Do đó, việc nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng và khẩn thiết đối với Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolim
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 3
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 3
1 SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 3
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 6
3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH 7
3.1 TRÊN THẾ GIỚI 7
3.2 VIỆT NAM 9
II NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 12
1 KHÁI NIỆM BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 12
1.1 BẢO HIỂM XÂY DỰNG 12
1.2 BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 13
2 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM 13
2.1 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM 13
2.1.1 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG 13
2.1.2 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 16
2.2 ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM 16
2.2.1 ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG 16
2.2.2 TRONG BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 20
3 PHẠM VI VÀ THỜI HẠN BẢO HIỂM 20
3.1 PHẠM VI BẢO HIỂM 21
3.1.1 TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG 21
3.1.2 TRONG BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 23
3.2 THỜI HẠN BẢO HIỂM 23
3.2.1 THỜI GIAN BẮT ĐẦU BẢO HIỂM 25
3.2.2 THỜI GIAN KẾT THÚC BẢO HIỂM 25
4 GIÁ TRỊ BẢO HIỂM VÀ SỐ TIỀN BẢO HIỂM 25
4.1 GIÁ TRỊ BẢO HIỂM 25
4.1.1 TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG 25
4.1.2 TRONG BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 27
4.2 SỐ TIỀN BẢO HIỂM 28
Trang 34.2.1 SỐ TIỀN BẢO HIỂM CHO PHẦN VẬT CHẤT 28
4.2.2 SỐ TIỀN BẢO HIỂM CHO PHẦN TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 29
5 PHÍ BẢO HIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG PHÍ BẢO HIỂM 29
5.1 PHÍ BẢO HIỂM 29
5.1.1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 30
5.1.2 ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHO CÁC MÁY MÓC XÂY LẮP 31
5.1.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHO PHẦN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 31
5.2 TÍNH PHÍ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 32
5.2.1.TÍNH PHÍ BẢO HIỂM XÂY DỰNG 32
5.2.2 TÍNH PHÍ BẢO HIỂM LẮP ĐẶT 39
7 GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG 42
7.4 CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT 45
7.5 BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 46
8 HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 47
9 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) 50
I VÀI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 50
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 50
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY 50
1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA PJICO 51
1.3 CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH BẢO HIỂM PJICO THỰC HIỆN 53 2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN 2002- 2006 54
II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) TRONG GIAI ĐOẠN 2002 – 2006 55
1 HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC 55
Trang 42 HOẠT ĐỘNG BỒI THƯỜNG 63
3 HOẠT ĐỘNG ĐỀ PHÒNG VÀ HẠN CHẾ TỔN THẤT 65
4 HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM 67
III ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) 69
1 KẾT QUẢ KINH DOANH 69
2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KINH DOANH 70
3 NHỮNG MẶT ĐẠT ĐƯỢC 71
4 NHỮNG MẶT CÒN HẠN CHẾ 72
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) TRONG THỜI GIAN TỚI 74
I PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 74
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) TRONG THỜI GIAN TỚI 76
1 VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC 76
2 VỀ PHÍA CÔNG TY CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) 78
2.1 GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG MARKETING 78
2.1.1 TIẾP TỤC TẬP TRUNG VÀ XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG 78
2.1.2 PHÁT TRIỂN MẢNG DỰ ÁN 80
2.1.3 THÚC ĐẨY QUẢNG CÁO 82
2.2 QUẢN TRỊ RỦI RO 84
2.2.1 CÁC QUAN ĐIỂM QUAN TRỌNG TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO 85
2.2.2 CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 86
2.2.3 ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT CỠ VỪA VÀ NHỎ 87
2.2.4 ĐỐI VỚI MẢNG DỰ ÁN 89
2.3 SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỂ NÂNG CAO NĂNG SUẤT, TIẾT KIỆM THỜI GIAN 91
2.4 CÔNG TÁC ĐỀ PHÒNG VÀ HẠN CHẾ TỔN THẤT: 92
Trang 52.5 CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG 92
2.6 CHƯƠNG TRÌNH TÁI BẢO HIỂM : 93
2.7 CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ: 93
3 VỀ PHÍA CÁC TỔ CHỨC KHÁC 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
DANH MỤC BẢNG BIỂU 98
PHỤ LỤC 99
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Nhu cầu an toàn đối với cá nhân và các tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu Con người luôn tìm cách bảo vệ bản thân họ và tài sản của họ trước những bất hạnh của
số phận và những biến cố bất ngờ xảy ra trong sản xuất kinh doanh
Ngay từ thời xa xưa đã xuất hiện các tổ chức gần giống bảo hiểm, và sau đó
sự ra đời của các Công ty bảo hiểm như một tất yếu Với nguyên tắc số đông bù số
ít, bảo hiểm đã thực sự trở thành một dịch vụ tài chính giúp các cá nhân, các doanh nghiệp kịp thời khắc phục hậu quả thiệt hại, ổn định đời sống trước những bất hạnh của số phận và những biến cố bất ngờ xảy ra trong sản xuất kinh doanh đó
Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là vào giữa và cuối thế kỷ XX, đã đưa loài người đến những thành tựu to lớn, nó làm thay đổi toàn diện cuộc sống của loài người Bên cạnh những tác dụng to lớn mà nó mang lại thì đồng thời những rủi ro có thể phát sinh bất cứ lúc nào với quy mô và mức độ thiệt hại ngày càng lớn Thì hơn lúc nào hết, bảo hiểm càng được chú trọng
Sau khi xóa bỏ cơ chế kinh tế tập bao cấp để chuyển sang cơ chế thị trường thì nền kinh tế nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực Lĩnh vực xây dựng và lắp đặt không nằm ngoài xu thế chung của nền kinh tế, lĩnh vực này đã góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đó Nó tạo nên những cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, nhà máy xí nghiệp… cho nền kinh tế Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là các công trình xây dựng và lắp đặt thường là những công trình
có giá trị lớn, mà nguy cơ dẫn tới các tổn thất có thể xảy ra bất cứ lúc nào Chính vì vậy mà việc tham gia bảo hiểm xây dựng và lắp đặt cho những công trình đó là rất cần thiết
Mặc dù nghiệp vụ này được triển khai khá muộn ở nước ta, nhưng sau khi triển khao không bao lâu thì nghiệp vụ này đã chứng tỏ được vai trò của nó trong nền kinh tế và trong các Công ty với việc số tiền bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm hàng năm liên tục tăng Điều này hứa hẹn những tiềm năng của nghiệp vụ bảo hiểm này Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tuy mới triển khai nghiệp
vụ này nhưng nó đã khẳng định được tầm quan trọng của nó trong hoạt động kinh doanh của Công ty Trước triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, nghiệp vụ tiềm
Trang 7năng của Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) trong thời gian tới chắc chắn có những bước tiến xa hơn nữa
Tuy nhiên với sự hoạt động của rất nhiều các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ
sẽ tạo nên sự cạnh tranh gay go và quyết liệt trên thị trường tiềm năng này Do đó, việc nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng và khẩn thiết đối với Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về thực tế của nghiệp vụ này, cùng với sự giúp đỡ hướng dẫn của thầy giáo PGS,TS Vũ Sĩ Tuấn, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) Thực trạng và giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp gồm có:
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
Chương 2: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng
và lắp đặt trong thời gian tới
Do bản thân còn hạn chế về mặt lý luận cũng như kinh nghiệm thức tiễn, nên mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý và phê bình của các thầy cô giáo Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo PGS,TS Vũ Sĩ Tuấn đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Trang 8CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT
I Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
1 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
Bất kỳ sự ra đời của một loại hình bảo hiểm nào đều có lý do của nó, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt cũng vậy, sự ra đời của nó là một tất yếu do những nguyên nhân sau:
+ Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã đạt được nhiều điều kỳ diệu, ngày càng vươn tới những mục tiêu cao hơn, xa hơn Lĩnh vực xây dựng lắp đặt cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã có thể đạt tới những công trình khổng lồ như các toà nhà chọc trời, những đường hầm xuyên eo biển, các dàn khoan đồ sộ ngoài khơi, thậm chí là việc lắp ráp các con tàu vũ trụ khổng lồ…Tất cả những công trình đó con người có thể làm được nhưng đòi hỏi một khối lượng lớn về tiền bạc và thời gian, chỉ cần một sơ suất nhỏ hay một rủi ro bất ngờ có thể phá nát “giấc mơ của con người” gây thiệt hại không thể lường hết cho các nhà đầu tư về việc phá sản đối với họ là điều
Trang 9bảo hiểm Ngoài ra, sự đóng góp đó còn được dùng để chi lập quỹ dự trữ, chi cho việc quản lý của doanh nghiệp, chi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước Trong những trường hợp cụ thể, nó còn được chi dùng cho việc tiến hành các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất Như vậy có thể nói, bảo hiểm có một sức mạnh tài
chính để trở thành “tấm lá chắn về kinh tế” trước sự tàn phá của mọi hiểm họa bất
ngờ
Theo báo cáo của một Công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới thì chỉ trong năm
1999, loài người đã chứng kiến 600 vụ thiên tai, bao gồm 200 cơn bão, 170 trận lũ lụt, 50 trận động đất, 30 vụ núi lửa phun, 150 vụ cháy rừng, hạn hán và lở đất, làm chết hơn 11000 người Việt Nam tuy thuộc khu vực có ít động đất và mức độ động đất yếu song lại nằm trong vành đai nhiệt đới nóng, ẩm, nhiều mưa bão Hàng năm nước ta có trung bình 10 cơn bão đã gây nên những thiệt hại khôn lường về vật chất
và tính mạng con người Công việc xây lắp lại chủ yếu được tiến hành ngoài trời như công trình nhà ở, khách sạn, nhà máy nên trực tiếp chịu tác động của điều kiện
tự nhiên và thiên tai Do đặc điểm và tính chất của công trình xây lắp như vậy mà quá trình thi công có rủi ro lớn Ví dụ trong năm 2000, đã xảy ra thiệt hại đối với các công trình có giá trị lớn như Nhà máy xi măng Hoàng Mai với giá trị bảo hiểm khoảng 93 triệu USD, cầu Phả Lại với giá trị bảo hiểm khoảng 12 triệu USD, nhà máy điện khí đồng hành Barina 2 với mức giá trị bảo hiểm 60 triệu USD, nhà máy
xi măng Nghi Sơn…Thiên tai đã gây thiệt hại to lớn làm ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh Những số liệu trên chỉ đề cập tới thiệt hại của công trình xây lắp mà tổn thất đã nặng nề đến thế Bên cạnh những rủi ro nghiêm trọng do thiên tai gây ra, chính sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đã đem đến cho con người những sự cố bất thường không thể tránh khỏi mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển đã giúp cho việc phòng ngừa, hạn chế và khắc phục hậu quả của thiên tai Sản phẩm xây lắp thường là đơn chiếc, quy trình xây lắp mang tính kỹ thuật cao, tập trung nhiều máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nên chỉ một sai sót nhỏ như sai lầm trong thiết kế, khuyết tật của nguyên vật liệu… cũng dẫn đến những hậu quả xấu không lường trước được Nó gây ra tác hại không chỉ cho một ngành hay một khu vực kinh tế quốc dân mà còn cho nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau Nó cũng có thể làm chậm hẳn lại sự tiến triển của một ngành khoa học Đặc biệt ngày
Trang 10nay nhiều công trình, máy móc, thiết bị, với các chức năng tự động hoá, chuyên môn hoá cao, có giá trị rất lớn thì lại càng đòi hỏi có sự đảm bảo về mặt tài chính cho các công trình xây lắp đó để quá trình thi công được tiến triển liên tục nhanh chóng và có hiệu quả
+ Mặt khác, đối với Việt Nam, với cơ chế thị trường hiện nay, mỗi đơn vị xí nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế đều phải tự chủ về mặt tài chính và chủ động trong kinh doanh Doanh nghiệp xây lắp có đặc thù là nắm trong tay số vốn rất lớn
và tiềm tàng mức độ rủi ro cao nên tham gia bảo hiểm là yêu cầu thiết yếu khi lập luận chứng kinh tế kỹ thuật cho mỗi dự án Cụ thể, đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Nhà nước đang dần được chuyển giao vốn và tự mình phải đảm bảo, duy trì phát triển vốn Nhà nước sẽ không cấp hay bổ sung vốn cho các trường hợp thiệt hại hay tai nạn bất ngờ như trong cơ chế quản lý tập trung trước đây nữa Đối với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tập thể hay tư nhân, vốn và cơ sở vật chất là của chính họ nên họ phải lo liệu làm sao sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất Bằng mọi biện pháp họ phải duy trì được số tiền vốn và làm cho nó sinh sôi nảy nở thêm nữa Vì thế, để bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm cho việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh luôn ổn định thì việc tham gia bảo hiểm là biện pháp hữu hiệu cho tất cả các doanh nghiệp quốc doanh, tập thể và cá thể Bên cạnh
đó, với sự ra đời của luật đầu tư nước ngoài, hàng loạt các Công ty nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam Hiện nay, lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều nhất
là xây dựng khách sạn, các trung tâm thương mại… vì lĩnh vực kinh doanh này thu hồi vốn nhanh, đem lại nhiều lợi nhuận Để bảo toàn vốn của mình đồng thời bảo đảm trách nhiệm đối với lao động làm thuê Việt Nam, thì người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam có mối quan tâm hàng đầu là bảo hiểm
Từ những lý do nêu trên là cho các nhà đầu tư, chủ thầu liên quan đến công trình xây lắp phải lo ngại và mong muốn tìm ra một giải pháp tốt nhất đảm bảo cho việc xây lắp được diễn ra liên tục, đúng tiến độ thi công Đây chính là cơ sở cho sự
ra đời của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt ra đời có tác dụng sau:
+ Đứng trên giác độ vĩ mô của nền kinh tế: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt giúp cho nền kinh tế của mỗi quốc gia ổn định trong những điều kiện khó khăn khi
Trang 11xảy ra thiệt hại cho các công trình xây lắp lớn, đảm bảo cho các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia được thực hiện tốt và không bị gián đoạn thi công
+ Xét ở tầm vi mô: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt như một tấm lá chắn cuối cùng cho các nhà đầu tư và các chủ thầu trước những nguy cơ thiệt hại về kinh tế do các rủi ro bất ngờ hoặc thiên tai, thậm chí giúp cho họ tránh được nguy cơ phá sản khi các thiệt hại đó quá lớn, giúp cho quá trình xây lắp diễn ra liên tục
+ Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt ra đời còn tạo tâm lý ổn định và yên tâm hơn cho những người liên quan đến công trình xây lắp và là cơ sở quan trọng cho việc đầu tư vào những lĩnh vực, những công trình có độ rủi ro cao
+ Đối với ngành bảo hiểm: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt ra đời khẳng định thêm vị trí của ngành bảo hiểm trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vào tiến triển phát triển chung của đất nước
Việc khen thưởng kịp thời các cá nhân, đơn vị làm tốt công tác đề phòng hạn chế tổn thất sẽ có tác dụng động viên người được bảo hiểm cũng như các cơ quan chức năng khác như: Công an, lực lượng phòng cháy, chữa cháy và các cơ quan kiểm tra, giám định khác tích cực hơn nữa trong công tác này
Với những lý do nêu trên sự ra đời của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một tất yếu và đúng đắn Nghiệp vụ này ngày càng khẳng định được vai trò
của mình và có những bước tiến vững chắc trong quá trình phát triển
2 Đặc điểm của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt có nhiều loại hình bảo hiểm khác
nhau, mỗi loại hình này đều nhằm đảm bảo cho một giai đoạn hoặc một khâu trong quá trình thực hiện dự án
Ta có thể chia thành 2 giai đoạn sau:
- Giai đoạn tiền xây dựng và giai đọan xây dựng
+ Bảo hiểm xây dựng
+ Bảo hiểm lắp đặt
+ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba
Trang 12- Giai đoạn xây dựng
+ Bảo hiểm bảo hành công trình
+ Bảo hiểm trách nhiệm kiến trúc sư
Thứ hai, phạm vi và đối tượng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là rất rộng lớn
mà trong đó bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là những mắt xích quan trọng không thể thiếu được trong quá trình xây dựng một công trình Nó là điều kiện tiên quyết để thực hiện các loại hình bảo hiểm khác kèm theo Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt có mối quan hệ khăng khít với các loại hình bảo hiểm khác
Thứ ba, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt thường được tiến hành đối với những
dự án có quy mô lớn Nó cũng đòi hỏi nhà bảo hiểm phải là những Công ty bảo hiểm hàng đầu có uy tín, có kinh nghiệm triển khai loại hình bảo hiểm này
Thứ tư, do công trình kéo dài từ khi bắt đầu xây dựng đến khi kết thúc, bàn giao và nghiệm thu công trình cho nên thời gian tiếp cận khai thác kéo dài tùy theo quy mô của công trình là lớn hay nhỏ
Thứ năm, trong một công trình xây dựng có thể có rất nhiều bên tham gia, từ
đó trong một đơn bảo hiểm có thể liên quan đến nhiều bên khác nhau, dẫn đến có nhiều các đầu mối tiếp cận khác nhau kéo theo quá trình khai thác diễn ra rất phức
kỹ thuật đầu tiên trên thế giới là vào năm 1859 ở nước Anh công nghiệp, đó là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc (machinary breaking policy) Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và kỹ thuật là động lực thúc đẩy bảo hiểm kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đồng thời nó cũng trở thành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển của bất cứ nền kinh tế nào
Trang 13Bảo hiểm kỹ thuật hiện nay đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, xã hội trên toàn thế giới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc trong các
xí nghiệp sản xuất, các thiết bị dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm cho các công trình xây lắp khổng lồ, các hoạt động lắp ráp máy bay, tàu biển cỡ lỡn đến những con tàu vũ trụ
Công ty tái bảo hiểm MUNICH RE đóng một vai quan trọng trong việc hình thành, phát triển cũng như phổ biến, giới thiệu loại hình bảo hiểm xây dựng và lắp đặt trên thị trường bảo hiểm quốc tế Là một trong những Công ty sáng lập và đi đầu trong công tác bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, Công ty tái Bảo hiểm MUNICH RE
có thể hỗ trợ và giúp đỡ những Công ty bảo hiểm khác, có quan hệ với họ trong tất
cả mọi vấn đề liên quan tới bảo hiểm xây dựng và lắp đặt - loại hình bảo hiểm quan trọng nhưng vô cùng phức tạp này Hầu hết các Công ty bảo hiểm trên thế giới thực hiện nghiệp vụ này đều áp dụng quy tắc của MUNICH RE
Đơn bảo hiểm xây dựng đầu tiên trên thế giới được cấp vào năm 1929 cho một công trình xây dựng cầu LAMBERTH bắc qua sông THAMES ở Luân Đôn Tiếp sau đó là vào năm 1934, đơn bảo hiểm rủi ro lắp đặt được cấp ở Đức Tuy nhiên cả hai đơn bảo hiểm này chỉ giành được vị trí quan trọng trong giai đoạn xây dựng sau chiến tranh năm 1945 và công cuộc phát triển sau đó trên thế giới của các nền kinh tế đang nổi lên Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã thúc đẩy việc đưa ra các phạm vi bảo hiểm mới, phức tạp hơn Các đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất như là bảo hiểm máy tính, bảo hiểm thiết bị điện áp thấp, bảo hiểm máy móc và thiết bị xây dựng, bảo hiểm rủi ro đối với công trình xây dựng dân dụng xuất hiện Bên cạnh đó còn các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh như bảo hiểm
hư hỏng hàng hoá trong kho và bảo hiểm mất lợi nhuận Điều này cho thấy bảo hiểm kỹ thuật phát triển rất nhanh, đa dạng về loại hình và ngày càng hoàn chỉnh, bao gồm các loại hình chính sau:
+ Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu – Bảo hiểm xây dựng (CAR)
+ Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt (EAR)
+ Bảo hiểm đổ vỡ máy móc (MBI)
+ Bảo hiểm thiết bị điện tử (EEI)
Trang 14+ Bảo hiểm mất thu nhập do máy móc ngừng hoạt động (Loss of profit following machinery breakdown)
+ Bảo hiểm hỏng hàng hoá nhà kho lạnh
+ Bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí (Oil – Gas exploration and production insurance): Đây là loại hình bảo hiểm tổng hợp có liên quan đến nhiều loại hình bảo hiểm khác như: bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm, … Tuy nhiên, nó cũng được xếp vào loại hình bảo hiểm kỹ thuật cho các công trình xây dựng, lắp đặt giàn khoan, tháp khoan
Các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm kỹ thuật nói trên có liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi loại hình bảo đảm cho một giai đoạn hay một khâu trong quá trình sản xuất Có thể diễn giải mối quan hệ đó theo sơ đồ sau:
3.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đã được thực hiện từ trước những năm 70 Thời kỳ này các công trình được bảo hiểm chủ yếu là nhà của các tướng tá cấp cao trong quân đội Mỹ và chính quyền tay sai Do không đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít nên nghiệp vụ này không phát triển Sau 1975, thì nghiệp vụ này vẫn chưa được triển khai
Sau khi nhà nước ban hành “Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam” (tháng 1987), đất nước ta bước vào giai đoạn mới thì bảo hiểm xây dựng và lắp đặt mới
Trang 1512-thực sự phát triển Công ty bảo hiểm đầu tiên được triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đầu tiên ở Việt Nam là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam theo quyết định số 253/TCQĐ-91 ngày 7/8/1991 của Bộ tài chính Trong thời gian đầu,
Bộ tài chính cho phép Bảo Việt sử dụng đơn bảo hiểm, các điều khoản và biểu phí của Công ty MUNICH RE Luật đầu tư nước ngoài quy định: Các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài và 100% vốn đầu tư nước ngoài thì có quyền mua bảo hiểm ở Việt Nam hoặc nước ngoài Trong giai đoạn đầu mới triển khai, số vốn còn hạn chế, năng lực chuyên môn chưa cao…nên Bảo Việt vẫn chưa được các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng, vì vậy phí bảo hiểm thu được còn rất hạn chế
Tiếp theo đó là hàng loạt các thông tư, quyết định của bộ tài chính ban hành nhằm bổ sung, hoàn thiện việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại Việt Nam Ngày 20/10/1994 Thủ tướng Chính Phủ ban hành nghị định 177CP quy định về quản lý đầu tư và xây dựng, tại điều 52 nghị định này quy định rõ về việc các tổ chức nhận thầu xây lắp, các tổ chức tư vấn phải mua bảo hiểm vật tư, nhà xưởng phục vụ thi công, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm trách nhiệm dân
sự đối với người thứ ba, bảo hiểm sản phẩm khảo sát thiết kế trong quá trình thực hiện dự án Phần này quy định bảo hiểm được mua tại một Công ty trong nước nếu như là dự án của Việt Nam, những dự án của nước ngoài thì phải tuân thủ những quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Sau sự ra đời của Bảo Việt một loạt Công ty bảo hiểm được thành lập dưới các hình thức khác nhau: Bảo Minh, PJICO, Bảo Long, Vinare,…với nhiều văn phòng đại diện môi giới ở nước ngoài cùng với sự có mặt của nhiều Công ty bảo hiểm nước ngoài làm cho sự cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm ngày một gay gắt hơn đòi hỏi các Công ty phải nâng cao chất lượng về mọi mặt Để bảo vệ cho thị trường bảo hiểm trong nước, luật đầu tư nước ngoài ban hành ngày 12/11/1996 sửa đổi bổ sung một số điều khoản, nghị định 42/CP thay thế nghị định 177CP, thông tư
số 663-TC/ĐT-TCNH ngày 24/6/1996 về việc ban hành quy tắc và biểu phí, phụ phí
và khấu trừ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và lắp đặt, ngày 24/1/1997 BTC ra quyết định số 10-TTC/QĐ-TCNH sửa đổi bổ sung quyết định số 663TC/QĐ-TCNH Đơn bảo hiểm kỹ thuật đầu tiên được cấp ở Việt Nam là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt cho trạm thu phát vệ tinh mặt đất Láng Trung – đây là công trình liên doanh giữa
Trang 16tổng Công ty bưu chính viễn thông và hãng TELTRA (Úc) Từ khi ra đời đến nay, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đã trở thành một trong những loại hình mũi nhọn của các Công ty bảo hiểm trong toàn quốc, kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt mang lại doanh thu lớn, tỷ lệ tăng trưởng cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động…và như vậy vô hình chung đã tạo ra lợi ích chung cho toàn xã hội
Trang 17II Nội dung hoạt động bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
1 Khái niệm bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
1.1 Bảo hiểm xây dựng
Bảo hiểm xây dựng là bảo hiểm những thiệt hại phát sinh từ một rủi ro bất ngờ hoặc từ trách nhiệm đối với người thứ ba trong việc xây dựng một công trình,
có sử dụng đến bê tông và xi măng.1
Mục đích của bảo hiểm xây dựng là bù đắp về tài chính cho chủ đầu tư hay chủ thầu để sửa chữa những thiệt hại bất ngờ xảy ra khi xây dựng một công trình, đây là thiệt hại xảy ra cho chính bản thân công trình, cho các thiết bị và có thể là cho các dụng cụ của công trường hoặc bồi thường thiệt hại gây ra cho người khác (trách nhiêm dân sự)
Quả thực, chủ thầu đã nhận một giao kèo (hoặc một phần giao kèo) xây dựng một công trình thì phải chịu toàn bộ trách nhiệm về các công việc kể từ lúc bắt đầu công việc cho đến lúc nghiệm thu chính thức công trình Trong trường hợp có thiệt hại cho công trình, người chủ thầu phải sửa chữa các thiệt hại này với chi phí riêng của mình, từ đó đối với người chủ thầu là một mất mát về tài chính rất nặng nề, mà thậm chí có thể dẫn đến phá sản
Bảo hiểm xây dựng được tiến hành rộng rãi trên toàn thế giới Có nhiều loại bảo hiểm xây dựng khác nhau nên cũng có nhiều tên gọi khác nhau về bảo hiểm xây dựng
- CAR (Contractonrs' ALL Risks Policy) đơn bảo hiểm mọi rủi ro chủ thầu Loại đơn này được sử dụng rộng rãi nhất, hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng đơn này Mẫu đơn do Công ty MUNICH RE đưa ra, hiện nay Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam cũng đang dùng đơn này
- CI (contractonrs' Insurance) bảo hiểm cho chủ thầu
- COC (Cost of Contractor) Bảo hiểm chi phí của chủ thầu
- BR (Builders' Riks) Bảo hiểm rủi ro cho người xây dựng
- CER (Civil Engineering Risks) Bảo hiểm rủi ro trong xây dựng dân dụng
1
Bảo hiểm trong kinh doanh – PGS, TS Hoàng Văn Châu – Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 2002
Trang 18Tuy tên gọi khác nhau, nhưng nội dung chủ yếu của các đơn bảo hiểm trên đều tương tự như nhau Sự khác nhau chủ yếu là các điểm loại trừ do từng nước áp dụng khác nhau và phụ thuộc vào luật của từng nước
Việt Nam hiện nay chỉ sử dụng đơn bảo hiểm mọi rủi ro chủ thầu (CAR) nên
ở đây chúng ta chỉ đề cập đến đơn này
1.2 Bảo hiểm lắp đặt
Bảo hiểm lắp đặt là một bảo đảm về thiệt hại do một sự cố bất ngờ gây ra hoặc phát sinh từ trách nhiệm của người chủ công trình trong quá trình lắp đặt máy móc, thiết bị cho một công trình.2
Bảo hiểm xây dựng và bảo hiểm lắp đặt là hai loại hình bảo hiểm kỹ thuật
Từ khi tiến hành khởi công xây dựng một công trình, một nhà máy mới, cho tới khi các máy móc thiết bị được đưa vào sản xuất thì tất cả các giai đoạn đều gắn với các loại hình bảo hiểm khác nhau trong bảo hiểm kỹ thuật
Người ta có thể sử dụng đơn bảo hiểm xây dựng, đơn bảo hiểm lắp đặt riêng
rẽ cho một công trình hoặc sử dụng đơn bảo hiểm xây dựng để bảo hiểm luôn cho
cả công tác lắp đặt trong cùng một công trình xây dựng hay lắp đặt, thường được
dựa trên nội dung, tính chất của công việc
2 Người được bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm
2.1 Người được bảo hiểm
2.1.1 Người được bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng
Mỗi công trình xây dựng thường liên quan đến nhiều khía cạnh của các vấn
đề pháp lý, các yếu tố về kỹ thuật và đạo đức… nên việc hợp tác chặt chẽ giữa các
2
Bảo hiểm trong kinh doanh – PGS, TS Hoàng Văn Châu – Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 2002
Trang 19bên là vấn đề không thể thiếu được Vì vậy, việc xác định rõ Người được bảo hiểm trong công trình xây dựng là rất cần thiết Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả các bên có liên quan đến công trình xây dựng và có quyền lợi trong công trình đã được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm Cụ thể:
Trang 20Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện hoặc thuê các tổ chức tư vấn về các doanh nghiệp xây lắp có tư cách pháp nhân lập hoặc thẩm định dự án do các tổ chức
tư vấn khác lập, quản lý dự án, thực hiện dự án đầu tư theo hợp đồng kinh tế, theo pháp luật hiện hành
Theo quy định chung ở Việt Nam (Thông tư số 105 TT/ĐT) quy định rõ chủ đầu tư thuộc sở hữu nhà nước phải mua bảo hiểm công trình xây lắp tại một Công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam và phí bảo hiểm là một bộ phận của vốn đầu tư, tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị công trình
2.1.1.2 Chủ thầu
Là người ký kết hợp đồng xây dựng lắp đặt với chủ đầu tư Đó có thể là cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân Trong trường hợp có nhiều chủ thầu và chủ đầu tư, để rõ ràng dùng khái niệm: chủ thầu chính và chủ thầu phụ
Chủ thầu chính: Là người trực tiếp ký hợp đồng xây dựng lắp đặt với chủ đầu tư, là người đứng ra bao thầu toàn bộ công trình
Chủ thầu phụ: Là người đảm nhận từng hạng mục riêng, chủ thầu phụ thường không liên quan đến chủ đầu tư mà chỉ ký hợp đồng với chủ thầu Họ có thể
là người xây thô, hoàn thiện, cung cấp nguyên vật liệu hay dọn dẹp công trình sau khi xây dựng, lắp đặt xong
2.1.1.3 Các kiến trúc sư, kỹ sư, cố vấn chuyên môn
Làm việc cho chủ thầu theo hợp đồng Cần chú ý rằng đơn bảo hiểm xây dựng lắp đặt không bảo hiểm cho trách nhiệm những người này mặc dù họ thuộc thành phần Người được bảo hiểm
Lưu ý: Trường hợp có nhiều Người được bảo hiểm sẽ nảy sinh nhiều vấn đề
đơn bảo hiểm sẽ ghi tên ai hay ai sẽ ghi đầu tiên Thông thường người nào đứng ra
Trang 21ký kết thoả thuận bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện cho các bên trong hợp đồng bảo hiểm
Đơn bảo hiểm do họ đại diện ký kết sẽ là chứng từ pháp lý chủ yếu cho bên khác Tuy nhiên, nếu một nhà thầu phụ đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm thì giá trị pháp lý sẽ không bằng chủ đầu tư hay chủ thầu chính đứng ra ký kết Vì vậy, khi kí kết đơn bảo hiểm, trong mục Người được bảo hiểm chỉ cần ghi tên một người đứng
ra đại diện (chủ đầu tư hay chủ thầu) và ghi “những nhà thầu phụ có liên quan)
Các bên có liên quan trong thi công công trình xây lắp được thể hiện qua sơ
đồ sau:
2.1.2 Người được bảo hiểm trong bảo hiểm lắp đặt
Người được bảo hiểm trong bảo hiểm lắp đặt là các nhà xây dựng hoặc lắp đặt cơ sở vật chất, một phần hoặc toàn bộ, được chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm, cũng có thể là nhà công nghiệp hoặc thực hiện hoặc cho thực hiện theo danh nghĩa của mình những công việc lắp ráp hoạt động trên cơ sở vật chất đã được trao phó cho nó về mục đích này
Tóm lại, người được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt bao
gồm cả chủ đầu tư, chủ thầu chính, các kỹ sư, cố vấn chuyên môn, nhà thầu phụ và các bên có liên quan đến công trình xây lắp
2.2 Đối tượng bảo hiểm
2.2.1 Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng
Trang 22Đối tượng bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình dân dụng, công trình công nghiệp… mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông Cụ thể chia
ra các công trình sau:
+ Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, nhà hát, rạp chiếu phim, các công trình văn hoá khác,…
+ Nhà máy xí nghiệp, các công trình phụ sản xuất;
+ Đường sá (bao gồm cả đường bộ, đường sắt, sân bay);
+ Cầu cống, đê đập, công trình thoát nước, kênh đào, cảng…
Mỗi công trình xây dựng đều có sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế, các máy móc thiết bị cần thiết phục vụ công tác xây dựng cũng như các công việc có liên quan trong quá trình xây dựng Do vậy, để đơn giản cho việc tính phí cũng như giải quyết khiếu nại trong trường hợp tổn thất xảy ra người ta chia đối tượng bảo hiểm ra làm nhiều hạng mục, bao gồm:
2.2.1.1 Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng (Construction works)
Hạng mục này bao gồm giá trị của tất cả các hạng mục công trình do chủ thầu (kể cả nhà thầu phụ) tiến hành theo hợp đồng ký kết giữa chủ thầu và chủ đầu
tư Những hạng mục chủ yếu bao gồm:
+ Công tác chuẩn bị mặt bằng: giá trị công việc đào đắp, san nền
+ Giá trị các công trình tạm thời phục vụ công tác thi công như: kênh dẫn nước, đê bảo vệ, nhà tạm thời
+ Giá trị móng, giá trị các cấu trúc chủ yếu của công trình
+ Chi phí chạy thử các máy móc thiết bị được lắp đặt (nếu có yêu cầu bảo hiểm trong công trình) Thông thường khi xây dựng một công trình, trong số các công việc cần thiết phải làm có công tác lắp đặt các máy móc, thiết bị
Người được bảo hiểm cần kê khai giá trị hạng mục công trình trong phụ lục kèm theo đơn bảo hiểm Nếu muốn loại trừ một công việc nào đó thì trong đơn bảo hiểm hay trong điểu khoản bổ sung cần phải ghi rõ Ví dụ không bảo hiểm chạy thử các máy móc sau khi đã lắp đặt xong
2.2.1.2 Trang thiết bị và các công trình tạm thời
Hạng mục này gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công như các công trình phụ trợ (lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng, giàn giáo, hệ thống băng tải,
Trang 23thiết bị cung cấp điện nước, rào chắn) Các trang bị này được sử dụng nhiều lần cho các công trình khác nhau Chỉ một phần giá trị hao mòn của các trang bị đó được tính vào giá trị công trình
Khi yêu cầu bảo hiểm cho các trang thiết bị này phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm
2.2.1.3 Máy móc xây dựng
Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặc không tự hành phục vụ công tác thi công (máy xúc, máy ủi, cần cẩu, xe chuyên dùng…) thuộc quyền sở hữu của người được bảo hiểm hoặc do họ đi thuê Các loại máy móc này chỉ được bảo hiểm trong thời gian sử dụng trên khu vực công trường
Khi yêu cầu bảo hiểm cho máy móc này phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm
2.2.1.4 Các tài sản sẵn có trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý, chăm sóc của người được bảo hiểm
Khi tiến hành bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai cụ thể giá trị trong phụ lục của đơn bảo hiểm (Điều khoản bổ sung) Trong bảo hiểm xây dựng điều khoản bổ sung 105 sẽ được áp dụng cho việc bảo hiểm các tài sản này, phí bảo hiểm sẽ được tính theo tỷ lệ phí của các phần thi công xây dựng Hiện nay, điều khoản này đã được thay thế bằng điều khoản bổ sung 119
2.2.1.5 Chi phí dọn dẹp hiện trường
Bộ phận này bao gồm các chi phí phát sinh phải di chuyển, dọn dẹp các phế thải xây dựng, gạch đá, … do sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây ra trên khu vực công trường, nhằm mục đích làm sạch để có thể tiếp tục công việc thi công công trình Ví dụ khi xây dựng đường sá, mưa lũ làm sụt đường Các chi phí để khôi phục lại đoạn đường đó do bảo hiểm gánh chịu nếu người được bảo hiểm yêu cầu
đã được kê khai trong đơn bảo hiểm (thuộc phạm vi bảo hiểm)
2.2.1.6 Trách nhiệm đối với người thứ ba
Đây là phần II của đơn bảo hiểm, một trong hai phần chủ yếu của đơn bảo hiểm Nó bao gồm trách nhiệm pháp lý mà người được bảo hiểm phải gánh chịu do tổn thất này xẩy ra trong thời gian bảo hiểm
Trang 24Tuy nhiên, các tổn thất gây ra cho công nhân hay người làm thuê người được bảo hiểm không thuộc trách nhiệm bồi thường của đơn bảo hiểm này Họ được bảo hiểm bằng đơn bảo hiểm tai nạn lao động và trách nhiệm của chủ thầu đối với người làm thuê
Trang 252.2.2 Trong bảo hiểm lắp đặt
Đối tượng của bảo hiểm lắp đặt là các máy móc lắp đặt, các trang thiết bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mục liên quan tới công việc lắp đặt Nó liên quan đến các thiệt hại về mặt vật chất đối với máy móc, các dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệp hay thậm chí đối với máy móc, các dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệp hay thậm chí đối với tổng thể một xí nghiệp trong khi tiến hành lắp ráp Cụ thể những hạng mục được bảo hiểm là:
+ Công việc lắp đặt
+ Các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho lắp đặt Ví dụ: máy nâng, cần cẩu, trục ghép…
+ Các phần việc xây dựng phục vụ cho công tác lắp đặt
+ Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ 3
+ Chi phí dọn dẹp vệ sinh
Cần lưu ý rằng trách nhiệm theo hợp đồng giữa người được bảo hiểm và người thứ ba không được bồi thường theo đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt chỉ bảo đảm trách nhiệm đối với bên thứ ba trong thời gian xây dựng hay lắp đặt, không chịu trách nhiệm trong thời gian bảo hành và bảo hiểm này chỉ tiến hành khi cả phần "Tổn thất vật chất" của đơn bảo hiểm cũng nằm trong phạm vi của đơn bảo hiểm, không bảo hiểm cho riêng phần trách nhiệm đối với bên thứ ba
Trong thực tế, một công trình xây dựng thường bao gồm cả công việc lắp đặt trang thiết bị hoặc ngược lại Do đó, mà với một công trình xây lắp, người ta chỉ sử dụng một loại đơn bảo hiểm Việc sử dụng đơn bảo hiểm loại nào là phụ thuộc vào trị giá phần công việc xây dựng và lắp đặt Tuy nhiên, bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho việc chạy thử máy móc thiết bị, còn bảo hiểm lắp đặt thì có bảo hiểm nên khi sử dụng đơn bảo hiểm xây dựng mà muốn bảo hiểm chạy thử thì cần phải dùng điều khoản bổ sung
3 Phạm vi và thời hạn bảo hiểm
Các rủi ro được bảo hiểm thường là bảo hiểm dưới hình thức "mọi rủi ro"
Đó phải là những rủi ro có nguyên nhân tai nạn vì thế những rủi ro mà không bị loại trừ sẽ không được bảo hiểm
Trang 263.1 Phạm vi bảo hiểm
3.1.1 Trong bảo hiểm xây dựng
3.1.1.1 Các rủi ro chính trong phạm vi bảo hiểm
Vì là đơn bảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm CAR
*** Chỉ trừ những rủi ro đặc biệt bị loại trừ nêu trong đơn bảo hiểm còn phải có cả các rủi ro gây nên các thiệt hại bất ngờ và không lường trước được diễn ra trong thời gian bảo hiểm tại khu vực công trường đều được bồi thường theo đơn bảo hiểm này
Sau đây là một số rủi ro chính đó:
- Cháy, nổ (đặc biệt nguy hiểm đối với các toà nhà đang xây dựng, các lán trại đang thi công và các vật liệu) và tổn thất do tiến hành các biện pháp chữa cháy
- Sét đánh
- Bị các phương tiện giao thông hay máy bay đâm vào
- Lũ lụt, mưa gió, tuyết lở
- Động đất, núi lửa phun, sóng thần
Phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng còn bao gồm cả những tổn thất của nguyên vật liệu xây dựng, các trang thiết bị lắp đặt, trong khi vận chuyển trên khu vực công trường hay khi lắp đặt, tháo gỡ
3.1.1.2 Các điểm loại trừ
Các tổn thất xảy ra trực tiếp hay là hậu quả của chiến tranh hay các hành động tương tự chiến tranh, đình công, bãi công, bễ xưởng, nổi loạn, gián đoạn hay ngừng công việc theo lệnh của nhà chức trách
Trang 27- Tổn thất do phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ
- Tổn thất do hành động cố ý của người được bảo hiểm hay đại diện của họ
- Các tổn thất có tính chất hậu quả, ví dụ: Tiền phạt do chậm trễ hay vi phạm hợp đồng, mất thu nhập do thời gian xây dựng kéo dài
- Những hỏng hóc về cơ khí và hay về điện hay những trục trặc của các máy móc xây dựng (nếu đơn Bảo hiểm xây dựng bao gồm cả máy móc xây dựng)
- Tổn thất do thiết kế sai, do nguyên vật liệu kém chất lượng hay sai chủng loại
- Hao mòn, rỉ sét, ô xy hoá, giảm giá trị do để lâu không sử dụng hay dưới điều kiện bình thường về nhiệt độ, áp suất
- Các mất mát hay thiệt hại của tài liệu, bản vẽ, biểu mẫu, chứng từ thanh toán, tiền séc
- Các mất mát phát hiện khi kiểm kê
- Tổn thất của xe cơ giới lưu hành trên công lộ, của các phương tiện thuỷ hay máy bay
- Tổn thất về người và tài sản do việc di chuyển, tháo gỡ gây ra (không thể coi là tổn thất bất ngờ)
Trang 283.1.2 Trong bảo hiểm lắp đặt
Ngoài những rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng, bảo hiểm lắp đặt còn bảo hiểm thêm cho những rủi ro sau:
- Lỗi về lắp ráp phạm phải trong khi thi công
- Các nguyên nhân từ bên ngoài như do rơi vật lạ vào, đứt cáp, dây chuyền,
hệ thống nâng, sập toà nhà, sự va đụng…
- Các nguyên nhân nội tại: Ví dụ như hậu quả do một sự thiếu hụt về máy móc kiểm tra hoặc về an toàn do sự vụng về và lơ đễnh của nhân viên bên được bảo hiểm hoặc của người thứ ba; sự nóng về cơ khí, bị rung, bị rối loạn, có tiếng rít do thiếu dầu mỡ, hậu quả của điện lưới, chập điện, áp suất, phá huỷ do lực li tâm
* Các trường hợp ngoại trừ là các trường hợp chung chung trong các đơn bảo hiểm: chiến tranh, các hành động khủng bố hoặc phá hoại ngầm, các hậu quả của phóng xạ, việc ăn cắp do nhân viên của bên được bảo hiểm hoặc thiệt hại do từ lỗi chủ ý của bên được bảo hiểm
Một vài ngoại trừ có tính đặc thù liên quan đến các thiệt hại liên tiếp và nhìn thấy trước Ví dụ: thiệt hại do thiếu sót có trước mà những người có trách nhiệm đã biết, do hao mòn từ nguồn gốc vốn có hoặc do tiếp tục chạy thử các công cụ đã bị hỏng trước khi sửa chũa Các phí tổn được trang trải nhằm xoá bỏ các thiếu sót; để sửa chữa nhưng sai sót về kế hoạch; để đưa cơ sở vật chất phù hợp với chỉ định về tiêu chuẩn của giao kèo hoặc điều kiện đấu thầu; để đem lại cho tài sản một sự sửa đổi hoặc hoàn thiện nào đó… cũng được loại trừ Sau cùng, các thiệt hại gián tiếp (phạt theo hợp đồng, không đủ năng suất, mất mát do chậm trễ) đều được loại trừ
Các điều khoản bổ sung có thể cho phép bảo hiểm các ngoại trừ khác được
dự kiến một cách bình thường như các thiệt hại do một lỗi lầm về quan niệm, về tính toán, hoặc về kế hoạch, do một thiếu sót về nguyên vật liệu hoặc do một khuyết tật về xây dựng, các thiệt hại gây nên do động đất hoặc là do gió xoáy; các thiệt hại xảy ra bất ngờ trong quá trình thao tác bốc xếp, vận chuyển và xếp dỡ để đưa dụng
cụ đến công trường lắp ráp
3.2 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian được bảo hiểm, nó được xác định căn
cứ vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm và thời điểm kết thúc bảo hiểm
Trang 29Trong bảo hiểm xây dựng và bảo hiểm lắp đặt việc xác định thời gian bảo hiểm có giống nhau nhƣng thời gian kết thúc lại khác nhau, cụ thể nhƣ sau:
Trang 303.2.1 Thời gian bắt đầu bảo hiểm
Trách nhiệm của Người bảo hiểm được tính từ lúc khởi công công trình hoặc sau khi dỡ xong các hạng mục có tên trong phụ lục xuống công trường, bao gồm cả thời gian lưu kho nhưng không vượt quá 3 tháng, cho dù ngày quy định có thể khác
3.2.2 Thời gian kết thúc bảo hiểm
- Đối với bảo hiểm xây dựng:
Đơn bảo hiểm xây dựng quy định thời điểm kết thúc bảo hiểm là ngay khi công trình được hoàn thành, bàn giao và đi vào sử dụng nhưng không muộn hơn thời điểm ghi trong đơn bảo hiểm
- Đối với bảo hiểm lắp đặt:
+ Thời hạn bảo hiểm kết thúc khi các thiết bị máy móc được bàn giao hay ngay sau khi kết thúc thời gian chạy thử (mức chạy thử cao nhất là 4 tuần), trong hai thời điểm này thời điểm nào xong trước thì thời hạn bảo hiểm kết thúc tại đó
+ Tuy nhiên, trong quá trình lắp ráp, nếu một bộ phận của máy hay một số cỗ máy đã được chạy thử hoặc vận hành hay bàn giao thì việc bảo hiểm cho phần đó hay các thiết bị hoặc máy móc và mọi trách nhiệm phát sinh từ đó sẽ chấm dứt, mặc
dù bảo hiểm này vẫn có hiệu lực với các phần còn lại
Riêng đối với máy móc, thiết bị cũ (đã sử dụng rồi) thì trách nhiệm của người bảo hiểm sẽ chấm dứt ngay khi lắp đặt xong và bàn giao xong (không bảo hiểm cho quá trình chạy thử máy móc này)
Lưu ý: Thời hạn chậm nhất kết thúc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm xây dựng
và lắp đặt được ghi trong phụ lục kèm theo đơn bảo hiểm Thời gian bảo hiểm cũng
có thể kéo dài bằng các điều khoản bổ sung hay với sự chấp nhận của người bảo hiểm sau khi Người được bảo hiểm trả thêm phụ phí Ví dụ, điều khoản bổ sung 003 hay 004 “Bảo hiểm cho công tác bảo hành”, Điều khoản bổ sung 201 “Bảo hiểm cho thời gian bảo hành của các nhà chế tạo máy móc thiết bị” (Bảo hiểm lắp đặt)
4 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
4.1 Giá trị bảo hiểm
4.1.1 Trong bảo hiểm xây dựng
Trong bảo hiểm xây dựng, giá trị bảo hiểm là vấn đề quan trọng và rất phức tạp Xác định được chính xác giá trị bảo hiểm sẽ giúp cho cả người bảo hiểm và
Trang 31người được bảo hiểm tránh được các tranh chấp không cần thiết khi có tổn thất xảy
ra Các giá trị phải xác định trong bảo hiểm xây dựng bao gồm:
4.1.1.1 Giá trị của phần công tác thi công xây dựng
Người được bảo hiểm có thể sẽ dùng một trong các giá trị sau đây làm giá trị bảo hiểm cho phần này
- Tổng giá trị khôi phục của công trình, nghĩa là giá trị khôi phục lại công trình trong trường hợp có tổn thất xảy ra
- Giá trị dự toán của công trình theo hợp đồng xây dựng
- Giá trị bằng hoặc nhỏ hơn tổn thất lớn nhất có thể xảy ra
a Trường hợp chọn giá trị khôi phục làm giá trị bảo hiểm của hạng mục
"Công việc thi công xây dựng" sẽ phải giải quyết một số vấn đề như: phải dự đoán được mức tăng các chi phí về nguyên liệu, lương công nhân tăng do biến động của giá cả Những thay đổi đó sẽ tác động vào giá cả của công trình Như vậy việc xác định chính xác giá trị khôi phục là rất khó
b Nếu chọn các giá trị bảo hiểm tương đương hay nhỏ hơn tổn thất lớn nhất
có thể xảy ra thì trong trường hợp có sự cố: sẽ khó tính toán và giải quyết bồi thường (bảo hiểm dưới giá trị và bảo hiểm trên giá trị), đặc biệt khi có tổn thất bộ phận
c Thông thường lấy giá trị ghi trong hợp đồng xây dựng làm giá trị bảo hiểm
là hợp lý nhất Khi kết thúc công trình, giá trị này sẽ được điều chỉnh theo thực tế, lúc đó phí bảo hiểm cũng được điều chỉnh cho phù hợp Đặc biệt đối với những nước có tỷ lệ lạm phát cao thì giá cả sẽ có nhiều biến động nên cần thiết phải điều chỉnh giá trị bảo hiểm sau khi công trình hoàn thành (vấn đề là ở chỗ người bảo hiểm phải thu được phí bổ sung sau khi công trình đã hoàn thành)
Trong thời gian xây dựng, nếu có sự thay đổi lớn về giá trị cả dẫn tới việc giá trị bảo hiểm thay đổi thì người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết (điểm này đã nói tới trong đơn bảo hiểm) Trường hợp này giá trị bảo hiểm sẽ phải được điều chỉnh ngay, không cần chờ đến khi công trình hoàn thành Người bảo hiểm phải có nhiệm vụ thuyết phục người được bảo hiểm khai đúng giá trị của công trình để tránh xảy ra tranh chấp sau này trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bồi thường
Trang 324.1.1.2 Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng
Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng phải là giá trị thay thế tương đương mục mới của máy đó (New Replacement Value) tức là giá trị của một máy móc tương đương có thể mua tại thời điểm đó để thay thế máy bị tổn thất
4.1.1.3 Giá trị bảo hiểm của trang thiết bị
Giá trị bảo hiểm đối với trang bị xây dựng là tương đối khó xác định vì trang
bị xây dựng rất nhiều hạng mục với nhiều giá trị khác nhau Có những hạng mục chỉ
sử dụng trong khoảng thời gian nhất định tại công trường sau đây lại di chuyển tới công trình khác Chỉ một phần giá trị của trang bị này được đưa vào giá thành của công trình
Cách tốt nhất để xác định giá trị bảo hiểm của trang bị xây dựng là dự kiến giá trị của trang bị tại thời điểm tập trung cao nhất trong quá trình xây dựng Còn một cách khác là xác định trang bị theo từng giai đoạn của công việc hay bảo hiểm toàn bộ giá trị của trang bị xây dựng cần dùng cho cả công trình
4.1.1.4 Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp
Cần dự kiến số chi phí cần thiết để di chuyển chất phế thải xây dựng, đất đá, sau khi xảy ra tổn thất lớn nhất, ví dụ: chi phí bơm nước, vét bùn, vận chuyển nhiều nhất đề phòng trường hợp xảy ra tổn thất lớn nhất Ví dụ năm 1964, trong khi xây dựng một toà nhà tại PARIS một phần ngôi nhà bị sụp, người ta đã phải di chuyển tới 100.000 tấn gạch vụn, bê tông đổ vỡ để có thể tiếp tục thi công công trình Chi phí này lên tới hàng triệu USD
4.1.1.5 Giá trị bảo hiểm của tài sản trên và xung quanh công trình
Đó là giá trị các tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu chăm nom, coi sóc của người được bảo hiểm Giá trị bảo hiểm là giá trị của các tài sản đó tại thời điểm bảo hiểm Người được bảo hiểm cần kê khai đúng giá trị thực của các tài sản đó để có
cơ sở chính xác cho người bảo hiểm bồi thường trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm
4.1.2 Trong bảo hiểm lắp đặt
4.1.2.1 Giá trị bảo hiểm đối với chi phí lắp đặt
Trang 33Phần này được tính bằng giá trị thay thế mới của bất kỳ một máy móc hay thiết bị mới tương đương, bao gồm: Giá mua + Cước phí vận chuyển + Phí bảo hiểm + Phí kho bãi + Thuế quan + Chi phí lắp đặt
Giá trị này phải được điều chỉnh trước khi kết thúc thời hạn bảo hiểm theo sự biến động của giá cả Trong trường hợp số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thực tế của máy móc thiết bị thì khi có tổn thất xảy ra, sẽ bồi thường theo nguyên tắc “Bảo hiểm dưới giá trị” như các loại hình bảo hiểm khác
4.1.2.2 Giá trị bảo hiểm của việc xây dựng
Ví dụ như giá trị của việc xây dựng nhà xưởng để lưu kho, bệ máy…và việc xây dựng này thường được hoàn tất trước khi lắp ráp máy móc thiết bị
4.1.2.3 Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp vệ sinh
Thông thường giá trị này được xác định trong khoảng 5 – 10% giá trị của tổng số thiệt hại
4.1.2.4 Giá trị bảo hiểm đối với tài sản trên và xung quanh công trường (tương tự như trong bảo hiểm xây dựng)
4.2 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là cơ sở để xác định phí bảo hiểm cũng như trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, số tiền bảo hiểm chia làm hai phần đảm bảo cho phần tổn thất vật chất và trách nhiệm dân
sự
4.2.1 Số tiền bảo hiểm cho phần vật chất
Số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên giá trị các hạng mục đã nêu Thường thì trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Số tiền bảo hiểm = Giá trị bảo hiểm
Trong trường hợp Số tiền bảo hiểm < Giá trị bảo hiểm người ta sẽ xác định việc bồi thường theo phương pháp tỷ lệ giữa STBảO HIểM / GTBảO HIểM
Lưu ý: Trường hợp bảo hiểm theo giá trị thay thế mới, việc bồi thường cụ thể như sau:
+ Trường hợp giá trị thay thế mới một bộ phận nào đó của đối tượng bảo hiểm (thường thấy ở các máy móc trang thiết bị xây lắp) làm cho giá trị bảo hiểm mới > số tiền bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bồi thường theo phương pháp tỷ lệ
Trang 34+ Trường hợp giá trị thay thế mới làm GTBảO HIểM mới < STBảO HIểM thì Người bảo hiểm sẽ bồi thường theo giá trị thiệt hại
4.2.2 Số tiền bảo hiểm cho phần trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba
Phần này số tiền bảo hiểm do sự thoả thuận giữa các bên mà không có giá trị bảo hiểm để căn cứ Số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với Người thứ ba là giới hạn trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm khi phát sinh trách nhiệm bồi thường
Trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt số tiền bảo hiểm cho hạng mục này thường được xác định bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị bảo hiểm phần bảo hiểm vật chất ở trên, nhưng tỷ lệ tối đa là 10%
5 Phí bảo hiểm và phương pháp xây dựng phí bảo hiểm
5.1 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là giá của bảo hiểm Đó là số tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm để đổi lấy rủi ro mà anh ta đã chuyển trách nhiệm cho người bảo hiểm Có mối quan hệ qua lại giữa phí bảo hiểm và rủi ro bởi vì trong tất
cả các Công ty bảo hiểm, chính các khoản đóng góp của người bảo hiểm được sử dụng để thanh toán các tổn thất Do vậy phí bảo hiểm cần phải biểu hiện giá trị rủi
ro mà rủi ro được xác định nhờ vào các con số thống kê được tập hợp từ một cộng đồng Vì thế việc xác định tỷ lệ phí như thế nào cho hợp lý để đảm bảo cho tính công bằng người được bảo hiểm và xây dựng nên quỹ bảo hiểm đủ lớn để thực hiện tốt việc triển khai nghiệp vụ là rất quan trọng Nếu tỷ lệ phí hợp lý, bảo vệ quyền lợi cho các bên thì bản thân Công ty bảo hiểm trở nên có uy tín tạo được thế cạnh tranh
Biểu phí bảo hiểm xây dựng và lắp đặt của Việt Nam về cơ bản là theo quy
định của quyết định 663TC/QĐ-TCNH ngày 24 tháng 5 năm 1995 Thực tế, người
ta không thể đặt ra một biểu phí với tỷ lệ cố định cho loại hình bảo hiểm này vì mỗi công trình đều có một thông số kỹ thuật riêng, chịu ảnh hưởng của những trạng thái
và điều kiện tự nhiên khác nhau ở từng khu vực Người bảo hiểm xem xét giá trị công trình, giá trị hạng mục từng công trình trong đơn bảo hiểm, sơ đồ hay bản vẽ thiết kế công trình, trạng thái đất đai, khí hậu địa chất, thuỷ văn, tiến độ cung ứng nguyên vật liệu xây dựng và lắp đặt để từ đó tính phí bảo hiểm Nói chung, phí bảo
Trang 35hiểm được xác định theo các rủi ro thông thường, đó là những rủi ro mà bất kỳ một công trình xây lắp nào cũng có khả năng gặp phải, ngoài ra còn có rủi ro đặc biệt như tổn thất như động đất, núi lửa, sóng thần,…mà không phải bất cứ công trình nào cũng gặp phải
5.1.1 Đánh giá rủi ro trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
Một trong những công việc quan trọng của người bảo hiểm trước khi cấp đơn bảo hiểm cho một công trình xây dựng là đánh giá các rủi ro có thể ảnh hưởng tới công trình
Việc đánh giá chính xác và phân tích kỹ lưỡng những yếu tố rủi ro có thể gây thiệt hại cho công trình sẽ tạo điều kiện cho người bảo hiểm lựa chọn các điều kiện, điều khoản thích hợp cũng như các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất, mức khấu trừ và mức phí thích hợp
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của người được bảo hiểm, người bảo hiểm cần nghiên cứu các thông tin, số liệu ghi trên bản câu hỏi kiêm giấy yêu cầu bảo hiểm và phải xuống hiện trường để trực tiếp kiểm tra các số liệu, các yếu tố rủi ro (như nêu trên đây), sau đó sẽ phân tích, đánh giá rồi đề ra điều kiện, mức khấu trừ và mức phí thích hợp
Bản câu hỏi kiêm giấy yêu cầu bảo hiểm này (BCH) do người được bảo hiểm lập theo mẫu in sẵn của người bảo hiểm Đây là cơ sở quan trọng để người bảo hiểm căn cứ vào đó đánh giá rủi ro, tính phí bảo hiểm và sau đó cấp đơn bảo hiểm và cũng là chứng từ pháp lý để tranh chấp (nếu có)
Có thể tóm tắt mục đích chính của bảng câu hỏi như sau: nó là cơ sở và tiền
đề để cho người bảo hiểm:
- Phân loại rõ ràng loại công trình
- Dự đoán các hiểm hoạ mà công trình có thể chịu tác động
- Xác định phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm, rủi ro cần phải loại trừ, rủi
ro nào có thể chấp nhận bảo hiểm bằng ĐKBS
- Tính phí bảo hiểm sát với thực tế
Trang 36- Bổ sung các điều kiện cần thiết cho đơn bảo hiểm
Đối với các công trình tương đối đặc biệt như: cầu, đập, cảng đường xe lửa, đường bộ, đường hầm, cống thoát nước thì ngoài ra còn có thêm các bản câu hỏi
bổ sung Mục đích của bản câu hỏi bổ sung này là tạo điều kiện cho người bảo hiểm nắm được:
- Các thông số kỹ thuật chi tiết của công trình
- Giá trị của từng hạng mục của công trình
- Chương trình và tiến độ xây dựng
- Các số liệu về khí tượng, thuỷ văn, địa chất
- Các chi tiết phụ khác như lán trại, bãi, kho chứa, xưởng, máy móc và các trang bị xây dựng
5.1.2 Đánh giá rủi ro cho các máy móc xây lắp
Rủi ro đối với máy móc xây lắp phụ thuộc vào:
+ Kinh nghiệm và trình độ được đào tạo của các nhân viên vận hành chúng: Các lỗi vận hành và các tai nạn đối với các thiết bị bất định có thể giảm được nhờ vào công tác đào tạo kỹ năng, kỹ thuật cho các nhân viên
+ Độ tuổi và tình trạng hiện thời của máy móc: Người bảo hiểm cũng nên thảo luận với người được bảo hiểm về công tác bảo quản và bảo trì máy móc, như việc xem xét: Các nhân viên vận hành máy móc này trước kia có được nhà chế tạo bảo trì hay không…người bảo hiểm cũng không quên kiểm tra xem xét tất cả các máy móc nằm trên công trường xây lắp hoặc thuộc quyền trông nom săn sóc của người được bảo hiểm có thuộc danh sách các máy móc được bảo hiểm trong phụ lục của đơn bảo hiểm hay không Nếu không xem xét kỹ điều này anh ta có thể sử dụng các máy móc có độ rủi ro cao và như vậy người bảo hiểm sẽ bị thiệt
5.1.3 Đánh giá rủi ro cho phần trách nhiệm đối với người thứ ba
Việc đánh giá rủi ro trách nhiệm người thứ ba phụ thuộc phần lớn vào việc xem xét các môi trường xung quanh công trình xây lắp:
+ Công trình gần nhất cách xa so với công trình xây lắp bao nhiêu, chúng được xây dựng như thế nào và bao gồm những gì Liệu chúng có bị thiệt hại không khi tiến hành các công việc xây lắp, ví dụ: công việc đóng cọc, đào móng…
+ Công trường có nằm ở nơi phố xá, đường đông người hay không
Trang 37+ Công trường có cạnh đường sắt hay không…
Việc đánh giá cũng nên quan tâm tới mức trách nhiệm đối với thiệt hại về người ở từng nước khác nhau
5.2 Tính phí bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
5.2.1.Tính phí bảo hiểm xây dựng
Không thể đặt ra được một biểu phí với tỷ lệ cố định cho bảo hiểm xây dựng
vì phí bảo hiểm cho mỗi công trình riêng biệt phải được tính toán dựa trên thông số
kỹ thuật của mỗi công trình và có tính đến trạng thái đất đai, điều kiện khí hậu tại khu vực công trường…
Phí bảo hiểm của một công trình xây dựng bao gồm hai phần chính: Phí bảo
hiểm tiêu chuẩn và phụ phí mở rộng
5.2.1.1 Phí bảo hiểm tiêu chuẩn
Là phí bảo hiểm tính cho các rủi ro tiêu chuẩn Việt Nam đang áp dụng theo đơn bảo hiểm tiêu chuẩn của MUNICH RE, bao gồm:
+ Các rủi ro thiên tai như: động đất, núi lửa…
+ Các rủi ro khác như: Cháy nổ, trộm cắp, tay nghề kém, thiếu kinh nghiệm,…
Phí bảo hiểm tiêu chuẩn = Phí cơ bản tối thiểu + Phụ phí rủi ro động đất + Phụ phí rủi ro lũ lụt
a Phí cơ bản tối thiểu: Là mức phí tối thiểu tính cho một công trình xây dựng theo thời gian xây dựng tiêu chuẩn, được tính bằng tỷ lệ phần nghìn trên số tiền bảo hiểm của công trình
b Phụ phí rủi ro động đất: Được tính cho từng loại công trình, phụ thuộc vào
độ nhạy cảm của công trình đối với rủi ro động đất và khu vực xây dựng công trình Theo mức độ tăng dần, độ nhảy cảm của công trình được xếp vào 5 loại: C, D, E, F,
G Đối với việc phân chia khu vực: theo bản đồ phân khu vực động đất của Munich
re, các nước trên thế giới được chia thành 5 khu vực, được đánh số từ 0 đến 4 theo mức độ tăng dần của động đất tính theo độ Mercalli sửa đổi Ở Việt Nam, phân chia theo khu vực động đất, gồm có hai khu vực Khu vực 1, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Vĩnh
Trang 38Phúc, Hoà Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Tây, Bắc Thái (ít xảy ra động đất) Khu vực 0 gồm các tỉnh còn lại (hầu như không xảy ra động đất)
Tỷ lệ phí động đất được tính bằng phần nghìn/năm không tính theo thời gian xây dựng của công trình Nếu thời hạn thi công trên một năm thì phải tính thêm phí theo thời gian, còn dưới một năm thì tính theo biểu phí ngắn hạn (theo tháng)
Phụ phí động đất trong thời gian xây dựng = Phí cho 1 năm*Thời hạn BảO HIểM/12 tháng
Hiện nay phụ phí cho rủi ro động đất được áp dụng theo bảng 1
Trang 39Bảng 1: Biểu phụ phí rủi ro động đất áp dụng cho Việt Nam
Độ nhảy cảm của công
+ Tính chất của từng loại công trình chịu tác động của rủi ro lũ lụt (có ba sức chịu đựng : I, II, III Mỗi công trình đều ứng với một cấp chịu đựng nhất định (ghi trong biểu phí)
+ Khu vực rủi ro nơi tiến hành công trình xây dựng: Phân chia khu vực rủi ro bão tại Việt Nam, có ba khu vực rủi ro là:
Khu vực 1: ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt, bão Khoảng cách tới sông hồ, biển hay nhánh sông ít nhất từ 1Km trở lên, độ cao trung bình so với nước biển ít nhất là 25m
Khu vực 2: Vùng chịu ảnh hưởng của bão, lũ lụt: Khoảng cách tới sông, hồ, biển hay nhánh sông dưới 1Km, độ cao trung bình dưới 10m so với mặt nước biển, lượng mưa cao nhất ghi nhận được là 40-100mm/24 giờ
Khu vực 3: Khu vực chịu ảnh hưởng của rất nhiều bão, mưa, lũ: khoảng cách tới sông, biển, hồ hay nhánh sông dưới 300m và độ cao trung bình so với mặt nước biển dưới 3m, lượng mưa trên 100mm/24 giờ
Việc phân chia khu vực trên chỉ là tương đối, trong khi tiến hành khai thác bảo hiểm cho công trình cần căn cứ vào vị trí cụ thể của công trình và các yếu tố khác để đánh giá mức độ rủi ro lũ lụt
Trang 40Phụ phí rủi ro bão và lũ lụt được áp dụng theo bảng 2
Bảng 2: Biểu phí rủi ro lũ bão và lũ lụt Sức chịu
Nếu công trình xây dựng thi công dưới 1 năm và nằm ngoài mùa mưa ít nhất
là 1 tháng trước khi công trình bắt đầu và sau khi hoàn thành thì áp dụng tỷ lệ phí bình quân năm
Nếu công trình kéo dài quá 1 năm, phụ phí cho thời gian kéo dài được tính theo công thức:
Phụ phí lũ lụt = Tỷ lệ phụ phí (1năm) * Thời gian thi công/12 tháng
5.2.1.2 Phụ phí mở rộng
Đây là phần phí bảo hiểm xác định cho phần thời gian xây dựng kéo dài, trang thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng, tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường, chi phí dọn dẹp hiện trường, trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ
ba
a Phụ phí mở rộng tiêu chuẩn:
* Phụ phí cho thời gian xây dựng kéo dài
- Đối với các loại hình công trình có mã số từ 1000-4900 trong biểu phí do
bộ tài chính quy định:
+ Nếu công trình phải kéo dài thêm tới 3 tháng thì phụ phí tính theo công thức:
P=m.r/t*1,1