Căn cứ vào nguồn đào tạo tại các doanh nghịêp có thể nắm bắt đợc số lợng lao độngcần đợc đào tạo cũng nh ngành nghề cần đợc đào tạo: cong nhân nhà máy, khán hộ công, giúp việc gia đình,
Cơ sở lý luận về quản lý lao động xuất khẩu
Những khái niệm cơ bản liên quan đến XKLĐ
- Việc làm theo quy định của bộ luật lao động là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại cho ngời lao động.
- Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi ngời
- Theo Đại hội đảng lần thứ VII : "mọi việc mang lại thu nhập cho ngời lao động có ích cho xã hội đều đợc tôn trọng".
Việc làm đợc thể hiện dới các dạng sau:
- Làm những công việc mà ngời lao động khi thực hiện nhận đợc tiền lơng, tiền công bằng tiền mặt hay hiện vật cho công việc đó.
Người lao động có quyền thực hiện các công việc nhằm thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm việc sử dụng, quản lý hoặc sở hữu tài liệu sản xuất và sức lao động của chính mình để tạo ra sản phẩm.
Làm việc cho hộ gia đình mà không nhận được tiền công hay lương cho những công việc đó là một thực tế phổ biến, vì chủ hộ gia đình thường là người làm chủ sản xuất.
Thất nghiệp được định nghĩa qua ba đặc trưng chính: những người có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc Dưới đây là một số định nghĩa khác về thất nghiệp.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp được định nghĩa là những người không có việc làm trong phần lớn thời gian quan sát nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Theo Viện Lao động Khoa học, thất nghiệp xảy ra khi một bộ phận trong lực lượng lao động có nhu cầu làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phù hợp.
Thất nghiệp là tình trạng của những người trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc và mong muốn tìm kiếm việc làm, nhưng không thể tìm được công việc phù hợp Họ đã đăng ký với cơ quan môi giới lao động nhưng vẫn chưa được giải quyết.
Người thất nghiệp được định nghĩa là những cá nhân từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, không có việc làm trong tuần trước khi điều tra nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm, theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 1996.
- Là hoạt động kiến thiết cho ngời lao động có đợc một công việc cụ thể mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm
Người tạo ra công việc cho người lao động có thể là Chính phủ thông qua các chính sách, các tổ chức kinh tế như công ty và doanh nghiệp, cũng như những cá nhân thông qua hoạt động thuê mướn nhân công.
3 Kinh tÕ quèc tÕ - Héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
Nền kinh tế thế giới, hay còn gọi là kinh tế quốc tế, là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên toàn cầu, có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền kinh tế này.
Sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu chủ yếu phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động quốc tế và sự phát triển của các mối quan hệ quốc tế.
Nền kinh tế thế giới hiện nay là một thực thể độc đáo với cấu trúc đa tầng và nhiều cấp độ quan hệ, tương tác với các lĩnh vực hoạt động khác nhau Các thành phần của nền kinh tế toàn cầu có sự tác động qua lại, liên tục biến đổi cả về lượng và chất.
3.2 Héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mà các quốc gia xây dựng và thực hiện các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu, nhằm tạo ra sự đồng bộ và đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế.
Hội nhập kinh tế là quá trình mà một quốc gia chủ động tham gia vào toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế, thông qua việc tự do hóa và mở cửa ở các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương, đồng thời vẫn duy trì sự kiểm soát và bản sắc riêng của nền kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình kết nối nền kinh tế của một quốc gia với các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên tuân thủ các quy định chung để phát triển mối quan hệ hợp tác.
4 Xuất khẩu lao động(XKLĐ)
XKLĐ trên bình diện quốc tế thờng liên quan đến các khái niệm sau:
- Nhập c( Immigration- Immigrant) chủ yếu đề cập ngời lao động (có nghề hoặc không có nghề) từ nớc ngoài đến một nớc nào đó để làm việc.
Xuất cư (Emigration - Emigrant) chủ yếu đề cập đến những người lao động rời khỏi một quốc gia để đến một quốc gia khác nhằm tìm kiếm cơ hội làm việc, có thể là từ quê hương hoặc từ một quốc gia quá cảnh.
Đặc điểm của XKLĐ
1 XKLĐ và chuyên gia là một hoạt động kinh tế. ở nhiều nớc trên thế giới, XKLĐ đã là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lợng lao động đang tăng lên của nớc họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nớc của ngời lao động và các lợi ích khác.
Các nước xuất khẩu lao động phải nỗ lực chiếm lĩnh thị trường lao động nước ngoài, điều này phụ thuộc vào mối quan hệ cung-cầu sức lao động và bị ảnh hưởng bởi các quy luật kinh tế thị trường Bên cung cần tối ưu hóa hoạt động để bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận, do đó cần có cơ chế phù hợp để nâng cao khả năng cung ứng lao động Trong khi đó, bên cầu cũng cần tính toán cẩn thận việc nhập khẩu lao động để đạt hiệu quả cao nhất và tránh lãng phí.
Việc quản lý nhà nước và điều chỉnh pháp luật cần phải phù hợp với đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) và chuyên gia Mục tiêu kinh tế phải được đặt lên hàng đầu trong mọi chính sách pháp luật liên quan đến XKLĐ và chuyên gia.
2 XKLĐ và chuyên gia là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội.
XKLĐ và chuyên gia là xuất khẩu sức lao động gắn liền với người lao động Do đó, các chính sách và pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ cần phối hợp chặt chẽ với các chính sách xã hội Cần đảm bảo rằng người lao động ở nước ngoài được làm việc theo đúng cam kết trong hợp đồng lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi của họ thông qua các hoạt động công đoàn.
Người lao động xuất khẩu có thời hạn hợp đồng, vì vậy cần có chế độ tiếp nhận và sử dụng họ sau khi trở về nước Điều này giúp họ tiếp tục phát huy sức lao động, tham gia vào quá trình sản xuất trong nước và nâng cao hiệu quả lao động Hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm sau khi trở về sẽ giảm thiểu thất nghiệp và tránh lãng phí nguồn lao động có tay nghề.
3 XKLĐ và chuyên gia là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của nhà nớc và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức XKLĐ đa ngời lao động và chuyên gia đi làm việc ở nớc ngoài.
XKLĐ được thực hiện dựa trên hiệp định và thỏa thuận nguyên tắc giữa các chính phủ, cùng với hợp đồng cung ứng lao động và chuyên gia.
Trong giai đoạn 1980-1990, Việt Nam đã tham gia thị trường lao động quốc tế thông qua việc xuất khẩu lao động qua các hiệp định song phương Các hiệp định này quy định chi tiết về điều kiện ăn, ở, làm việc, đi lại và bảo vệ người lao động Điều này cho thấy nhà nước không chỉ quản lý hợp tác lao động mà còn đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi làm việc ở nước ngoài.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) chủ yếu được thực hiện bởi các tổ chức XKLĐ thông qua hợp đồng đã ký kết Các tổ chức này hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc tổ chức, quản lý lao động và hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ Nhà nước chỉ can thiệp ở mức độ vĩ mô, thông qua việc ban hành các chính sách, kế hoạch và định hướng thị trường cho các tổ chức XKLĐ.
Nh vậy, các hiệp định các thoả thuận song phơng chỉ có tính chất nguyên tắc thể hiện vai trò và trách nhiệm nhà nớc ở tầm vĩ mô.
4 XKLĐ và chuyên gia diễn ra trong một môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực nguồn nhân lực Chất lượng lao động trở thành yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời nhu cầu về lao động cũng ngày càng gia tăng.
Vì vậy mà có thể nói rằng tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ và chuyên gia xuất phát từ hai nguyên nhân chính sau:
XKLĐ và chuyên gia đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho các nước đang gặp khó khăn kinh tế Điều này thúc đẩy các quốc gia xuất khẩu lao động và chuyên gia nỗ lực tối đa để chiếm lĩnh thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế khu vực, thị trường xuất khẩu lao động (XKLĐ) và chuyên gia đang gặp nhiều thách thức Các quốc gia như Hàn Quốc và Thái Lan, từng thu hút nhiều lao động nước ngoài, hiện đang đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Tình hình này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận lao động trong thời gian tới.
Các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải xem xét kỹ lưỡng tính cạnh tranh khốc liệt trong lĩnh vực xuất khẩu lao động và chuyên gia, nhằm xây dựng chương trình marketing dài hạn hiệu quả.
Nội dung quản lý lao động xuất khẩu của doanh nghiệp
5 Phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ XKLĐ và chuyên gia.
Lợi ích ba bên ở đây chính là lợi ích của: Nhà nớc, tổ chức XKLĐ và của ngời lao động.
- Lợi ích kinh tế của Nhà nớc là khoản ngoại tệ mà ngời lao động gửi về và các khoản thuế.
- Lợi ích kinh tế của các tổ chức XKLĐ là các khoản thu đợc chủ yếu là các loại chi phí giải quyết việc làm ngoài nớc.
- Lợi ích của ngời lao động là khoản thu nhập, thờng là cao hơn nhiều so với lao động trong nớc.
Các tổ chức XKLĐ có quyền đa dạng hóa nguồn lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, nhưng điều này dễ dẫn đến vi phạm quy định của Nhà nước, làm cho việc làm ở nước ngoài trở nên kém hấp dẫn Ngược lại, vì mong muốn thu nhập cao, người lao động và chuyên gia cũng dễ vi phạm hợp đồng đã ký, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp tại nước ngoài.
Nhà nước cần thiết lập các chế độ và chính sách hợp lý để đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các bên, đặc biệt là chú trọng đến lợi ích của người lao động.
6 XKLĐ và chuyên gia là hoạt động đầy biến đổi.
Hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu lao động và chuyên gia của các quốc gia Do đó, cần thực hiện phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài hiện tại và tương lai để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình giáo dục phù hợp, linh hoạt.
Chỉ những quốc gia chuẩn bị đội ngũ nhân công có tay nghề phù hợp mới có lợi thế trong việc chiếm lĩnh thị trường lao động quốc tế Hơn nữa, chỉ những quốc gia có tầm nhìn xa, biết phân tích và dự đoán chính xác tình hình mới có thể chủ động ứng phó với những biến đổi, từ đó đưa ra chính sách phù hợp trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia.
II Nội dung quản lý lao động xuất khẩu của doanh nghiệp
1 Lập kế hoạch xuất khẩu lao động. Đây là khâu có vai trò chiến lợc xác định phơng hớng, chính sách và mục tiêu nhiệm vụ trong ngắn hạn và dài hạn cũng nh đề xuất các giải pháp u tiên cho từng năm, từng lĩnh vực, từng thị trờng xuất khẩu lao động Đồng thời nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm xkld của các nớc đi trớc và khả năng cạnh tranh về lao động của ta với họ ở các thị trờng nhận lao động xuất khẩu Đẩy mạnh công tác ngoại giao, xúc tiến hợp tác với các nớc về nhiều lĩnh vực trong đó có về xuất khẩu lao động Tranh thủ đẩy mạnh nâng cao chất lợng nguồn nhân lực cho xuất khẩu lao động để nâng cao vị thế lao động Việt Nam trên thị trờng quốc tế cả về trình độ, năng lực, ý thức đạo đức và tác phong làm việc
Mục tiêu cơ bản và lâu dài của công tác xuất khẩu lao động Việt Nam.
Căn cứ lập kế hoạch:
Cầu lao động là yếu tố quyết định cho xuất khẩu lao động (XKLĐ) Để thành công, cần nắm rõ thị trường của nước tiếp nhận, bao gồm nhu cầu và cơ cấu lao động Đồng thời, hiểu biết về chính sách, luật pháp và văn hóa của quốc gia đó liên quan đến XKLĐ cũng rất quan trọng.
AI sẽ được triển khai thông qua sự hợp tác giữa nhiều ngành, với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (BLĐTB&XH) đóng vai trò quản lý chính Bộ Ngoại giao và các Đại sứ quán cũng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và kết nối các doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm đối tác phù hợp theo quy định của nhà nước, dựa trên khả năng và tiềm năng của mình.
Chính phủ đang thúc đẩy xuất khẩu lao động dựa trên hai nguyên tắc chính: thứ nhất, tăng nhanh số lượng lao động đi xuất khẩu nhưng phải quản lý chặt chẽ; thứ hai, nhanh chóng thay thế lao động giản đơn bằng lao động có trình độ kỹ thuật Đây là những chủ trương rõ ràng của nhà nước, do đó, mỗi cá nhân làm việc trong lĩnh vực xuất khẩu lao động cần nắm vững và thực hiện đầy đủ.
Quản lý lao động xuất khẩu là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp, nhằm tuân thủ các quy định của nhà nước Điều này không chỉ đảm bảo hoạt động bền vững mà còn tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp và lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời thực hiện đúng chính sách xuất khẩu lao động vì lợi ích của cả ba bên.
Phân tích cung cầu lao động giúp xác định thực trạng, triển vọng và các vấn đề tồn tại, từ đó đưa ra nguyên nhân và chiến lược giải pháp phù hợp Qua đó, cần xác định các mục tiêu cụ thể và các hoạt động thực hiện, đồng thời quyết định cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp.
2 Tuyển chọn lao động xuất khẩu.
Tuyển chọn lao động xuất khẩu là quá trình xác định những ứng viên phù hợp nhất cho công việc ở nước ngoài, dựa trên các tiêu chuẩn cụ thể Để đảm bảo chất lượng lao động xuất khẩu, việc tuyển chọn đúng đắn là bước đầu tiên và quan trọng nhất Do đó, công tác tuyển chọn cần phải xác định rõ hai mục tiêu chính: tiêu chuẩn tuyển chọn và quy trình thực hiện.
2.1 Các chuẩn mực tuyển chọn
Trong mỗi ngành nghề, các nhà tuyển dụng có nhu cầu sử dụng lao động khác nhau, nhưng đều cần xác định rõ các tiêu chuẩn trước khi tuyển dụng.
Chuẩn mực học vấn xác định khả năng tiếp thu của người lao động, với xu hướng cho thấy người có trình độ học vấn cao thường có khả năng tiếp thu tốt hơn.
Sức khoẻ được định nghĩa qua các tiêu chuẩn cụ thể như chiều cao, cân nặng, tình trạng bệnh tật, thể trạng và các yêu cầu riêng theo nghề nghiệp Những yếu tố này không chỉ phản ánh tình trạng sức khoẻ của cá nhân mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày.
Nghề nghiệp: Chuẩn mực này gồm trình độ tay nghề và thâm niên nghề nghiệp…) và cả những cá nhân thông qua các hoạt
Phẩm chất đạo đức là tiêu chí quan trọng xác định nhân cách của người lao động Những người có phẩm chất đạo đức tốt thường kiên cường vượt qua khó khăn trong công việc, thể hiện ý thức kỷ luật cao và trách nhiệm với cộng đồng.
2.2 Quy trình tuyển chọn lao động xuất khẩu
Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý lao động xuất khẩu
động với nớc ngoài để phối hợp giải quyết
III Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý lao động xuÊt khÈu
Theo chủ nghĩa Mác Lênin và nhiều nhà kinh tế, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến việc tăng cường và hoàn thiện phổ cập lao động xã hội Dưới tác động của khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất đã phát triển vượt bậc, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, tạo nên sự phổ cập và hợp tác lao động giữa các nước Sự phát triển này diễn ra không đồng đều về kinh tế.
XH tài nguyên và dân c dẫn đến tính tất yếu của XKLĐ.
- XKLĐ không thể tràn lan mà phải có sự quản lý chặt chẽ có tổ chức L§XK v×:
+ Khía cạnh pháp luật: Nếu XKLĐ không đúng quy định đều là xuất nhập khẩu lao động trái với pháp luật.
Hình ảnh và uy tín của Trung tâm gắn liền với chất lượng và tác phong của người lao động Tất cả các vấn đề liên quan đến lao động xuất khẩu đều phản ánh qua thu nhập và sự chuyên nghiệp của họ.
Quyền lợi của người lao động rất quan trọng, và nếu không có sự quản lý chặt chẽ, người lao động sẽ là bên chịu thiệt hại khi xảy ra tranh chấp lao động Điều này đi ngược lại với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Từ đây ta thấy công tác quản lý LĐXK là tất yếu và cần thiết.
Phân tích thực trạng quản lý lao động xuất khẩu tại
Những đặc điểm của trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm Tỉnh Thái B×nh
1 Qúa trình hình thành của trung tâm.
TTĐTGTVL tỉnh Thái Bình, trực thuộc Sở LĐTBXH tỉnh, được thành lập theo quyết định số 108 QĐ - UB của UBND tỉnh vào ngày 09/4/1992, dựa trên đề nghị của trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh và giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Thái Bình.
TTĐTGTVL là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở LĐTBXH, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng Đơn vị này được phép mở tài khoản ngân hàng và hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải tài chính.
2 Chức năng nhiệm vụ của trung tâm. a Chức năng:
Là một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm nên chức năng chính của trung tâm là :
Tỉnh hiện nay thiếu các cơ sở đào tạo cho những nghề xã hội cần thiết, dẫn đến việc nhu cầu về nguồn nhân lực chưa được đáp ứng đầy đủ.
Chúng tôi cung cấp dịch vụ việc làm, bao gồm việc đăng ký nhu cầu lao động của người tìm việc và nhu cầu tuyển dụng của các tổ chức, cá nhân Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức các kỳ thi nâng bậc thợ và chương trình nâng cao tay nghề cho người lao động.
- XKLĐ : Làm các thủ tục cung ứng lao động cho tỉnh ngoài và lao động đi làm việc ở nớc ngoài.
Trung tâm không chỉ thực hiện công tác xuất khẩu lao động mà còn đảm nhận các chức năng quan trọng khác như đào tạo nghề và cung ứng lao động, tạo ra nhiều lợi thế lớn cho trung tâm.
Trung tâm đào tạo nghề này cung cấp môi trường và kinh nghiệm tốt cho việc đào tạo lao động xuất khẩu, với các ngành nghề như cơ khí, may công nghiệp và vi tính đang có nhu cầu cao trên thị trường lao động quốc tế Đội ngũ giáo viên của trung tâm là một điểm mạnh nổi bật, kết hợp giữa những giáo viên dày dạn kinh nghiệm và những giảng viên trẻ năng động, nhiệt tình, được trang bị kiến thức khoa học tiên tiến.
Trung tâm cung ứng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa người lao động và các doanh nghiệp, tạo ra sự tin tưởng thông qua các hợp đồng lao động trong và ngoài tỉnh Sự tiếp xúc liên tục này giúp người lao động yên tâm tham gia vào quá trình xuất khẩu lao động do trung tâm tổ chức Nhiệm vụ của trung tâm trong lĩnh vực xuất khẩu là đảm bảo sự kết nối hiệu quả và hỗ trợ người lao động trong quá trình tìm kiếm cơ hội việc làm.
Thái Bình, một tỉnh đông dân với nền kinh tế chậm phát triển, đang đối mặt với thách thức lớn trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động.
Trung tâm trực thuộc sở lao động đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp việc làm cho người lao động cả trong và ngoài tỉnh Xuất khẩu lao động được xem là một giải pháp được chú trọng Hàng năm, trung tâm có nhiệm vụ đào tạo và hỗ trợ xuất khẩu cho 1.000 lao động.
3 Số lợng và cơ cấu lao động của trung tâm a Cơ cấu tổ chức của trung tâm
Trung tâm có đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 16 người với mô hình tổ chức quản lý khoa học, kết hợp giữa quản lý trực tuyến, chức năng và tham mưu Giám đốc đứng đầu trung tâm, điều hành ba mảng hoạt động chính: đào tạo nghề, cung lao động cho thị trường trong và ngoài tỉnh, và xuất khẩu lao động Mỗi mảng hoạt động được quản lý bởi một phó giám đốc và một trưởng ban xuất khẩu lao động, những người này chịu trách nhiệm trực tiếp trước giám đốc và tham mưu cho giám đốc về các công tác liên quan đến xuất khẩu lao động.
Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và trực tuyến giúp tạo sự thống nhất trong hành động, đồng thời giảm bớt gánh nặng quản lý nhờ vào việc áp dụng quản lý theo chức năng Việc có ít đầu mối chức năng cũng giúp tránh các mệnh lệnh trái ngược nhau.
Sơ đồ : Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức này không chỉ duy trì và củng cố chế độ thủ trưởng mà còn tạo ra sự thống nhất trong hành động, nâng cao tính chịu trách nhiệm của các bộ phận Điều này góp phần vào việc nâng cao hiệu lực quản lý của trung tâm Bên cạnh đó, các bộ phận liên quan đến xuất khẩu lao động có chức năng và nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này.
Trởng ban xuất khẩu lao động
Bộ phận đào tạo nghề Bộ phận t vấn, xúc tiến việc làm
Ban xuÊt khÈu lao động
Giám đốc trung tâm chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động của trung tâm, tuân thủ luật pháp và hướng dẫn của các cơ quan chức năng Ông trực tiếp quản lý bộ phận kế hoạch tài vụ và tổ chức hành chính, đồng thời chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức bộ máy khoa học và quản lý lao động hiệu quả Giám đốc cũng ký kết hợp đồng lao động, tìm kiếm thị trường lao động và tổ chức mạng lưới thông tin kinh tế phục vụ cho công tác điều hành Ông thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, phân tích hoạt động định kỳ và quản lý chi tiêu tiết kiệm, đảm bảo sử dụng vốn hợp lý và nộp ngân sách nhà nước Ngoài ra, Giám đốc còn là Chủ tịch hội đồng Thi đua - Khen thưởng - Kỷ luật - Đề bạt - Nâng bậc.
Trưởng ban xuất khẩu lao động là người hỗ trợ Giám đốc trong việc tuyển dụng, đào tạo nghề, ngoại ngữ và chuyên môn nghiệp vụ Họ ký kết hợp đồng lao động cho cá nhân và tập thể trong và ngoài nước, đồng thời chịu trách nhiệm trước Giám đốc về toàn bộ hoạt động được phân công Là chủ tịch hội đồng tuyển chọn lao động, họ có nhiệm vụ tìm kiếm hợp đồng cung ứng lao động và nghiên cứu thị trường sức lao động trong tỉnh Trưởng ban cũng định hướng hoạt động ngắn hạn và dài hạn cho khối đào tạo giáo dục, nhằm nâng cao hiệu quả và uy tín của hoạt động xuất khẩu lao động.
Bộ phận xuất khẩu lao động nghiên cứu thị trường lao động và lựa chọn bên A để lập phương án phát triển thị trường cung ứng lao động Họ phối hợp với bên A trong việc quản lý lao động sau khi xuất khẩu sang nước ngoài Đồng thời, bộ phận này nghiên cứu các biện pháp thu hồi lệ phí cung ứng lao động theo quy định của chính phủ và Bộ Lao động Thương binh Xã hội Họ cũng thực hiện sơ tuyển và tuyển chọn lao động cùng với bên A, làm thủ tục xuất cảnh cho người lao động, và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình lao động làm việc ở nước ngoài.
Phân tích thực trạng quản lý lao động xuất khẩu tại trung tâm đào tạo Giới thiệu việc làm trong thời gian vừa qua –
trung tâm đào tạo – giới thiệu Giới thiệu việc làm trong thời gian vừa qua
1 Công tác tập kế hoạch XKLĐ a Quy trình lập kế hoạch của Trung tâm
Là một trung tâm cung ứng lao động, công tác hợp đồng xuất khẩu lao động (XKLĐ) của trung tâm có những đặc trưng riêng biệt, khác với các hình thức trực tiếp XKLĐ.
Quá trình hợp đồng tại trung tâm được thực hiện theo các bước: Tìm kiếm hoạt động cung ứng lao động xuất khẩu, ký kết hợp đồng, thông báo tuyển chọn, mở tuyển và đào tạo giáo dục đại học.
LĐKK cho bên A thu lệ phí theo HĐ của bên A tham gia quản lý hồ sơ LĐXK ở nớc ngoài.
Bước đầu tiên trong quá trình này là xác định hoạt động cung ứng lao động, điều này đóng vai trò quyết định cho công tác lập kế hoạch và ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình xuất khẩu lao động.
Với công tác tuyển mộ tuyển chọn: Đây là bớc quyết định đến hình thức và nội dung của các tuyến mộ tuyển chọn ở các mặt:
Trung tâm sẽ dựa vào hợp đồng cung ứng lao động đã ký với bên A để xác định công tác tuyển mộ lao động, bao gồm số lượng lao động cần tuyển, trình độ văn hóa của họ và địa bàn cư trú.
- Giới tính: Hợp đồng quyết định tuyển mộ lao động có giới tính nh thế nào?
Độ tuổi của người lao động tham gia xuất khẩu lao động (XKLĐ) được xác định dựa trên các yêu cầu trong hợp đồng đã ký với bên A.
Ngành nghề đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) là yếu tố quan trọng khi ký kết hợp đồng cung ứng Các hợp đồng này thường yêu cầu ngành nghề phù hợp với lao động tại tỉnh Thái Bình, bao gồm giúp việc gia đình, khán hộ công, lao động phổ thông, thuyền viên, may công nghiệp và cơ khí.
Nước nhận lao động có ảnh hưởng lớn đến công tác tuyển mộ và tuyển chọn lao động, vì mỗi thị trường lao động đều có đặc trưng riêng như phong tục tập quán, thu nhập, điều kiện thời tiết, và tình hình kinh tế xã hội Thông tin về sự ổn định của môi trường lao động và cường độ lao động cũng là yếu tố quan trọng, giúp người lao động quyết định tham gia vào quá trình xuất khẩu lao động của trung tâm.
+ Với công tác đào tạo và giáo dục định hớng:
Sau khi hoàn tất quá trình tuyển mộ, bước tiếp theo là đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động Hợp đồng đã ký giữa trung tâm và giá A sẽ quy định rõ hình thức và nội dung của công tác đào tạo về giáo dục định hướng.
Đào tạo tiếng bao gồm việc xác định ngôn ngữ học, hình thức và nội dung của khóa học, địa điểm học tập, giảng viên phụ trách, chi phí tham gia và giáo trình do ai biên soạn.
Đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng trong việc ký kết hợp đồng với bên A, vì yêu cầu về ngành nghề cần được xem xét kỹ lưỡng Do đó, quá trình đào tạo nghề của người lao động phải dựa trên những yêu cầu cụ thể này để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả.
Theo hợp đồng, khi bên A yêu cầu thuê trung tâm đào tạo, trung tâm sẽ trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ này Trung tâm thường chuyên dạy các nghề như cơ khí, hàn, sửa chữa xe máy, ô tô, và may công nghiệp Ngoài ra, trung tâm cũng cung cấp đào tạo cho các ngành nghề như giúp việc gia đình, khán hộ công, và công nhân xây dựng Đối với các ngành nghề yêu cầu tính kỹ thuật cao và tay nghề chuyên môn như kế toán, điện tử, điện lạnh, sẽ do bên khác đảm nhiệm.
A trực tiếp đảm nhận trung tâm chỉ cho thuê địa điểm ăn học cho giáo viên và ngời lao động.
Giáo dục định hướng cho người lao động theo hợp đồng đã ký là yếu tố quyết định hình thức và nội dung công tác này Khi thực hiện giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam tham gia xuất khẩu lao động, có nhiều nội dung chung được quy định bởi pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, cách ký kết hợp đồng giữa người lao động và chủ sử dụng có sự khác biệt lớn, phụ thuộc vào quốc gia tiếp nhận lao động, bao gồm phong tục tập quán và tác phong làm việc Ví dụ, phong tục tập quán ở Đài Loan, nơi chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa Trung Hoa, sẽ khác biệt so với các nước công nghiệp như Malaysia, nơi tiếng Anh được sử dụng hàng ngày và có tác phong làm việc hiệu quả Điều này là rất quan trọng trong quá trình giáo dục định hướng.
+ Với công tác quản lý lao động:
Là một trung tâm cung ứng lao động xuất khẩu, trung tâm không có chức năng quản lý lao động khi họ làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm và ký kết hợp đồng, trung tâm vẫn phải tham gia vào công tác quản lý lao động Khi trung tâm tham gia đào tạo và giáo dục nghề nghiệp cho người lao động, họ vẫn có trách nhiệm quản lý lao động với bên A trong suốt thời gian làm việc ở nước ngoài Nếu có vi phạm trong các hợp đồng lao động, trung tâm cũng có trách nhiệm tham gia giải quyết vấn đề.
Quá trình tìm kiếm và ký kết hợp đồng quyết định việc trung tâm có tham gia vào xuất khẩu lao động (XKLĐ) hay không, phụ thuộc vào lệ phí mà trung tâm phải trả khi cung cấp lao động cho bên A Lệ phí này thay đổi tùy thuộc vào việc trung tâm có tham gia đào tạo và quốc gia tiếp nhận lao động Cụ thể, khi tham gia XKLĐ vào thị trường Malaysia hoặc Đài Loan, lệ phí dao động từ 300 đến 800 nghìn đồng, trong khi đối với thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Anh Quốc, lệ phí là 1 triệu đồng.
Dựa trên tình hình hoạt động của trung tâm năm trước, nhu cầu và tình hình của các đối tác, cùng với cung lao động và khả năng cung ứng lao động cho xuất khẩu của tỉnh, chúng tôi đã xác định phương hướng hoạt động và các chỉ tiêu cần đạt được cho số lượng lao động xuất khẩu, ngành nghề xuất khẩu Đồng thời, chúng tôi tổ chức các biện pháp đánh giá thực tế để lập đề án về xuất khẩu lao động, trình lên Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh để được xét duyệt và làm mục tiêu phấn đấu.
* Phân tích cầu lao động:
Đánh giá hiệu quả quản lý lao động xuất khẩu tại TTĐTGTVL Thái B×nh
1 Qui mô và cơ cấu lao động xuất khẩu trong thời gian vừa qua:
Trong thời gian gần đây, TTGTVKL tỉnh đã tư vấn và phối hợp đưa đi 1000 lao động, với kết quả cao nhất đạt được vào năm 2002, khi có 437 người được đưa đi, tăng gần 36% so với năm 2001 Tuy nhiên, con số này không được duy trì đến năm 2003.
Cơ cấu lao động cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 75 - 80%, chủ yếu là lao động phổ thông Ngoài ra, còn có các ngành nghề khác như may mặc, sửa chữa, điện tử, cùng với một tỷ lệ nhỏ lao động nữ, chủ yếu làm giúp việc gia đình và công nhân may.
Malaysia là thị trường lao động hấp dẫn, tiếp nhận 568 lao động, chiếm khoảng 60% tổng số lao động Ngược lại, Hàn Quốc là điểm đến ít phổ biến hơn do chi phí di chuyển cao, lên tới 80 triệu đồng/người, trong khi chi phí sang Malaysia hoặc Đài Loan vào năm 2003 chỉ khoảng 20 triệu đồng.
Sè ngêi % Sè ngêi % Sè ngêi %
Theo nghề đến nơi làm việc
Nguồn: TTĐT và giới thiệu việc làm tỉnh Thái Bình
2 Thu nhập của ngời lao động khi đi xuất khẩu
Tuỳ theo từng thị trờng, từng ngành nghề sẽ quy định chi phí
Chi phí theo ngành nghề Đơn vị : USD
Tiêu thức Đài Loan Malaysia Gioocdani
Nguồn trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm tỉnh Thái Bình
Chi phí đi lao động xuất khẩu có sự khác biệt tùy thuộc vào thị trường và công ty tổ chức Cụ thể, tại Đài Loan, chi phí lao động dao động từ 486 đến 600 USD/người, trong khi ở Malaysia, mức chi phí này từ 1.100 đến 4.200 USD/người.
Chi phí khi làm các thủ tục: Đơn vị : Nghìn đồng
Tiêu thức Đài Loan Malaysia
1 Chi phí đào tào và giáo dục định hớng 500 500
6 Quỹ hỗ trợ rủi ro 1.500 1.500
Nguồn trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm tỉnh Thái Bình
2.2 Tiền lơng thu nhập của LĐXK theo hợp đồng
Tiêu thức Đài Loan Malaysia
Tổng thu nhập TL bình quân/tháng 500 550
Nguồn trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm tỉnh Thái Bình
Tiền lương bình quân hàng tháng của người lao động phụ thuộc vào ngành nghề và từng quốc gia cụ thể Tại Đài Loan, mức lương tối thiểu theo hợp đồng là 500 USD mỗi tháng cho mỗi người.
Với tiền lơng này ngời lao động làm việc 3 năm thì tổng thu nhập là 1.800 USD/
Sau khi trừ đi các khoản chi phí, người lao động có thể mang về 1.700 USD, tương đương khoảng 250 triệu đồng Đây là một khoản thu nhập lớn đối với người lao động.
Tuy nhiên đây chỉ là số tiền có đợc khi hợp đồng đợc giữ đúng Đã có không ít lao động bị phá hợp đồng nh ở Malaysia
3 Nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết
Khi người lao động đi xuất khẩu, họ được tiếp xúc với nền khoa học kỹ thuật hiện đại, điều này yêu cầu những kỹ năng ngày càng phức tạp Do đó, trình độ tay nghề và hiểu biết của họ luôn được cải thiện và nâng cao.
Người lao động tiếp xúc với nhiều phong tục, tập quán và kinh nghiệm đa dạng, từ đó họ rút ra những điều hay và tiên tiến cho bản thân Việc này giúp họ không ngừng làm mới mình, trở nên nhanh nhẹn và có tác phong công nghiệp.
- Ngời lao động sau khi trở về nớc có vốn, kinh ngiệm, tay nghề có thể đứng ra kinh doanh mở các cơ sở sản xuất.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích tích cực, cũng tồn tại những tác động tiêu cực Người lao động trở về nước với tiền bạc dễ dàng bị cuốn vào các hoạt động ăn chơi, hưởng thụ và bài bạc.
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo, với khảo sát cho thấy 39 lao động tại công ty có thu nhập bình quân chỉ 300 nghìn/tháng Cụ thể, thu nhập bình quân của lao động đi xuất khẩu tại công ty chỉ đạt 126 nghìn/tháng Tuy nhiên, thông qua xuất khẩu lao động, thu nhập của người lao động tại Malaysia đã tăng gấp 23 lần, trong khi tại Đài Loan, con số này lên tới 42 lần.
Với số vốn này, người lao động có khả năng thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao năng suất lao động cho bản thân và gia đình Điều này không chỉ giúp họ cải thiện cuộc sống mà còn gia tăng đóng góp cho xã hội Số vốn này tạo ra sự đột phá, giúp phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói theo lý thuyết của Samuelson.
Nghèo đói thường đi kèm với văn hóa thấp, kỹ năng hạn chế, năng suất kém và thu nhập thấp Điều này ảnh hưởng đến cơ hội học tập của con cái người lao động nghèo, nhưng nếu được hỗ trợ đúng cách, họ có thể tạo điều kiện cho con cái học hành đến nơi đến chốn, từ đó góp phần vào việc xoá nghèo bền vững.
Theo khảo sát tại công ty, 70% người tham gia cho biết họ sẽ đầu tư vốn vào kinh doanh, 20% có kế hoạch tiếp tục xuất khẩu lao động nếu thu nhập đạt mức cao, trong khi 10% có ý định trở về tình trạng như trước.
Hiệu quả nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động qua xuất khẩu lao động (XKLĐ) tại công ty còn hạn chế, phản ánh bối cảnh chung của ngành XKLĐ ở nước ta, nơi chủ yếu là lao động phổ thông Tuy nhiên, khi XKLĐ thành công, niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương sẽ được củng cố.
Đánh giá chung
+ Đã tạo điều kiện thuận lợi để ngời lao động có thể tham gia chơng trình XKL§.
Thông tin về thị trường xuất khẩu lao động (XKLĐ) đã được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, giúp nhiều người hiểu rõ hơn về cơ hội việc làm Sự phối hợp trong xuất khẩu lao động đã mang lại số lượng lao động đáng kể, tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cao cho người lao động.
+ Thực hiện tốt theo hớng dẫn và góp phần giải quyết bức xúc về vấn đề lao động của tỉnh nhà.
+ Công tác tổ chức, phối hợp chặt chẽ giữa Công ty và ngời lao động tham gia XKLĐ đạt hiệu quả.
+ Số lợng LĐ XK cha lớn
+ Thu nhập của ngời lao động cha cao cũng nh cha đáp ứng đợc nguyện vọng làm đúng nghề đúng ngành.
+ Thời gian chờ suất cảnh lâu
- Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự hiểu biết và chất lượng lao động Thị trường lao động ở nước ngoài, đặc biệt là tại Malaysia, hiện đang bão hòa và không còn hấp dẫn Trong khi đó, một số quốc gia khác lại có chi phí sinh hoạt quá cao so với khả năng kinh tế của người lao động.
Tuyển chọn lao động một cách có chọn lọc thông qua sơ tuyển, xác định rõ ràng về công việc cho người lao động Hợp tác với các công ty uy tín và có trách nhiệm để thực hiện xuất khẩu lao động Tổ chức đào tạo chất lượng cho người lao động là yếu tố quan trọng trong quá trình này.