Tìm hiểu nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” được quy định trong Hiến pháp 2013
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Tìm hiểu nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” được quy định trong Hiến pháp 2013” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng học hỏi và tìm tòi của bản
thân, cùng với đó là sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô Trong suốt quá trình học môn “Luật Hiến pháp Việt Nam” vừa qua, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
và sâu sắc nhất đến thầy- GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã chỉ bảo tận tình giúp tôi
có được nền tảng kiến thức để có thể làm nên đề tài này Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất nhưng đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự góp ý của thầy cô để đề tài này được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại, quyền lực nhà nước là quyền lực gắn liền với sự ra đời của nhà nước, gắn liền với chủ quyền quốc gia Quyền lực nhà nước được sinh
ra để giữ gìn trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển, là có sức mạnh để bảo đảm hoạt động hướng đích của xã hội, giải quyết các mâu thuẫn xã hội, phục vụ lợi ích của cộng đồng và của mỗi con người Quyền lực này thuộc về nhân dân và được thể hiện thông qua những định chế nhà nước – pháp luật
Nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như là một phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, một cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ, trong đó nhà nước tồn tại, phát triển và vận hành trong môi trường pháp luật, coi pháp luật là tối thượng Việt Nam đang xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một trong những mục tiêu của nước ta là hướng đến một hình thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước hợp lý sao cho giữa các cơ quan nhà nước có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, rành mạch và kiểm soát có hiệu quả các cơ quan nhà nước này trong quá trình tổ chức, thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao Đây cũng là một trong những vấn đề trọng tâm, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, quyết định đến sự thành bại của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam Vì thế, tôi chọn chủ đề “Tìm hiểu nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” được quy định trong Hiến pháp 2013” để giúp bản thân và các bạn sinh viên hiểu rõ về cơ sở
hình thành nguyên tắc, nội dung nguyên tắc và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 3NỘI DUNG
NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, CÓ SỰ PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP, KIỂM SOÁT GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP, TƯ PHÁP”
I.1 Cơ sở Hiến định
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013) đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước ta tại Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013
Đó là “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp”
Đây vừa là quan điểm vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kì mới – Thời kì đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị
I.2 Cơ sở lý luận
Trong lịch sử xã hội loài người có 4 kiểu nhà nước Đó là nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Xét trong 4 kiểu nhà nước này, ta thấy:
Bộ máy nhà nước chủ nô, phần lớn các nhà nước chủ nô chưa có sự phân chia quyền lực Ở các nước phương Đông, hình thức chỉnh thể của nhà nước chủ
nô phổ biến là hình thức quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của vua hay quốc vương, hoàng đế Bộ máy nhà nước phong kiến tổ chức theo nguyên tắc tập quyền chuyên chế, toàn quyền lực nhà nước tập trung vào nhà vua
Bộ máy nhà nước Tư sản tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, “tam quyền phân lập”, quyền lực chia làm 3 nhánh: Nghị viện – lập pháp, Chính phủ - hành
Trang 4pháp, Tòa án – tư pháp, độc lập với nhau và kiến chế đối trọng, kiểm soát lẫn nhau
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất, mục đích, cở sở kinh tế - xã hội khác kiểu nhà nước Phong kiến, Tư sản, là kiểu nhà nước nửa nhà nước nên bộ máy nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa Do đó, quyền lực nhà nước tập trung vào tay của nhân dân (Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp 2013) và nhân dân ủy thác cho cơ quan Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và các cơ quan khác của Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước
THỐNG NHẤT, CÓ SỰ PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP, KIỂM SOÁT GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP, TƯ PHÁP”
II.1 Quy định về tam quyền phân lập ở Việt Nam
Quy định tam quyền phân lập tại Việt Nam thể hiện về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước chứ không tập trung cho một cơ quan nào cụ thể mà sẽ phân ra cho các cơ quan khác nhau: quyền lập pháp giao cho Quốc hội, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Tòa án Tam quyền phân lập được hiểu là nhằm mục đích dùng quyền lực để thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơ quan nhà nước Quy định tam quyền phân lập được thể hiện cho ta thấy rõ và nó giúp ngăn ngừa được sự chuyên chế rất dễ phát sinh ở xã hội lạm quyền Như vậy, có thể hiểu các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
tư pháp phải hoạt động theo nguyên tắc độc lập, có điều kiện kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền để đảm bảo được quyền lực nhà nước
Theo quy định về mặt hình thức thì tại Việt Nam chính là đất nước có hệ thống tam quyền phân lập, gồm có Quốc hội, có Chính phủ, có Tòa án và cơ quan công tố Hệ thống quyền lực theo quy định của pháp luật có cơ cấu tổ chức hoàn thiện từ Trung ương đến các địa phương cấp huyện, quận cho tới cấp xã, phường
Trang 5Hiến pháp Việt Nam đã qua 5 lần thay đổi từ Hiến pháp năm 1946, 1959,
1980, 1992 sửa đổi bổ sung 2001, 2013 hiện hành thì trong đó ta thấy rõ về mối quan hệ trong việc phân quyền theo chiều ngang đã ngày càng được hoàn thiện và
đi đến sự thống nhất từ cơ chế theo tập quyền sang cơ chế phân công, đến phối hợp rồi tiếp theo là phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực
II.2 Quyền lực nhà nước là thống nhất
Kể từ khi có chế độ Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước Việt Nam vẫn được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, tức là quyền lực nhà nước là thống nhất, phủ nhận hoàn toàn những biểu hiện của phân quyền Nhưng với công cuộc đổi mới,
mở cửa và nhất là với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, những hạt nhân hợp lý trong học thuyết phân quyền đã được chúng ta ghi nhận trong quy định của Hiến pháp năm 2013
Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba lĩnh vực quyền lực đó là một khối thống nhất được nhân dân trao cho Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, do nhân dân bầu ra Tuy tổ chức theo nguyên tắc tập quyền nhưng bộ máy nhà nước ta có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp đồng thời cũng có thẩm quyền trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp Chính phủ là cơ quan hành pháp nhưng cũng
có vai trò quan trọng trong lập pháp và tư pháp Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là những cơ quan tư pháp nhưng cũng có những thẩm quyền nhất định trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp Tất cả đều hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội
Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013, quyền lực nhà nước là thống nhất vì quyền lực nhà nước bao giờ cũng thuộc vào một giai cấp hay liên
minh giai cấp nhất định Ở Việt Nam, “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp 2013) Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Trang 6Nhân dân được Hiến pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dân thông qua quyền lập hiến giao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp như các Hiến pháp trước đây Theo điều 70 Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn
và nhiệm vụ về giám sát tối cao và quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước Đồng thời điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước mà còn bằng dân chủ trực tiếp thông qua việc thực hiện quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong
đó có trưng cầu ý dân về Hiến pháp (điều 29 và điều 120 Hiến pháp 2013)… Có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân chứ không phải tập trung ở Quốc hội Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Điều đó chỉ ra rằng quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như Điều 3 Hiến pháp 2013 đã quy định
Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất như nói trên của Hiến pháp năm 2013 là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm của nhà nước trước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất
Trang 7là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là Nhân dân Mọi biểu hiện xa rời quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 đều dẫn đến tổ chức quyền lực nhà nước kém hiệu quả
II.3 Phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
II.3.1 Về sự phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Mặc dù quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng không phải tập quyền, tập trung tuyệt đối vào một nhánh, đề cao quyền lực của một nhánh quyền và hạ thấp vai trò của các nhánh quyền còn lại
Quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công hợp lý Phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là giao cho từng nhóm các cơ quan nhà nước thực hiện một quyền lực nhất định nào đó có tính chuyên môn Cần phải phân công thực hiện quyền lực nhà nước vì nếu tất cả quyền lực nhà nước tập trung trong tay một người hay một cơ quan sẽ dẫn đến ôm đồm, không hiệu quả, lạm quyền Mỗi nhánh quyền lực cần có
cơ quan “bản tính” khác nhau đảm nhận Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, quyền hành pháp trao cho Chính phủ và quyền tư pháp do Tòa án thực hiện
Bản chất của quyền lập pháp là đại diện cho nhân dân, ý chí của Nhân dân
được thể hiện rất rõ trong chức năng của Quốc hội “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 69 Hiến pháp 2013), chủ yếu thực hiện 3 chức năng:
thực hiện quyền Lập hiến, lập pháp được quy định ở Điều 70 và Điều 120 của Hiến pháp năm 2013; Quốc hội đại diện cho người dân thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, thay mặt nhân dân biểu quyết,
Trang 8quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước với mục tiêu bảo vệ lợi ích của người dân, của quốc gia những vấn đề quan trọng của đất nước
Đối với quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền này được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính
nhà nước từ trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (Điều 94 Hiến
pháp 2013) Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia
do Chính phủ đảm trách Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đề xuất, hoạch định, tổ chức soạn thảo chính sách quốc gia và sau khi chính sách quốc gia được thông qua là người tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển
xã hội Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp được quy định một cách khái quát ở Điều 96 Hiến pháp năm 2013
Quyền tư pháp được trao cho Tòa án - thực hiện chức năng xét xử “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Khoản 1, Điều 102 Hiến pháp 2013) Viện kiểm sát nhân
dân được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp So với quyền lập pháp và quyền hành pháp, quyền tư pháp cần sự độc lập và chỉ tuân theo những nguyên tắc, quy định của pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm (Khoản 2, Điều 103 Hiến pháp 2013) Đây thực chất là quyền bảo vệ pháp luật, thực thi công lý, công bằng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, góp phần xây dựng đất nước ổn định, văn minh, dân chủ và phát triển Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan Mục đích của việc phân công
Trang 9quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là
để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền
Một vấn đề nữa cần xác định rõ đó là quyền lực nhà nước là thống nhất nên
có sự “phân công” mà không phải là “phân chia” như học thuyết “phân chia quyền lực” (hay còn gọi là học thuyết “tam quyền phân lập”), vì vậy quan điểm của Đảng
và tinh thần Hiến pháp năm 2013 đã nhất quán Việt Nam không theo học thuyết
“tam quyền phân lập” như nhiều quốc gia trên thế giới Quyền lực nhà nước được phân định thành ba nhánh và phân công cho các cơ quan khác nhau thực hiện, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động bộ máy nhà nước, tránh trùng lặp, chồng chéo và hướng tới thực hiện mục tiêu chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để đảm bảo được điều đó, ba nhánh quyền không chỉ có
sự phân công mà còn có sự phối hợp lẫn nhau, sự phối hợp tốt nhất đó là các cơ quan đảm bảo thực hiện hiệu lực, hiệu quả tức là làm đúng, đủ và tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn luật định Đồng thời phối hợp chính là để tạo cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan khi thực hiện các nhánh quyền này
II.3.2 Về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Phối hợp là sự hỗ trợ lẫn nhau để cùng thực hiện quyền lực nhà nước, thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước
Như đã nói ở trên, trong nhà nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất Đó
là sự thống nhất về mục tiêu chính trị chung Vì vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không chứa đựng và bao quát việc phân lập mục tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau, mà “ràng buộc lẫn nhau”, cả ba quyền đều phải phối hợp với nhau, phải hoạt động một cách nhịp
nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp – Đạo luật gốc của nhà nước và xã hội quy định
Trang 10Phối hợp trong lập pháp, xây dựng, ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân các cấp cũng như đội ngũ cán bộ, công chức trong
hệ thống các cơ quan này là chức năng của Quốc hội Quốc hội làm luật, sửa đổi luật song Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 84 Hiến pháp 2013).
Ngoài ra, sự tham gia của Quốc hội vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác còn thể hiện ở thẩm quyền bầu, phê chuẩn, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh chủ chốt trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân…
Chính phủ thống nhất quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của quốc gia bao gồm cả đội ngũ nguồn nhân lực công đang hoạt động trong các cơ quan của Quốc hội và cơ quan thực thi quyền tư pháp Chính phủ tham gia vào công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, đảm nhiệm các hoạt động xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực quản lý – một hoạt động mang bản chất tư pháp với quy trình xử lý tương tự hoạt động xét xử của Tòa án nhưng
do cơ quan hành chính nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền hành chính nhà nước thực hiện Các quyết định hành pháp do Chính phủ, các cơ quan hành chính các cấp ban hành là căn cứ quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuy không có quyền ban hành các đạo luật nhưng có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội, có quyền kiến nghị chương trình xây dựng pháp luật hàng năm Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử, nhưng phải phối hợp với Chính phủ trong việc quản lý