[42, 103] Giáo s Nguyễn Lân, trong tác phẩm “Con ngời văn minhsống nh thế nào” đã nêu rõ: Con ngời văn minh trớc hết phảicoi trọng giá trị của con ngời nói chung, luôn có ý thức vơn đến
Trang 1xó hội, đặc biệt là gia đỡnh – nơi sản sinh, nuụi dưỡng và là trường học đầutiờn của mọi thành viờn trong xó hội Chủ tịch Hồ Chớ Minh đó từng phỏtbiểu tại hội nghị cỏn bộ Đảng trong ngành giỏo dục (ngày 03/08/1957):
“Giỏo dục trong nhà trường dự tốt đến mấy, nhưng nếu thiếu giỏo dục giađỡnh và ngoài xó hội thỡ kết quả cũng khụng hoàn toàn”
Trong cỏc tổ chức xó hội thỡ gia đỡnh là thành phần cú thế mạnh vàđiều kiện để tiến hành giỏo dục phẩm chất nhõn cỏch cho trẻ sớm nhất Gia
đình là môi trờng văn hoá đầu tiên mà đứa trẻ đợc tiếpxúc Từ gia đỡnh, trẻ em đó bước đầu hỡnh thành những chuẩn mực đạo đức,văn hoỏ, cỏch ứng xử với mọi người, thúi quen lao động, cỏch suy nghĩ vàthỏi độ với con người và cỏc sự vật hiện tượng xung quanh Từ đú, hỡnhthành những ý niệm đầu tiờn về những giỏ trị sống mà gia đỡnh thừa nhận vàthực hiện trong đời sống hàng ngày Vì vậy, chỳng ta khụng thể khụngthừa nhận giỏo dục gia đỡnh cú những tỏc dụng mạnh mẽ và cú ý nghĩa sõusắc đối với cả cuộc đời con người từ bộ cho đến khi trưởng thành và đến lỳctuổi già
Kết quả giỏo dục gia đỡnh phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, trỡnh độhọc vấn và nghệ thuật sư phạm của cỏc bậc cha mẹ Để làm tốt chứcnăng giáo dục của mình (chức năng ngời thầy đầu tiên), cácbậc cha mẹ cần có kiến thức về khoa học giáo dục trẻ Việcbồi dưỡng kiến thức về khoa học giỏo dục núi chung, về cỏc biện phỏp giỏodục cụ thể núi riờng để giỳp cha mẹ giỏo dục con cỏi cú ý nghĩa rất quantrọng đối với việc cải thiện cụng tỏc giỏo dục gia đỡnh, nõng cao hiệu quả vàchất lượng giỏo dục hiện nay
Trang 2Trẻ em là một thực thể phát triển, lứa tuổi tiểu học 11tuổi) - giai đoạn đầu của tuổi học sinh, là giai đoạn đặtnền móng cho sự hình thành và phát triển nhân của mỗingời toàn diện và vững bền nhất, cũng là giai đoạn thuận lợinhất cho việc giáo dục hàng vi văn hoá
(6-Cỏc phẩm chất nhõn cỏch của cỏ nhõn đều được hỡnh thành từ khi cũnnhỏ Cựng với nhà trường và xó hội, gia đỡnh cú trỏch nhiệm chăm lo tớigiỏo dục truyền thống văn hoỏ cho trẻ Cỏc giỏ trị văn hoỏ thắm đượm trongmỗi cỏ nhõn được biểu hiện và nhận biết thụng qua hệ thống hành vi văn hoỏcủa cỏ nhõn ấy Giỏo dục hành vi văn hoỏ cho trẻ là một quỏ trỡnh tỏc động
cú mục đớch, cú kế hoạch đến các mặt nhận thức, tình cảm càhành động ý chí của chúng Hiệu quả của quá trình tác
động này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó việcxác định rõ nội dung và biện pháp giáo dục phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh trong giáo dục gia đình là yếu tố cần đợc
đề cập trớc tiên Bởi “gia đình là cái nôi thân yêu nuôi dỡngcả đời ngời, là môi trờng quan trọng giáo dục nếp sống vàhình thành nhân cách”
1.2 Cơ sở thực tiễn
Nước ta đang đổi mới từng ngày dưới tỏc động của nền kinh tế thịtrường Chỳng ta đang thực hiện hàng loạt cỏc chính sỏch mở cửa để hợp tỏcvới mọi dõn tộc, quốc gia trờn thế giới Trong bối cảnh như vậy chỳng ta đangchịu sự tỏc động tớch cực của thời đại trong sự hoà nhập với nền văn minhnhõn loại, nú sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cỏc định hướng giỏ trị của chỳng tahiện nay Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đó nờu ra mục tiờu làđưa Việt Nam về cơ bản trở thành nước Cụng nghiệp vào năm 2020 Để thựchiện được nhiệm vụ đú yếu tố quyết định là con người Con người Việt Namtrong thời kỳ cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoỏ phải là con người cú một nhõncỏch vững vàng, cú trớ tuệ sỏng tạo, cú phẩm chất đạo đức tốt giữ gỡn bản sắcdõn tộc Việt Nam Chớnh vỡ vậy, chỳng ta rất cần quan tõm đến việc vun đắp,giỏo dục hành vi văn hoỏ cho trẻ nhất là ở lứa tuổi tiểu học
Trang 3Đã có rất nhiêu công trình nghiên cứu về giáo dục hành
vi văn hoá; giáo dục hành vi giáo tiếp có văn hoá cho trẻ ở các
độ tuổi khác nhau, và đã đề cập đến nhiều khía cạnh khácnhau Song việc tìm kiếm các biện pháp cụ thể trong giáodục hành vi văn hoá cho trẻ 6-11tuổi trong gia đình hiệnnay, cha có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu
Là ngời nghiên cứu trong lĩnh vực gia đình, chúng tôiquan niệm việc xây dựng, phát triển chơng trình giáo dục
đạo đức, văn hoá ở bậc tiểu học và việc lồng ghép giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ ở độ tuổi này là rất thích hợp, trẻ đợc rènluyện thờng xuyên Song việc hình thành những thói quen,
nề nếp, lối sống có văn hoá cho trẻ, không phải lúc nào cũng
đạt đợc nh yêu cầu, mong muốn của nhà giáo dục Do đó,cần phải tăng cờng các biện pháp giáo dục những hành vi vănhoá theo chuẩn mực ở trong môi trờng gia đình cho trẻ ngay
từ khi còn nhỏ
Mặt khác, “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế – xã hội” Làm thế nào để giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ
em từ trong gia đình đến ngoài xã hội, đây là một trongnhững vấn đề cấp thiết hiện nay Với những vấn đề đợc
đặt ra trên, chúng tôi thấy rằng việc đi sâu tìm hiểu,
nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ (6-11tuổi) trong gia đình hiện nay” là cần
thiết và mong muốn góp phần tìm ra những biện pháp tối
-u nhằm hình thành các hành vi văn hoá cho trẻ em ở độtuổi tiểu học (6-11tuổi), tạo điều kiện thực hiện tốt mụctiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đớch nghiờn cứu
Trờn cơ sở nghiờn cứu những vấn đề lý luận và khảo sát thựctrạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ (từ 6-11 tuổi) trong gia
Trang 43.1.1 Khỏch thể nghiờn cứu: Quá trỡnh giỏo dục hành vi văn hoỏ cho
trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đỡnh hiện nay
3.2.2 Khỏch thể khảo sỏt: Trẻ từ 6-11 tuổi trong các gia
đình thuộc khu vực thành phố và nông thôn; Các bậc cha
mẹ có con trong độ tuổi 6-1 1tuổi thuộc khu vực thành phố
và nông thôn
3.2.3 Khỏch thể thử nghiệm cỏc biện phỏp sẽ đề xuất: Các bậc cha
mẹ có con trong độ tuổi ( 6-11tuổi)
3.2 Đối tượng nghiờn cứu: Các biện phỏp giỏo dục hành vi văn hoỏ
cho trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đỡnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học.
Nếu cỏc bậc cha mẹ quan tâm và thực hiện thờng xuyên,
có hệ thống các biện pháp đã đề ra, thỡ sẽ gúp phần nõng caohiệu quả giỏo dục thúi quen, nếp sống và hành vi văn hoỏ cho trẻ, nõng caochất lượng cuộc sống trong thời kỳ hội nhập
5 Nhiệm vụ nghiờn cứu.
5.1 Nghiờn cứu lý luận: Nghiờn cứu cơ sở lý luận, những quan điểm,
tư tưởng về giỏo dục hành vi văn hoỏ cho trẻ trong gia đỡnh; hệ thống hoỏnhững vấn đề lý luận cơ bản cú liờn quan đến việc đề xuất một số biện phỏpgiỏo dục hành vi văn hoỏ cho trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đỡnh hiện nay
5.2 Nghiờn cứu thực trạng: Tỡm hiểu thực trạng về giỏo dục hành vi
văn hoỏ cho trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đỡnh hiện nay
5.3 Đề xuất các biện phỏp nõng cao hiệu quả giỏo dục hành vi văn
hoỏ cho trẻ trong (từ 6-11tuổi) trong gia đỡnh hiện nay
Trong 3 nhiệm vụ trờn, nhiệm vụ (5.3) là nhiệm vụ chớnh của đề tài
6 Giới hạn và phạm vi nghiờn cứu.
Trang 5Trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện
phỏp giỏo dục hành vi văn hoỏ cho trẻ (từ 6- 11tuổi) trong gia đỡnh ở 2 khuvực: thành phố và nụng thụn
Địa bàn nghiên cứu thử nghiệm:
+ Phường Ngọc Hà - một trong những phường của quận Ba Đình,
Hà Nội - Là phường đang cú biến đổi khỏ đa dạng về kinh tế, văn hoỏ, xó hội của thành phố
+ Xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh – khu vực
đậm chất nông thôn, giàu truyền thống văn hoá, và nhữngluật lệ đặc trng của con ngời xứ Kinh Bắc
7 Phương phỏp nghiờn cứu.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ sử dụng cácbiện pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu lý luận: Chúng tôi phân tớch,
tổng hợp, hệ thống hoỏ một số tài liệu, văn bản, cụng trỡnh nghiờn cứu cúliờn quan đến đề tài
Dựa trên cơ sở các tài liệu, các văn bản, các sản phẩm(sách báo, các công trình nghiên cứu) có liên quan nhằmphục vụ cho đề tài, chúng tôi tìm hiểu các qui luật, các yếu
tố ảnh hởng đến quá trình giáo dục hành vi văn hoá cho trẻtrong gia đình
7.2 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu thực tiễn
Phương phỏp điều tra viết: Chúng tôi tiến hành khảo sát một
nhóm đối tợng trên một số diện rộng, nhằm phát hiện các quiluật phân bố, trình độ phát triển những đặc điểm vềmặt định tính, định lợng của đối tợng nghiên cứu Chúngtôi chủ yếu sử dụng điều tra xã hội học, nhằm thu thậpthông tin về thực trạng giáo dục trẻ em (từ 6-11tuổi ) tronggia đình, kết quả tác động hình thành hành vi văn hoácho trẻ Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phiếu
điều tra cho các bậc cha mẹ, với mục đích thu thập thông
Trang 6tin về quan niệm, thái độ và việc làm của cha mẹ tronggiáo dục con cái nói chung và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻnói riêng
Phương phỏp quan sỏt: Giúp chúng tôi nghiên cứu thu thập,
lựa chọn các dữ kiện khoa học, các kiểu ứng xử không lờixảy ra trực tiếp trớc mắt nhà nghiên cứu Mục tiêu quan sát lànhững biểu hiện cụ thể của nhận thức, thái độ, việc làmcủa các bậc cha mẹ cũng nh nhận thức và hành vi của trẻ.Qúa trình quan sát đợc tiến hành trong hoàn cảnh sống tự
nhiên của trẻ trong gia đình.
7.3 Những phương phỏp bổ trợ.
Phương phỏp phỏng vấn
Phơng pháp nghiên cứu khảo nghiệm và thử nghiệm.
Phơng pháp nghiên cứu trờng hợp (Phân tích sản phẩm
hoạt động của trẻ trong một số gia đình)
Phương phỏp chuyờn gia
Phương phỏp xử lý các kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê,…
Nội dung
Chơng 1
cơ sở lý luận
1.1 Sơ lợc lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nếu động lực của sự phát triển xã hội có tác dụng thúc
đẩy xã hội tiến về phía trớc, thì văn hoá (VH) hoàn toàn cóthể xem là động lực thực sự của tiến bộ xã hội Gia đình (GĐ)luôn là tế bào của xã hội, thực hiện một số chức năng chủ yếusau: chức năng tái sản xuất tự nhiên, chức năng kinh tế, chứcnăng giáo dục,… Các chức năng trên có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau, tuỳ theo sự phát triển của GĐ và hoàn cảnh xã hội mà vị
Trang 7trí, vai trò của từng chức năng thay đổi Nhng nhìn chung,chức năng giáo dục và sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ
là một trong những chức năng quan trọng có vị trí, vai trò rấtlớn
Sứ mệnh nuôi dỡng, giáo dục đứa trẻ từ khi mới chào
đời, không thể giao phó, chuyển nhợng cho ai có tráchnhiệm hơn cha mẹ Gia đình là trờng học đầu tiên đói vớicuộc đời mỗi con ngời
Qua các thời kỳ lịch sử và các nền VH cụ thể, vấn đềgiáo dục gia đình (GDGĐ), trách nhiệm làm cha mẹ đối với sựsinh thành, nuôi dỡng, dạy bảo con cái đã đợc các nhà t tởngquan tâm, nghiên cứu từ rất sớm Thông qua việc xác định rõbản chất của quá trình giáo dục, chức năng, nhiệm vụ, độnglực, nội dung, biện pháp giáo dục con ngời nói chung và giáodục trẻ em nói riêng
* Lịch sử nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài.
Quan niệm của Platon (427-348 TrCN) cho rằng: Qúatrình đào tạo con ngời tự do theo nhiều giai đoạn Thời kỳ
“giáo dục mẫu giáo” đợc tiến hành trong GĐ và do ngời mẹ
đảm nhiệm Nội dung giáo dục bao gồm là văn hoá, thể dục,
âm nhạc, triết học, pháp luật, nhằm mục đích hiểu biết vềcái Chân, Thiện, Mỹ,…[62,9]
Theo J.J.Rutxô (1712- 1778) thì: Thiên nhiên tạo ra conngời có bản chất tốt đẹp, sống tự do, hạnh phúc Ông khẳng
định, đối tợng giáo dục là trẻ em, mục đích giáo dục là hạnhphúc Về phơng pháp giáo dục, ông chủ trơng tìm cáchngăn cản thói h tật xấu đột nhập trái tim con ngời, cầnchuẩn bị cho trẻ em có khả năng đấu tranh loại bỏ thói h tậtxấu Do đó, phải thay đổi phơng pháp, biện pháp giáo dụctheo lứa tuổi [62, 17-18]
Trang 8A.X.Macrenco (1888 - 1939) khi bàn về giáo dục con ngời
ông đã đa ra các nguyên tắc: GD trẻ em trớc hết là tráchnhiệm của cha mẹ, giáo dục trẻ phải chú ý các đặc điểm củatrẻ, giáo dục phải bắt đầu từ tuổi ấu thơ GDGĐ cần cónhững nội dung, biện pháp, hình thức tổ chức riêng [59,275-283]
Nhà giáo dục Nga L.F.Ôxtroxcaia đã dày công nghiêncứu quá trình GD trẻ trong GĐ và khẳng định: Những phẩmchất tốt đẹp và năng lực sáng tạo của con ngời cần phải xâydựng, rèn luyện, từ rất sớm, trong GĐ Hành vi của trẻ là kếtquả của giáo dục, thói quen tự tiện, bớng bỉnh, nhõng nhẽocủa trẻ chứng tỏ sự thiếu uy tín của ngời lớn trong gia đình
Do đó, giáo dục tính sẵn sàng vâng lời đợc coi trọng đểhình thành ở trẻ những giá trị văn hoá tốt đẹp Cần lựachọn các phơng pháp s phạm để tác động đến trẻ tính yêucầu cao, tính hợp lý của công tác động viên, khuyến khích,nêu gơng, lời chỉ bảo và sự giải thích những qui tắc thựchiện hành vi trong giáo dục trẻ [44, 77-92]
* Lịch sử nghiên cứu của các tác giả trong nớc.
Bàn về nội dung GDGĐ, nữ sử Đạm Phơng (Tôn Nữ ĐạmPhơng) nhấn mạnh quan điểm cần rèn luyện cho con trẻ nhữnghành vi, nề nếp, thói quen:
Đối với bản thân: Tập a ánh sáng, a không khí, cắt tỉamóng tay, không mút tay, thay quần áo hàng ngày, ăn mặcchỉnh đốn, ngủ dậy sớm và ngủ đúng giờ,… Mỗi ngày tậpthở 5 phút, ăn nhai thật kỹ, trớc khi ăn phải rửa tay,…
Trang 9Đối với cha mẹ, anh chị em: Đi đâu phải xin phép, làmgì phải hỏi ý kiến cha mẹ, cha mẹ đã sai bảo việc gì phảilàm mau lẹ, yêu thơng giúp đỡ anh chị em trong gia đình,
…
Đối với mọi ngời: Không đợc nói dối, không lấy vật gì của ai,luôn tơi cời giúp đỡ mọi ngời, không nói theo trớc mọi ngời khi cókhách vào nhà, Lễ phép, kính trọng ngời trên, không nói lời thô
bỉ, hoặc chửi mắng tục,…[55, 163]
Để rèn những thói quen này cần dỡng con theo quy củ
và chuyên cần “trẻ con nuôi dạy đúng phơng pháp quy củ vàchuyên cần sẽ trở nên những đứa trẻ có đức hạnh, có nhânphẩm, có sức khoẻ đầy đủ để ma hạnh phúc cho mình vàcho mọi ngời” {55, 33}
Trong pháp lệnh ngày 14/11/1979 của Uỷ ban thờng vụQuốc Hội về “Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”, Điều 2, quy
định việc giáo dục trẻ em căn cứ vào 5 điều Bác Hồ dạy:
“1 Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
vụ đó Điều 14, cha mẹ phải làm gơng tốt về mọi mặt chocác con, trong lao động sản xuất và tiết kiệm, trong côngtác và học tập và trong sinh hoạt hàng ngày Bồi dỡng cho các
Trang 10em những tình cảm tốt đẹp, nếp sống văn minh và đạo
đức xã hội [42, 103]
Giáo s Nguyễn Lân, trong tác phẩm “Con ngời văn minhsống nh thế nào” đã nêu rõ: Con ngời văn minh trớc hết phảicoi trọng giá trị của con ngời nói chung, luôn có ý thức vơn
đến cái đẹp trong cuộc sống, cái đẹp thể hiện trong mọimặt từ lời nói, dáng điệu, cử chỉ, hành vi, cách ăn mặc,cách trang trí nơi ở,… Thực hiện nếp sống văn minh tronggia đình, với xóm làng, trên đờng phố Với cách đánh giá vềnhững giá trị của con ngời sống trong xã hội hiện đại cầnphải làm, chúng ta có thể qua đây sử dụng một số mẫuchuẩn hành vi văn hoá cần giáo dục trẻ trong gia đình [49,75-106]
PGS, TS Phạm Khắc Chơng và Th.s Nguyễn Thị BíchHồng trong tác phẩm “Giáo dục gia đình” đã khái quát một
số nội dung cơ bản của giáo dục trong gia đình nh:
+ Giáo dục hành vi đạo đức: Hình thành những quytắc, chuẩn mực đạo đức
+ Giáo dục thái độ, kỹ năng lao động
+ Giáo dục thể chất thẩm mỹ
GDGĐ đợc tiến hành với các phơng pháp: Tổ chức chotrẻ hoạt động, noi gơng cha mẹ Phơng thức cơ bản tronggiáo dục gia đình là: khuyên bảo, thuyết phục, rèn thói quen
và khen thởng [10, 40-88]
PGS.TS Thái Duy Tuyên trong tác phẩm “Những vấn đềcơ bản trong giáo dục học hiện đại” (1998) đã khái quátnhững cơ sở lý luận cơ sở lý luận của giáo dục gia đình
Đặc biệt, ông nêu rất rõ những nội dung, phơng pháp, biệnpháp giáo dục trong gia đình trong những biến đổi của xãhội hiện đại Từ đó, đúc kết các biện pháp nhằm nâng caochất lợng giáo dục trẻ em, nhằm bồi dỡng tri thức và kỹ năng
Trang 11giáo dục con cái cho các bậc cha mẹ Những kết luận này làmột định hớng trong việc xác định biện pháp giáo dụchành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình của đề tài [62, 333-349]
TS Võ Nguyên Du trong luận án “Một số nội dung vàbiện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em trong gia
đình”, đã phân tích rất rõ các nội dung giáo dục hành vivăn hoá, căn cứ theo 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi
đồng, biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ cần đợctiến hành theo các nhóm biện pháp tác động: Giữa trẻ em vớicha mẹ và ngời lớn trong gia đình; giữa trẻ em với cộng
đồng dân c trên địa bàn sinh sống Tuy nhiên, tác giả vẫncha đa ra những biện pháp giáo dục cụ thể trong giáo dụchành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình hiện nay Songnhững kết luận của tác giả sẽ giúp chúng tôi tập trung nghiêncứu biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6-11tuổitrong gia đình hiện nay [16, 115-118]
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình có giá trị thực tiễn
đã đợc các nhà khoa học nghiên cứu nh: TS Vũ Văn Dân vớicông trình nghiên cứu “ Lối sống văn hoá và giáo dục lối sốngvăn hoá cho học sinh”trình bày rất cụ thể cá mặt biểu hiệncủa lối sống văn hoá trên bình diện lý luận và thực tiễn cuộcsống [14] TS Mạc Văn Trang với nghiên cứu “ Giáo dục hành vi
đạo đức cho học sinh nhỏ” (1983 Tài liệu tham khảo cho giáoviên cấp 1, NXBGD 1983) đã trình bày quan niệm giáo dụchành vi đạo đức cho học sinh trên nền lý thuyết hoạt động;
TS Lu Thu Thuỷ nghiên cứu về “ Quy trình giáo dục hành vigiao tiếp có văn hoá cho học sinh lớp 4,5 trờng tiểu học” đãchứng minh hiệu quả giáo dục đợc nâng cao nếu thực hiệntheo một quy trình tác động gồm 3 giai đoạn: Giai đoạnchuẩn bị; Giai đoạn tác động; Giai đoạn đánh giá [63]
Trang 12Qua nghiên cứu các công trình của các tác giả trong vàngoài nớc chúng tôi nhận thấy:
- Việc giáo dục hành vi văn hoá (HVVH) cho trẻ đã đợcquan tâm từ rất lâu trong gia đình cũng nh nhà trờng Cốtlõi là giáo dục cho trẻ nhận thức đúng đắn các giá trị văn hoáqua các mối quan hệ giữa con ngời với con ngời trong cuộcsống, nhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp ở mỗi cánhân
- Giáo dục HVVH cho trẻ từ 6-11tuổi là một quá trìnhtoàn vẹn với hệ thống các thành tố GD: Mục đích, nhiệm vụ,nội dung, nguyên tắc, phơng pháp, ngời đợc giáo dục và ng-
ời giáo dục Là quá trình tác động chủ đạo của nhà giáo dục
và ngời đợc giáo dục tự giác, tích cực chuyển hoá những yêucầu của các chuẩn mực hành vi đã quy định thành thóiquen tơng ứng
- Nội dung và phơng thức thể hiện HVVH do thực tiễncuộc sống và những truyền thống văn háo quy định, vìvậy không ngừng biến đổi cùng với sự phát triển của xã hộihiện nay
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cha đi sâu nghiêncứu những biện pháp cụ thể giáo dục HVVH cho đối tợng từ 6-
11 tuổi trong gia đình hiện nay
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Văn hoá.
Văn hoá là hiện tợng nảy sinh, phát triển cùng với đờisống xã hội, VH gắn liền với sự ra đời của nhân loại Nhngmãi đến thế kỷ thứ 17, nhất là nửa cuối thế kỷ 19 trở đi,các nhà khoa học trên thế giới tập trung vào nghiên cứu sâuvào lĩnh vực này Bản thân vấn đề VH rất đa dạng và phứctạp, nó là một khái niệm có ngoại diên rất lớn (có nhiều
Trang 13nghĩa), đợc dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khácnhau về đối tợng, tính chất, hình thức biểu hiện
ở phơng Tây, văn hoá - culture (trong tiếng Anh, tiếngPháp) hay cultur (tiếng Đức),… đều xuất xứ từ chữ LatinhCultus có nghĩa là khai hoang, trồng, nói gắn gọn là sự vuntrồng Sau đó, từ cultus đợc mở rộng nghĩa trong lĩnh vựcxã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, phát triển mọi khả năngcủa con ngời [60], [73]
Phơng Đông, trong tiếng Hán cổ, “văn” là đẹp do màusắc tạo ra, diễn nghĩa ra, là hình thức đẹp đẽ biểu hiệntrong cách c xử lịch sự, trong cách ăn nói, biểu thị thànhmột hệ thống qui tắc ứng xử đẹp, “hoá” có nghĩa là trởthành “Văn hoá” có nghĩa là vẻ đẹp của con ngời, cái đẹptrong trí thức, trí tuệ của con ngời có thể đạt đợc bằng sự
tu dỡng bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhàcầm quyền Chính trong đờng lối cai trị của Khổng Tử lấy
từ quan điểm cơ bản này để xây dựng: văn trị giáo hoá,cảm hoá bằng điển chơng, lễ nhạc, không dùng hình phạtbạo lực và cỡng bức
Nh vậy, VH trong từ gốc của cả phơng Đông, lẫn phơngTây đều xuất phát từ nghĩa căn bản là: sự giáo hoá, vuntrồng nhân cách con ngời, làm cho con ngời có hành vi trởnên tốt đẹp hơn
VH đợc hiểu theo nghĩa hẹp, là những hoạt động vàgiá trị tinh thần của con ngời Trong phạm vi này, văn hoákhoa học (toán học, vật lý học, hoá học, ), văn hoá nghệthuật (văn học, điện ảnh,…), đợc coi là phân hệ chính của
hệ thống VH Nghĩa hẹp hơn nữa, VH đợc coi nh một ngành– ngành văn hoá- nghệ thuật để phân biệt với các ngànhkinh tế – kỹ thuật khác Các hiểu này thờng kèm theo cách
đối xử sai lệch về văn hoá
Trang 14Theo nghĩa rộng nhất, văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo
và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tơng tác giữa con ngời với môi trờng tự nhiên và xã hội của
mình… [60, 27]
Có một số quan niệm phát triển theo hớng này nh:
Theo UNESCO “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các
đặc trng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linhcảm,…Khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình,xóm làng, quốc gia, xã hội,…VH không chỉ bao gồm nghệthuật, văn chơng mà cả những lối sống, quyền cơ bản củacon ngời, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ng-ỡng…”
Theo quan điểm của Hồ Chủ Tịch “Vì lẽ sinh tồn cũng
nh vì mục đích cuộc sống, loài ngời mới sáng tạo và phátminh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạthàng ngày về mặc, ăn, ở và các phơng tiện, phơng thức sửdụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh nó tức là văn hoá
VH là sự tổng hợp của mọi phơng thức sinh hoạt, cùng với biểuhiện của nó là loài ngời đã sản sinh ra nhằm thích ứng chonhu cầu đời sống, và đòi hỏi sự sinh tồn.”
Nói đến VH là nói đến con ngời – nói tới những đặc
điểm riêng chỉ có ở loài ngời, nói tới việc phát huy nhữngnăng lực và bản chất của con ngời hoàn thiện con ngời, hớngcon ngời khát vọng vơn tới chân – thiện - mỹ, đó là ba giátrị trụ cột vĩnh hằng của văn hoá nhân loại VH có mặttrong tất cả các hoạt động của con ngời, hoạt động VH làhoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần
Giá trị vật chất là những giá trị sáng tạo đợc thể hiệntrong các của cải vật chất do con ngời tạo ra, những sản phẩm
Trang 15của tự nhiên “ban tặng” Đó là sản phẩm hàng hoá, công cụ lao
động, t liệu sản xuất, các cơ sở hạ tầng, nguồn năng lợng VHvật chất đợc thể hiện qua đời sống vật chất, nó ảnh hởng tolớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trongnền kinh tế đó
Giá trị tinh thần, là toàn bộ những hoạt động tinh thầncủa con ngời và xã hội bao gồm: kiến thức, phong tục tậpquán, thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ, các giá trị và thái
độ, các hoạt động văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục,phơng thức giao tiếp, cách thức tổ chức xã hội
Theo nghĩa rộng này thì văn hoá mang một số tínhchất nh: Tính giai cấp, tính dân tộc, tính toàn cầu, tínhliên tục, tính kế thừa, tính phong phú đa dạng và tính bịqui định bởi phơng thức sản xuất và chế độ kinh tế xã hội.Các chức năng của nó bao gồm: chức năng xã hội, chức năngnhận thức, chức năng giáo dục và tự giáo dục, chức năng giaotiếp xã hội, chức năng gắn kết sự phát triển liên tục của lịch
sử, nối liền hiện tại và tơng lai
Nghị quyết TW IV (khoá 8) khẳng định: VH là nềntảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế – xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xãhội Muốn VH phát triển, thì phải quan tâm đến bảo vệ,xây dựng, phát triển môi trờng văn hoá Môi trờng VH là sựvận động của các mối giao tiếp văn hoá, thể hiện trong ứng
xử của từng ngời và gia phong, lối sống, nếp sống, trật tự kỷcơng xã hội, nghĩa vụ và quyền lợi của từng ngời và cộng
Trang 16thống và các giá trị văn hoá, đạo lý, tâm hồn và hành độngcủa mỗi dân tộc và các thành viên để vơn tới cái đúng, cáitốt đẹp, cái thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa con ngời vớicon ngời, giữa con ngời với tự nhiên và môi trờng xã hội
* Giá trị văn hoá và truyền thống văn hoá.
Giá trị văn hoá (GTVH): là những t tởng bao quát, là hệ
thống các quan hệ khách quan đợc qui định bởi thực tiễnlịch sử, bởi tính thông tin rộng rãi GTVH gắn với các lợi ích xãhội, các giá trị văn hoá tạo nên một nền tảng vững chắc củaxã hội, đó là nền tảng tinh thần GTVH chính là quan niệm
về những cái cao cả, cái có ý nghĩa đợc cộng đồng đúc kếtlại, thừa nhận và tôn vinh Mỗi dân tộc đều có những GTVHcho riêng mình, thể hiện bản sắc riêng của dân tộc.Những giá trị đó không phải là những giá trị bất biến, mà
nó không ngừng đợc làm phong phú thêm bởi những sáng tạomới cũng nh hoàn cảnh mới của dân tộc Các GTVH truyềnthống đợc xếp thành 3 nhóm:
- Nhóm GTVH truyền thống mang tính cộng đồng gồm cácnội dung: yêu nớc; nhân ái; bao dung; tự lực; tự cờng; đoàn kết;tôn trọng; hiếu học;…
- Nhóm GTVH truyền thống mang tính gia đình gồm cácnội dung: thuỷ chung; hiếu thảo; kính trên nhờng dới; thơngyêu đùm bọc;…
- Nhóm GTVH truyền thống mang tính cá nhân gồmcác nội dung: trung thực; chân thành; giản dị; lễ độ; cần cù;sáng tạo; kiên trì vợt khó; yêu lẽ phải; vị tha; tôn trọng ngờikhác; lạc quan; tiết kiệm;…[56]
Truyền thống văn hoá.
VH đợc duy trì bằng những truyền thống văn hoá
“Truyền” là chuyển giao, “thống” là nối tiếp, “truyền thống”
là cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm qua không
Trang 17gian và thời gian trong cộng đồng, là những giá trị tơng
đối ổn định, thể hiện dới những khuôn mẫu xã hội Ví dụ:
lễ nghi, lễ hội, d luận, phong tục tập quán,…Truyền thốngvăn hoá đợc hình thành qua một quá trình lâu dài, tích luỹqua nhiều thế hệ và thờng xuyên có sự điều chỉnh, phânloại và phân bố lại các giá trị [60, 26]
Truyền thống văn hoá là những GTVH đợc tồn tại lâudài trong từng cộng đồng, thấm sâu vào từng con ngời cụthể, tạo thành những giá trị chung cho dân tộc Vậy, truyềnthống VH là những giá trị tơng đối ổn định (những kinhnghiệm tập thể), thể hiện dới những khuôn mẫu xã hội, đợctích luỹ và tái tạo trong cộng đồng ngời, qua không gian,thời gian và đợc cố định hoá dới dạng ngôn ngữ, phong tục,tập quán, lễ nghi,…[60, 26-27]
* Lối sống, nếp sống, thói quen văn hoá.
Thờng VH đợc sử dụng trong phạm vi rộng, còn khi nói
đến lối sống, nếp sống, thói quen văn hoá, là chỉ góc độthu hẹp của văn hoá
Về bản chất, lối sống bao gồm tất cả các hiện tợng xãhội, lối sống thống nhất với “ hình thái kinh tế xã hội”, với ph-
ơng thức sản xuất, quan hệ và các điều kiện xã hội Lốisống còn là lối suy nghĩ, hành vi nếp sống của con ngời.Việc GD cần phải làm cho con ngời có cách suy nghĩ đúng
và hệ thống hành vi thói quen phù hợp với yêu cầu của đờisống Đặc trng của lối sống là những hình thức hoạt độngsống của con ngời, những điều kiện lao động sinh hoạt, cácmối quan hệ qua lại [35, 13-14]
Nh vậy, lối sống là tổng hoà các dạng hoạt động với các
điều kiện xã hội nhất định
Trang 18Theo TS.Ngô Công Hoàn: lối sống thờng nói về một giaicấp, một dân tộc, một quốc gia Còn nếp sống thờng dùngtrong phạm vi hẹp hơn [27, 93-93]
L.V.Kokan cho rằng: Nếp sống của con ngời đợc coi là
sự phản ánh của cá nhân vào xã hội, còn lối sống của con
ng-ời đợc coi là sự phản ánh của xã hội vào cá nhân
A.P.Buchenco quan niệm: Nếp sống không phải là mộtphần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lốisống
Vậy, khi sử dụng thuật ngữ “ nếp sống” là để nói toàn
bộ việc tổ chức sinh hoạt của các thành viên trong mỗi gia
đình để đảm bảo việc thực hiện tốt các chức năng gia
đình, đặc biệt là chức năng giáo dục của gia đình trongnhững điều kiện nhất định
Thói quen: thờng chỉ những hành vi ứng xử của cánhân đợc diễn ra trong những điều kiện ổn định, trongkhông gian và quan hệ xã hội cụ thể.[27, 107-108]
Ví dụ: thí quen nói lời “cảm ơn” khi nhận sự giúp đỡcủa ngời khác thói quen uống trà, tập thể dục vào buổisáng.,…
Trong đó, “các phẩm nhân cách đợc hình thành, pháttriển trong những điều kiện ổn định trên nền tảng thóiquen , nếp sống của gia đình Rất nhiều những phẩm chấtnhân cách tốt đẹp bắt nguồn từ thói quen” [27, 107-108]
Cho dù điều kiện vật chất của chúng ta cha đầy đủ,nhng chúng ta có thể tạo ra một lối sống đẹp, những nềnếp, thói quen có văn hoá Thực chất việc xây dựng lốisống, nếp sống, có văn hoá hiện nay đang xác định sự lựachọn của các cá nhân giữa các phơng hớng vận động củahành vi, nhằm phát triển hệ thống thái độ, ứng xử mang nội
Trang 19dung văn hoá Từ trong môi trờng gia đình và đời sống cánhân tích cực xây dựng hệ thống hành vi văn hoá cho thế
hệ trẻ hôm nay
* Phân biệt khái niệm “văn hoá” với “văn minh”.
Lâu nay, không ít ngời vẫn sử dụng “văn minh”(civilization) nh một từ đồng nghĩa với văn hoá Thực ra, nhviện sĩ D Likhachov (1990) có nhận xét: đây là nhữngkhái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau, songkhông đồng nhất Văn hoá giàu tính nhân bản, nó hớng tớinhững giá trị muôn thuở; trong khi đó thì văn minh hớng tới
sự hợp lý nhất, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi
Nói đến văn minh, ngời ta chủ yếu nghĩ đến các tiệnnghi vật chất Văn là vẻ đẹp, minh là sáng Văn minh kháiniệm có nguồn gốc từ phơng Tây, chỉ thình độ phát triểnnhất định của văn hoá về phơng diện vật chất, mang tínhquốc tế
Nh vậy, văn hoá và văn minh khác nhau trớc hết ở tínhgiá trị: trong khi văn hoá là khái niệm bao trùm, chứa cả giátrị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về giá trịvật chất
Thứ hai, văn hoá và văn minh khác nhau ở tính lịch sử,văn hoá luôn có bề dày của quá khứ, văn minh chỉ là một látcắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của vănhoá Từ “văn minh ” có thể đợc định nghĩa khác nhau, songchúng thờng có chung một nghĩa là nối đến “trình độ pháttriển” Văn minh luôn đặc trng cho một thời đại: nếu thế kỷ
19, chiếc đầu máy hơi nớc đã từng biểu trng của văn minh,thì sang thế kỷ 20, nó phải nhờng chỗ cho tên lửa, vũ trụ,máy vi tính, thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ nano, côngnghệ sạch,…Một dân tộc có trình độ cao có thể có một nền
Trang 20văn hoá nghèo nàn Ngợc lại, một dân tộc lạc hậu có thể cómột nền văn hoá phong phú
Thứ ba, văn hoá và văn minh khác nhau về phạm vi: vănhoá mang tính dân tộc, có giá trị tinh thần và giá trị lịch
sử, giá trị này biểu trng cho từng dân tộc, không thể muabán đợc Còn văn minh mang tính quốc tế, nó đặc trng chomột khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi nó chứa giá trịvật chất, mà vật chất tất nhiên phải trao đổi, mua bán
Thứ t, có sự khác nhau về nguồn gốc: văn hoá gắn bóhơn với phơng Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bónhiều hơn phơng Tây đô thị Các nền văn hoá cổ đại đềxuất phát từ phơng Đông [60, 27-29]
Qua phân biệt ró khái niệm văn hoá và văn minh để
định hớng khi xây dựng khái niệm hành vi văn hoá trong
đề tài của chúng tôi
1.2.2 Hành vi văn hoá
1.2.2.1 Khái niệm hành vi.
Khái niệm “hành vi” đợc xem xét ở nhiều khía cạnhkhác nhau Các nhà sinh học, đại diện là E.L.Toocdai (1874 -1949) xem xét hành vi với t cách là cách sống và hoạt độngtrong môi trờng nhất định, dựa trên sự thích nghi của cơthể với môi trờng Hành vi của con ngời bó hẹp trong các hoạt
động thích nghi với môi trờng để đảm bảo sự tồn tại của cáthể trong môi trờng đó [22]
Theo chủ nghĩa hành vi, bao gồm chủ nghĩa hành vi
cổ điển, đại diện là G.Oát- sơn (1878 - 1952); chủ nghĩhành vi mới, đại diện là Tôn-men (1886-1958), Hô-lơ (1884-1952); chủ nghĩa hành vi bảo thủ, đại diện là P.Ph.Skinơ -
đều cho rằng mọi hành vi đều đợc biểu thị bằng công thức
Trang 21S – R (kích thích – phản ứng) Hành vi đợc thực hiện không
có sự tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách [22]
Luận điểm cơ bản nhất của thuyết hành vi là coi conngời chỉ có khả năng phản ứng thụ động và vì vậy hoàntoàn phụ thuộc vào kích thích tác động lên con ngời, khôngcần biết giữa kích thích và phản ứng có quan hệ gì, khôngcông nhận có tâm lý, ý thức trong việc con ngời thích nghivới môi trờng Cũng nh vậy, một số học thuyết sau này pháttriển lên cũng chỉ coi trọng bản chất của hành vi chứ khôngtính đến tính tích cực của chủ thể, chỉ coi môi trờng là cáiquyết định hành vi [22]
Tâm lý học Macxit quan niệm hành vi của con ngời là
“cuộc sống”, “lao động thực tiễn” tức là hoạt động Hành vicon ngời là biểu hiện bên ngoài của hoạt động đợc điềuchỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, của nhâncách
Theo nhà tâm lý học Nga L.X.Vgotxki, hành vi của conngời đợc hiểu là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lý xãhội của bản thân, nói cách khác hành vi đợc hiểu là hoạt
động đợc nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi củamình, đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác
động lên các đối tợng bên ngoài, hoặc những ngời khác.Muốn có đợc hoạt động tâm lý bên trong thì trớc hết phải
tổ chức đợc hình thức bên ngoài của nó Trẻ em sẽ hoạt
động trớc hết trên những đối tợng bên ngoài rồi “chuyển vàotrong” thành tâm lý, ý thức Hoạt động bên ngoài và hoạt
động bên trong có cùng cơ cấu duy nhất, cấu trúc chung ấy
là cơ sở quan trọng cho các quá trình chuyển hoá “từ ngoàivào trong”, “từ trong ra ngoài” [23, 49]
Đồng thời, L.X.Vgotxki chỉ rõ rằng hành vi ngời và
động vật hoàn toàn khác nhau ở động vật, chỉ có hai loại
Trang 22hành vi kinh nghiệm di truyền và kinh nghiệm di truyền kếthợp tự tạo ở con ngời hành vi loại kinh nghiệm đó còn cókinh nghiệm kép (lao động), kinh nghiệm lịch sử, kinhnghiệm xã hội, kinh nghiệm kép và đợc hiểu ngầm là hoạt
động của con ngời [23, 56] Còn ý thức đợc coi là thực tạikhách quan có chức năng điều chỉnh đối với hành vi
Nh vậy, nguyên tắc trực tiếp của hành vi đợc thay thếbằng nguyên tắc giao tiếp:
S R
X Đó là, nét đặc trng cho hoạt động của con ngời Nhờ
có nguyên tắc này, con ngời có thể điều khiển đợc hoạt
động của bản thân, thoát khỏi tác động trực tiếp của dòngkích thích và hành vi ngời không còn đơn thuần là hành viphản ứng mà là hành vi tích cực
Từ kết quả nghiên cứu của các tác giả cho chúng ta xác
định một số vấn để đối với việc giáo dục hành vi sau đây:
Hành vi con ngời là biểu hiện bên ngoài của hoạt động,
đợc điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể,của nhân cách Cho nên, nhà giáo dục phải đặt vấn đềgiáo dục cả hình thức bên ngoài lẫn bên trong của hành vi.Tức là, vấn đề hình thành hành vi cần đợc xem xét là haimặt thống nhất của một quá trình giáo dục
Hành vi con ngời có tính mục đích và có nghĩa, tức làcùng một lúc tính đến cả chủ thể lẫn thực tại Điều đó chothấy, con ngời chịu tác động của môi trờng sống, nên nhàgiáo dục không đợc coi nhẹ vấn đề hình thành khả năngthích nghi với môi trờng của đứa trẻ Tuy vậy, yếu tố quyết
định hành vi là ở chủ thể Con ngời với ý thức của mình có
Trang 23thể tác động lại với những kích thích, chứ không chỉ chịutác động của chúng.
Khi xét chuẩn mực hành vi của con ngời, phải xem chủthể có nắm đợc nội dung, quy tắc thực hiện hành vi đó, cónhu cầu tình cảm và mong muốn thực hiện không, có khảnăng và thói quen thực hiện hành vi đó không Nghĩa làhành vi đó đòi hỏi có sự tham gia của nhận thức, tình cảm,
ý chí, thói quen Khi xét chuẩn mực hành vi của con ngờiphải xét trong một môi trờng, một cộng đồng nhất định.Khi đánh giá hành vi đó lệch chuẩn hay không lệch chuẩncần xem hành vi đó đợc thúc đẩy bởi động cơ nào và cóphù hợp với chuẩn mực xã hội không Cho nên, có thể nhìnnhận hành vi của con ngời có văn hoá, có đạo đức haykhông cần căn cứ vào lời nói, các cử chỉ, hành động của họ,
“có thể thông qua hệ thống hành vi, cử chỉ trong cuộc sốngcá nhân mà hiểu biết, đánh giá trình độ phát triển nhâncách của cá nhân cụ thể ”
Cấu trúc tâm lý của hành vi:
-ý thức của cá nhân về các chuẩn mực xã hội cần tuântheo
-Sức mạnh thúc đẩy hành động (nhu cầu, tình cảm,…)-ý chí, thói quen tham gia vào quá trình thực hiệnhành vi đó
Trang 24phẩm cách đạo đức cá nhân thể hiện trong các hoạt độngsống của mình Tuỳ thuộc vào sự trởng thành đạo đức củacá nhân mà biểu hiện sống của nó có văn hoá hoặc phảnvăn hoá [35, 176-177]
Theo tác giả Phạm Ngọc Định thì một hành vi có vănhoá phải đạt đợc các yêu cầu: Hành vi thờng xuyên lặp đi,lặp lại tơng đối theo một quy trình bởi nhiều ngời Có tácdụng mẫu mực cho các thành viên trong nhóm hay xã hội,chứa đựng một giá trị nào đó trong cuộc sống Vì vậy,hành vi văn hoá là những hành vi con ngời tự giác thực hiện,
có động cơ phù hợp với chuẩn mực, quy tắc của lối sống xãhội [20]
HVVH là những hành vi của con ngời mang lại sự hiểu biết cho mọi ngời và tạo nên những phong tục, tập quán tốt đẹp, tạo dựng mối quan hệ ngời với ngời
đầy tình thơng và trách nhiệm Nói một cách khác
HVVH là những hành vi mang lại sự tiến bộ, hớng tới chân,thiện, mỹ, biểu hiện nhân cách tốt đẹp cuả con ngời
GS Đức Minh cho rằng: Trong sinh hoạt hàng ngàychúng ta đã hình thành một số quy tắc về cách ăn, mặc,
đi đứng, nói năng giao tiếp, xuất hiện nhu cầu từ đạo đức
và thẩm mỹ của xã hội Những lời nói, cử chỉ, hành động
đó gọi là HVVH Khi nói đến HVVH ngời ta không đề cập
đến toàn bộ nội dung đạo đức, mà chỉ đề cập đếnnhững phạm vi cụ thể: Thói quen, nếp sống,…[39, 115]
Theo quan niệm đạo đức học Mác-Lênin thì: hành vi
đạo đức không chỉ là cách ứng xử bên ngoài, mà là tổnghợp những nhân tố nh ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức,quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức Đó là sự thống nhấtnhững yêu cầu thực tiễn khách quan của xã hội và vai trò củachủ thể hoạt động tích cực trong điều kiện xã hội đó [47]
Trang 25Hành vi đạo đức là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, nhng đợc điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể nhân cách Hành vi đó đợc thực hiện bởi các chủ thể có ý thức, với những mục đích nhất định và chịu sự quy định của chuẩn mực xã hội, đợc xây dựng từ
hệ thống những giá trị.
Các quan hệ giữa con ngời với con ngời trong xã hội rấtphong phú, đa dạng Từ quan hệ gia đình, bạn bè, học tậplao động,… Các quan hệ này đợc gọi là quan hệ xã hội Tuynhiên, các quan hệ xã hội đa dạng và rất phức tạp, pháp luậtkhông thể đa ra quy tắc xử sự cho tất cả đợc, chỉ nhữngquan hệ xã hội mà cần phải tuân theo ý chí của nhà nớc,cần điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật của một nhà nớcthì đợc gọi là quan hệ pháp luật Khi đó giữa các bên thamgia vào quan hệ xã hội đợc pháp luật điều chỉnh: từ lúc phátsinh, tồn tại, chấm dứt đợc dựa trên cơ sở những quy địnhcủa các quy phạm pháp luật và phải có sự kiện pháp lý xảy
ra Các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật phải cónăng lực pháp luật và chịu ràng buộc bởi cách xử sự theo quy
định của pháp luật
Nh vậy, hành vi pháp luật là xử sự của chủ thể pháp luật trong những điều kiện, hoàn cảnh khách quan, cụ thể với những biểu hiện ra bên ngoài và chịu sự chi phối chủ quan của ý thức chủ thể để nhằm đạt đợc những mục
đích nhất định và đợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh [28]
Chúng ta có thể nhận thấy giữa hành vi văn hoá, hành
vi đạo đức, hành vi pháp luật đều đợc biểu hiện qua hoạt
động sống của cá nhân với t cách là chủ thể hoạt động,
đều dựa trên cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác và chịu sựquy định của những giá trị, chuẩn mực chung
Trang 26Qúa trình giáo dục HVVH, hành vi đạo đức, hành vipháp luật đều có chung một quy trình (cơ chế) – tổ chứccác hoạt động sống động và quan hệ của con ngời, đồngthời là quá trình tác động có chủ định đến các mặt: nhậnthức, tình cảm, ý chí và thói quen của cá nhân
Xét về mặt thuật ngữ, khái niệm văn hoá rộng hơnkhái niệm đạo đức và pháp luật VH bao gồm giá trị tinhthần và giá trị vật chất, trong khi đó đạo đức và pháp luậtvới t cách là một hình thái ý thức xã hội, thiên về giá trị tinhthần của con ngời
Hành vi văn hoá, hành vi đạo đức, hành vi pháp luật
đều là mặt biểu hiện hình thái vật chất của ý thức vănhoá, đạo đức, pháp luật của lòng khao khát hớng thiện vànguyện vọng làm đẹp cuộc sống con ngời Hành vi phápluật mang tính giai cấp, đại diện cho quyền lực tối cao củanhà nớc, lấy cơ sở pháp lý làm chuẩn, điều khiển bằngnhững quy định của luật pháp cho quyền và nghĩa vụ củamỗi cá nhân đối với nhà nớc đó Hành vi đạo đức lấy tính utrội chuẩn thiện, ác, lơng tâm, trách nhiệm của con ngờitrong quan hệ giữa con ngời với con ngời Nhng để hành vicủa con ngời xuất phát từ động cơ trong sáng, một hành
động tự nguyện tự giác thì phải cần có những quy tắc,quy định, những luật lệ, phải thờng xuyên thi hành vi tuântheo và chịu ràng buộc
Nói tóm lại, hành vi pháp luật là hành vi biểu hiện ở cấp
độ bắt buộc giữa tuân theo, và xử phạt, là hành vi đạo
đức cấp thấp, còn hành vi văn hoá có thể gọi là hành vi đạo
đức cấp cao Các hành vi này đều đợc điều chỉnh bằngchuẩn mực ngăn cấm và chuẩn mực ràng buộc, nhng hành vipháp luật thì cần có pháp luật điều chỉnh bằng hệ thốngpháp lý do nhà nớc ban hành, hành vi đạo đức thờng do d
Trang 27luận, lơng tâm điều chỉnh Các hành vi này này đều làsản phẩm hoạt động của cá nhân, mang tính chủ thể, tínhlịch sử – xã hội, và tính dân tộc có mối quan hệ biện chứngvới nhau không thể tách rời và là sản phẩm của văn hoá.
Từ sự phân biệt trên chúng ta có thể rút ra kết luận:Nội dung, biện pháp giáo dục hành vi văn hoá, hành vi đạo
đức, hành vi pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vàthống nhất biện chứng với nhau
1.2.3 Gia đình và văn hoá gia đình
1.2.3.1 Gia đình.
GĐ là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng của
đời sống xã hội, là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học
Trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI có nêu: GĐ làmột trong những môi trờng xây dựng con ngời mới xã hội chủnghĩa
GĐ là “tổ ấm”, là đơn vị xã hội có ý nghĩa rất thiêngliêng, một loại “tổ chức” mà các nền đạo đức và phápquyền chính thống trải qua các thời đại đều thừa nhận.Theo cách nhìn của khoa học hiện đại, gia đình là tế bàocủa xã hội, là điều kiện tất yếu bảo đảm sự tồn tại và pháttriển của đời sống con ngời
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa gia đình đợc coi là
“chiếc nôi” của những quan hệ ruột thịt, nơi thể hiệnnhững tình cảm cao đẹp nhất của con ngời Đó cũng là nơithực hiện những nghĩa vụ thiêng liêng nhất đối với đời sống
và sự phát triển của chế độ xã hội Trong báo cáo chính trịtại Đại hội Đảng lần thứ VI có đoạn: “ Con ngời mới là con ngờibiết xây dựng gia đình hạnh phúc trên cơ sở một xã hộihạnh phúc, có trách nhiệm đầy đủ và tình yêu chân thật
Trang 28trong quan hệ vợ chồng, có trách nhiệm cao đối với việc xâydựng con cái thành những con ngời mới…” [39]
Theo từ điển tiếng Việt: GĐ là tập hợp những ngời cùngsống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn
bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thờng có
vợ chồng, con cái và cha mẹ [67]
Nhà xã hội học ngời Nga T.A.Phanxeva trong một côngtrình nghiên cứu của mình đã chỉ rõ có 3 loại quan niêm vềgia đình:
Thứ nhất, GĐ là một nhóm nhỏ xã hội liên kết với nhaubằng chỗ ở, bằng một ngân sách chung và quan hệ ruộtthịt
Thứ hai, khái niệm GĐ cần đợc bổ sung thêm là họ cóquan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và tráchnhiệm cao
Thứ ba, GĐ hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ
và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong GĐ cómối quan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần theo nhữngnguyên tắc, mục đích sống nh nhau về các vấn đề chủyếu trong sinh hoạt
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Rất quan tâm đến GĐ
là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, GĐ tốtthì xã hội mới tốt, Ngời quan niệm gia đình theo hai nghĩa:
GĐ nghĩa hẹp : gia là nhà, đình là cái sân đình GĐchỉ giới hạn trong cái nhà, cái sân, trong đó vợ chồng, cha
mẹ, con cái lo cho cuộc sống ấm no, yên ổn
GĐ nghĩa rộng: chỉ một nhóm ngời cùng mối quantâm, cùng quan điểm, cùng hớng phấn đấu, họ có thể lànhững đồng nghiệp, những đồng chí cùng chí hớng,…
Hai loại GĐ này có mối quan hệ biện chứng với nhau,muốn cho GĐ nhỏ yên ấm thì phải lo cho gia đình lớn
Trang 29Nhiều gia đình nhỏ sẽ tạo nên một gia đình lớn tốt đẹp.[25]
Các nhà giáo dục học và xã hội học đều thống nhất, khitìm hiểu về gia đình cần quan tâm một số mặt sau: vănhoá - xã hội của gia đình phản ánh trình độ giáo dục củacha mẹ, vị trí của cha mẹ trong đời sống, một số đặc
điểm về lối sống, t tởng, đạo đức, phong tục tập quán, nếpsống trong gia đình Mặt kinh tế – xã hội, đề cập tới tàisản, mức thu nhập, các hình thức lao động sản xuất cũng
nh hoạt động kiếm sống Mặt kỹ thuật – vệ sinh, phản ánh
đến điều kiện ăn ở, mức sống, trang thiết bị, nội thất gia
đình Mặt nhân khẩu, đề cập số nhân khẩu và cơ cấugia đình
Hiện nay, GĐ tồn tại dới nhiều hình thức, tuỳ theo mục
đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà có thể phân gia đìnhthành: gia đình truyền thống; gia đình hiện đại; gia
đình hạt nhân (hai thế hệ chung sống, bố mẹ và con cái.);gia đình mở rộng (có từ ba thế hệ trở lên); gia đình phatrộn (xây dựng lại các cặp vợ chồng); gia đình độc thân(một mẹ nuôi con,…);… Xét theo đẳng cấp, theo hình tháikinh tế xã hội có: gia đình nông thôn; gia đình côngnhân; gia đình trí thức; gia đình t sản;…
Tóm lại, với các cách phân tích trên thì bản chất của GĐ
đợc giới hạn trong phạm vi đề tài nghiên cứu của chúng tôi
đ-ợc xác định nội hàm của khái niệm gia đình nh sau:
- GĐ là tổ chức cơ bản, gắn bó của mỗi cá nhân Mọi
ng-ời đợc sinh ra từ trong gia đình, chịu ảnh hởng sâu sắc củagia đình bởi sự chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ từ lúc thai nhitrong bụng mẹ cho đến khi trởng thành
- GĐ là nhóm nhỏ xã hội có các giới tính, hình thành vàphát triển từ hôn nhân, tái sản xuất ra con ngời tạo nên quan
Trang 30hệ ruột thịt, huyết thống Đây là nét đặc trng cơ bản nhấtcủa gia đình
- Các thành viên trong GĐ có thể thuộc nhiều thế hệ,
đợc gắn bó với nhau không chỉ huyết thống, mà còn nhữngtruyền thống, nề nếp gia phong, tạo nên bản sắc văn hoácủa gia đình
- Đời sống GĐ tồn tại nhờ vào một ngân sách chung dokhả năng lao động của các thành viên
- Các thành viên sống chung với nhau dới một mái nhà, cóquan hệ khăng khiết và khăng khiết với nhau băng tìnhcảm, trách nhiệm thiêng liêng của bổn phận
1.2.3.2 Văn hoá gia đình
GĐ ngay từ đầu là một tồn tại văn hoá, một thực thể vănhoá, gia đình luôn bị chi phối bởi các trạng thái xã hội “xã hộinào, gia đình thế ấy” Nếu chúng ta coi GĐ là “xã hội vi mô”thì nó phản ánh tất cả các quan hệ xã hội và tất cả các mặtcủa đời sống xã hội vào bản thân GĐ Mặt khác, “mỗi tế bàocủa xã hội” sẽ tác động ngợc lại vào xã hội Do đó, văn hoá xãhội và văn hoá gia đình cùng nằm trong sự tơng tác vô cùngchặt chẽ
Khi xem xét theo trình tự những mốc quan trọng nhấtcủa một đời ngời trong khuôn khổ gia đình: sinh ra, đợcnuôi dạy, trởng thành,…tất cả những sự kiện ấy đều mangtheo những nội dung VH nhất định
Theo quan điểm xã hội học thì: văn hoá gia đình(VHGĐ) gắn liền với chức năng gia đình là một thể chế xãhội
VHGĐ là một tập hợp của những biểu hiện văn hoá gắnliền các mặt quan hệ và đời sống gia đình “Văn hoá gia
đình là các biểu hiện văn hoá gắn liền với các mặt của củaquan hệ gia đình”, và đời sống gia đình Hay nói cách
Trang 31khác VHGĐ bao gồm tất cả những gì con ngời tạo ra và có
đợc trong môi trờng gia đình
VH là một hệ các bậc giá trị, VHGĐ cũng vậy Theo nghiêncứu của tác giả Võ Thị Cúc: VHGĐ Việt Nam có các hệ thốnggiá trị và các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Các giá trị cấu trúc là những giá trị biến đổi
ít và chậm biểu hiện ở hôn nhân, cách chung sống, quyềnhành, gắn với các quan hệ bên trong gia đình
Thứ hai: Giá trị chức năng là nói lên vai trò của gia
đình trong xã hội, chăm sóc ngời già, ngời không có khảnăng lao động
Thứ ba: Giá trị tâm linh là những giá trị có tính chấtvô hình, bắt buộc các thành viên phải tôn thờ, làm theo mộtcách tự nguyện,…
Truyền thống gia đình: “Sự ổn định về tổ chức đời
sống sinh hoạt gia đình, thái độ hành vi ứng xử của nhiềuthế hệ trong gia đình mở rộng”, những truyền thống gắnliền với bản sắc văn hoá dân tộc nh:
+ Nếp sống gia đình: là cách tổ chức cuộc sống sinhhoạt tơng đối ổn định của các thành viên trong gia đình.Nội dung nếp sống trong gia đình thể hiện ở việc tổ chứccuộc sống của từng nhà
+ Thói quen gia đình: thờng chỉ những hành vi ứng
xử của các cá nhân đợc diễn ra trong những điều kiện
Trang 32không gian và quan hệ cụ thể của gia đình Những hành viứng xử của con ngời đợc lặp đi, lặp lại nhiều lần trở thànhthói quen
+ Tín ngỡng gia đình: là niềm tin của mỗi thành viêntrong gia đình hớng tới những điều linh thiêng nhng lại chanhận thức đợc [8]
Tóm lại, nói đến VHGĐ là nói đến nề nếp, gia phong,những khuôn mẫu chuẩn mực ứng xử trong gia đình
1.2.3.3 Những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay.
Chính sách đổi mới và mở cửa đã đa đất nớc vào thời
kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chuyển từnền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trờng theo
định nghĩa xã hội chủ nghĩa Những thay đổi đó đã và
đang đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, đồngthời cũng tạo nên những thay đổi lớn lao và sâu sắc tronghoàn cảnh sống và tâm lý của mỗi ngời, mỗi gia đình ViệtNam Có ý kiến cho rằng, “phải chăng những biểu hiện tiêucực xã hội, một số tín hiệu suy thoái về đạo đức, tìnhhình trẻ em phạm tội đang có nhiều hớng gia tăng đều cónguồn gốc từ sự xuống cấp của giáo dục gia đình”
Hoà nhập với nền kinh tế đất nớc, mỗi GĐ cũng là một
đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, t tởng làm giàu đợc
động viên, khuyến khích Bên cạnh đó, sự hội nhập, hợp tác,giao lu giữa Việt Nam các nớc trên thế giới đã góp phần phá
vỡ cơ chế khép kín của gia đình truyền thống trớc kia,
“mọi thành viên trong gia đình đợc tiếp xúc với nhiềunguồn tri thức, nhiều kênh thông tin mới, tạo điều kiện giaotiếp rộng rãi hơn, đã làm thay đổi nhận thức, thái độ vànếp sống của các thành viên trong gia đình ”
Trang 33PGS TS Phạm Khắc Chơng cho rằng: GĐ hiện nay cónhững thay đổi mạnh mẽ ở các mặt “cấu trúc gia đình ítnhân khẩu, ít thế hệ ngày càng phổ biến Tính đa dạngnhiều chiều của cá nhân trong gia đình hết sức phong phú,
… Rất ít GĐ có sự thống nhất về nghề nghiệp mà thờng làkết hợp giữa các nghề,…Cơ chế thị trởng đã làm cho vị trí,sức mạnh đồng tiền chi phối hầu hết các hoạt động trong đờisống, làm nảy sinh, phát triển nhanh chóng các tệ nạn xã hội
đáng lo ngại, báo hiệu sự xuống cấp về đạo đức,…Vì vậy,bất luận trong điều kiện hoàn cảnh thì gia đình cũng phảitrực tiếp gánh chịu mọi kết quả tốt đẹp hay h hỏng về sựphát triển nhân cách của con cái mình ” [10, 33]
Sự tác động của xã hội đến GĐ diễn ra thờng xuyên,liên tục ở nhiều mặt khác nhau nh: Vấn đề hôn nhân, vấn
đề sinh con và kế hoạch hoá gia đình, chức năng kinh tếgia đình, vấn đề đạo đức, văn hoá trong GĐ PGS TS PhạmKhắc Chơng nhận xét: hiện nay nhiều bậc cha mẹ đanglúng túng trong nội dung và phơng pháp giáo dục con cái ởcác lứa tuổi khác nhau Do những thay đổi của xã hội xétcả về mặt tích cực lẫn tiêu cực ở hầu hết các bình diệnkinh tế, chính trị, văn hoá - giáo dục Mà đặc biệt là nhữngtruyền thống VHGĐ bị tác động, dẫn đến nề nếp, lễ nghi
Trang 34thu đợc ngay, sẵn sàng hành động Kết quả tốt hay xấucủa GDGĐ không phải chủ yếu có nhiều hay ít thời gian tiếpxúc với con cái, mà chủ yểu do cha mẹ có quan tâm đếnviệc giáo dục con cái nhiều hay ít, có tình thơng và tráchnhiệm đối với con cái nhiều hay ít và biết cách tác độngtích cực đến con cái nhiều hay ít
GĐ nơi đầu tiên hun đúc tâm hồn cho trẻ, tâm hồndân tộc, tâm hồn con ngời Việt Nam đợc phản ánh quatruyền thống bốn nghìn năm văn hiến của đất nớc, phải đợcphát triển hơn trong lòng trẻ qua từng giai đoạn cuộc đời
Mặt khác, truyền thống VHGĐ đợc lu truyền từ thế hệnày qua thế hệ khác, và vẫn luôn đợc phát triển hơn nữabởi: mỗi GĐ phải có gia giáo – giáo dục đạo đức, phẩm chấtcủa con trẻ trong GĐ (chủ yếu là do ông bà, cha mẹ đảmnhiệm); gia lễ - đảm bảo trật tự kỷ cơng, có thứ bậc, ngôi
vị trong gia đình, gia lễ còn là lễ độ của con cháu quahành vi c xử, lời ăn tiếng nói; gia pháp – những phép tắc,luật lệ của gia đình để uốn nắn con cái; gia phong – nềnnếp, lề thói mà mỗi gia thành viên trong gia đình phảituân thủ nghiêm ngặt Chính nội dung này làm cho vai tròcủa gia không thể thiếu đợc trong quá trình giáo dục vàphát triển nhân cách cho trẻ ngày nay [46]
1.2.4 Giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá trong gia đình
1.2.4.1 Giáo dục gia đình
Giáo dục con cái trong gia đình không phải là côngviệc riêng t của bố mẹ mà còn là trách nhiệm, đạo đức, vànghĩa vụ công dân của những ngời làm cha mẹ Chức nănggiáo dục của gia đình vốn đợc hình thành một cách tựphát, đồng thời với sự ra đời của gia đình, nh một hành
Trang 35động tự nhiên, nhng dần dần các bậc cha mẹ đã ý thức đợcgiáo dục con cái nh một trách nhiệm xã hội của gia đình.
Điều 64, trong Hiến pháp nớc CHXH chủ nghĩa Việt Nam
đã quy định: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thànhnhững công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng vàchăm sóc ông bà cha mẹ”
GĐ và nhà trờng là hai thiết chế cùng có chức năng xãhội hoá cá nhân cho con em về mặt văn hoá, đạo đức,chính trị, t tởng, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất,…để chúngtrở thành những công dân chân chính của xã hội mới, thểchế gia đình đã bộc lộ rõ rệt khả năng giáo dục rất to lớn.GDGĐ còn mang tính chất cá biệt rõ rệt trên cơ sở sự pháttriển tâm sinh lý của lứa tuổi và sự tác động thờng xuyên,lâu dài trong đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân từ nhữngtình huống đơn giản đến phức tạp
Đảng và Nhà nớc đã từng nhấn mạnh: đào tạo con ngờimới là nhiệm vụ của toàn thể xã hội, trong đó gia đình giữvai trò vô cùng quan trọng Vì vậy, cha mẹ không thể tự ýgiảm nhẹ trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái,má trái lại cần cần xây dựng gia đình trở thành “trờng học”thật sự để dạy dỗ con em nên ngời
Cốt lõi của việc GDGĐ là bầu không khí tâm lý, đạo
đức, các giá trị văn hoá, nền nếp gia phong,… đến nhữngnếp sinh hoạt hàng ngày trong đời sống của mỗi gia đình
Điều này phụ thuộc nhiều vào trình độ văn hoá, t tởng tìnhcảm của cha mẹ, kể cả việc tổ chức cuộc sống gia đình,
sử dụng thời gian cho con cái Những phong cách ứng xử, mốiquan hệ giữa cha mẹ cũng có ảnh hởng rất đời sống tìnhcảm của con trẻ Bởi vì, trẻ thờng nói tiếng nói của nhữngngời lớn xung quanh, lặp lại những cử chỉ hành động của
họ, bắt chớc nhiều động tác của ngời lớn trong gia đình
Trang 36Sức mạnh tác động bằng tấm gơng của cha mẹ đối với concái có dụng rất hiệu quả, phụ thuộc vào uy tín của họ tronggia đình Nguồn gốc của uy tín là toàn bộ những biểu hiệncủa cha mẹ trong gia đình và ngoài xã hội, trong tình cảm,thói quen, nguyện vọng của họ Tình yêu thơng, sự quantâm của cha mẹ đối với con cái là tiền đề của một nền giáodục tốt Song tình yêu thơng đó phải hớng vào việc thựchiện mục đích giáo dục, đúng mực, không để thiếu cũngkhông thừa và nghiêm khắc
Đặc biệt, sự làm gơng của của cha mẹ sẽ là hình ảnhmang dấu ấn sâu đậm nhất đối với cuộc đời mỗi đứa trẻ, từ
có khả năng hoà nhập, thích ứng, học tập và làm việc theoyêu cầu của xã hội
1.2.4.2 Giáo dục hành vi văn hoá.
Từ khi mới lọt lòng, mẹ đã ru con bằng những lời dạy lễphép, lịch thiệp ở đời:
“Kim vàng, ai nỡ uốn câu Ngời khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”
Sau đó đến dạy con: “học ăn, học nói, học gói, học mở
”, những phép c xử tối thiểu nhất của con ngời Đó chính lànhững biểu hiện của HVVH Điều này, cho thấy giáo dụcHVVH là một quá trình tác động đối với trẻ để hình thành
Trang 37ý thức, thái độ, thói quen, nhận thức những nội dung VHGĐ
và văn hoá chung của xã hội Quan trọng nhất là hình thành
ở trẻ thói quen, HVVH Giáo dục HVVH cho trẻ từ 6-11 tuổi làmột quá trình rất khó khăn phức tạp, đòi hỏi cha mẹ phải cóthời gian, kiên trì, nhẫn nại và rất công tâm rèn luyện trẻ ởmọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ,…
Giáo dục hành vi cho trẻ từ 6-11 tuổi trong gia đình,ngay từ đầu phải cung cấp cho trẻ những hệ thống GTVH,truyền thống VHGĐ, những phép lịch sự của cuộc sống Tức
là, làm cho trẻ hiểu đợc các em cần làm gì, những gìkhông đợc làm, tại sao làm nh thế, Đồng thời, cho các emhiểu và nắm đợc các chuẩn mực HVVH, các nguyên tác ứng
xử trong gia đình cũng nh ngoài xã hội
Tiếp đó, cha mẹ cần tạo cho trẻ có lòng tin về lợi íchcủa các chuẩn mực HVVH, giúp trẻ tôn trọng những chuẩnmực hành vi đó, bắt đầu từ việc cha mẹ xây dựng cho trẻ.Muốn hình thành HVVH cho trẻ ở độ tuổi này một cách bềnvững, trớc hết cha mẹ cần tạo ra những kích thích để trẻ
có những phản ứng tích cực, sau đó là hình thành độngcơ, thái độ tích cực trớc những giá trị, truyền thống vănhoá, từ đó hình thành niềm tin, tình cảm của trẻ
HVVH của trẻ không chỉ dừng lại ở một mức độ thựchiện trong một tình huống ứng xử bất ngờ, mà nó cần phải
đợc trở thành những hành động tự động hoá, trở thành thóiquen văn hoá Song muốn làm đợc điều đó cha mẹ cầnphải tổ chức cho trẻ các hoạt động đa dạng, phong phú,
đây chính là tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện các HVVH
1.2.4.3 Một số nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6-11tuổi trong gia đình hiện nay.
Trang 38- Nội dung tổ chức cuộc sống gia đình, xây dựng nềnếp, thói quen cho trẻ: Trong hoạt động học tập; Trong cuộcsống sinh hoạt hàng ngày và lao động
- Nội dung tổ chức các mối quan hệ của trẻ trong gia
đình: Quan hệ với ông bà, cha mẹ; Quan hệ với anh, chị em;Quan hệ với bạn; Quan hệ với môi trờng xung quanh; Quan hệcủa trẻ với thầy cô, và ngời lớn xung quanh,
Dới đây là một số nội dung tiêu biểu chúng tôi chủ yếudựa vào chơng trình chuẩn của giáo dục tiểu học [16], [78]
- Ăn sạch (không rơi vãi, lãng phí)
- Ăn đẹp (sử dụng đúng đũa, thìa, nhai, húp,…)
- Ăn nhanh gọn (20 – 25 phút)
- Tự thu gọn mâm bát gọn gàng1.3 Việc chuẩn bị đi học:
- Tự thu xếp, chuẩn bị đồ dùng học tập
- Chào hỏi mọi ngời trong nhà trớc khi đi học
- Đi (về) đi bên phải, đi trên vỉa hè, sang đờng
đúng nơi quy định (dành cho ngời đi bộ)
- Không chơi la cà
- Khi đi học về chào hỏi mọi ngời trong gia đình
- Tự để cặp, mũ, giày dép đúng nơi qui định
- Tự thay quần áo, rửa chân tay, mặt mũi1.4 Buổi tối tại gia đình:
- Giúp cha mẹ chuẩn bị bữa tối
Trang 39- Kể lại tình hình học tập, sinh hoạt và thực hiệnnếp sống văn hoá trong ngày.
- Học bài buổi tối
2.5 Biết nghe lời ngời nhắc nhở
3.2 Khi làm sai phải sẵn sàng nhận lỗi và sửa lỗicho đúng (không lẩn trốn, không đổ tại ngời khác)3.3 Chịu trách nhiệm về việc làm của mình(không sợ sệt, không khúm núm)
3.4 Có tinh thần hợp tác, biết chia sẻ
4 Quan
hệ ứng xử
với bạn
4.1 Bình đẳng, tôn trọng bạn 4.2 Biết hợp tác giúp đỡ bạn tận tâm, vui vẻ, sẵnsàng làm việc với bạn theo sự phân công
5.3 Nghe lời, giúp đỡ cha mẹ, ông bà
5.4 Yêu thơng mọi ngời trong gia đình
6 Đối với
thầy cô
giáo
6.1 Kính trọng, lễ phép6.2 Chăm chỉ học tập
7 Đối với 7.1 Vui vẻ, niềm nở
Trang 40đình, biết c xử đúng đắn, biết sống vì ngời khác, vì sựtiến bộ của xã hội Trong đó sản phẩm tinh thần của VH chính
là những hành vi cụ thể đợc trẻ thể hiện trong cuộc sốnghàng ngày Vậy giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình là quátrình tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và hình thànhcho trẻ các thói quen, hành vi, cách ứng xử với mọi ngời tronggia đình, ngoài xã hội theo chuẩn mực của HVVH
1.2.5 Biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình.
Phân biệt BP với một số khái niệm tơng tự nh phơngpháp, cách thức, giải pháp Các khái niệm này đều giốngnhau ở chỗ nói đến cách làm, cách tiến hành một công việc.Tuy nhiên, các khái niệm này có những điểm khác nhau