọn chúng biết chúa thích của ngon vật lạ nên thường xuyên biếu chúa những thức quà lạ,

có hôm một người dâng chúa món tên là “đào trường thọ”, Quỳnh nhìn qua cũng biết là chuyện lừa dối nên ra tay bóc mẽ sự thật rằng không hề có thức ăn nào có công dụng “trường thọ” như thế cả Sau lần ấy, đám xu nịnh bàn ôm lòng ghen ghét và bàn với chúa sẽ trả thù Quỳnh Chúa đồng ý tổ chức một buổi yến tiệc và mời Quỳnh đến dự, nhưng lại dọn một mâm riêng ngoài sân cho Quỳnh, còn vua và các quan thì ngồi bên trong nhà Quỳnh chẳng

nói gì cứ điềm tĩnh ăn, sau đó bóc một quả chuối bỏ ruột và ăn vỏ rồi nói: “Sở dĩ tôi ăn bên ngoài vì thấy ăn bên trong như ăn cứt vậy.” Biết Trạng đang mỉa mai mình, lần sau chúa

sắp xếp cho Trạng ngồi bên trong, còn mình thì ngồi bên ngoài sân Lần này Trạng lại ăn ruột chuối vì thấy ăn bên ngoài như ăn cứt Cả chúa và bọn quan nghe xong chỉ biết im thin

thít không thể bắt bẻ Quỳnh được (Truyện Ăn bên trong…và ăn bên ngoài)

Lần khác, biết chúa có viên ngọc quý, đám quan thay nhau nịnh nọt ngọc của chúa, duy chỉ có Quỳnh chẳng nói tiếng nào Khi bị chúa hỏi, Quỳnh mới tâu chẳng có gì quý giá

Trang 10

hơn “ngọc người”, chúa là người đang giữ viên ngọc trong người nhưng muốn lấy được viên ngọc thì phải tìm ngự y để bổ óc chúa ra Không chỉ mỉa mai thói xu nịnh của đám quan lại mà Trạng Quỳnh còn châm biếm thói xem trọng vật chất bề ngoài của chúa Ngoài

ra, chúa còn là người ưa thích thuật tướng số, biết được điểm này bọn quan mua chuộc chúa

ngay nhưng cũng sớm bị Trạng Quỳnh vạch trần thói mê tín (Truyện Ngọc người)

Trạng còn lột trần vỏ bọc của nhiều kẻ ham danh nhưng lại kém tài, nói láo và hay chạy chữa đút lót, đồng thời cũng lật mặt bọn thầy thuốc dỏm thiếu hiểu biết Ngoài ra, Trạng Quỳnh còn gián tiếp đối kháng với hệ thống khoa cử, phơi bày việc làm của những

kẻ mua danh bán chức đầy gian xảo lúc bấy giờ

Hay trên đường đến Thăng Long, đến một làng kia Quỳnh có ý định ghé vào nhà ấp

trưởng để nghỉ chân thì biết được ấp trưởng làng này là kẻ quỷ quyệt, gặp Quỳnh lại còn

giở thêm thói “thấy sang bắt quàng làm họ” Sẵn dịp Quỳnh bày trò trừng trị ngay, khiến

tên ấp trưởng bị một phen dở khóc dở cười (Mẹo trẩy kinh)

Cả Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây đều ghét thói vờ vĩnh của đám quan lại hay ton

hót Trong Truyện Trạng Quỳnh, quan lại thành đối tượng phản pháo ở những truyện sau (Đơn trình bò chết của cô gái Kẻ Nghì, Trên câm điếc, dưới cũng câm điếc, Thừa giấy vẽ voi, Quan trường mắc lỡm, Vụ kiện chôn văn)

Vốn dĩ chẳng ưa chúa, Quỳnh lại càng ghét bọn quan chức có thói xu nịnh bề trên Bọn chúng biết chúa thích của ngon vật lạ nên thường xuyên biếu chúa những thức quà lạ,

có hôm một người dâng chúa món tên là “đào trường thọ”, Quỳnh nhìn qua cũng biết là chuyện lừa dối nên ra tay bóc mẽ sự thật rằng không hề có thức ăn nào có công dụng “trường thọ” như thế cả Sau lần ấy, đám xu nịnh bàn ôm lòng ghen ghét và bàn với chúa sẽ trả thù Quỳnh Chúa đồng ý tổ chức một buổi yến tiệc và mời Quỳnh đến dự, nhưng lại dọn một mâm riêng ngoài sân cho Quỳnh, còn vua và các quan thì ngồi bên trong nhà Quỳnh chẳng

nói gì cứ điềm tĩnh ăn, sau đó bóc một quả chuối bỏ ruột và ăn vỏ rồi nói: “Sở dĩ tôi ăn bên ngoài vì thấy ăn bên trong như ăn cứt vậy.” Biết Trạng đang mỉa mai mình, lần sau chúa

sắp xếp cho Trạng ngồi bên trong, còn mình thì ngồi bên ngoài sân Lần này Trạng lại ăn

Ngày đăng: 06/07/2023, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w