Căn cứ vào khái niệmcưỡng chế tuân thủ pháp luật có thể hiểu “Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môitrường” là những biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc cánhân, tổ chức ph
Trang 1MỤC LỤC
TRANG
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG 5
1.1 Khái niệm cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 5
1.1.1 Nhận thức chung về cưỡng chế tuân thủ pháp luật 5
1.1.2 Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 7
1.1.3 Sự cần thiết phải cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 13
1.2 Các biện pháp cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 15
1.2.1 Cuỡng chế trong quá trình thực hiện pháp luật môi trường 15
1.2.2 Cưỡng chế thi hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 24
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài về cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 27
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore 27
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 30
Chương II - VỤ VIỆC VEDAN VÀ THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 32
2.1 Vụ việc vi phạm pháp luật môi trường của Công ty Vedan Việt Nam 32
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành và hoạt động của Công ty Vedan 32
2.1.2 Hành vi vi phạm pháp luật môi trường của công ty Vedan 34
2.1.3 Kết quả giải quyết vụ việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các quan điểm liên quan 35 2.2 Quan điểm cá nhân và những bài học từ cưỡng chế tuân thủ
Trang 22.3 Những khó khăn trong hoạt động cưỡng chế tuân thủ pháp luật
môi trường 49
Chương III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QỦA
CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG 513.1 Tăng cường hiệu quả cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường từ
góc độ pháp lý 513.1.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về môi trường 513.1.2 Hoàn thiện pháp luật cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 543.2 Tăng cường hiệu quả cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường từ
góc độ thực tiễn thi hành 563.2.1 Tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật môi trường cho các
Doanh nghiệp 563.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý bảo vệ môi trường và nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ thừa hành pháp luật môi trường 593.2.3 Hoàn thiện quy trình, thủ tục hoạt động tư pháp 613.2.4 Tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường 62KẾT LUẬN 65TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới thì hàng loạt vấn đề về môitrường nảy sinh đang đòi hỏi tất cả các quốc gia trên thế giới phải cùng nhau giảiquyết Chính vì vậy, môi trường đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu chứ khôngcòn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia Việt Nam ngày càng tham gia tích cực vàohoạt động bảo vệ môi trường của khu vực cũng như trên thế giới
Trong năm 2008 ở Việt Nam đã phát hiện nhiều hành vi gây ô nhiễm của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí cả những doanh nghiệp hoạt động có uy tín trênthị trường Việt Nam từ lâu như: Công ty Miwon, Công ty Vedan, Công ty giấy BãiBằng,… Những trường hợp nêu trên có lẽ mới chỉ là con số nhỏ, bởi còn nhiềudoanh nghiệp khác mà chúng ta chưa phát hiện ra Thực trạng này cho thấy cácbiện pháp cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường của chúng ta chưa hiệu quả,chưa tạo ra được thái độ chủ động, tự giác tuân thủ của các chủ thể
1 Lí do lựa chọn đề tài
Hiện nay ở Việt Nam có những biện pháp cưỡng chế tuân thủ pháp luật môitrường nào? Vì sao cần phải sử dụng những biện pháp đó? Những tồn tại cần khắcphục và những giải pháp để những biện pháp này ngày càng phát huy hiệu quả?
Qua vụ việc Vedan, một vụ việc về môi trường điển hình của năm 2008 hiệnđang còn nhiều tranh cãi em muốn lí giải vấn đề này từ góc độ lí luận và thực tiễn,
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cưỡng chế tuân thủ pháp luậtmôi trường Chính vì vậy mà em đã lựa chọn đề tài: “Vụ việc Vedan và những vấn
đề pháp lý về cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong nội dung Khoá luận Tốt nghiệp này em muốn tìm hiểu các biện phápcưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường ở Việt Nam hiện nay và hiệu quả áp dụng
Trang 4của chúng; Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cácbiện pháp đó.
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khoá luận tìm hiểu một cách tổng quan về cưỡng chế tuân thủ pháp luật môitrường nhằm trang bị kiến thức cơ bản Qua đó nâng cao khả năng đánh giá nhữngvấn đề thực tiễn nảy sinh và đưa ra giải pháp mang tính cá nhân trên cơ sở vậndụng những kiến thức đã được giáo dục trong nhà trường để hoàn thiện thêm nhữngkiến thức của bản thân về môi trường
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu khoá luận nhằm xây dựng, củng cố kiếnthức phục vụ cho công tác, học tập sau này
4 Kết cấu khoá luận
Khoá luận gồm ba phần:
- Mở đầu: giới thiệu lí do, mục đích lựa chọn đê tài; đối tượng và phạm vinghiên cứu của đề tài; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nội dung khoá luận: gồm ba chương
Chương I: Những vấn đề lí luận về cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường.Chương II: Vụ việc Vedan và thực trạng cưỡng chế tuân thủ pháp luật môitrường ở Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả cưỡng chế tuân thủpháp luật môi trường
- Kết luận
Trang 5Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
1.1 KHÁI NIỆM CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Nhận thức chung về cưỡng chế tuân thủ pháp luật
Tuân thủ pháp luật được hiểu là “một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm”.(1)Tuy nhiên không phải lúc nào các chủ thể cũng tuân thủ pháp luật mà có thể viphạm bất cứ lúc nào, kể cả khi hành vi vi phạm chưa hoặc đã xảy ra Vì vậy, việccưỡng chế tuân thủ pháp luật là cần thiết
Thuật ngữ “Cưỡng chế” được hiểu là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng một mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định” (2) Như vậy, cưỡng chế tuân thủ phápluật được hiểu là những biện pháp, cách thức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng để buộc các cá nhân hay tổ chức phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Luật pháp bản thân nó đã có tính cưỡng chế Cưỡng chế là một tính chất đặctrưng, cơ bản của pháp luật Tính chất cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạođức và phong tục Theo Lênin thì pháp luật sẽ không còn là gì nữa "nếu không cómột bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của phápquyền thì pháp quyền có cũng như không.”
Tuy nhiên, tính chất cưỡng chế trong bản thân pháp luật không phải lúc nàocũng đảm bảo cho nó được tuân thủ trong thực tế, đôi khi nó chỉ được tuân thủ bởimột bộ phận chủ thể nhất định Do đó, Nhà nước còn cần có những biện pháp khác1
Trang 6nhau để buộc các chủ thể phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật do các chủ thểđặc biệt sử dụng làm công cụ cưỡng chế
Cưỡng chế tuân thủ pháp luật mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất,về chủ thể cưỡng chế: Nếu như các quy tắc đạo đức, phong tục, tập
quán được con người tuân thủ, chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểubiết và lên án của xã hội thì quy phạm pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiệnbằng các công cụ quản lý nhà nước Nếu ai không chấp hành thì nhà nước cưỡngchế thi hành bằng các biện pháp khác nhau Cưỡng chế được thực hiện trên cơ sởpháp luật, trong khuôn khổ pháp luật Không phải bất kì chủ thể nào cũng có thẩmquyền cưỡng chế mà chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được nhànước trao quyền để thực hiện các biện pháp đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ.Những cơ quan này có thể là toà án, viện kiểm sát, quân đội hay cơ quan quản lýnhà nước trong một số lĩnh vực chuyên nghành
Thứ hai, về chủ thể bị cưỡng chế: pháp luật được nhà nước ban hành để duy
trì trật tự xã hội theo một định hướng nhất định mà nhà cầm quyền đặt ra Trong xãhội đó mọi chủ thể đều tham gia vào quá trình thực thi pháp luật theo đúng tráchnhiệm, nghĩa vụ và chức năng của mình, có thể là cơ quan nhà nước hoặc ngườidân Chủ thể nào trong xã hội cũng có thể là người không tuân thủ pháp luật bằngnhững hành vi khác nhau, dù cố ý hay vô ý xâm phạm đến những quy định phápluật nhất định Do đó, bất kì chủ thể nào cũng có thể trở thành đối tượng bị cưỡngchế, điểm khác giữa các chủ thể bị cưỡng chế chỉ là lí do cưỡng chế? Cưỡng chếnhư thế nào? ở đâu? Và mức độ cưỡng chế ra sao?
Thứ ba, về mục đích cưỡng chế: Như đã đề cập, pháp luật là công cụ để nhà
nước thiết lập và quản lý xã hội theo một trật tự nhất định nhằm đảm bảo các chứcnăng của nhà nước là chức năng kinh tế và chức năng xã hội Bất kì nhà nước nàomuốn tồn tại cũng đều phải có pháp luật Khi ban hành pháp luật mỗi nhà nước
Trang 7phải đặt ra những biện pháp khác nhau để pháp luật được thực hiện, chỉ khi phápluật được thực hiện thì mục đích ban hành pháp luật của nhà nước mới được đápứng Tuy nhiên không phải pháp luật lúc nào cũng được ban hành và thực thi triệt
để mà ở nơi này hay nơi khác, bộ phận này hay bộ phận khác của pháp luật khôngđược các chủ thể tuân thủ mà có thể vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau như:
vi phạm hành chính, hình sự hay dân sự,…lúc này nhà nước cần có các biện phápđảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách tự giác, đó chính là lí do mà cácbiện pháp cưỡng chế tuân thủ pháp luật được sử dụng
Sự cưỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục đích trừng trị
mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục người
vi phạm Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên cơ sở pháp luật, trong khuôn khổpháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành
Tính chất cưỡng chế của pháp luật không chỉ là răn đe, ngăn chặn, trừng trị,
mà còn là sự giáo dục sâu sắc đối với các chủ thể pháp luật Bản thân quy phạmpháp luật là chuẩn mực để con người rèn luyện ý thức công dân, hình thành ý thứcpháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp lý, tránh được sự tùytiện, coi thường pháp luật nhà nước
1.1.2 Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường
Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường là một dạng cưỡng chế trong mộtlĩnh vực chuyên ngành của cưỡng chế tuân thủ pháp luật Căn cứ vào khái niệmcưỡng chế tuân thủ pháp luật có thể hiểu “Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môitrường” là những biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc cánhân, tổ chức phải tuân thủ những quy định của pháp luật môi trường và nhữngquyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường mang những đặc điểm chung của
Trang 8cưỡng chế, mục đích cưỡng chế Tuy nhiên, bảo vệ môi trường là một lĩnh vựcchuyên ngành, vì thế, cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường còn mang nhữngnét đặc thù riêng khác với cưỡng chế tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực khác,bao gồm:
Thứ nhất, về nguyên tắc cưỡng chế: Để tạo ra được sự cưỡng chế tuân thủ
pháp luật môi trường trước hết pháp luật môi trường sử dụng những quy định cấmkhông cho phép các chủ thể tiến hành những hành vi nhất định
Nguyên tắc của pháp luật nói chung là công dân được phép làm những điều
mà pháp luật không cấm Pháp luật trong các lĩnh vực khác thường chỉ liệt kênhững hành vi nào là hành vi vi phạm, những hành vi nào được khuyến khích còntrong lĩnh vực môi trường chủ yếu liệt kê những hành vi bị cấm Mọi chủ thể nếuthực hiện những hành vi bị cấm này sẽ tuỳ mức độ, tính chất của hành vi mà bị xử
lý bằng các chế tài khác nhau theo mức độ nghiêm khắc tăng dần Điều 7 Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005 quy định tới 16 hành vi bị cấm, bao gồm: Phá hoại, khaithác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; khai thác đánh bắt cácnguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, khôngđúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật;…
Thứ hai, về căn cứ áp dụng cưỡng chế Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi
trường không chỉ dựa trên những quy định mang tính ước lệ mà việc cưỡng chếđược thực hiện trên cơ sở hệ thống Quy chuẩn kĩ thuật do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành Hệ thống quy chuẩn này là tập hợp các tiêu chuẩn môitrường như: Tiêu chuẩn về độ ồn, tiêu chuẩn về độ rung, tiêu chuẩn về không khí,
… Các tiêu chuẩn này là các thông số kĩ thuật được xây dựng trên cơ sở nhữngnghiên cứu khoa học và phù hợp với thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam đã đượcpháp lý hoá Đây là những tiêu chuẩn mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội phảituân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường
Trang 9và khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Căn cứ vào những tiêu chuẩnmôi trường cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định được một hành vi của
cá nhân, tổ chức có phải là vi phạm pháp luật về môi trường hay không Căn cứ cácmẫu chất thải lấy từ nơi có dấu hiệu của hành vi vi phạm cơ quan chuyên môn sẽphân tích mẫu và đưa ra kết luận, nếu kết quả phân tích cho thấy mẫu chất thải cócác thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì tức là đã có ô nhiễm môi trường Tổchức, cá nhân gây ô nhiễm sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhất định do cơquan nhà nước có thẩm quyền áp dụng phù hợp với mức độ, tính chất của mỗi loạihành vi
Thứ ba, về chủ thể: Chủ thể thực hiện cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi
trường cũng có thể là toà án, viện kiểm sát, quân đội, tuy nhiên, một chủ thể đặcthù trong lĩnh vực này là các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường như: Bộ Tàinguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh, thanh tra chuyênnghành trong lĩnh vực môi trường Ngoài ra còn có các cơ quan khác như Chínhphủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Chủ thể bị cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường cũng rất đa dạng Hành
vi vi phạm pháp luật môi trường có thể do nhiều chủ thể khác nhau thực hiệnnhưng chủ thể chủ yếu là các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động sản xuất, kinhdoanh Hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra một lượng lớn các chất thải chứa cácchất độc hại gây ô nhiễm môi trường Song các doanh nghiệp vì mục tiêu kinh tếthường không chú trọng đến vấn đề môi trường nên không đầu tư xây dựng hệthống xử lý chất thải mà đổ các chất thải này trực tiếp ra môi trường Thực tế hiệnnay cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường thường xảy ra ở các thành phố lớn nơihoạt động kinh tế diễn ra sôi động với các Khu công nghiệp, khu công nghệ cao,khu kinh tế mở như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 10Thứ tư, về cách thức cưỡng chế: Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường sử
dụng cách thức cưỡng chế rất đa dạng trong khi cách thức cưỡng chế của các lĩnhvực khác chỉ có thể là phạt tù, phạt tiền Bên cạnh việc sử dụng cách thức phạt tù,phạt tiền cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường còn sử dụng những cách thứccưỡng chế đặc thù được quy định tại Điều 49 Luật Bảo vệ môi trường, bao gồm:
+ Buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môitrường;
+ Tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệmôi trường cần thiết;
+ Buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải củamôi trường;
+ Cấm hoạt động
Thứ năm, về khách thể cần bảo vệ: Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường
không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích tư mà còn nhằm bảo vệ lợi ích công cộng Điều này
được lí giải bởi “môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”(1) nên môi trường có ảnh hưởng tới bất kì cá nhân nào, bất
kì sinh vật nào Do đó, những hành vi vi phạm pháp luật môi trường có thể gâythiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của một cá nhân, một tổ chức, cũng có thể ảnhhưởng tới lợi ích của một quốc gia và thậm chí là lợi ích của cả nhân loại như sựnóng lên của trái đất, hiện tượng tan băng ở Bắc cực Hành vi vi phạm pháp luậtmôi trường của một cá nhân, tổ chức khiến môi trường ở khu vực này bị ô nhiễm
có thể ảnh hưởng tới môi trường khu vực khác, ô nhiễm ở quốc gia này có thể ảnhhưởng đến quốc gia khác và ô nhiễm ở nhiều quốc gia sẽ tạo ra nguy cơ ô nhiễmmôi trường toàn cầu Vì vậy hành động bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân chính làbảo vệ môi trường sống cho chính mình và cho cả cộng đồng Tuy nhiên, dù là ô
1() Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường.
Trang 11nhiễm ở cấp độ nào thì trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng vẫn thuộc về Nhànước Nhà nước phải đầu tư trang thiết bị để kiểm soát ô nhiễm, phòng chốngnhững hiện tượng môi trường bất lợi có thể xảy ra như lụt lội, hạn hán, đầu tư tiềnbạc, của cải để khắc phục ô nhiễm, Không những thế Nhà nước còn phải đào tạonguồn nhân lực phục vụ cho những hoạt động này Cưỡng chế tuân thủ pháp luậtmôi trường vì thế vừa bảo vệ lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, vừa bảo vệ lợiích của nhà nước.
Thứ sáu, về các giai đoạn cưỡng chế Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi
trường được thực hiện ở hai giai đoạn: i) Cuỡng chế trong quá trình thực hiện phápluật môi trường; ii) Cưỡng chế thi hành quyết định xử lí của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Cụ thể là:
* Cuỡng chế trong quá trình thực hiện pháp luật môi trường Đây là giai
đoạn áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân, kể cả khi họ chưa có hành vi vi phạmpháp luật môi trường
Mục đích cưỡng chế là nhằm để các chủ thể này tự giác thực hiện những quyđịnh của pháp luật môi trường, nhằm phòng ngừa những hành vi vi phạm xảy ratrong thực tế Ở giai đoạn này những biện pháp cưỡng chế tác động tới mọi chủ thểpháp luật môi trường, cả chủ thể chưa có hành vi vi phạm và chủ thể đang vi phạmcũng như những chủ thể đã vi phạm để các chủ thể này có ý thức tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về bảo vệ môi trường
Việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế ở giai đoạn này có ý nghĩa rất quantrọng bởi tính phòng ngừa vi phạm, tác động quyết định tới ý thức tuân thủ pháp luậtmôi trường Chỉ khi cưỡng chế giai đoạn này không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp,các chủ thể vẫn thực hiện hành vi vi phạm thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền mớithực hiện cưỡng chế ở giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, các biện pháp cưỡng chế trong
Trang 12luật môi trường nên trách nhiệm cuỡng chế chủ yếu thuộc về cơ quan hành pháp ởkhâu tuyên truyền, phổ biến thực hiện pháp luật, phòng ngừa vi phạm Các biện phápcưỡng chế được sử dụng là các chế tài hành chính, hình sự, dân sự.
Hiện nay ở Việc Nam, ý thức tuân thủ pháp luật môi trường còn rất thấp nênbiện pháp này giữ vai trò rất quan trọng Bởi khi ý thức tuân thủ pháp luật nóichung và ý thức tuân thủ pháp luật môi trường nói riêng được nâng lên tới mức cácchủ thể tự giác thực hiện pháp luật thì hành vi vi phạm được hạn chế rất lớn Khi đócưỡng chế chủ yếu được thực hiện ở giai đoạn tiếp theo là giai đoạn cưỡng chế thihành quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với những biện pháp,cách thức riêng
* Cưỡng chế thi hành quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Giai đoạn này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đã thực hiện hành vi vi phạm, bị cơquan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm nhưng các chủ thể viphạm không nghiêm chỉnh thực thi các quyết định đó Lúc này cần sử dụng cácbiện pháp cưỡng chế sau vi phạm
Việc cưỡng chế tuân thủ mục đích nhằm buộc các chủ thể vi phạm phải thựchiện các quyết định xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đógiáo dục ý thức tuân thủ pháp luật môi trường và buộc khắc phục những thiệt hạiđối với môi trường và đối với các tổ chức, cá nhân khác do các chủ thể vi phạm gây
ra, từ đó có tác dụng răn đe các chủ thể khác không hoặc ngừng thực hiện nhữnghành vi xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước về môi trường và những hành vi gây ônhiễm môi trường
Việc cưỡng chế ở giai đoạn này tuy có tác dụng răn đe cao nhưng thườngkhông có lợi cho trật tự xã hội nói chung, cho mục đích bảo vệ môi trường nóiriêng, vì những hành vi vi phạm pháp luật môi trường đã xảy ra, dẫn đến hậu quả làgây hại cho môi trường, gây thiệt hại cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân, thậm chí
Trang 13gây thiệt hại rất lớn Dù buộc các tổ chức cá nhân khắc phục tình trạng môi trường
bị ô nhiễm, suy thoái nhưng hậu quả môi trường đã xảy ra rất khó khắc phục hoặckhông thể khắc phục được
Ở Việt Nam hiện nay việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyếtđịnh xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường không có hiệu quả cao dochậm phát hiện xử lý; khi phát hiện thì xử lý chưa nghiêm; các đối tượng bị cưỡngchế không cố ý thức thực hiện
Như vậy, cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường có nhiều nét đặc thù khácvới cưỡng chế trong các lĩnh vực khác Do đó, khi xây dựng pháp luật môi trườngcũng cần chú ý tới nét đặc thù này để xây dựng biện pháp cưỡng chế phù hợp và cóhiệu quả
1.1.3 Sự cần thiết phải cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường
Thực trạng môi trường nước ta vừa qua cho thấy vấn đề bảo vệ môi trườngngày càng trở lên cấp bách Môi trường biển, môi trường đô thị,… ô nhiễm trầmtrọng do hoạt động của nhiều chủ thể như: ô nhiễm ở các làng nghề, khu dân cư dorác thải sinh hoạt nhưng chủ yếu do hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp Ở Việt Nam hiện nay cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường cần phảiđược thực hiện xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do ý thức tuân thủ pháp luật môi trường của tổ chức, cá nhân còn
hạn chế cũng như trình độ, năng lực quản lý của các cơ quan có thẩm quyền còn bấtcập Đây được xem làm nguyên nhân chính
Môi trường là một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam nên chưa được quan tâmđúng mức Pháp luật môi trường được thực hiện chủ yếu xuất phát từ ý thức tự giáctuân thủ pháp luật môi trường của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, không phải lúcnào cá nhân, tổ chức cũng tự giác thực hiện mà thậm chí còn cố ý vi phạm Do tâm
Trang 14lí phát triển kinh tế không gắn liền với bảo vệ môi trường, vì lợi nhuận họ sẵn sàng
đổ ra sông hàng ngàn tấn nước thải mỗi năm, chặt phá hàng chục hécta rừng để lấygỗ,… Ngày càng có nhiều những hành vi vi phạm pháp luật môi trường được pháthiện Do đó việc tác động tới ý thức của các tổ chức, cá nhân để buộc họ phải tựgiác tuân thủ pháp luật môi trường là cần thiết và quan trọng nhất để bảo vệ môitrường
Thứ hai, chính do ý thức tuân thủ pháp luật môi trường quá thấp nên hành vi
vi phạm ngày càng trở lên phổ biến dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày
càng trở lên nghiêm trọng Nếu không cưỡng chế tuân thủ sẽ dẫn đến sự tuỳ tiện
trong việc thực hiện các quy định của pháp luật môi trường khiến cho hành vi viphạm ngày càng nhiều và ngày càng nghiêm trọng hơn Mặt khác, việc cưỡng chếđối với hành vi vi phạm của chủ thể này sẽ có tác động chấm dứt hành vi đó hoặc
có tác động ngăn ngừa những hành vi vi phạm của các chủ thế khác, giáo dục ýthức tuân thủ pháp luật cho các chủ thể khác
Trong năm 2008 đã phát hiện hàng loạt những hành vi gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: vụ Công ty Miwongây ô nhiễm nước sông Hồng, Công ty Giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) và nghiêm trọngnhất là vụ Công ty Vedan Việt Nam xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải.Chính vì thế việc cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường càng trở lên cần thiết vàđòi hỏi phải được áp dụng hiệu quả
Thứ ba, để bảo vệ môi trường có nhiều biện pháp khác nhau: Biện pháp kinh
tế, biện pháp tổ chức chính trị, biện pháp giáo dục, biện pháp khoa học công nghệ,biện pháp pháp lý Trong đó, biện pháp pháp lý là biện pháp cơ bản và quan trọng,xuyên suốt trong hoạt động bảo vệ môi trường của bất kì quốc gia nào Đây là biệnpháp có tác động hiệu quả nhất tới các chủ thể đang và sẽ thực hiện hành vi viphạm Khi sử dụng biện pháp pháp lý, các chủ thể vi phạm tuỳ thuộc mức độ, tính
Trang 15chất của hành vi vi phạm mà sẽ bị áp dụng các chế tài khác nhau Từ đó tác độngtới ý thức của các chủ thể pháp luật môi trường, buộc họ phải kiềm chế thực hiệnnhững hành vi mà pháp luật môi trường ngăn cấm Nếu pháp luật môi trườngkhông được tuân thủ, biện pháp pháp lý không phát huy hiêu quả sẽ tạo điều kiệncho các hành vi huỷ hoại môi trường ngày càng mở rộng và nghiêm trọng hơn
Ở nước ta cả khi các hành vi vi phạm được thực hiện và bị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý thì các chủ thể vi phạm vẫn không tuân thủ, thậm chí chốnglại các quyết định của cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền và tiếp tục vi phạm Suycho cùng nguyên nhân vẫn là do ý thức bảo vệ môi trường của họ quá thấp, chỉ chútrọng mục tiêu lợi nhuận Việc cưỡng chế tuân thủ vì thế cũng rất cần thiết nhằmđảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo cho pháp luật môi trừơng đượcthực hiện để buộc tổ chức, cá nhân vi phạm phải khắc phục những sai phạm
Thứ tư, các chế tài để xử lý các vi phạm về bảo vệ môi trường nặng về giáo
dục, phòng ngừa, chưa coi trọng việc áp dụng các công cụ kinh tế để ngăn ngừa và
xử lý vi phạm Do đó hành vi vi phạm chưa được hạn chế triệt để, chưa tác độnglớn tới ý thức tuân thủ pháp luật môi trường của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt làcác doanh nghiệp nên các biện pháp cưỡng chế sau vi phạm càng có vai trò quantrọng
1.2 CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MÔITRƯỜNG
Cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường được thực hiện ở hai giai đoạn:Cuỡng chế trong quá trình thực hiện pháp luật môi trường và cưỡng chế thi hànhquyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mỗi giai đoạn có biện pháp,cách thức cưỡng chế riêng phù hợp với mục đích và tính chất của từng giai đoạn đểđảm bảo thực hiện cưỡng chế có hiệu quả
Trang 161.2.1 Cưỡng chế trong quá trình thực hiện pháp luật môi trường
Để cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường có hiệu quả thì vấn đề quantrọng là phải phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vựcnày Đồng thời có những biện pháp răn đe các đối tượng khác để phòng ngừa viphạm Chính vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà phápluật môi trường Việt Nam quy định các chế tài khác nhau ứng với mỗi hành vi
Theo Điều 127 Luật Bảo vệ môi trường thì: Vi phạm pháp luật môi trường “tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho cho
tổ chức, cá nhân khác thì còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại” theo quy định của pháp luật
Như vậy, các biện pháp cưỡng chế thực hiện pháp luật môi trường bao gồm:
và tội phạm về môi trường
* Chế tài hành chính
Chế tài hành chính trong lĩnh vực môi trường được sử dụng để cưỡng chế đốivới các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này Do đó, để áp dụng chế tàinày trước hết cần phải xác định được một hành vi xảy ra trong thực tế là một hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Trang 17Vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường “là những hành vi vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính”.(1)
Như vậy, để nhận biết một hành vi là vi phạm hành chính cần căn cứ vào cácdấu hiệu sau:
- Dấu hiệu trong mặt khách quan: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan
của vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hành vi vi phạm hànhchính trong lĩnh vực này Hành vi mà các tổ chức, cá nhân này thực hiện là hành vixâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật môi trường ngăn cấm.Các hành vi bị ngăn cấm thể hiện rõ trong Luật môi trường và các văn bản liênquan như Nghị định 81/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môitrường và được pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp hành chính
- Dấu hiệu chủ thể: chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính
là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luậthành chính Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạmhành chính phải là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làmmất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do phápluật quy định
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường bao gồm: + Cá nhân, tổ chức (trong nước hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài) có hành vi
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam Trongđó: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hànhchính do lỗi cố ý; Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm
1 () Khoản 2 Điều 1 Nghị định 81NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Trang 18hành chính do mình gây ra; Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hànhchính do mình gây ra Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xácđịnh cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý củangười đó theo quy định của pháp luật; cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hànhchính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Namcũng bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợpđiều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
+ Cá nhân là người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính tronglĩnh vực bảo vệ môi trường thì bị xử phạt như sau: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; người từ đủ16 tuổi đến dưới 18 tuổi
vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính làphạt tiền, cảnh cáo và phạt bổ sung tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm (tước quỳên
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sửdụng để vi phạm hành chính).1
Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thườngtheo quy định của pháp luật
- Dấu hiệu khách thể: Hành vi vi phạm hành chính xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ đó là trật tự quản lý hành chính nhà nước về môitrường đã được pháp luật môi trường quy định và bảo vệ
- Dấu hiệu trong mặt chủ quan: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi
phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm.Hành vi của chủ thể vi phạm có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý Ngườithực hiện hành vi vi phạm phải có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi củamình Nếu xác định rằng chủ thể thực hiện hành vi khi không có khả năng nhận
1( ) Điều 2 Nghị định 81/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Trang 19thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì chúng ta kết luận không có vi phạm hànhchính xảy ra.
- Dấu hiệu trong mặt khách quan: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan
của vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường chính là hành vi vi phạm hànhchính trong lĩnh vực này Hành vi mà các tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâmphạm các quy tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm Để kếtluận một tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trườngcần có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó thuộc các trường hợp bịpháp luật môi trường ngăn cấm và sẽ bị xử phạt hành chính
Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường thoảmãn các dấu hiệu của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường thìĐiều 49 Luật Bảo vệ môi trường quy định các hình thức xử lý sau:
- Phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêuchuẩn môi trường;
- Tạm đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môitrường cần thiết;
- Xử lý bằng các hình thức khác theo quy định của pháp luật về xử lý viphạm hành chính
Ngoài ra, nếu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ còn bị xử lý thêm một trong các biện pháp sau:
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường;
- Buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư;
- Cấm hoạt động
Tại Điều 7 Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng quy định cụ thể các hình thức xửphạt vi phạm hành chính, bao gồm:
Trang 20Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường còn
có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau:
- Buộc trong thời hạn nhất định phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môitrường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do
vi phạm hành chính gây ra;
- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩmgây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước;
- Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;
- Các biện pháp khắc phục hậu quả khác như: Đối với các quy định về đánhgiá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược áp dụng các biện phápkhắc phục hậu quả: Buộc thực hiện đúng nội dung trong báo cáo đánh giá tác độngmôi trường, phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, xử lý môi trường đạttiêu chuẩn cho phép,
Trang 21Các tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạmcác quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường, qua đó gây thiệt hại cho môitrường
Các tội phạm về môi trường được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sựnăm 1999 bao gồm 10 điều với các tội danh cụ thể sau:
+ Tội gây ô nhiễm không khí (điều 182);
+ Tội gây ô nhiễm nguồn nước (điều 183);
+ Tội gây ô nhiễm đất (184);
+ Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất khôngđảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường (điều 185);
+ Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (điều 186);
+ Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (điều 187);+ Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (điều 188);
+ Tội huỷ hoại rừng (điều 189);
+ Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã (điều 190);
+ Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (điều 191).Muốn áp dụng chế tài hình sự trước hết cần xác định thế nào là một tội phạm
về môi trường Để xác định một hành vi là tội phạm về môi trường cần căn cứ vàocác dấu hiệu sau:
- Chủ thể: Chủ thể của tội phạm về môi trường phải là cá nhân Hầu hết là
chủ thể bình thường Những người đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực tráchnhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của nhiều tội thuộc nhóm tội này Chỉ
có tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảmbảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường (Điều 185) đòi hỏi chủ thể ngoài những dấu hiệucủa chủ thể thường phải có thêm những dấu hiệu đặc biệt khác là: Phải là người có
Trang 22chức vụ, quyền hạn cho phép nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thảihoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
- Khách thể: Hành vi phạm tội xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về
bảo vệ môi trường
- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, động cơ,
mục đích của nguời phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có ý nghĩa trong việcđịnh tội
- Mặt khách quan: Hành vi phạm tội rất đa dạng có thể gây ra nhiều hậu quả
khác nhau như: Gây thiệt hại cho môi trường; gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻcủa con người; gây thiệt hại về tài sản bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí đểkhắc phục hậu quả đã xảy ra Dấu hiệu bị xử phạt vi phạm hành chính và gây hậuquả nghiêm trọng được coi là những dấu hiệu bắt buộc có ý nghĩa trong việc địnhtội của hầu hết các tội phạm trong nhóm này
Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các hình thức xử lý hình sựbao gồm:
- Khung hình phạt nhẹ nhất là hình phạt phạt tiền với các tội phạm ít nghiêmtrọng, nghiêm trọng, với mức thấp nhất là 5 triệu đồng và mức cao nhất là 200 triệuđồng
- Cải tạo không giam giữ: Nhằm tạo cơ hội cho người vi phạm có thể hoànhập với cộng đồng, sửa chữa hành vi vi phạm nhưng vẫn phải chịu sự quản chếnghiêm khắc của cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương
- Hình phạt tù: Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằm tước đi tự do củangười vi phạm do cần thiết phải cách li họ ra khỏi cộng đồng, tránh hành vi viphạm tiếp tục xảy ra Hình phạt này áp dụng hành vi phạm tội có tổ chức, lợi dụng
Trang 23chức vụ quyền hạn, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng,…vớimức xử phạt thấp nhất là 2 năm tù và mức cao nhất là 15 năm tù.
- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như: Phạttiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1năm đến 5 năm
* Căn cứ áp dụng chế tài hành chính và chế tài hình sự
Pháp luật đã quy định dấu hiệu để phân biệt giữa vi phạm hành chính tronglĩnh vực môi trường và tội phạm về môi trường, đó là vi phạm hành chính là hành
vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hànhchính Tuy nhiên không phải lúc nào ranh giới này cũng được phân định rõ ràngnên gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm pháp luật môi trường Việc phân biệt viphạm hành chính và tội phạm có thể dựa vào nhiều căn cứ khác nhau
Trước hết, hai loại vi phạm này phân biệt với nhau bởi yếu tố chủ thể Nếu
như chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường có thể là cá nhânhoặc tổ chức thì chủ thể của tội phạm theo quy định của Luật hình sự chỉ có thể là
cá nhân
Thứ hai, hai loại vi phạm pháp luật này còn phân biệt với nhau ở mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Vi phạm hành chính có mức độ nguyhiểm thấp hơn so với tội phạm về môi trường Mức độ nguy hiểm của cho xã hộicủa hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau, những yếu tố nàyđược quy định trong các văn bản pháp luật môi trường Đây là sự khác biệt mà hiệnnay gây rất nhiều khó khăn cho công tác xử lý vi phạm pháp luật, bởi hậu quả củanhững hành vi vi phạm pháp luật môi trường rất khó xác định được mức độ thiệthại thực tế
Trang 24Thứ ba, dấu hiệu về mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần Trong Bộ luật
Hình sự 1999 dấu hiệu phân biệt chính giữa vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi
trường và các loại tội phạm về môi trường là dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính”.
Một hành vi vi phạm pháp luật môi trường chỉ bị coi là tội phạm nếu đó là hành vigây nguy hiểm cho xã hội và “đã bị xử phạt hành chính”
Thiệt hại do suy thoái, ô nhiễm môi trường bao gồm:
- Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;
- Thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môitrường gây ra
Khi có thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường thì việc giải quyếtbồi thường thiệt hại về môi trường có thể tiến hành bằng nhiều cách thức, tuỳ thuộcvào mức độ thiện chí của các bên trong quan hệ Các bên có thể tự thoả thuận vớinhau về mức bồi thường hoặc yêu cầu trọng tài giải quyết Trong trường hợp bêngây thiệt hại và bên bị thiệt hại không đạt được sự nhất trí thì có thể khởi kiện tạiToà án để Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Bên cạnh đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
cũng được quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2005 như sau: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luậtt, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Như vậy có thể thấy chế tài dân sự được áp dụng trong lĩnh vực môi
Trang 25trường chỉ đòi hỏi dấu hiệu “có thiệt hại xảy ra” mà không cần thêm dấu hiệu nào
khác Kể cả trường hợp chủ thể gây ô nhiễm không có lỗi vẫn phải bồi thường nên
có tác động tới ý thức của chủ thể vi phạm Đây là điểm đặc thù của chế tài dân sự
so với chế tài hành chính và chế tài hình sự bởi hai chế tài này luôn đòi hỏi yếu tốlỗi là dấu hiệu bắt buộc của hành vi vi phạm Do vậy, chế tài dân sự cũng có vai tròquan trọng trong quá trình cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi trường
Bằng các chế tài hành chính, hình sự, dân sự nhà nuớc tác động tới các hành
vi vi phạm, vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môitrường, vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường
1.2.2 Cưỡng chế thi hành quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nếu không đựơc tự nguyệnthi hành sau khi đã có quyết định thi hành của cơ quan thi hành án, thì cơ quan cóthẩm quyền phải tiến hành cưỡng chế theo quy định của pháp luật Mỗi loại chế tàikhác nhau sử dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành riêng phù hợp với đặctrưng của mỗi loại chế tài đó
* Các biện pháp cưỡng chế hành chính
Chính là các biện pháp cưỡng chế thi hành các quyết định xử phạt vi phạmhành chính Các biện pháp này được áp dụng nhằm buộc các chủ thể có hành vi viphạm, đã bị xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện nghiêm chỉnh các quyết địnhcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Các biện pháp này được quy định tại Điều 66 Pháp lệnh xử lý vi phạm hànhchính, bao gồm:
- Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tàikhoản tại ngân hàng;
Trang 26- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
- Các biện pháp cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để viphạm hành chính, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã thay đổi do vi phạmhành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc thực hiệncác biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh, buộcđưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện,buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, vănhoá phẩm độc hại
c Các biện pháp cưỡng chế dân sự
Các biện pháp cưỡng chế dân sự chính là các biện pháp bảo đảm thi hành ándân sự được quy định tại Điều 37 Pháp lệnh Thi hành án Dân sự, bao gồm:
- Khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thihành án;
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
- Phong toả tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổchức tín dụng, kho bạc nhà nước;
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản của ngườiphải thi hành án đang do người thứ ba giữ;
- Buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác;
Trang 27- Cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhấtđịnh.
1.3 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ PHÁPLUẬT MÔI TRƯỜNG
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới có chính sách bảo vệ môi trường rấthiệu quả Môi trường của các nước này được xanh, sạch, đẹp bởi mỗi người dânđều có ý thức tuân thủ pháp luật môi trường, hay nói cách khác, bảo vệ môi trường
đã được xã hội hoá rất cao Để nâng cao công tác bảo vệ môi trường trong thời giantới, chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm bảo vệ môi trường của các quốc gia khác đểhướng tới bảo vệ môi trường toàn cầu Đất nước Singapor và Hoa Kỳ là ví dụ điểnhình về kinh nghiệm bảo vệ môi trường
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore (1)
Chính phủ Singapore đã coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái là mộtnhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Chính phủSingapore đã tiến hành nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệ, trong đó có các biệnpháp pháp lý Bao gồm: các đạo luật liên quan đến môi trường và các biện pháp thihành các chế tài dân sự, hành chính và tăng cường áp dụng các biện pháp hình sựđối với các vi phạm pháp luật về môi trường
Nhằm bảo đảm cho việc kiểm soát và bảo vệ môi trường ở Singapore, mộtloạt các văn bản liên quan đến pháp luật về môi trường được ban hành, bao gồm:
- Đạo luật về môi trường và sức khoẻ cộng đồng: Đạo luật này điều chỉnhcác vấn đề liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và các hoạt động cómục đích liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường
Trang 28- Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước: Đạo luật này được ban hànhnhằm điều chỉnh việc xây dựng, duy trì và cải tạo nâng cấp các hệ thống cống rãnh
và hệ thống tiêu thoát nước dưới mặt đất điều chỉnh việc xử lý nước thải thươngmại cũng như các vấn đề liên quan đến các hoạt động nêu trên
- Đạo luật về xuất nhập khẩu, quá cảnh chất thải nguy hiểm: Đạo luật nàyđiều chỉnh việc xuất nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hiểm và các chất khíthải khác
Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi hành trên thực tế, thì các biệnpháp cưỡng chế là không thể thiếu, do đó pháp luật về môi trường của Singaporecũng đã đặt ra các biện pháp cưỡng chế khác nhau cho các mức vi phạm pháp luật
về môi trường như sau:
- Biện pháp xử lý hình sự:
Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản để thựcthi, biện pháp này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồithường và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc (chỉ ápdụng với những bị cáo đủ 16 tuổi trở lên và đủ tiêu chuẩn y tế)
+ Hình phạt tiền: Đây là hình phạt phổ biến nhất trong các đạo luật về môitrường của Singapore, phạt tiền được xem là công cụ hữu hiệu trong việc tăngcường hiệu lực pháp luật về bảo vệ môi trường của Singapore Việc áp dụng rộngrãi hình phạt tiền sẽ làm tăng hiệu quả trong việc trừng trị kẻ vi phạm và phòngngừa các hành vi tương tự, phạt tiền có độ chính xác cao, tỉ mỉ cao, để thay đổi và
vì thế càng trở nên có hiệu quả
Theo các đạo luật ở Singapore thì có nhiều mức độ vi phạt tiền khác nhau,tuỳ thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra Ví
dụ trường hợp đổ rác nơi công cộng, nếu bị Toà án kết tội thì người vi phạm sẽ bị
Trang 29phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽ bị phạt tới 20.000$.Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền mộtcách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người viphạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ tựkết thúc mà không phải đưa ra Toà.
+ Hình phạt tù: Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người
vi phạm ngoan cố, khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tộinhững khoản lợi nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn khôngngăn chặn được các hành vi mà người đó gây ra
+ Tạm giữ và tịch thu các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạmtội
+ Lao động cải tạo bắt buộc: Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà quathực tiễn thực thi pháp luật về môi trường ở Singapore cho thấy đây là một biệnpháp hữu hiệu để ngăn chặn các vi phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụnghình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất ítngười tái phạm
Trang 30Bên cạnh các chế tài về Hình sự và Hành chính, các Đạo luật môi trườngSingapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự Cụ thể như: Yêu cầu cánhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí và các khoản phí tổn
mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trường
Từ một số vấn đề nêu trên cho ta thấy sở dĩ môi trường Singapore trở nênsạch, đẹp và để có được một Singapore là “thành phố của cây xanh” phải có rấtnhiều yếu tố, nhưng chính pháp luật về môi trường được quy định một cách toàndiện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo sự sạch, đẹp cho môi trường Singapore
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kì (1)
* Hệ thống cưỡng chế môi trường tại Hoa Kì
Hệ thống cưỡng chế môi trường ở Hoa Kỳ được thực hiện theo 3 cấp gồm:Liên Bang, Bang và chính quyền địa phương
* Các hình thức xử phạt vi phạm môi trường
Theo báo cáo của EPA, năm 2006, số vụ vi phạm môi trường xử lý theo hìnhthức dân sự là khoảng 5.000 vụ việc với tổng kinh phí xử phạt dân sự là 154 triệuUSD; tổng số vụ vi phạm hình sự môi trường là 305 vụ, số năm tù là 154 năm, sốtiền phạt là 43 triệu USD và tổng chi phí dành cho các dự án cải tạo môi trường là
29 triệu USD Cụ thể như vụ việc Công ty nước ngọt 7Up xả nước thải trái phép, bịphạt hành chính là 428.250 USD, phạt hình sự 600.000 USD và thỏa thuận 3 nămxây dựng các biện pháp tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.EPA cho biết, các vi phạm về môi trường có thể xử phạt theo từng cấp độ khácnhau, tùy thuộc vào tính chất và phạm vi của tội phạm Các hình thức xử lý gồm:
- Xử lý hành chính: EPA sẽ thông báo cho người hoặc cơ sở vi phạm về hành
vi của họ và yêu cầu tuân thủ các quy định về môi trường và bồi thường thiệt hại do
1 () http://w.w.w.nea.gov.vn
Trang 31họ gây ra Đây là hình thức xử lý nhẹ nhất áp dụng đối với các lỗi nhẹ, người viphạm gây lỗi một cách vô tình hoặc do thiếu kiến thức Đa số các trường hợp nhẹđều được xử lý bằng hình thức này.
- Xử lý dân sự: Trong các trường hợp vi phạm nặng hơn hoặc các bên liên
quan không chịu chấp hành các biện pháp hành chính nêu trên, EPA sẽ tiến hànhđiều tra thêm và kiện ra Tòa án Tòa án sẽ ra quyết định xử lý dân sự Ngoài việcbồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, người vi phạm còn bị phạt tiền hoặcphạt tù
- Xử lý hình sự: Đối với các vụ án có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn
tới sức khỏe của con người và môi trường, vi phạm một cách cố ý, lặp đi lặp lại,EPA sẽ phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan tiến hành điều tra, lập
hồ sơ vụ việc và đưa ra Tòa án để xử lý hình sự Hình phạt sẽ bao gồm bồi thườngthiệt hại, phạt tiền và phạt tù
Đối với lực lượng cảnh sát môi trường, một số thành phố có cơ quan cảnh sátmôi trường riêng như Cơ quan cảnh sát môi trường của thành phố Niu Oóc Tuynhiên, phần lớn lực lượng này nằm ngay trong các Cục Bảo vệ môi trường của Liênbang, Bang và các cơ quan chịu trách nhiệm về môi trường của địa phương Lựclượng này được trang bị súng, dụng cụ bảo hộ lao động và có quyền kiểm tra, thanhtra, khám xét, xâm nhập cơ sở, bắt giữ,…
Trong quá trình điều tra các vụ việc vi phạm quy định môi trường thì lựclượng thanh tra, cảnh sát và công tố viên đóng vai trò quan trọng Ba lực lượng này
sẽ phối hợp với các chuyên viên kỹ thuật thuộc các phòng chuyên môn tìm ra bằngchứng vi phạm môi trường và đưa ra các biện pháp xử lý hợp lý, cụ thể như đưa racác biện pháp xử lý hợp lý, cụ thể như đưa ra toà án để xét xử hình sự, dân sự hayhành chính
Trang 32Chương II
VỤ VIỆC VEDAN VÀ THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ TUÂN THỦ
PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
2.1 VỤ VIỆC VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TYVEDAN VIỆT NAM
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành và hoạt động của Công ty Vedan
* Quá trình hình thành
Công ty Vedan có tên đầy đủ là Công ty Vedan Việt Nam Công ty này đãxây dựng nhà máy đầu tiên vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành,tỉnh Đồng Nai nằm ở phía đông nam Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích120ha
Đến nay các hạng mục đã đưa vào sản xuất gồm: Nhà máy Xút- clo, nhà máybột ngọt, nhà máy tinh bột, nhà máy tinh bột biến đổi, nhà máy lysine, nhà máyphát điện và hơi, cảng Phước Thái, đường giao thông chuyên dụng, các khu làmviệc, sinh hoạt, vui chơi
Công ty hoạt động chính thức tại Việt Nam từ 1993 có tổng vốn đầu tư là460.724.000 USD Từ 1994 đến 2007 mỗi năm doanh thu khoảng 15 triệu USD, lợinhuận trước thuế khoảng 11,3 triệu USD
* Về nội dung sản xuất kinh doanh
- Nhà máy bột ngọt: ngoài tận dụng sắn mua, mật rỉ của Việt Nam làmnguyên liệu, công ty đã áp dụng công nghệ sinh học mũi nhọn, bỏ vốn xây dựngcác nơi lên men công suất lớn hơn 700 tấn và đưa vào thiết bị cô đặc tự độngM.V.R tiên tiến nhất của Đức, sản xuất ra bột ngọt có chất lượng quốc tế, đồng thời
Trang 33cũng sản xuất ra bán thành phẩm cho nghành dược và nghành thực phẩm là axitGlutamic Sản phẩm sản xuất ra ngoài phục vụ nhu cầu trong nước còn bán ranhiều nơi trên thế giới, đủ khắp 5 châu Hiện nay quy mô sản xuất bột ngọt và axitGlutamic của Công ty Vedan Việt Nam đã có thể thay thế cho Vedan Đài Loan, trởthành nhà máy sản xuất lớn nhất trên thế giới
- Nhà máy tinh bột, nước đường: Được xây dựng với mục tiêu kết hợp sảnxuất kinh doanh với nông dân trồng sắn, hàng năm tiêu thụ sắn củ tới 1 triệu tấn.Hiện nay ngoài tinh bột chất lượng cao, tinh bột biến đổi ra nhà máy còn dùng bộtbán thành phẩm qua phun dịch hoá, đường hoá, lấy ra xiro tinh bột thuần khiết đểlàm nguyên liệu cho nhà máy bột ngọt và nhà máy lysine sử dụng Do đạt được kếtquả sản xuất khả quan, Vedan Việt Nam ngoài nhà máy chính ở Đồng Nai đã xâydựng thêm nhà máy tinh bột Vethai ở Gia Lai (liên doanh) và nhà máy tinh bộtPhước Long ở Bình Phước
* Công ty với công ích xã hội
- Công ty sử dụng một lượng rất lớn nông sản phẩm của Việt Nam, góp phầnxây dựng địa phương, tạo công ăn việc làm cho nhiều nông dân, đưa lại lợi ích cảithiện đời sống rõ rệt cho họ Công ty được Chính phủ và nguời dân Việt Nam đánhgiá cao về mặt này
- Đối với hoạt động từ thiện công ích xã hội như xoá đói giảm nghèo, giúp
đỡ nhân dân bị thiên tai, lũ lụt, tài trợ học bổng, xây dựng nhà tình nghĩa Công tyđều tham gia Mười năm qua, số tiền quyên góp đã trên 10 tỷ VNĐ
- Tính tới năm 2000, Công ty nộp ngân sách trên 8 triệu USD, ngoài ra đềugóp phần xuất sắc với nộp thuế, xây dựng địa phương