1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi

100 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Vốn Ngôn Ngữ Cơ Bản Của Trẻ Mẫu Giáo Lớn (5 - 6 Tuổi)
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 147,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 - 6 tuổi, điều kiện cần thiếtcho trẻ học tập ở phổ thông đợc rất nhiều tác giả dày công nghiên cứunh: A.M.Leusina; X.L.Rubinxtêin; D.N.Ixtomina; Nguy

Trang 1

có thể sử dụng phơng tiện "không mất tiền mua" này để trao đổi thông

tin cho nhau một cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó có thể

dễ dàng hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với nhau…Nhờ ngôn ngữ mà con ngời từ khắp năm châu bốn bể, con ngời ở cácthời đại khác nhau, các thế hệ khác nhau có thể tìm hiểu nhau hoặc giao

lu với nhau… Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta t duy, là chìakhoá vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức khổng

lồ của nhân loại để tha hồ mà chiếm lĩnh nó, phát triển nó, đ a nó đếnvới mọi ngời… Cứ nh thế cá nhân ngày càng hoàn thiện, xã hội ngàycàng văn minh hơn, hiện đại hơn

Khi nói về ngôn ngữ, nhà giáo dục nổi tiếng ngời Nga E.I Tikheeva đã

khẳng định "Tiếng mẹ đẻ là cơ sở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để

chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại" [9].

Bởi vậy giáo dục ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt

đầu ngay từ rất sớm từ tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) đặc biệt là từ 2 - 5tuổi, lứa tuổi này ngôn ngữ trẻ có điều kiện phát triển cực kỳ nhanh vềtất cả các mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà không giai đoạn nào cóthể sánh bằng Nếu nhà giáo dục bỏ qua giai đoạn phát cảm trong ngônngữ này sẽ là thiệt thòi lớn cho sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sẽ khó theokịp sự phát triển của các bạn cùng lứa tuổi E.I.Tikheeva cho rằng pháttriển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu của hoạt động trong tr ờng mẫugiáo, là tiền đề cho mọi sự thành công khác

Mặt khác khi hết tuổi Mẫu giáo trẻ sẽ chuyển sang trờng Tiểu học,

đây là bớc ngoặt quan trọng trong cuộc đời của trẻ 6 tuổi vì trẻ phảichuyển qua một lối sống mới với sự thay thế của hoạt động chủ đạo từvui chơi sang học tập Đồng thời trẻ cũng chuyển qua một vị trí xã hộimới với những quan hệ mới của một ngời học sinh thực thụ Sự thay đổi

đó đòi hỏi trẻ phải có những điều kiện tâm lý cần thiết đủ để trẻ có thểthích nghi bớc đầu với các điều kiện học tập có hệ thống ở phổ thông

Trang 2

mới là ngôn ngữ của trẻ Khi trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trongsinh hoạt hàng ngày: phát âm chuẩn; vốn từ phong phú, đa dạng; câu nóihoàn chỉnh về mặt ngữ pháp là trẻ có một công cụ để t duy trừu tợng, cómột phơng tiện cơ bản để lĩnh hội kiến thức khoa học của các môn học,

đặc biệt là môn Tiếng Việt - môn học đợc xem là cơ bản nhất và khókhăn nhất đối với học sinh lớp 1 và trẻ còn có cả phơng tiện hữu hiệu đểtiếp xúc thuận lợi với môi trờng mới, quan hệ mới

Theo kết quả nghiên cứu test "Sẵn sàng đi học" của Nguyễn Thị

Hồng Nga - Viện Khoa học giáo dục - trong 4 phần của test là ngônngữ, toán, tâm vận động và giao tiếp thì ngôn ngữ của trẻ yếu hơn các

mặt khác (Điểm số trung bình so với % của max về ngôn ngữ chỉ đạt

53% trong khi đó: toán đạt 70%; tâm vận động: 69%, còn giao tiếp là 57%).

Phạm Ngọc Định - Trung tâm công nghệ giáo dục - khi nghiên cứunhững yếu tố tâm lý cần thiết cho trẻ em vào lớp 1 thu đ ợc kết quả là

30% số trẻ ngôn ngữ nói cha rành rọt (nghiên cứu trên 240 trẻ lúc mới

vào lớp 1).

Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu vốn

ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) "làm đề tài luận văn

của mình với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao vốn ngônngữ của trẻ nói riêng và chất lợng giáo dục trẻ mẫu giáo nói chung

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ Mẫu giáo lớn(5 - 6 tuổi) Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp tác động để chuẩn bị tốt vềngôn ngữ cho trẻ trớc tuổi học, giúp trẻ thích ứng với môi tr ờng học tập

ở lớp 1 tốt nhất

Trang 3

3 Đối tợng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

Vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ Mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Khách thể trực tiếp: 60 trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): 27nữ, 33 nam ở trờng mầm non Hoa hồng thành phố Thái bình

- Khách thể gián tiếp: Giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

4.1 Giới hạn về đối tợng nghiên cứu:

Nghiên cứu vốn ngôn ngữ của trẻ có rất nhiều vấn đề phong phú,phức tạp Trong phạm vi luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ giới hạn nghiêncứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ gồm: vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, ngônngữ mạch lạc

4.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:

Trờng Mầm non Hoa Hồng thành phố Thái Bình

5 Giả thuyết khoa học:

Vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn còn hạn chế ch a đủ giúptrẻ thích nghi dễ dàng với việc học tập ở lớp 1 Giữa các trẻ có sự khácnhau về vốn ngôn ngữ Nếu có biện pháp tác động tích cực, phù hợp vớitrẻ thì sẽ nâng cao đợc vốn ngôn ngữ cơ bản cho trẻ, chuẩn bị cho trẻvào học lớp 1 thuận lợi

6 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáolớn (5 - 6 tuổi) nhằm định hớng cho việc nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo (5 - 6tuổi) ở trờng Mầm non Hoa Hồng (Thành phố Thái Bình)

- Thử nghiệm một số biện pháp tác động s phạm nhằm nâng caovốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ

Trang 4

7.5 Phơng pháp đàm thoại

7.6 Phơng pháp thống kê toán học.

(Các phơng pháp nghiên cứu đợc trình bày kỹ ở chơng 2)

Chơng 1

Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Sơ lợc lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Loài ngời ngay từ thuở sơ khai đã sáng tạo ra ngôn ngữ, một hệthống tín hiệu đặc biệt dùng làm phơng tiện cơ bản và quan trọng nhấttrong giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng ngời Cũng từ đóngôn ngữ đợc phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ng ời Ngônngữ chính là một trong những yếu tố nâng tầm cao của con ngời lên vợt

xa về chất so với mọi giống loài

Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con ngời, là công cụ để tduy, để giao tiếp, là chìa khoá để con ngời nhận thức và chiếm lĩnh khotàng tri thức của dân tộc và nhân loại

Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai

đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non) Từ chỗ sinh ra cha có ngôn ngữ,

đến cuối 6 tuổi chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời ng

-ời - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàngngày Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ ở giai đoạn này nếukhông có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì saunày khó có thể phát triển tốt đợc Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung vàngôn ngữ của trẻ trớc tuổi học là vấn đề đợc nhiều nhà khoa học trên thếgiới và trong nớc quan tâm nghiên cứu

Vấn đề ngôn ngữ đã đợc đề cập đến ngay từ thời cổ đại Nhng thời

cổ đại ngời ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíchọc Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ nh là một hình thức biểuhiện bề ngoài của các bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con ng -

ời Trong cuốn "Bàn về phơng pháp", Descartes đã chỉ ra những đặc tính

chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con ng ời, khác với

động vật Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duynhất ấy chắc chắn là của một t duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận

rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con ngời và

Trang 5

con vật" [25] Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hớng tâm lý học mới nảy

sinh trong ngôn ngữ học Ngời đầu tiên sáng lập ra trờng phái ngôn ngữhọc tâm lý là Shteintal (1823 - 1899) Ông đã đa ra học thuyết ngôn ngữ

là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc Theo ông,ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngônngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữcủa dân tộc

Thuyết tâm lý liên tởng - đại biểu là V.Vunt (1832 - 1920) - nghiêncứu lý thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển

đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tởng cótính ngữ đoạn

Sau cách mạng tháng Mời Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lýhọc Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mac-Lênin vào hoạt độngnghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với t cách là một hiện tợngxã hội Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con ng ời với con ngời đ-

ợc quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định.Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t duy và là phơng tiện giao tiếp chủyếu của con ngời Với quan điểm này có thể kể đến: L.X Vgôtxki; R.O.Shor; E.D Polivanov; K.N Derzhavin; B.A Larin; M.V Sergievskij;M.N Peterson; L.J JaKubinskij; A.M Selishchev… Họ đã đi vàonghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và t duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… L.X.V

-gotxki trong cuốn: "T duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt động tinh

thần của con ngời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ khôngphải là một học tập chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phảinhững khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của ng ờilớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ng ời này giúp đỡ trẻ và khuyếnkhích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình t duy trong một xãhội nhất định đợc chuyển giao sang trẻ Do ngôn ngữ là phơng thức đầutiên mà qua đó, con ngời trao đổi các giá trị xã hội, L.X Vgotxki coingôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của t duy [20]

Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi)cũng đợc rất nhiều tác giả trong và ngoài nớc quan tâm và tiếp cận sâu ởtừng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Có thể kể đến các xu hớng nghiên cứu sau:

Trang 6

1.1.1 Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ:

Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp… của trẻ em ở các độ tuổi khácnhau có các công trình nghiên cứu của Dơng Diệu Hoa (1985), NguyễnMinh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989) v.v… Chẳng hạn Lu Thị Lan

(1996) trong công trình nghiên cứu "Những bớc phát triển ngôn ngữ trẻ

em từ 1 - 6 tuổi" [19] đã chỉ rõ các bớc phát triển về ngữ âm của trẻ em

Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 tuổi) giai đoạn ngônngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bớc tiến dài đặc biệt là giai

đoạn 4 - 6 tuổi Các bớc phát triển về từ vựng đợc tác giả thống kê từnglứa tuổi với số lợng từ tối thiểu và số lợng từ tối đa Từ 18 tháng tuổi trở

đi trẻ có sự nhảy vọt về số lợng từ và yếu tố văn hoá, xã hội ảnh hởngtrực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ Các bớc phát triển về ngữ pháptrong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam đợc tác giả nghiên cứu rất cụ thểtừng lứa tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại câu phức nh câu phứcchính phụ, câu phức đẳng lập Câu phức chính phụ xuất hiện muộn và có

số lợng ít hơn

Đặc biệt ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 - 6 tuổi, điều kiện cần thiếtcho trẻ học tập ở phổ thông đợc rất nhiều tác giả dày công nghiên cứunh: A.M.Leusina; X.L.Rubinxtêin; D.N.Ixtomina; Nguyễn Xuân Khoa,Nguyễn Thị Oanh…

A.M.Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạchlạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu vàngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ nh một phơng tiện giao tiếp.Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sanghình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệthống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ

X.L.Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạchlạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói nh một ph-

ơng tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng nh việc nắm vững các hìnhthức ngữ pháp đã ảnh hởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất

định

1.1.2 Nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non:

Trang 7

Có thể kể các công trình nghiên cứu của E.I.Tikhêêva, L.P.Phedorenco, G.A Phomitreva; B.K Lotarep; Nguyễn Gia Cầu; Hà Thị Dân;Nguyễn Xuân Khoa; Nguyễn Huy Cẩn; Nguyễn Thị Oanh; Lu thị Lan…Tác giả E.I.Tikhêêva đã đề ra phơng pháp phát triển ngôn ngữ chotrẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chứccho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh,

kể chuyện cho trẻ nghe… Bà đa ra các biện pháp cụ thể để phát triểnngôn ngữ nói cho trẻ Mẫu giáo nh: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụcho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc chuyện, th từ, học thuộc lòng thơ

ca Những t tởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáodục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [9].

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn "Phơng pháp phát triển

ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo" đã đa ra một số biện pháp hớng dẫn trẻ kể

chuyện nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ gồm: kể lại chuyện, kểchuyện theo tri giác, kể chuyện theo trí nhớ và kể chuyện theo tởng tợng.Tác giả Lu Thị Lan đề cập đến biện pháp phát triển ngôn ngữ đốivới trẻ 4 – 6 tuổi, theo tác giả để phát triển vốn từ cần tổ chức cho trẻquan sát sự vật hiện tợng và đàm thoại, cùng với trẻ phân tích sự vật hiệntợng để giúp trẻ nhận thức mối quan hệ giữa các sự vật hiện tợng Cho trẻnghe thơ, truyện, chơi một số trò chơi nh đoán vật qua tiếng kêu, kể têncác con vật em biết, trò chơi nối từ, nói từ tiếp theo, chơi đóng vai theochủ đề, kể chuyện theo tranh… [17], Tác giả cũng đã nêu các biện phápsửa ngọng cho trẻ rất đơn giản chỉ cần luyện tập một số buổi là trẻ có thểnhận thức đợc cách phát âm đúng, cần căn cứ vào thời gian bị ngọng để

định hình lại cách phát âm chuẩn đòi hỏi ngắn hay dài và sự có mặt củacha mẹ trẻ trong các buổi tập là cần thiết để từ đó họ có thể h ớng dẫn chotrẻ luyện tập pháp âm khi trẻ ở nhà

1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0

-6 tuổi theo từng giai đoạn lứa tuổi:

Theo hớng này có thể kể đến các tác giả G.I Liamina (1960); V.I.

Iadenco (1966); M N Popova (1968); Lu Thị Lan (1986); Bùi Anh Tuấn(1989)… Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theotừng giai đoạn: 12 – 24 tháng, 24 – 36 tháng, 3 tuổi, 4 – 5 tuổi, 5tuổi, 1 – 3 tuổi, 3 – 5 tuổi

Trang 8

1.1.4 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hởng đến sự phát triển ngôn ngữ trẻ em nh môi trờng sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình … Có thể

kể đến công trình nghiên cứu của Lu Thị Lan (1989)

1.1.5 Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ trẻ em với các lĩnh vực khoa học, văn học, giao tiếp, t duy … Với các công trình nghiên

cứu của các tác giả: Đào Thị Minh Huyền (1984); Hồ Lam Hồng (1993);Nguyễn Thạc (1995); Nguyễn Xuân Thức (1997)…

Riêng vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi 5 - 6 tuổicũng có một số công trình nh:

+ Công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức về khả nănghiểu từ của trẻ 5 - 6 tuổi

+ Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Oanh "Các biện

pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi".

+ Luận án Tiến sĩ của Hồ Lam Hồng về "Một số đặc điểm tâm lý

trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hình thức kể chuyện".

+ Luận văn Thạc sĩ "Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn kể

chuyện về sinh hoạt nhằm phát triển lời nói mạch lạc" của Hoàng Thị

Thu Hơng; "Một số biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo chủ đề nhằm phát

triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh" của Huỳnh ái Hồng; "Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo" của Hoàng Thị Hồng

Mát (2002)

Các bài viết trong các tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” cũng quan tâmnhiều đến ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi nhng chủ yếu về vấn đề chuẩn bịcho trẻ Mẫu giáo 5 tuổi học đọc, học viết ở lớp 1 nh bài viết của Lê Thị

ánh Tuyết; "Chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo 5 tuổi học chữ" của Nguyễn

Ph-ơng Nga; "Thực trạng chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số

vào học lớp 1" của Trơng Thị Kim Oanh, "Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện tăng cờng Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số

(K'Ho) ở Lâm Đồng" của Đào Kim Nhung …

Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em đợc các nhà khoa học quan tâmnghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau Có nghiên cứu về cấutrúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh h ởng tác động

đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác

Trang 9

lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ… Tuy nhiên, ở ViệtNam các công trình nghiên cứu mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà trẻ,

ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 - 6 tuổi Trong các côngtrình nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi chủ yếu đi sâu nghiên cứuvào một mặt của sự phát triển ngôn ngữ nh hiểu từ hoặc ngôn ngữ mạchlạc… Trong ngôn ngữ mạch lạc thì lại chủ yếu đi vào nghiên cứu biệnpháp hình thành và phát triển ngôn ngữ mạch lạc Nhiều ngời rất quan

tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo học đọc và viết ở lớp 1 (Tức là

quan tâm đến làm quen với chữ cái của trẻ 5 tuổi).

Ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻtiếp xúc với môi trờng mới lạ ở phổ thông, giúp trẻ lĩnh hội đợc nhữngkiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở phổ thông… Vìvậy việc nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ cả về vốn từ, ngữ âm,ngữ điệu, ngữ pháp, ngôn ngữ mạch lạc là rất cần thiết Thông qua đó,chúng ta có thể giúp trẻ có sự phát triển ngôn ngữ một cách đầy đủ vềcác mặt, đó cũng là phơng tiện cơ bản nhất, quan trọng nhất để trẻ tiếpthu tri thức không chỉ môn Tiếng Việt mà còn tất cả các môn học kháccủa chơng trình lớp 1 Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu vốnngôn ngữ cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi với hy vọng góp một phần nhỏ vàoviệc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1

1.2 Khái niệm chung về ngôn ngữ:

1.2.1 Khái niệm về ngữ ngôn và ngôn ngữ:

Ngữ ngôn bao gồm một hệ thống các kí hiệu từ ngữ và hệ thống quy

tắc ngữ pháp có chức năng là một phơng tiện của giao tiếp, một công cụcủa t duy

Ngữ ngôn là một hiện tợng tồn tại khách quan trong đời sống tinhthần của xã hội, là một hiện tợng của nền văn hoá tinh thần của loài ngời.Ngữ ngôn là đối tợng của khoa học về tiếng Ngữ ngôn gồm 2 bộ phận là

từ vựng, các ý nghĩa của từ và ngữ pháp - là một hệ thống các quy tắcquy định sự ghép các từ thành câu

Bất cứ một thứ ngữ ngôn nào cũng chứa đựng hai phạm trù: phạmtrù ngữ pháp - là một hệ thống các quy tắc quy định việc thành lập từ và

câu, phạm trù này đặc trng cho từng thứ tiếng (Ngữ pháp tiếng Việt khác

ngữ pháp tiếng Anh …) và phạm trù lôgíc - là quy luật, phơng pháp t duy )

đúng đắn của con ngời, nó chung cho cả loài ngời Vì vậy, tuy dùng các

Trang 10

thứ tiếng (ngữ ngôn) khác nhau, các dân tộc khác nhau vẫn hiểu đợcnhau.

Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ ngữ ngôn để

giao tiếp, để truyền đạt, để lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sửhoặc để kế hoạch hoá hoạt động của mình

Ngôn ngữ là một quá trình tâm lý Nó là đối t ợng của tâm lý học.Ngôn ngữ đặc trng cho từng ngời Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thểhiện ở cách phát âm, cấu trúc của câu, sự lựa chọn của từ

Tuy ngôn ngữ và ngữ ngôn khác nhau nh vậy nhng chúng lại cóquan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau: Không có một thứtiếng (Ngữ ngôn) nào lại tồn tại và phát triển bên ngoài quá trình ngônngữ Ngợc lại, quá trình ngôn ngữ không thể có đợc nếu không dựa vàomột thứ ngữ ngôn nhất định Ngôn ngữ của cá nhân làm phong phú ngữngôn của dân tộc

1.2.2 Chức năng cơ bản của ngôn ngữ:

Ngôn ngữ có ba chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, ngôn ngữ là phơng tiện truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài ngời.

Kinh nghiệm lịch sử xã hội loài ngời lu truyền đợc từ đời này sang

đời khác phần lớn dới dạng ngôn ngữ Thế hệ đi trớc truyền đạt, thế hệ đisau lĩnh hội những kinh nghiệm quý báu ấy biến thành vốn liếng riêngcho bản thân cũng đều phải sử dụng ngôn ngữ làm phơng tiện cơ bảnnhất

Thực vậy, thoạt tiên trẻ không tự nhận thức đợc thế giới xung quanh

Để thoả mãn nhu cầu nhận thức, trẻ đặt ra nhiều câu hỏi cho ng ời lớn vànhững ngời xung quanh, nhờ những câu trả lời đó trẻ mở rộng dần vềnhận thức những vấn đề tự nhiên, xã hội và con ngời Còn ngời lớn muốndạy trẻ điều gì phải sử dụng lời nói để giải thích, hớng dẫn kèm theohành động mẫu của mình Nếu không, trẻ sẽ chỉ bắt chớc nh một con khỉcon mà không hiểu đợc tại sao phải nh vậy

Nh vậy ngôn ngữ có tác dụng xã hội hoá sự phản ảnh của mỗi cánhân và làm cho nó trở thành ý thức

Thứ hai, ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp cơ bản nhất của con ngời:

Trong giao tiếp con ngời sử dụng rất nhiều phơng tiện nh: lời nói,hành vi, cử chỉ, sắc thái biểu cảm, kết hợp với âm thanh của âm nhạc,

Trang 11

màu sắc của hội hoạ… Trong mọi phơng tiện đa dạng ấy, không ai có thểphủ nhận rằng ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp cơ bản nhất của con ngời.

So với lời nói thì các phơng tiện khác hạn chế hơn rất nhiều Vì có những

cử chỉ, sắc thái biểu cảm… chỉ một số ngời hay ngời trong cuộc mới hiểu

đợc còn ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin, t tởng, tình cảmchính xác, rõ ràng và hoàn toàn xác định Chính nhờ có ngôn ngữ tronglao động, trong sinh hoạt con ngời có thể dùng chúng làm phơng tiệnchính, thờng xuyên để diễn đạt và làm cho ngời khác hiểu đợc những t t-ởng, tình cảm, trạng thái nguyện vọng của mình Với sự hiểu biết lẫnnhau, con ngời có thể đồng tâm hiệp lực để cùng nhau chinh phục thiênnhiên, chinh phục xã hội và làm cho đời sống con ng ời ngày càng pháttriển văn minh hơn, tốt đẹp hơn

Thứ ba, ngôn ngữ là công cụ của hoạt động trí tuệ, có chức năng thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động trí tuệ của con ng ời (Bao gồm cả việc kế hoạch hoá hoạt động, thực hiện hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đặt ra).

Nhờ có ngôn ngữ mà con ngời có thể lập kế hoạch, định ra mục đíchcần đạt tới trớc khi tiến hành bất cứ một công việc gì và kể cả trong khitiến hành công việc, ngôn ngữ giúp con ngời tổ chức, hớng dẫn, điềuchỉnh và điều khiển hoạt động của mình Điều đó đã đem lại cho con ng -

ời những thành tựu vĩ đại, làm cho con ngời ngày càng khác xa về chất sovới động vật

Ba chức năng cơ bản nói trên của ngôn ngữ có mối quan hệ khăngkhít với nhau và dới một góc độ nào đó chúng ta có thể quy chúng về mộtchức năng là giao lu Nếu xét vai trò của ngôn ngữ là một công cụ củahoạt động trí tuệ thì chính công cụ này cũng biểu hiện nh là mặt hoạt

động giao lu chỉ khác ở chỗ đó là hoạt động tự giao lu với bản thân màthôi Mặt khác, công cụ đó cũng đợc bộc lộ nh là một hoạt động điềuchỉnh hành vi và hoạt động của con ngời

1.2.3 Cấu trúc của ngôn ngữ:

Ngôn ngữ đợc cấu thành bởi 3 bộ phận cơ bản: từ vựng, ngữ âm vàngữ pháp

- Từ: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hìnhthức, là vật liệu xây dựng không thể thiếu đợc của ngôn ngữ Từ là đơn vịtrung tâm của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa

Trang 12

Có 2 dạng lời nói: lời nói bên trong và lời nói bên ngoài.

Lời nói bên trong là một dạng hoạt động lời nói hớng vào bản thân

chuẩn bị cho giai đoạn giao tiếp giúp con ngời tự điều chỉnh, tự thíchnghi vì vậy lời nói bên trong đợc coi là lời nói dành cho bản thân mình

Lời nói bên ngoài gồm lời nói độc thoại và lời nói đối thoại.

Một trong những chức năng của lời nói là trình bày, biểu đạt t tởng.Chỉ trên cơ sở nắm vững hệ thống hành động trí tuệ mới có thể phát triển

đợc lời nói một cách hữu hiệu: S.L Rubinstêin cho rằng: Bằng lời nói,chúng ta trình bày t tởng, trong khi trình bày t tởng bao giờ ta cũng hìnhthành lời nói Trình bày t tởng bằng lời nói sẽ khiến cho chính t tởng trởnên khúc chiết hơn, sáng rõ và nhất quán hơn Lời nói là một hoạt độngtâm lý đi kèm với hoạt động nhận thức, cảm xúc, ý chí, trí nhớ đặc biệt là

t duy Lời nói của mỗi cá nhân mang đặc trng riêng về cách phát âm,cách lựa chọn và sử dụng từ, cấu trúc câu và luôn tơng ứng với năng lựcnhận thức của từng cá nhân Lời nói đợc phát triển tốt sẽ là một trongnhững phơng tiện quan trọng nhất của hoạt động tích cực đối với con ng -

ời trong xã hội

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái chung

và cái riêng Nếu ngôn ngữ đợc coi là sản phẩm, là ký hiệu chung cho cảmột cộng đồng thì lời nói là sản phẩm riêng biệt của mỗi cá nhân Ngônngữ mang tính khái quát và có tính ổn định trong một thời gian tơng đốilâu, còn lời nói lại mang tính cụ thể, nhất thời và luôn luôn thay đổi.Tuy có sự đối lập, nhng giữa ngôn ngữ và lời nói lại có mối quan hệmật thiết với nhau Ngôn ngữ đợc con ngời thể hiện trong lời nói và lời

Trang 13

nói là phơng tiện tồn tại của ngôn ngữ Ngôn ngữ cần thiết để cho lời nói

có thể hiểu đợc và chính nhờ có lời nói mà ngôn ngữ đợc xác lập, tồn tại

và phát triển Lời nói cũng chính là ngôn ngữ, nó cũng mang trong mìnhmặt xã hội của ngôn ngữ lẫn những sắc thái cá nhân của ngời nói

1.2.5 Các yếu tố ảnh hởng đến sự phát triển ngôn ngữ:

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố.Yếu tố đầu tiên cần phải có là sự phát triển của hệ thần kinh, sinh lý, sựhoàn thiện của bộ máy phát âm, sự phát triển của các giác quan đặc biệt

là thính giác, thị giác Các yếu tố vật chất này là tiền đề trực tiếp cho sựhình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ Một thực tế ai cũngnhận thấy đó là trẻ mới sinh ra mặc dù đợc tiếp xúc ngay với môi trờngngôn ngữ, đợc bố mẹ và những ngời thân luôn luôn nói với trẻ những lờinói yêu thơng trìu mến, ngời lớn luôn dạy trẻ nói, mong chờ trẻ biết nóinhng trẻ vẫn không thể nói đợc ở giai đoạn dới 8 tháng tuổi Thờng phải

đến cuối một tuổi trẻ mới phát âm đợc những từ hết sức đơn giản, đơn âmtiết Chúng ta cũng thấy những đứa trẻ có những yếu tố vật chất này pháttriển không bình thờng nh trẻ bị điếc, câm, bệnh lão, lỡi dị tật (ngắn, dài)

sẽ gây ảnh h

không nói đợc hoặc nói ngọng

Có các điều kiện sinh học thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ nh ngnếu không đợc sống trong môi trờng ngôn ngữ thì cũng không thể cóngôn ngữ Điều này đợc chứng minh bởi những trẻ em không may bị

động vật nuôi ở ấn Độ ngời ta phát hiện hai đứa trẻ bị chó sói nuôi Hai

bé gái, một bé khoảng 8 tuổi, 1 bé chừng 1 tuổi r ỡi đã đợc đem về ở vớicon ngời Hai bé này đều không biết nói tiếng ngời, chỉ rú lên nh sói Bénhỏ đã chết trong vòng 1 năm, còn bé lớn ngời ta dạy nói nhng khó khănnắm mới học đợc 40 từ

Nh vậy, cũng có nghĩa là điều kiện thể chất nếu không đ ợc phát huy

đúng lúc, thì sự phát triển ngôn ngữ vẫn khó khăn Một minh chứng kháccũng làm rõ thêm về vấn đề này là: Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ởmột số nớc Châu Âu, nhiều tổ chức từ thiện tìm kiếm trẻ vô thừa nhận về

nuôi trong những nhà 'trẻ mồ côi" ở đây trẻ đợc nuôi khá tốt với đầy đủ

thức ăn, quần áo và các tiện nghi khác Hàng ngày trẻ chỉ nằm trong gi ờng của mình, đến bữa các bà bảo mẫu mới xe thức ăn đến từng gi ờngbón cho trẻ ăn với khẩu trang đeo mồm rồi lẳng lặng bớc ra Sau một thời

Trang 14

-gian ngời ta thấy nhiều cháu trở nên ngớ ngẩn, chậm biết nói và chậmphát triển về mọi mặt so với trẻ bình thờng, thậm chí có cháu không biếtnói.

Nh vậy giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thờng xuyên với trẻ là yếu tố vôcùng quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Nếu trẻ đợc sốnggiữa những ngời có trình độ ngôn ngữ tốt thì khả năng ngôn ngữ của trẻ

đợc phát triển tốt Trẻ học đợc cách phát âm chuẩn, vốn từ phong phú,giọng nói truyền cảm, có ngữ điệu, biết dùng từ hay, hình ảnh đẹp vàotrong lời nói Và ngợc lại nếu trẻ sống trong môi trờng không thuận lợicho sự phát triển ngôn ngữ thì ngôn ngữ của trẻ chậm phát triển, sẽ cónhiều tật về ngôn ngữ nh: nói ngọng, nói trống không, nói không toát ý,

rõ nghĩa…

Sự hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ còn phụthuộc vào sự phát triển về khả năng nhận thức của trẻ Chúng ta đã biếtngôn ngữ là phơng tiện để nhận thức và hiểu biết lẫn nhau Nhận thứccủa trẻ phát triển từ mức độ nhận thức cảm tính đến mức độ nhận thức lýtính Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào quá trìnhphát triển này Thông qua các quá trình cảm giác, tri giác trẻ nắm đ ợcnhững thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tợng, cùng với việc nghe vàhiểu lời nói do ngời lớn nói và giải thích dần dần ở trẻ hình thành những

từ đầu tiên Số lợng từ của trẻ tăng dần theo sự nhận thức của trẻ về thếgiới xung quanh Đồng thời vốn từ đó lại làm phơng tiện để trẻ tiếp tụcnhận thức thế giới xung quanh làm cho khả năng nhận thức của trẻ ngàycàng cao hơn Trẻ có thể nói tên, màu sắc, hình thành các biểu t ợng mới

về đặc điểm tính chất của vật, làm quen với các khái niệm không gian,thời gian, lắng nghe và phân biệt các âm thanh của ngôn ngữ Nh vậy,ngôn ngữ của trẻ chỉ đợc phát triển khi trẻ đợc hoạt động với các đối tợngtrong thế giới khách quan Nếu ta tách trẻ khỏi thế giới của các sự vật,hiện tợng trẻ sẽ không có những ấn tợng, biểu tợng về các sự vật hiện t-ợng khách quan, trẻ sẽ không tiếp thu đợc những từ ngữ gắn với các hiệntợng ấy nh tên gọi, màu sắc, hình dạng, mùi vị, tính chất… Càng đợctiếp xúc nhiều với các đồ vật, các hiện tợng trong xã hội, thiên nhiên, thìnhận thức của trẻ về thế giới xung quanh sẽ phong phú hơn rất nhiều Cácbiểu tợng đa dạng về thế giới đồ vật sẽ làm cho ngôn ngữ của trẻ khôngchỉ tăng lên về số lợng mà nghĩa của từ cũng đợc trẻ hiểu một cách đầy

Trang 15

đủ hơn và chính thế giới xung quanh muôn màu, muôn vẻ còn kích thíchtrẻ hay nói, hay hỏi để thoả mãn nhu cầu nhận thức, tức là trẻ sử dụngngôn ngữ tích cực hơn Do đó, khả năng ngôn ngữ của trẻ đ ợc phát triểnnhanh hơn Hơn nữa nhờ có ngôn ngữ trẻ có thể tìm hiểu những mối quan

hệ, liên hệ có tính quy luật giữa các sự vật hiện tợng, biết so sánh, tổnghợp, phân tích để hình thành những khái niệm đơn giản, cũng chính nhờkhả năng t duy ấy mà khả năng ngôn ngữ của trẻ ngày càng hoàn thiệnhơn

Các công trình nghiên cứu đã cho phép rút ra rút ra kết luận về cơchế tâm lý của sự hình thành và phát triển tiếng mẹ đẻ là: Sự nảy sinh vàphát triển tiếng nói bắt nguồn từ hoạt động bên ngoài (thao tác, đối t ợng)rồi đến hoạt động bên trong (tâm lý), từ nhu cầu giao tiếp, hoạt động giaotiếp trong xã hội Sự phát triển tiếng mẹ đẻ gắn liền với sự phát triển tduy lôgíc Đối với trẻ cần tổ chức những hoạt động thực tiễn phong phú

để trẻ nắm đợc toàn bộ sự phong phú của thực tại, các hình thức đa dạngcủa hoạt động giao tiếp của trẻ để phát triển tiếng cho trẻ Các tác phẩmvăn chơng, cũng nh thế giới đồ vật là kết tinh của năng lực ngời, năng lực

t duy, năng lực sáng tạo ngôn ngữ của loài ngời [15]

1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo:

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối vớicác hiện tợng ngôn ngữ Điều đó khiến cho ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độphát triển khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đã biết

sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày Sựhoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở trẻ mẫu giáo theo các hớng: ngữ âm đợc hoànthiện dần, vốn từ đợc mở rộng, trẻ sử dụng tơng đối đúng ngữ pháp tiếng

mẹ đẻ

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo đợc diễn ra trên cơ sở cácthành tựu phát triển ngôn ngữ của trẻ tuổi nhà trẻ (1 - 3 tuổi), đặc biệt làthời kỳ phát cảm ngôn ngữ ở giai đoạn 2 - 3 tuổi, vì thế vào cuối tuổi lên

3, trẻ em đã nghe và hiểu lời nói của ngời lớn vợt ra khỏi tình huống cụthể Lúc này trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ nh là một phơng tiện cơ bản

để nhận thức thế giới xung quanh Đồng thời trẻ cũng đã phần nào nắm

đợc ngữ pháp đơn giản của tiếng mẹ đẻ Cùng với việc sự nắm vốn từ,biết phát âm ngày càng giống hơn với cách phát âm của ngời lớn, trẻ đãbiết sử dụng ngôn ngữ làm phơng tiện để giao tiếp với mọi ngời xung

Trang 16

quanh, để nhận thức hiện thực khách quan xung quanh trẻ Tuy nhiên ởgiai đoạn này việc phát âm hiểu nghĩa của trẻ và lĩnh hội cấu trúc ngữpháp cũng nh việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp hoàn cảnh giao tiếp cụ thểcủa trẻ vẫn cha thực sự hoàn chỉnh Sang tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi), ngônngữ của trẻ mẫu giáo tiếp tục đợc phát triển, diễn ra trong mối quan hệvới sự phức tạp hoá hoạt động của trẻ và sự biến đổi các quan hệ vớinhững ngời xung quanh, đặc biệt là trong giao tiếp Trẻ mẫu giáo cónhiều khả năng thu thập tri thức phong phú và đa dạng, có tính tự chủ caohơn tuổi ấu nhi Ngời lớn đề ra cho trẻ những yêu cầu mới, dạy trẻ làmnhững nhiệm vụ nhất định, tổ chức cho trẻ nhiều hoạt động hơn, nội dungphong phú hơn (Trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi xây dựng, vẽ,nặn, hát, múa, đọc thơ, kể chuyện với nhiều hình thức… ở tuổi ấu nhi,) hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật Trong hoạt động nàytrẻ có thể một mình tác động vào đồ vật Còn tuổi mẫu giáo, hoạt độngchủ đạo là hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ

đề Với trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ không thể chơi nếu không cómột trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Nếu đứa trẻ không diễn

đạt mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi, nếu nókhông hiểu đợc những lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn cùng chơi, trẻ

sẽ không thể phối hợp đợc cùng với các bạn trong quá trình chơi, các bạn

sẽ không cho chơi Để đáp ứng đợc với những yêu cầu của việc cùng chơi

đòi hỏi ở trẻ phải phát triển ngôn ngữ mạch lạc, do đó trò chơi ở tuổi mẫugiáo chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanhchóng Trẻ mẫu giáo còn đợc tham gia vào các hình thức lao động đơngiản và hình thức học tập tuy còn ở dạng sơ khai Mặt khác ở tuổi mẫugiáo, nhu cầu giao tiếp của trẻ ngày càng phát triển, phạm vi giao tiếpcủa trẻ đợc mở rộng hơn, trẻ em trở nên độc lập hơn, vợt ra khỏi khuônkhổ những liên hệ gia đình chật hẹp và bắt đầu giao l u rộng rãi hơn vớinhững ngời khác, nhất là với bạn cùng tuổi Hơn nữa, việc phát triểnngôn ngữ của trẻ mẫu giáo còn liên quan chặt chẽ với sự phát triển t duy

Đặc biệt là sự chuyển biến từ kiểu t duy trực quan - hành động sang kiểu

t duy trực quan - hình tợng, kiểu t duy bắt đầu có lập luận trong óc Tấtcả những cái đó kích thích trẻ vơn tới nắm các phơng tiện ngôn ngữ ngàycàng phong phú, chính xác, chuyển sang một bớc mới trong sự phát triểnngôn ngữ Từ vựng của trẻ mẫu giáo tăng lên rất nhanh (từ 300 - 400 từ ở

Trang 17

lứa tuổi ấu nhi đến cuối mẫu giáo trẻ đã có 3.000 - 4.000 từ) [35] Cấutrúc ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo đợc hoàn thiện dần, phát

âm cũng chính xác nhiều so với ấu nhi Nếu ngôn ngữ của trẻ ấu nhi cóliên quan chủ yếu với cái đang tri giác và đang làm trong một thời điểmthì trẻ mẫu giáo, ngoài cái đó ra trẻ đã bắt đầu và tự tiến hành nhữngcuộc nói chuyện về các sự vật xa hơn mà trẻ chỉ có thể t ởng tợng ra hoặchình dung đợc trong óc Đặc biệt đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ có thể sửdụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày và ngônngữ thực sự trở thành cơ sở để cải tổ các quá trình tâm lý, giúp cho đờisống tinh thần của trẻ có một chất lợng mới Khi nghiên cứu ngôn ngữcủa tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi), các nhà tâm lý học chia làm 3 độ tuổi làmẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn và nhận thấy rằng từng độtuổi đó ngôn ngữ của trẻ có các mức độ phát triển khác nhau về tính chất,vốn từ, ngữ pháp, ngữ âm

1.3.1 Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi:

+ Vốn từ: Số lợng từ ngữ trẻ em lĩnh hội đợc từng giai đoạn 3 - 4

tuổi khoảng từ 800 - 1926 từ [11] Trong đó phần lớn là danh từ, động từ,còn các từ loại khác là tính từ, trạng từ, đại từ chiếm tỷ lệ thấp

Cụ thể: 3 tuổi ( 800 từ trở lên) trong đó:

Trang 18

và mọi ngời xung quanh nh ăn, ngủ, tắm rửa, dọn, giặt, đi chợ, đi làm…hoặc các từ chỉ hành động của các con vật mà trẻ biết nh cào, cắn, nhảy,bơi, mổ, kêu…

- Theo một số kết quả nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về ngônngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở nội thành Hà Nội của Trung tâm nghiêncứu giáo dục mầm non cho biết số lợng từ của trẻ tăng dẫn theo thángtuổi

+ Nắm ngữ âm, ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Về phát âm của

trẻ 3 tuổi hãy còn nhiều nét đặc trng cho ngôn ngữ của trẻ thuộc lứa tuổi

ấu nhi Trẻ 3 - 4 tuổi phát âm cha đợc thành thạo Có thể giải thích hiệntợng này một phần là do trẻ không biết điều khiển bộ máy ngôn ngữ củamình, một phần là do thính giác ngôn ngữ của trẻ cha phát triển đầy đủ.Trong phát âm trẻ còn mắc nhiều lỗi, phát âm ch a chuẩn về dấu thanh,

âm đệm, âm cuối của tiếng, của từ Đa số trẻ phát âm ch a chuẩn về thanhngã () vì đây là thanh phát âm khó nhất trong các thanh, trẻ th ờng

chuyển thanh ngã thành thanh sắc Ví dụ "ngã" thành "ngá", "đĩa" thành

"đía" Thanh hỏi cũng có nhiều trẻ phát âm thành thanh nặng nh "ngủ"

thành "ngụ".

Khi phát âm đệm, trẻ hay sai phạm vì âm đệm khi phát âm trẻ phải

điều khiển sao cho môi dới đặt vào răng, đầu lỡi đặt vào lợi, gốc lỡi ấnxuống, thân lỡi cong lên thì mới phát âm đúng đợc, nhng trẻ thờng đọc l-

ớt nên thờng phát âm không đúng Ví dụ từ "huếch hoác" trẻ phát âm thành từ "hếch hác", từ "loắt choắt" phát âm thành "lắt chắt".

Các âm cuối, nhất là âm ch, nh trẻ thờng phát âm sai:

Ví dụ: "anh" phát âm thành "ăn"

"ếch" phát âm thành"ất"

Trang 19

+ Nắm cơ cấu ngữ pháp:

Trẻ 3 - 4 tuổi đã nắm đợc ngữ pháp cơ bản để diễn đạt khá chính xácnhững nhu cầu cơ bản Ngôn ngữ của trẻ đợc xây dựng từ câu ngắn (câu

đơn) đến câu có nhiều âm tiết (câu phức)

Theo nghiên cứu của E.A.Arkin, trong 1000 tình huống giao tiếpcủa trẻ, tác giả đã thống kê đợc: 40% câu đơn âm tiết; 38% câu hai âmtiết; 17% câu 3 âm tiết; 4% câu 4 âm tiết; chỉ có 2% câu 5 âm tiết

Tuy nhiên trong ngôn ngữ của trẻ 3 - 4 tuổi còn cha hoàn chỉnh vềngữ pháp, trẻ vẫn còn nói câu cụt, câu thiếu thành phần trong nhiều tìnhhuống giao tiếp Các từ dùng trong câu còn ch a chính xác Lời nói còncha mạch lạc Một số kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổimẫu giáo ở nội thành Hà Nội cho thấy trong các câu nói của trẻ 3 - 4 tuổidùng để giao tiếp có 455 câu thì 182 câu cha đúng, 291 câu đơn, 164 câuphức

1.3.2 Đặc điểm pháp triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi:

+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ tăng 1300 - 2000 từ trong đó danh từ, động

từ vẫn chiếm u thế, còn tính từ và các loại từ khác tuy đã xuất hiện trongngôn ngữ của trẻ nhng còn ít và đôi khi trẻ sử dụng cha chính xác

+ Phát âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:

Trẻ 4 - 5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi).Trẻ nói rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn, song vẫn hay sai thanh ngã,

âm đệm và âm cuối

ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ

điệu âm tiết …Tuy nhiên dới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm,

phát âm nhầm nh các âm vị "t" = "ch" ("tôm to" trẻ nói là "chôm cho"),

dễ bị nhoè các phụ âm nh "l" phát âm thành "nh".

+ Việc nắm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3 - 4 tuổi.

Câu nói của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn Khi nói câu cha đúng, cha chuẩn

về ngữ pháp, trẻ biết sửa nhng không biết vì sao phải sửa Trẻ đã sử dụngcác câu phức hợp nhiều hơn mẫu giáo bé, trẻ biết sử dụng các câu có liên

từ Kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở nội ngoạithành Hà Nội cho thấy trong 1035 câu nói của trẻ 4 - 5 tuổi có 751 câu

đúng (chiếm 72,59%), 284 câu sai (chiếm 27,41%), 472 câu đơn(62,83%), 297 câu phức (37,17%)

Trang 20

Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống Khi giaotiếp với mọi ngời xung quanh trẻ thờng gắn liền ngôn ngữ của mình vớicác sự vật, hoàn cảnh, con ngời, hiện tợng đang xảy ra trớc mắt trẻ - Ví

dụ bé H (45 tháng tuổi), khi nhìn thấy anh (chị) lớp 1 cắp sách đi học,

liền đòi mẹ "Mẹ ơi! mua sách, cặp cho H đi học" Bé Mai đi qua đờng nhìn thấy ngời bán đồ chơi cho trẻ em liền đòi mẹ "Mẹ ơi! mua cho con

con thiên nga kia".

Vào cuối 4 tuổi, khoảng 45 - 48 tháng, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầubiết nối kết giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một " văn cảnh"

Ví dụ"H có ôtô, hôm qua bố H mua cho đấy!" - H đã nói với bạn của

mình nh vậy…

Trẻ cũng đã bắt đầu hiểu và tự tiến hành những cuộc nói chuyện vềcác sự vật xa hơn mà trẻ tởng tợng, hình dung thấy trong óc, đây chính là

loại ngôn ngữ ngữ cảnh Lúc này trẻ đã biết dùng ngôn ngữ mô tả lại

những gì trẻ quan sát thấy, hoặc xảy ra trong đời sống hàng ngày của trẻcho mọi ngời nghe

1.3.3 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi:

+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tăng lên đáng kể.

Trẻ có khoảng 3000 4000 từ vào cuối tuổi [35] Trẻ mẫu giáo lớn đã th ờng xuyên sử dụng khoảng 1033 từ [37] Trong đó loại từ đ ợc tích luỹkhá phong phú không những về danh từ, động từ mà cả về đại từ, tính từ,liên từ … Danh từ và động từ vẫn chiếm u thế nhng tính từ và các loại từkhác cũng đợc trẻ sử dụng nhiều hơn Có thể nói rằng trẻ đã nắm đ ợc cácloại từ có trong tiếng mẹ đẻ và đủ để trẻ có thể diễn đạt các mặt trong đờisống hàng ngày ý nghĩa của từ với trẻ cũng phong phú hơn và khả năngnắm bắt nghĩa của từ phát triển hơn … Các từ chỉ tính chất không gian(rộng lớn, mênh mông…); từ chỉ tốc độ (nhanh, chậm dần); từ chỉ màusắc (xanh nhạt, phơn phớt hồng…) đã đợc trẻ sử dụng chính xác Trẻ đãhiểu và biết dùng các từ chỉ khái niệm thời gian (hôm qua, ngày mai,ngày kia), từ đồng nghĩa (bố mẹ - ba má, tầu hoả - xe lửa…),từ có tínhchất gợi cảm, có hình ảnh và mang sắc thái khác nhau (nắng chói chang,

-đi nhè nhẹ, lung linh - cời tủm tỉm); các từ chỉ mức độ, sắc thái khácnhau (be bé, bé tí, bé xíu, bé con, bé tí tị tì ti, đỏ chon chót, đỏ choét…)Ngoài ra các loại từ khác nh đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ cũng

đợc trẻ dùng nhiều hơn các lứa tuổi khác

Trang 21

+ Nắm ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:

Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ đợc mở rộng, tai âm vị đợc rènluyện thờng xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe ngời lớn nói cơquan phát âm đã trởng thành mà trẻ có thể phát ra những âm chuẩn, kể cả

những âm khó của tiếng mẹ đẻ nh "uềnh càng", "khúc khuỷu"… Chỉ cótrong trờng hợp bộ máy phát âm bị tổn thơng, hay do chịu ảnh hởng củalời nói ngọng của những ngời lớn trong địa phơng, trẻ mẫu giáo lớn mớiphạm nhiều lỗi trong nắm ngữ âm của tiếng mẹ đẻ hoặc một số âm khó,

xa lạ với trẻ thì trẻ có thể phát âm sai Ví dụ "quét trầu" trẻ nói thành

"quyết trầu".

Trẻ mẫu giáo lớn cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợpvới nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể Trẻ th ờngdùng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thơng trìu mến Ngợc lại,khi giận dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh Khả năng ấy đ ợc thể hiện

rõ khi trẻ kể những câu chuyện mà mình yêu thích cho ngời khác nghe

+ Nắm cơ cấu ngữ pháp:

Với điều kiện sống và giáo dục tốt, trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo( 5

-6 tuổi) đã có thể sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo,mặc dù quá trình đó diễn ra một cách không có ý thức, khác với quá trìnhhọc ngữ pháp một cách có ý thức ở trờng phổ thông Điều đó đợc thểhiện trong câu nói của trẻ có cấu trúc ngữ pháp phức tạp và nội dung biểuhiện cũng phong phú hơn nhiều so với lứa tuổi trớc

Chẳng hạn: Trẻ 3 tuổi có tỷ lệ câu đơn là: 72,55%, câu phức là:27,44%

Nhng trẻ 5 tuổi tỷ lệ câu đơn là: 62,13%, câu phức là: 37,84%

Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ (5 - 6 tuổi) còn đ ợc quyết định bởi tínhtích cực của trẻ đối với ngôn ngữ Những trẻ em tích cực giao tiếp, tíchcực tìm hiểu các hiện tợng ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ đã trở thành đối t-ợng của ý thức thì không những hiểu từ ngữ và nắm ngữ pháp một cáchsâu sắc mà còn sáng tạo ra những từ ngữ, những cách nói cha hề có trongngôn ngữ của ngời lớn

Chẳng hạn cháu nói: "Con vịt ngã lộn phèo" hay cháu dùng từ ngữ rất lạ để nói về màu đỏ "Đỏ choen choét" Tính tích cực cao đối với ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn còn biểu hiện ở chỗ trẻ thích "sáng tác" thơ ca.

Nhìn chung, thì trẻ mẫu giáo cha thể sáng tác thơ ca theo đúng nghĩa

Trang 22

đ-ợc, nhng ở một số trẻ do tiếp xúc sớm với những âm hởng thơ ca nêncũng đã bắt đầu làm thơ vào cuối tuổi mẫu giáo.

Chẳng hạn: Cháu Thuý Giang đã làm bài thơ "Cái vờn" Đây là bài

thơ cháu làm đầu tiên khi cháu mới gần 6 tuổi:

"Cái vờn nho nhỏ Cô gió đến chơi Cô đa võng đỏ

Ru chú mặt trời"

Cháu Ngô Thị Bích Hiền cũng đã làm bài thơ "Ông mặt trời" ngay

từ lúc cháu mới 5 tuổi:

Ông mặt trời óng ánh Toả nắng hai mẹ con Bóng em và bóng mẹ

Đi lon ton trên đờng

Ông mỉm cời nhìn em

Em mỉm cời nhìn ông

"Ông ở trên trời nhé Cháu ở dới này thôi"

Tuy nhiên ở một số trẻ còn nói năng lộn xộn, không rõ ràng, dàidòng, không mạch lạc… Nguyên nhân chủ yếu là do vốn từ của trẻ cònnghèo, cha biết sử dụng các từ liên kết, cha diễn đạt đúng trình tự lôgíccủa sự việc… Điều đó cho thấy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có sự khác biệt cánhân thể hiện rõ trong ngôn ngữ hơn bất cứ lĩnh vực nào khác của sự pháttriển tâm lý trẻ

+ Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc:

Ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ mẫu giáo, không chỉ là phép cộng đơn giảncủa những câu và từ mà đó là những suy nghĩ có liên quan đến nhau vềmột chủ đề nhất định, đợc diễn đạt bởi từ ngữ chính xác, có hình ảnh,trong những câu đợc xây dựng đúng theo các quy luật ngữ pháp, lôgícchặt chẽ

Ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo xuất phát từ nhu cầu vốn ngônngữ của trẻ tăng nhanh Trẻ muốn giải thích trao đổi với bạn, với ng ời lớnmột nội dung nào đó Muốn vậy, trẻ phải cố gắng trình bày rõ ràng, nêu

đợc mối quan hệ giữa các sự vật hiện tợng để thuyết phục ngời nghe

Trang 23

Theo tác giả Nguyễn ánh Tuyết, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ là lời nói thểhiện tính chặt chẽ, tính trình tự, tính liên kết [36].

Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo đợc thể hiện qua nói đúng cấutrúc câu của tiếng Việt Lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, lôgíc, cóhình ảnh, diễn đạt rõ ràng khi nói, viết, biết ngắt câu, giọng nói có sắcthái biểu cảm [22]

Nh vậy, ngôn ngữ đợc coi là mạch lạc khi có đủ những yếu tố sau:

 Các câu phải đúng ngữ pháp và có nghĩa

 Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác và hợp

lý và có chủ đề nhất định

 Có sử dụng các phép liên kết một cách hợp lý

 Các hành động ngôn ngữ đợc thực hiện trong các câu phải dunghợp nhau và thực hiện đợc chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

 Có sắc thái biểu cảm trong lời nói

Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện trình độ phát triển tơng đối cao khôngnhững về phơng diện ngôn ngữ mà cả về phơng diện t duy nữa Đâychính là hình thức cao nhất của ngôn ngữ, là kỹ năng khó nhất, phải đếntuổi mẫu giáo lớn kỹ năng này mới thể hiện rõ

Trẻ 1 - 2 tuổi có thể sử dụng 1 từ, trẻ 2 - 3 tuổi có thể sử dụng 1 câu

để giao tiếp nhng trẻ 5 - 6 tuổi nhờ có ngôn ngữ mạch lạc trẻ mới có thểgiao tiếp một cách đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất và có hiệu quả nhất Nhờngôn ngữ mạch lạc mà trẻ thể hiện đợc suy nghĩ của mình một cách đầy

đủ hơn, trọn vẹn hơn và lĩnh hội đợc thông tin và tình cảm của ngời khácthông qua ngôn ngữ một cách chính xác hơn

ở tuổi mẫu giáo bé, trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu.Khi giao tiếp với những ngời xung quanh, trẻ sử dụng nhiều yếu tố trongtình huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình Vì vậy, chỉ cónhững ngời đang giao tiếp với trẻ lúc đó mới hiểu đ ợc trẻ muốn nói gì.Dần dần cuộc sống đòi hỏi trẻ em cần phải xây dựng cho mình một kiểungôn ngữ ít phụ thuộc vào tình huống hơn nhất là khi trẻ phải mô tả lạicho ngời khác những điều mà mình đã mắt thấy tai nghe ở đây, trẻ phảinói năng sao cho ngời khác có thể hình dung ra đợc những điều mình

định mô tả mà không thể dựa vào tình huống cụ thể trớc mắt Kiểu ngônngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh mang tính rõ ràng, khúc chiết Mặt khác ởtuổi này trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng tuổi về nội dung trò

Trang 24

chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện khác, trẻ muốn giải thích cho

ngời lớn (Cha mẹ, anh chị, cô giáo …) những điều mà trẻ cần họ hiểu )

Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theomột trình tự nhất định, phải nêu bật đợc những điểm chủ yếu và nhữngmối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tợng một cách hợp lý để ngờinghe dễ đồng tình, có nghĩa và nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ và mạchlạc, do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc

Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việchình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ em và những ng ờixung quanh, đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Muốn chongôn ngữ đợc mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải đ ợc suynghĩ rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu, tức là cần đ ợc t duy hỗ trợ.Mặt khác chính ngôn ngữ mạch lạc là phơng tiện làm cho t duy của trẻphát triển lên một chất lợng mới đó là việc nảy sinh các yếu tố của t duylôgíc, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ nâng lên một trình độ mới,cao hơn

Tóm lại, trong các độ tuổi của mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ đợc phát

triển dần về các mặt: Vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và xuất hiệndần kiểu ngôn ngữ mạch lạc Đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trẻ đã

có khả năng nắm đợc ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng

sự phát âm của ngời lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giaotiếp và đặc biệt là nắm đợc hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm nhữngquy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phơng tiện cú pháp và về phơng diện tu

từ, trẻ nói năng mạch lạc và thoải mái Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ

đẻ trong phong cách sinh hoạt và ở một mức độ nào đó là phong cách

nghệ thuật (tức là nói năng có văn hoá).

Tuy nhiên, trong thực tế còn khá nhiều trẻ em nói năng ch a đúng,phát âm ngọng, dùng từ sai, nói câu què câu cụt, ngôn ngữ ch a mạch lạc

Điều này đáng để cho các nhà giáo dục phải suy nghĩ Cần phải có cách

dạy dỗ đúng đắn để khi "tốt nghiệp" trờng mẫu giáo, trẻ đã nắm vững

đ-ợc tiếng mẹ đẻ, nếu không trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong những nămtháng học tập phổ thông và trong bớc đờng trởng thành sau này

Để làm việc đó một cách tích cực, ở gia đình cũng nh ở trờng mẫugiáo cần phải coi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội

dung quan trọng nhất của "giáo dục mầm non" và nhiệm vụ đó cần phải

Trang 25

thực hiện ngay từ năm đầu tiên cho tới cuối mẫu giáo đặc biệt là thời kỳ

phát cảm ngôn ngữ (từ 2 đến 5 tuổi) Tất nhiên, sau này cá nhân cần phải

học thêm nhiều ở trờng phổ thông, trong sách báo và ngoài đời để nắmvững một cách có ý thức hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ với

t cách là một khoa học, nhờ đó mà nắm vững nhiều phong cách đa dạngcủa ngôn ngữ có thể sử dụng trong nghề nghiệp và để nâng cao trình độvăn hoá chung của mình

1.4 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:

Chúng ta biết rằng, tiếng mẹ đẻ là phơng tiện quan trọng nhất đểlĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lu với những ngời xung quanh, để tduy, để tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn… Cho nên việc phát triểntiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở tuổi mầm non là một nhiệm vụ cực kỳ quantrọng mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn thì nhiệm vụ đó phải đợc hoàn thành.Nếu một đứa trẻ 5 - 6 tuổi mà nói năng ấp úng, phát âm ngọng líu ngọnglô, vốn từ nghèo nàn tới mức không đủ để diễn đạt những điều mình cầnnói, không sử dụng đợc ngữ pháp để nói mạch lạc cho ngời khác hiểu đợcmình và hiểu đợc ngời khác nói, thì có thể liệt đứa trẻ đó vào loại chậmphát triển Và nh vậy, cần phải có biện pháp phù hợp để kích thích sựphát triển ngôn ngữ cho trẻ cả về vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp vàngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Chỉ chú ý phát triển một hoặc một số mặt nào

đó thì chúng ta vẫn cha hoàn thành nhiệm vụ này

1.4.1 Phát triển vốn từ:

Có thể nói rằng, đến 5 tuổi trẻ đã tích luỹ đợc vốn từ khá phong phú,không những danh từ, động từ mà cả tính từ, liên từ… đủ để giao tiếp vớinhững ngời xung quanh Việc phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là cungcấp từ mới cho trẻ mà cần giúp trẻ mở rộng nghĩa của từ mà trẻ đã biết

Chẳng hạn nếu trớc đây trẻ hiểu từ "ngủ" là để chỉ một ngời nào đó đang ngủ (em bé, ông bà, bố mẹ …) thì giờ đây cần giúp trẻ hiểu một cách khái )

quát hơn: Ngủ là từ chỉ tất cả những sinh vật đang ngủ (em bé ngủ, con

mèo ngủ …) Tơng tự nh vậy, cùng một từ "ăn" diễn đạt cho nhiều đối tợng )

(Em bé đang ăn, con gà đang ăn, con mèo đang ăn…)

1.4.2 Rèn phát âm và sử dụng ngữ điệu thích hợp:

- Việc luyện tập cho trẻ phát âm đúng và dùng ngữ điệu đúng thíchhợp đợc diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động của trẻ Tr ớc hết làtrong giao tiếp hàng ngày của trẻ với ngời lớn, với bạn bè Trong cuộc

Trang 26

sống hàng ngày ngời lớn cần thờng xuyên giao tiếp bằng ngôn ngữ vớitrẻ Khi giao tiếp với trẻ, ngời lớn phải phát âm rõ ràng, phát âm đúng đểtrẻ bắt chớc, uốn nắn, tập cho trẻ phát âm đúng các âm tiết của tiếng mẹ

đẻ, nhất là những âm khó nh uềnh oàng, khúc khuỷu…, những âm khóphân biệt dẫn đến nói ngọng: l - n, ch - tr, s - x, p - ph…

Trong giao tiếp hàng ngày, ngời lớn không chỉ rèn luyện cho trẻphát âm đúng mà cần tập luyện cho trẻ biết sử dụng ngữ điệu đúng, thíchhợp với hoàn cảnh, tâm trạng cụ thể (Dùng ngôn ngữ êm dịu, nhẹ nhàng,tình cảm để biểu thị tình cảm yêu thơng của trẻ, ngôn ngữ thô mạnh khigiận dữ…)

- Trong việc tổ chức cho trẻ chơi, trong hoạt động học tập và đặcbiệt trong khi kể chuyện cho trẻ nghe và khi trẻ kể chuyện cho ngời khácnghe chúng ta cần dạy trẻ phát âm đúng và sử dụng những ngữ điệu thíchhợp Ngời lớn kể chuyện cho trẻ nghe phải có giọng kể hấp dẫn, phát âmchuẩn, rõ, biết sử dụng ngữ điệu thích hợp để diễn tả tính cách nhân vật.Trẻ sẽ tập trung chú ý cao độ vào ngôn ngữ kể chuyện của ngời lớn trêncơ sở đó trẻ học đợc cách phát âm, dùng ngữ điệu thích hợp và kể lạichuyện theo sự sáng tạo của mình Khi kể lại chuyện, ng ời lớn cần uốnnắn cho trẻ cách phát âm đúng các âm khó sử dụng ngữ điệu thích hợptrong những tình huống cụ thể

1.4.3 Rèn trẻ nói đúng ngữ pháp:

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì cung cấp, phát triển vốn từ cho trẻ

là rất quan trọng, song việc luyện tập cho trẻ biết nói đúng cấu trúc câutrong tiếng mẹ đẻ, không nói câu què, câu cụt, nói nhát ngừng, nói lộnngợc vị trí từ trong câu còn quan trọng hơn nhiều

Vì vậy trong giao tiếp hàng ngày hay trong quá trình tổ chức cáchoạt động cho trẻ ngời lớn phải tập cho trẻ nói đúng cấu trúc câu: Có chủngữ, có vị ngữ, sử dụng trạng từ, bổ ngữ phù hợp Do trẻ ch a ý thức mộtcách đầy đủ về vị trí xã hội, về chuẩn mực hành vi nên nhiều khi trẻ cònnói trống không (thiếu chủ ngữ) với mọi ngời, khi ấy ngời lớn cần phảinghiêm túc, yêu cầu trẻ nói lại một cách đầy đủ

Cần phải tạo nhiều tình huống, cơ hội để trẻ giao tiếp, bộc lộ những

ý muốn, hiểu biết của mình với ngời lớn, bạn bè bằng lời nói của chínhtrẻ, quan sát trẻ nói với nhau, qua đó sửa sai uốn nắn câu cho trẻ

Trang 27

1.4.4 Phát triển ngôn ngữ mạch lạc:

Trong quá trình giao tiếp và trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt

động để kích thích trẻ nói năng mạch lạc ngời lớn cần tạo điều kiện đểtrẻ nói rõ ràng, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý, nêu bật đợc các ýcần nhấn mạnh để ngời nghe hiểu một cách dễ dàng Cụ thể nh cần chotrẻ mô tả lại trờng mầm non hay công viên trớc khi xây dựng nó Hoặctập cho trẻ kể sáng tạo chuyện cổ tích sau khi nghe cô giáo kể, h ớng dẫntrẻ dùng ngữ điệu để nhấn mạnh, làm nổi bật tính cách, nội dung câuchuyện, sắp xếp các ý theo lôgíc cốt chuyện Cần tạo điều kiện cho trẻ tựnhận xét, đánh giá bạn trong khi học khi chơi …Ví dụ nh nhận xét bạn

đóng vai, nhận xét tranh vẽ của bạn, vì sao cháu lại thích bức tranh này Trong khi dạy nói cho trẻ thì sự kiên trì của ng

Để tập cho trẻ nói năng mạch lạc theo một trình tự lôgíc, dễ hiểu ng ờilớn phải biết lắng nghe trẻ nói, tập cho trẻ sắp xếp lại (nói lại) những

điều cần nói theo một mạch lôgíc mặc dù có thể ngời lớn đã hiểu ý trẻ

định nói là gì

Ngôn ngữ mạnh lạc còn đợc trẻ thể hiện ở chỗ trẻ nói năng văn hoátức là nói tự tin, thoải mái, vừa đủ nghe, không hét, không quát to, khôngnói tục chửi bậy…Vì vậy, một mặt ngời lớn phải gơng mẫu về lời ăntiếng nói khi giao tiếp với trẻ và giao tiếp với nhau để làm g ơng cho trẻnoi theo Mặt khác phải nghiêm khắc uốn nắn kịp thời khi trẻ nói năngtục tằn, thô lỗ không chuẩn mực, giúp trẻ biết có những lời nói thể hiện

sự tôn trọng, lễ phép với ngời lớn, dịu dàng với em nhỏ, không nói leo,không nói dối, nói tục chửi bậy, không gây ồn ào làm ảnh h ởng đến mọingời xung quanh mình

Trang 28

Tìm hiểu thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5

-6 tuổi) ở trờng mầm non Hoa Hồng thành phố Thái Bình Phát hiện ra các

u điểm và hạn chế trong vốn ngôn ngữ cơ bản chuẩn bị cho trẻ vào học ởlớp một

- Xem xét ảnh hởng của một số yếu tố đến vốn ngôn ngữ cơ bản củatrẻ 5 - 6 tuổi

- Thử nghiệm tác động s phạm nhằm nâng cao vốn ngôn ngữ cho trẻem

2.2 Nội dung nghiên cứu:

2.2.1 Khảo sát thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi:

Tiến hành khảo sát thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của 30 trẻ lớpmẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trờng mầm non Hoa Hồng thành phố Thái Bình

Trang 29

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao vốn ngôn ngữ cơ bảncho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.

2.2.2 Thử nghiệm biện pháp tác động s phạm nhằm nâng cao vốn ngôn ngữ cơ bản cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:

Chúng tôi tổ chức bốn loại trò chơi, nhằm nâng cao khả năng hiểu từcho trẻ đó là: trò chơi “Hoạ sĩ tí hon”; trò chơi “Nhà tạo mẫu nhí”; tròchơi “Thi bày bàn tiệc”; trò chơi “Thi xem ai nhanh”

Mỗi tuần trẻ đợc chơi trò chơi có nội dung thử nghiệm hai lần, vàothứ ba và thứ năm Mỗi trò chơi đựơc tổ chức bốn lần, nội dung của từngtrò chơi trong mỗi lần có sự thay đổi

2.3 các phơng pháp nghiên cứu:

Để thu thập các số liệu khảo sát thực trạng nhằm đánh giá đợc vốnngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đồng thời xem xét ảnhhởng của các yếu tố khách quan và chủ quan đến vốn ngôn ngữ của trẻ,chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:

2.3.1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận:

Đọc và hệ thống hoá các tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận của vấn

đề nghiên cứu; liên quan đến vốn ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ củatrẻ mầm non, để làm cơ sở lý luận giải quyết nhiệm vụ thực tiễn của đề tài

2.3.2 Phơng pháp trắc nghiệm:

Nghiên cứu ngôn ngữ có thể sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau,trong đó trắc nghiệm hiện nay đang trở thành phơng pháp nghiên cứu rộngrãi để đánh giá, đo lờng trong khoa học tâm lý Để tiến hành nghiên cứu

khả năng hiểu từ của trẻ chúng tôi sử dụng trắc nghiệm "Các khái niệm

ngôn ngữ cơ bản của DE BOEHM" Trắc nghiệm gồm những khái niệm

ngôn ngữ cơ bản mà trẻ mẫu giáo lớn cần phải nắm vững và hiểu

Trang 30

Mục tiêu trắc nghiệm DE BOEHM:

Trắc nghiệm dùng để kiểm tra xem trẻ mẫu giáo đã nắm vững vàthông hiểu các khái niệm cơ bản cần thiết trong ngôn ngữ để giao tiếp vàtiến hành hoạt động học tập ở các lớp đầu bậc tiểu học hay không

Trắc nghiệm nhằm để phát hiện các khuyết kém về khả năng hiểu từ

và xác định khuyết kém đó thuộc lĩnh vực nào (Không gian, thời gian, số

lợng, vật thể …) )

Cấu tạo trắc nghiệm:

Trắc nghiệm gồm 50 Item, mỗi Item có từ 3 - 5 hình vẽ, đòi hỏi phải

sử dụng các khái niệm ngôn ngữ cơ bản khó dần 50 Item đợc chia làm 2tập, mỗi tập có 25 Item Nội dung các khái niệm ngôn ngữ cơ bản trong

25 Item của tập 2 khó hơn tập 1

Dụng cụ trắc nghiệm:

- Nghiệm viên dùng bản hớng dẫn trắc nghiệm "Các khái niệm ngôn

ngữ cơ bản" của DE BOEHM.

- Mỗi nghiệm thể 1 bản trắc nghiệm (gồm có tập 1 và tập 2) và một

bút chì

Yêu cầu tiến hành trắc nghiệm:

- Thời gian làm trắc nghiệm trung bình từ 15 đến 20 phút cho mỗi tập

Trang 31

- Sau mỗi câu hỏi, nghiệm viên chờ cho trẻ đủ thời gian trả lời mới

đặt câu hỏi kế tiếp

 Trẻ nghe kỹ lời hớng dẫn của nghiệm viên rồi đánh dấu (+) vàocâu trả lời tơng ứng trên phiếu trắc nghiệm của mình

- Sau khi trẻ làm xong, chúng tôi thu kết quả trả lời của trẻ lại vàphân loại theo 3 mức độ: 0; (+) và (-)

Mức độ O: Là trờng hợp trẻ không trả lời, không làm bài (để trống) Mức độ (-): Là trờng hợp trẻ làm không đúng theo yêu cầu của bài

tập

Mức độ (+): Là trờng hợp trẻ làm đúng theo yêu cầu của bài tập

Mỗi bài tập làm đúng cho một điểm, nh vậy nếu trẻ làm đúng đợc

50 Item thì sẽ đạt tối đa là 50 điểm Sau khi cho điểm chúng tôi tổng hợp

lại theo các tiêu chí của trắc nghiệm "Các khái niệm ngôn ngữ cơ bản"

của DE BOEHM

Thang điểm phân loại:

Mức độ hiểu từ của trẻ đợc phân loại dựa trên tổng số điểm mà trẻ

đạt đợc sau khi trắc nghiệm Xử lý điểm số thu đợc bằng cách sử dụngcông thức toán học để xác định các số định tâm, số trung bình cộng, sốtrung vị, số yếu vị theo công thức sau:

Số trung vị = 1 (N + 1) (N là số khách thể đợc nghiên cứu)

Trang 32

Mức hiểu từ cao: Đạt từ 42 đến 50 điểm.

Mức hiểu từ trung bình: Đạt từ 40 đến 41 điểm

Mức hiểu từ thấp: Đạt từ 0 đến 39 điểm

Sau đó lập bảng đánh giá mức độ hiểu từ của trẻ:

Mức độ

Khách thể

Kết quả hiểu từ Đánh giá Item 1 Item 2 Item 3 Item… Item 50 Tổng điểm Xếp loại 1

Trang 33

Các khái niệm ngôn ngữ cơ bản bao gồm:

Item 5: Trong nhà Item 30: Khác

Item 6: Vài Item 31: Giống nhau

Item 7: Chính giữa Item 32: Thứ nhất - cuối cùngItem 8: Vài (không nhiều) Item 33: Không khi nào

ơng pháp thực nghiệm điều tra để đánh giá về các mặt trong vốn ngôn

Trang 34

ngữ cơ bản của trẻ Chúng tôi chọn quan sát lời nói trong buổi họp mặthàng tuần vào sáng thứ 2 là nội dung quan sát chính.

 Yêu cầu: Đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu, lời

nói của trẻ đợc ghi lại khách quan, chính xác, tạo điều kiện cho trẻ hoạt

động tự nhiên

 Nội dung quan sát:

Quan sát lời nói của trẻ khi trẻ kể về ngày chủ nhật của mình vàobuổi họp mặt đầu tuần (sáng thứ 2)

 Cách tiến hành:

- Hàng tuần nhà nghiên cứu ngồi dự buổi họp mặt đầu tuần của trẻghi chép lại lời nói của trẻ về những công việc trẻ đợc tham gia trong

ngày nghỉ (có sử dụng băng ghi âm để ghi lại lời kể cho chính xác).

 Tiêu chuẩn đánh giá:

Căn cứ vào yêu cầu cần đạt về lời nói mạch lạc của trẻ 5 - 6 tuổi vàcác tiêu chí về lời nói mạch lạc chúng tôi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá:Lời nói mạch lạc gồm 5 tiêu chí, cách cho điểm từng tiêu chí nh sau:

1 Câu: - Tính số lợng câu

- Số lợng câu đúng, câu sai

+ Mỗi câu sai trừ 2 điểm

2 Trình bày: Trình bày trôi chảy, không ngắt quãng, rõ ràng: 20 điểm

Trình bày rõ ràng, có 1  3 lần ngắt quãng ngắn: 15 điểmTrình bày ngắt quãng hoặc lặp lại 4 lần  6 lần: 10 điểmTrình bày ngắt quãng, lặp lại từ 7 lần trở lên: 0 điểm

3 Cấu trúc lời nói:

Trình bày vấn đề có phần diễn biến:10 điểm

4 Nội dung:

Nội dung gần rõ, ngời nghe có thể hiểu trẻ định nói gì: 15 điểm

Trang 35

Không có nội dung: 0 điểm

5 Phong cách biểu cảm: Giàu cảm xúc: 10 điểm

Không có cảm xúc: 0 điểm

Điểm tối đa của 5 tiêu chí là 100 điểm

Thang điểm phân loại:

Sau khi tính điểm cho từng trẻ, chúng tôi xử lý kết quả thu đ ợc bằngcông thức toán học (nh kết quả xử lý của trắc nghiệm DE BOEHM) và đa

ra thang điểm phân loại nh sau:

Yêu cầu: Không để trẻ biết mình đang bị thực nghiệm Do đó chúng

tôi bố trí cô giáo là ngời tổ chức cho trẻ thi dới hình thức hấp dẫn đối vớicác cháu

Nội dung thực nghiệm:

- Thi kể chuyện để đo về phát âm, ngữ pháp và lời nói mạch lạc của trẻ

- Thi phát âm chuẩn để đo khả năng phát âm về dấu, âm đầu, âmcuối và những từ khó

Cách tiến hành: * Thi kể chuyện:

Trớc tiên cô kể lại cho trẻ nghe những câu chuyện trong ch ơng trìnhdạy trẻ kể chuyện mà trẻ đã đợc học trong các tiết kể chuyện Sau đó cô

cho trẻ tự chọn câu chuyện mà trẻ thích (có thể là câu chuyện cô kể hoặc

1 câu chuyện bất kỳ nào đó).

Cô dặn trẻ về nhà tập kể cho ông bà, bố mẹ nghe tr ớc khi dự thi 2ngày Rồi cô cho trẻ thi kể chuyện

Nhà nghiên cứu ngồi dự, cổ vũ trẻ, ghi chép lời kể của trẻ và ghi âmlại đầy đủ lời kể của từng cháu

Trang 36

Tiêu chuẩn đánh giá:

Đánh giá về lời nói mạch lạc: Giống nh đánh giá ở phơng phápquan sát lời tự kể trong buổi họp mặt đầu tuần

* Thi phát âm chuẩn:

- Chúng tôi tìm 10 từ ghép, khó phát âm đối với trẻ, có các loại dấucâu cho trẻ phát âm, mỗi trẻ đợc phát âm 2 lần, lần 1 phát âm lại theo cô,lần 2 tự phát âm, chúng tôi ghi lại lời phát âm của trẻ

- Từ chọn thi phát âm gồm:

"Ngã ngửa", "nghiêng ngả", "quét trầu", "loạch xoạch", "liến thoắng", "luýnh quýnh", "loắt choắt", "khúc khuỷu", "uềnh oàng",

"huỳnh huỵch".

- Tiêu chuẩn đánh giá:

Căn cứ vào phát âm của trẻ trên thực tế nghiên cứu qua lời kể lạichuyện, tự nói về ngày chủ nhật, thi phát âm và mức độ có thể đạt đ ợc

đối với phát âm của trẻ lứa tuổi 5 - 6 tuổi, chúng tôi xây dựng tiêu chuẩn

đánh giá nh sau:

Phát âm gồm 4 tiêu chí, điểm cho các tiêu chí nh sau:

1 Dấu câu: - Phát âm đúng 5 dấu thanh đợc: 5 điểm

2 Âm đầu: - Phát âm đúng tất cả các âm đầu: 10 điểm

- Phát âm sai 1 âm đầu trừ đi : 1 điểm

3 Âm cuối + vần:

- Phát âm đúng tất cả các âm cuối và vần: 10 điểm

- Phát âm sai 1 âm cuối hoặc 1 vần trừ đi : 1 điểm

4 Từ khó: - Phát âm đúng 10 từ khó đợc: 10 điểm

Tổng số điểm tối đa là: 35 điểm

Thang điểm phân loại:

Sau khi tính điểm cho từng trẻ, chúng tôi xử lý kết quả thu đ ợc bằngcông thức toán học (nh kết quả xử lý của trắc nghiệm DE BOEHM) và đa

ra thang điểm phân loại nh sau:

Đạt từ 33  35 điểm: Xếp loại phát âm ở mức tốt

Đạt từ 30  32 điểm: Xếp loại phát âm ở trung bình

Đạt từ 0  29 điểm: Xếp loại phát âm ở mức yếu

Trang 37

2.3.4.2 Thử nghiệm tác động s phạm.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng khả năng hiểu từ của trẻ bằng trắcnghiệm DE BOEHM, nghiên cứu ngữ âm, ngữ pháp và lời nói mạch lạcbằng quan sát, trò chuyện, thực nghiệm chúng tôi đề xuất một số biệnpháp tác động nhằm nâng cao vốn ngôn ngữ cơ bản cho trẻ 5 - 6 tuổi đó

là tác động đến khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo qua tổ chức trò chơi

Cụ thể:

- Tổ chức cho trẻ em đợc hoạt động trong môi trờng ngôn ngữ

- Tổ chức trò chơi để giúp trẻ hiểu các khái niệm ngôn ngữ cơ bản.Xuất phát từ bản chất sự hình thành và phát triển tâm lý trong hoạt

động và hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi cùng

điều kiện nghiên cứu thực tế cho phép chúng tôi thử nghiệm tác động vàokhả năng hiểu từ của trẻ đợc triển khai trên 30 trẻ (5 - 6 tuổi) thuộc nhómthực nghiệm và 30 trẻ cùng độ tuổi thuộc nhóm đối chứng Mục đích là

đánh giá đợc hiệu quả của biện pháp tác động s phạm đã ảnh hởng tớimức độ hiểu từ của trẻ nh thế nào

Chọn mẫu : Trẻ em thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực ngghiệm đ

-ợc lựa chọn theo phơng pháp 1 - 1 về các phơng diện giới tính, sức khoẻ,khả năng hiểu từ

Cách tiếp cận:

Nhà nghiên cứu tiếp xúc tự nhiên với trẻ quan sát và giúp cô giáochủ nhiệm lớp tổ chức hớng dẫn trẻ chơi các trò chơi trong nội dung thửnghiệm qua các giờ chơi tự do của trẻ trong chế độ sinh hoạt hàng ngày

Cách tiến hành: Nội dung nghiên cứu đợc tiến hành theo các bớc sau: B

ớc 1: Đo lần 1 khả năng hiểu từ của trẻ bằng trắc nghiệm các khái

niệm ngôn ngữ cơ bản của DE BOEHM ở nhóm thực nghiệm và đối chứng

ớc 3: Tác động nhằm nâng cao khả năng hiểu từ của trẻ em thuộc

nhóm thực nghiệm thông qua tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi có nộidung thực nghiệm

B

ớc 4: Đo lần 2 về khả năng hiểu từ của trẻ em thuộc 2 nhóm đối

chứng và thực nghiệm với hình thức đo 1 lần

Trang 38

ớc 5: Xử lý các số liệu thu thập đợc qua 2 lần đo bằng công thức

toán học, đánh giá khả năng hiểu từ thuộc nhóm đối chứng và thựcnghiệm của lần đo 2

B

ớc 6: Nhận xét kết quả của quá trình tác động s phạm nhằm nâng

cao khả năng hiểu từ cho trẻ dựa trên kết quả phân loại 2 lần đo

Thời gian thử nghiệm tác động: 2 tháng từ 01/3/2005 đến 30/5/ 2005.

M: Số mức độ

N: Số khách thể

* Công thức tính các số định tâm:

Số trung vị = 21 (N + 1) (N là số khách thể đợc nghiên cứu)

Số trung bình cộng: (X là điểm nguyên thuỷ của từngkhách thể

Số yếu vị: Điểm X có tần số lớn nhất trong dãy điểm nguyên thuỷ

N

Trang 39

Trên cơ sở các số liệu đợc xử lý theo công thức toán học chúng tôi

đa ra những nhận xét, kết luận về các thông tin thu đợc và rút ra nhữngkết luận chung cho đề tài của mình

Trang 40

Chơng 3

kết quả nghiên cứu

3.1 thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5

-6 tuổi):

3.1.1 Thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo:

Để nghiên cứu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo, chúng tôi

đã sử dụng trắc nghiệm "Các khái niệm ngôn ngữ cơ bản" của DE BOEHM,

tiến hành khảo sát 30 cháu lớp mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) (lớp 3D) của trờng

Mầm non Hoa Hồng Thành phố Thái Bình Kết quả thu đợc nh sau:

Bảng 1: Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi):

Mức độ

hiểu từ

Khách thể

Số lợng Tần suất % Số lợng Tần suất % Số lợng Tần suất %

Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ

em mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã trình bày ở bảng 1 cho thấy: Mức độ hiểu từ

của trẻ mẫu giáo lớn đợc phân thành 3 mức độ khác nhau là mức độ hiểu từ

cao, mức độ hiểu từ trung bình, mức độ hiểu từ thấp Nghĩa là mức độ hiểu

từ của trẻ mẫu giáo lớn không đồng đều

- Mức độ hiểu từ từ trung bình trở lên chiếm tỷ lệ là 60%, trong đó

mức độ hiểu từ cao là 33,3%

- Mức độ hiểu từ thấp là 40%

Kết quả này cho chúng ta sơ bộ đánh giá mức độ hiểu từ của trẻ mẫu

giáo lớn là cha đạt yêu cầu, bởi vì những khái niệm mà trắc nghiệm DE

BOEHM đa ra là những khái niệm cơ bản, cần thiết trong ngôn ngữ, mọi trẻ

mẫu giáo lớn phải nắm vững thì mới tiếp thu đợc kiến thức ở lớp 1 một cách

Ngày đăng: 06/07/2023, 15:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn xét theo giới tính: - Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5   6 tuổi
Bảng 3 Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn xét theo giới tính: (Trang 46)
Bảng 5: Khả năng phát âm của trẻ xét theo giới tính: - Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5   6 tuổi
Bảng 5 Khả năng phát âm của trẻ xét theo giới tính: (Trang 50)
Bảng 6: Thực trạng sử dụng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): - Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5   6 tuổi
Bảng 6 Thực trạng sử dụng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): (Trang 51)
Bảng 6 còn cho chúng ta thấy trong khi trẻ kể lại chuyện thì số câu trẻ nói đúng nhiều hơn khi trẻ tự nói. - Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5   6 tuổi
Bảng 6 còn cho chúng ta thấy trong khi trẻ kể lại chuyện thì số câu trẻ nói đúng nhiều hơn khi trẻ tự nói (Trang 52)
Bảng 7: Khả năng nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): - Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5   6 tuổi
Bảng 7 Khả năng nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w