1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính việt nam thực trạng và giải pháp

112 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông Tin Bất Cân Xứng Trên Thị Trường Tài Chính Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nhật
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Tường Anh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 770,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài: Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng ngân hàng, giữ một vai trò quan trọng trong việc phân bổ hữu hi

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-  -

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

Th«ng tin bÊt c©n xøng trªn thÞ tr-êng

tµi chÝnh ViÖt nam, thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Phương Nhật

Giáo viên hướng dẫn : THS.Nguyễn Thị Tường Anh

 Hà nội, tháng 11/2007 

Trang 2

MỤC LỤC

Danh mục từ viết tắt

Lời mở đầu 2

CHƯƠNG I: Lý luận chung về thị trường tài chính và lý thuyết thông tin bất cân xứng 6 I Lý luận chung về thị trường tài chính 6

1 Các thị trường cấu thành 6

1.1 Theo thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính 6

1.1.1 Thị trường tiền tệ: 6

1.1.2 Thị trường vốn: 7

1.2 Theo cách thức huy động vốn 7

1.2.1 Thị trường nợ: 7

1.2.2 Thị trường cổ phần: 8

1.3 Theo thời điểm các công cụ tài chính được đưa ra thị trường 8

1.3.1 Thị trường sơ cấp 8

1.3.2 Thị trường thứ cấp: 8

2 Các loại hình định chế tài chính 9

2.1 Các định chế tài chính nhận tiền gửi 9

2.1.1 Ngân hàng thương mại: 10

2.1.2 Hiệp hội tiết tiệm và cho vay: 10

2.1.3 Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ: 10

2.1.4 Liên hiệp tín dụng: 11

2.2 Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng: 11

2.2.1 Công ty bảo hiểm: 11

2.2.2 Quỹ hưu trí: 12

2.3 Các định chế đầu tư trung gian 12

2.3.1 Công ty tài chính: 12

2.3.2 Quỹ đầu tư: 12

2.3.3 Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ: 13

2.3.4 Ngân hàng đầu tư: 13

3 Ba vấn đề cố hữu của thị trường tài chính 14

3.1 Chi phí giao dịch 14

3.2 Bất cân xứng về thông tin 14

3.3 Bất ổn định mang tính hệ thống 15

II Lý thuyết thông tin bất cân xứng 15

1 Giới thiệu chung về lý thuyết thông tin bất cân xứng 15

1.1 Lựa chọn ngược 17

1.2 Rủi ro đạo đức 20

1.3 Phát tín hiệu 22

2 Thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính 23

2.1 Lựa chọn ngược 23

2.2 Rủi ro đạo đức 25

Trang 3

3 Tác động của tình trạng thông tin bất cân xứng tới tính hiệu quả của thị trường

28

4 Những biện pháp chung hạn chế trở ngại thông tin bất cân xứng 28

4.1 Sàng lọc 28

4.2 Phát tín hiệu 29

4.3 Giám sát trực tiếp 30

4.4 Giám sát gián tiếp thông qua các động cơ khuyến khích: 31

Chương II: Thực trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam 33

I Tổng quan về thị trường tài chính việt nam 33

II Thực trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính 38

1 Thông tin bất cân xứng trên thị trường tín dụng ngân hàng 38

1.1 Lựa chọn ngược trong phân phối tín dụng 38

1.2 Rủi ro đạo đức của người đi vay vốn và của bản thân các ngân hàng 44

1.2.1 Rủi ro đạo đức của người đi vay vốn trong sử dụng vốn vay 44

1.2.2 Rủi ro đạo đức của bản thân các ngân hàng 48

2 Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán 56

1.1 Lựa chọn ngược của các nhà đầu tư 57

1.1.1 Thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và công ty phát hành chứng khoán 57

1.1.2 Thông tin bất cân xứng giữa các nhà đầu tư với nhau .61

1.2 Rủi ro đạo đức của các công ty phát hành chứng khoán 67

3 Thông tin bất cân xứng trên thị trường tiền tệ: 70

4 Đánh giá chung về thị trường tài chính .71

Chương III: định hướng phát triển và giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính việt nam 72

I Định hướng phát triển thị trường tài chính Việt Nam - Tư tưởng và quan điểm chủ đạo của Đảng và nhà nước 72

1 Quán triệt đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển thị trường tài chính và nhận thức đúng thị trường tài chính 72

2 Đảm bảo sự vận hành của thị trường tài chính trên cơ sở các quan hệ thị trường thật sự .73

3 Đặt quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính trong tổng thể hình thành đồng bộ thể chế thị trường, cải cách cơ cấu và hội nhập kinh tế quốc tế .74

4 Hướng tới hình thành và phát triển một thị trường tài chính cân đối hơn, xác định và lựa chọn mô hình quản lý tài chính phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính .74

5 Tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với thị trường tài chính 75

6 Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá rủi ro tài chính và mô hình cảnh báo sớm 77

Trang 4

II Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính

Việt Nam 77

1 Trên thị trường tín dụng ngân hàng 77

1.1 Biện pháp hạn chế lựa chọn ngược trong phân phối tín dụng 77

1.1.1 Các quy định pháp lý rõ ràng, chặt chẽ liên quan đến hoạt động tín dụng

77

1.1.2 Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy 78

a Phát triển trung tâm thông tin tín dụng tư nhân 78

b Hệ thống thông tin nội bộ của bản thân các tổ chức tín dụng 84

1.1.3 Hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá thống nhất và phù hợp với chuẩn mực quốc tế 85

1.1.4 Hệ thống đăng kí tài sản hiệu quả 86

1.2 Biện pháp hạn chế rủi ro đạo đức trong sử dụng vốn vay Error! Bookmark not defined 1.2.1 Vật thế chấp và số dư bù 88

1.2.2 Các điều kiện hạn chế: 89

1.3 Biện pháp hạn chế rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng 90

1.3.1 Điều chỉnh hợp lý các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động tín dụng 90

a Dừng tái cấp vốn cho các ngân hàng quốc doanh .90

b Xây dựng một chính sách bảo hiểm tiền gửi phù hợp .90

1.3.2 Tăng cường giám sát Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng 92

a Hạn chế đối với việc nắm giữ tài sản và yêu cầu về vốn 92

b Giám sát và kiểm tra ngân hàng 94

c Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro 95

d Yêu cầu về công bố thông tin 96

2 Trên thị trường chứng khoán 97

2.1 Tăng cường hoạt động giám sát Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 97 2.2 Tăng cường các quy định pháp lý về công bố thông tin 99

2.3 Nâng cao hiệu quả của các công ty định mức tín nhiệm (Credit Rating Agency) 101

2.4 Hỗ trợ hoạt động kiểm toán 106

Kết luận 109

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TTTC: Thị trường tài chính TTCK: Thị trường chứng khoán NHTM: Ngân hàng thương mại NHTW: Ngân hàng Trung Ương TTTD: Thông tin tín dụng DNNN: Doanh nghiệp nhà nước TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán SGDCK: Sở Giao dịch chứng khoán UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng ngân hàng, giữ một vai trò quan trọng trong việc phân bổ hữu hiệu các nguồn vốn trong nền kinh tế Có được thị trường tài chính phát triển lành mạnh là một nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định vĩ

mô, tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, vai trò của thị trường tài chính càng trở nên quan trọng hơn Những áp lực hội nhập, cam kết mở cửa mạnh mẽ trong khu vực tài chính đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu những bất cập đang trở thành trở lực đối với

sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra những phương hướng khắc phục, giải quyết phù hợp

Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt nam, thực trạng và giải pháp”

Có rất nhiều vấn đề đang tồn tại cản trở sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính Việt Nam như sự can thiệp không hợp lý của Nhà nước, thông tin thiếu minh bạch và không hiệu quả, thiếu sự tham gia của nhiều định chế tài chính trung gian, văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp chưa có, cơ sở hạ tầng chưa tương xứng, Khóa luận này xin được tiếp cận

những tồn tại, bất cập trên trong thị trường tài chính trên cơ sở lý thuyết

Thông tin bất cân xứng - một lý thuyết đang chiếm giữ vị trí quan trọng

Trang 7

trong nền kinh tế học hiện đại do nhóm ba nhà khoa học George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz đưa ra

2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thị trường tài chính Việt Nam với các thị trường cấu thành là thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán Nội dung nghiên cứu là tình trạng thông tin bất cân xứng với những biểu hiện cụ thể trên từng thị trường

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là đưa lại một cái nhìn cụ thể, đầy

đủ về tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam, phân tích nguyên nhân nhằm đề xuất những biện pháp giải quyết phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu của người viết đó là đi từ cơ sở lý thuyết chung và dẫn chiếu đến các biểu hiện cụ thể trên thực tế thị trường tài chính,

từ đó đưa ra những phương hướng giải quyết tương ứng

5 Kết cấu của khóa luận:

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về thị trường tài chính và Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Chương 2: Thực trạng Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam

Chương 3: Giải pháp kiến nghị khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam

Trang 8

Người viết hy vọng khóa luận này sẽ đóng góp một cái nhìn tổng quát

về thị trường tài chính thông qua một cách tiếp cận khá mới, và đề xuất một vài giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng

Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới cô giáo Th.S Nguyễn Thị Thúy Anh đã gợi ý cho tôi chọn đề tài này, T.S Võ Trí Thành - Trưởng ban Nghiên cứu Chính sách và Hội nhập, Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương đã hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu,

và trên hết là lời cảm ơn chân thành tới cô giáo - Th.S Nguyễn Thị Tường Anh,

đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận trong suốt thời gian qua

Trang 9

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ LÝ

THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Thị trường tài chính là nơi trao đổi, giao dịch các loại “hàng hóa” của thị trường, đó là các quyền đòi nợ tài chính (financial claims).1

1 Các thị trường cấu thành

Thị trường tài chính có thể được phân loại theo nhiều cách thức khác nhau, theo thời gian đáo hạn của công cụ tài chính, theo cách thức huy động vốn hoặc theo thời điểm phát hành công cụ tài chính ra công chúng

1.1 Theo thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính

1.1.1 Thị trường tiền tệ:

Thị trường tiền tệ là thị trường phát hành và mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn (kỳ hạn dưới 1 năm) Thị trường tiền tệ thường bao gồm thị trường nội tệ liên ngân hàng, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ bao gồm Ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại, và các tổ chức tài chính phi ngân hàng, chính phủ, các doanh nghiệp, các cá nhân và các nhà môi giới tiền tệ

Các công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường tiền tệ có độ rủi ro thấp, tính thanh khoản cao Các công cụ của thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, chấp phiếu của ngân hàng, thỏa thuận mua lại, tín phiếu NHTW

1.1.2 Thị trường vốn:

Trang 10

Thị trường vốn là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính (các công cụ nợ và các công cụ vốn) có thời hạn trên 1 năm Thị trường vốn gồm thị trường tín dụng và TTCK (thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu) Các chủ thể chính tham gia thị trường vốn là ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính phi ngân hàng, chính phủ, các doanh nghiệp,

cá nhân, các nhà môi giới chứng khoán

Hàng hóa giao dịch trên thị trường vốn bao gồm cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, khế ước thế chấp và tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng Các công cụ của thị trường vốn thường có độ rủi ro lớn hơn

và có mức lợi tức cao hơn các công cụ của thị trường tiền tệ

Thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Trong một thị trường tài chính phát triển, những biến động trong nền kinh tế lúc đầu tác động lên một thị trường cấu thành sau đó sẽ dễ dàng lan truyền đến các thị trường khác trong toàn bộ hệ thống Chẳng hạn, việc thay đổi lãi suất có tác động lan tỏa lên thị trường tiền tệ lẫn thị trường vốn

Tỷ giá hối đoái biến động sẽ có tác động lên dòng vốn ngắn hạn cũng như dài hạn

Ngày nay, khi thị trường tài chính ngày càng phát triển, các công cụ tài chính được sử dụng đan xen giữa các thị trường Những công cụ mới không ngừng ra đời và mang đặc trưng của nhiều loại công cụ tài khác Chính vì vậy, ranh giới phân định giữa các công cụ tài chính và các thị trường cấu thành của thị trường tài chính ngày càng mang tính tương đối Thị trường tiền tệ và thị trường vốn do đó càng trở nên gắn bó chặt chẽ hơn

1.2 Theo cách thức huy động vốn

1.2.1 Thị trường nợ:

Trang 11

Thị trường nợ là thị trường trong đó người cần vốn huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ vay nợ hay thực hiện một món vay thế chấp Người vay thanh toán cho người nắm giữ các công cụ nợ một khoản tiền cố định (lãi suất) trong những khoảng thời gian đều đặn cho tới một thời điểm quy định trước (ngày đáo hạn) là lúc đợt thanh toán cuối cùng được thực hiện Kỳ hạn thanh toán của một công cụ nợ là thời gian tính tới ngày kết thúc của công cụ vay nợ Công cụ vay nợ có thể có thời gian đáo hạn từ

1 năm trở xuống, công cụ nợ trung hạn có thời gian đáo hạn từ 1 năm tới 10 năm, và công cụ nợ dài hạn có thời gian đáo hạn trên 10 năm

1.2.2 Thị trường cổ phần:

Thị trường cổ phần là thị trường trong đó người cần huy động vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu Các cổ phiếu là quyền được chia phần trên lãi ròng (sau khi trừ chi phí và thuế) và tài sản của công ty phát hành cổ phiếu Người nắm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông Các cổ đông thường được thanh toán cổ tức theo định kỳ Các cổ phiếu không có thời gian đáo hạn và được coi là các chứng khoán dài hạn

1.3 Theo thời điểm các công cụ tài chính được đưa ra thị trường

1.3.2 Thị trường thứ cấp:

Trang 12

 Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Khác với thị trường sơ cấp, khoản tiền thu được từ bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư, các nhà kinh doanh chứng khoán/ tự doanh chứng khoán, chứ không thuộc về các tổ chức phát hành chứng khoán

2 Các loại hình định chế tài chính

Như đã đề cập ở trên, các chủ thể tham gia trên thị trường tài chính bao gồm các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cá nhân, chính phủ, và các định chế tài chính trung gian Trong đó, các định chế tài chính trung gian là các chủ thể quan trọng nhất tham gia thị trường

Các định chế tài chính được phân loại theo nhiều cách khác nhau như theo các đặc trưng về chấp nhận rủi ro, theo thời hạn của các khoản vay và các khoản cho vay hoặc theo cách chuyển đổi các thỏa thuận tài chính Cách thông thường là các định chế tài chính được phân loại theo loại hình dịch vụ cung cấp, bao gồm: các định chế tài chính nhận tiền gửi, các định chế đầu

tư Cách phân loại các định chế tài chính chỉ có tính tương đối.2

2.1 Các định chế tài chính nhận tiền gửi

Các định chế tài chính nhận tiền gửi thường nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức khác rồi sau đó cho vay lại Các định chế này có đặc điểm chung là đều nhận tiền gửi từ dân cư và các pháp nhân Số tiền gửi này được đem cho vay trực tiếp tới các cá nhân hay tổ chức khác cần vốn, một phần khác có thể được đầu tư vào các chứng khoán Thu nhập của các định chế này được tạo

ra từ hai nguồn: Thu nhập từ các khoản cho vay và mua chứng khoán, và thu

2

Trong các tài liệu về thị trường tài chính, quan niệm và cách phân loại về các định chế tài chính có thể khác nhau Khóa luận này dựa theo sự phân loại của cuốn Thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng, vấn đề và giải pháp chính sách, nhóm tác giả Võ Trí Thành (chủ biên), Lê Xuân Sang (đồng chủ biên), Đinh Hiền Minh, Trịnh Quang Long, Nhà

Trang 13

nhập từ các khoản lệ phí Các định chế tài chính nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (mutual savings banks) và các liên hiệp tín dụng (credit unions)

2.1.1 Ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại có 2 chức năng cơ bản là cung cấp dịch vụ

thanh toán và tái phân bổ vốn từ người tiết kiệm (có vốn nhàn rỗi) sang người vay tiền (có nhu cầu về vốn) Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian giữa người tiết kiệm và người đi vay, huy động vốn chủ yếu bằng

2 cách là nhận tiền gửi và phát hành trái phiếu Ngân hàng có thể sử dụng vốn huy động được để cho vay lại và để mua chứng khoán

2.1.2 Hiệp hội tiết tiệm và cho vay:

Nguồn vốn hàng đầu của các hiệp hội này là các khoản tiền gửi tiết

kiệm, các khoản tiền gửi có kỳ hạn, các khoản tiền gửi có thể chuyển thành séc Thông thường, các nguồn vồn thu được dùng để cho vay thế chấp Ngày nay, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay được phép phát hành các khoản séc, thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng và thực hiện nhiều hoạt động trước đây chỉ dành cho các ngân hàng thương mại Tương tự như các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay cũng được yêu cầu gửi tiền tại ngân hàng trung ương

2.1.3 Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ:

Hoạt động của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ tương đối giống với các quỹ tiết kiệm và cho vay Họ nhận các khoản tiền gửi và dùng chúng trước hết là để cho vay thế chấp Cấu trúc tổ chức của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ hơi khác các quỹ tiết kiệm và cho vay ở chỗ họ luôn được tổ chức như có sự “tương trợ” lẫn nhau, tức là họ hoạt động như một “hợp tác

Trang 14

xã” trong đó những người sở hữu tiền gửi lại là các chủ sở hữu ngân hàng Ngày nay, các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ cũng có thể phát hành séc và thực hiện các khoản cho vay khác ngoài các khoản cho vay thế chấp

2.1.4 Liên hiệp tín dụng:

Các liên hiệp, quỹ tín dụng là các tổ chức cho vay rất nhỏ có tính chất như các hợp tác xã được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt Các thành viên của quỹ tín dụng là những người lao động của một công ty nào

đó Họ thu nhận vốn từ các khoản tiền gửi và trước hết là thực hiện các khoản cho vay Các quỹ tín dụng cũng được phép phát hành các khoản tiền gửi có thể chuyển thành séc và có thể thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng

2.2 Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng:

Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng là những định chế tài chính

nhận vốn theo định kỳ trên cơ sở các hợp đồng Do có thể dự tính được những khoản phải thanh toán trong tương lai, các định chế tiết kiệm này không phải lo lắng nhiều về việc thiếu hụt vốn như các định chế tài chính nhận tiền gửi Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng có xu hướng đầu tư vốn vào các chứng khoán dài hạn như trái phiếu công ty, cổ phiếu và các khoản cho vay thế chấp Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng chủ yếu bao gồm các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí

2.2.1 Công ty bảo hiểm:

Công ty bảo hiểm là định chế tài chính đảm nhận việc thực hiện một

khoản thanh toán mỗi khi có một sự việc xảy ra với một khoản đóng góp trước đó của người tham gia bảo hiểm Công ty bảo hiểm hoạt động với tư

Trang 15

cách là người chấp nhận rủi ro Công ty bảo hiểm thu phí từ những người mua bảo hiểm để huy động vốn và sau đó chủ yếu đầu tư khoản tiền nhận được vào chứng khoán Có 2 loại hình công ty bảo hiểm chính là các công ty bảo hiểm nhân thọ và các công ty bảo hiểm phi nhân thọ

2.2.2 Quỹ hưu trí:

Các quỹ hưu trí được công ty tư nhân, chính phủ hoặc chính quyền địa phương, các nghiệp đoàn lao động đại diện cho các thành viên của mình, và các cá nhân có nhu cầu thành lập để thanh toán những khoản phúc lợi cho người lao động khi họ về hưu Đặc điểm của quỹ này là chúng liên quan đến việc đầu tư vào một tài sản có tính thanh khoản rất thấp, đó là hợp đồng hưu trí Một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các quỹ hưu trí là các khoản đóng góp của chủ sử dụng lao động và của người lao động cũng như các khoản thu được từ tài sản của quỹ đều không bị đánh thuế Về thực chất, quỹ hưu trí là một hình thức trả công cho người lao động mà không bị đánh thuế cho đến khi số tiền này được rút ra, nó có tác dụng khuyến khích người lao động ở lại với doanh nghiệp

2.3 Các định chế đầu tư trung gian

2.3.1 Công ty tài chính:

Các công ty tài chính thường huy động vốn bằng cách bán thương phiếu (công cụ nợ ngắn hạn) và phát hành các cổ phiếu và trái phiếu Các công ty tài chính có thể cho vay tiêu dùng hoặc cho các doanh nghiệp vay đầu tư Một số công ty tài chính do công ty mẹ thành lập với mục đích hỗ trợ tín dụng mua hàng từ công ty mẹ

2.3.2 Quỹ đầu tư:

Quỹ đầu tư là một tổ chức tài chính phi ngân hàng huy động vốn

bằng hình thức hùn vốn đầu tư (investment pool) thông qua việc phát hành

Trang 16

các cổ phiếu hoặc các chứng chỉ hưởng lợi Việc hùn vốn đảm bảo cho thành viên của quỹ mua được cổ phiếu và trái phiếu với chi phí giao dịch thấp Các

cổ đông cũng có thể bán cổ phiếu của mình có trong Quỹ vào bất kỳ lúc nào với giá trị phụ thuộc vào giá trị của cổ phiếu mà Quỹ đã đầu tư tại thời điểm

2.3.3 Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ:

Các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ phát hành các cổ phiếu để thu hút vốn, sau đó vốn này được dùng để mua các công cụ chính trên thị trường tiền tệ Lãi suất thu được từ các công cụ tài chính được thanh toán cho các

cổ đông Các cổ đông của quỹ có thể phát hành séc ứng với giá trị phần tài sản cổ phần của họ có trong quỹ Tuy vậy, quỹ này cũng có những hạn chế đối với việc sử dụng đặc quyền phát hành séc Séc thường không được phát hành với một tổng giá trị nhỏ hơn mức tối thiểu đã quy định trước

2.3.4 Ngân hàng đầu tư:

Ngân hàng đầu tư thường tiến hành các hoạt động sau: (i)Hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn trên TTCK như tư vấn phát hành cổ phiếu, trái phiếu và bảo lãnh phát hành, (ii) kinh doanh chứng khoán như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, (iii) tư vấn về sáp nhập và mua lại công ty Ngày nay, các ngân hàng đầu tư

có xu hướng mở rộng hoạt động sang lĩnh vực hoạt động của các ngân hàng thương mại Các ngân hàng đầu tư cũng nhận tiền gửi và cho vay Điều này tạo áp lực cạnh tranh lớn lên các ngân hàng thương mại

Trang 17

3 Ba vấn đề cố hữu của thị trường tài chính

3.1 Chi phí giao dịch

Các giao dịch tài chính thường kéo theo những chi phí về thời gian và tiền bạc Chi phí giao dịch là một vấn đề lớn đối với những người tiết kiệm nhỏ, đơn lẻ trong việc vay vốn và mua chứng khoán Tiền lãi thu được từ các khoản cho vay nhỏ có thể không đủ để bù đắp các chi phí để ký kết các khế ước vay vốn Người tiết kiệm sẽ phải trả chi phí giao dịch lớn trong trường hợp mua chứng khoán do số tiền tiết kiệm chỉ đủ mua một số lượng nhỏ chứng khoán Vì vậy, người tiết kiệm chỉ có thể thực hiện một số khoản đầu

tư nhỏ và phải đối mặt với nhiều rủi ro do không có khả năng đa dạng hóa các khoản đầu tư Như vậy chi phí giao dịch cao đã loại trừ nhiều người có món tiền tiết kiệm nhỏ và những người đi vay các món nợ nhỏ được tham gia trực tiếp trên thị trường tài chính

3.2 Bất cân xứng về thông tin

Một trong những nhân tố thiết yếu để thị trường tài chính hoạt động hiệu quả là sự có được thông tin đầy đủ, kịp thời về chất lượng, giá cả và sự sẵn có của các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính trên thị trường Việc thiếu thông tin trên thị trường tài chính có thể làm cho những người tham gia thị trường ra các quyết định sai lệch

Một trường hợp của tình trạng thông tin không đầy đủ là tình trạng bất cân xứng về thông tin Bất cân xứng về thông tin xảy ra trong trường hợp những người tham gia thị trường có được các thông tin khác nhau liên quan đến các giao dịch tài chính Một bên giao dịch thường không biết đầy đủ các thông tin cần thiết về đối tác để có những quyết định đúng đắn Ví dụ, một người đi vay một khoản tiền thường có thông tin tốt hơn về lợi ích tiềm ẩn

Trang 18

và rủi ro kèm theo với dự án đầu tư mà anh ta dự định tiến hành so với người cho vay

Tình trạng bất cân xứng về thông tin có thể xảy ra trước, trong và/hoặc sau khi giao dịch tài chính được thực hiện TìNH trạng này làm cho thị trường tài chính không còn là một cơ chế phân bổ các nguồn vốn một cách có hiệu quả Bất cân xứng về thông tin có thể dẫn đến các vấn đề như: lựa chọn ngược, rủi ro đạo đức và hành vi bầy đàn (hay hành vi đám đông)

3.3 Bất ổn định mang tính hệ thống

Sự bất ổn định mang tính hệ thống là một đặc tính cơ bản của thị trường tài chính so với các thị trường khác Sự bất ổn định mang tính hệ thống xảy ra khi một định chế tài chính đã không thể thực hiện cam kết tài chính; điều này có thể dẫn đến tình trạng hoảng loạn chung trong toàn hệ thống tài chính khi có nhiều người sợ rằng một định chế nào đó cũng sẽ không thực hiện các cam kết tài chính của mình Một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra khi sự lan truyền kiểu này làm cho các định chế tài chính khác đang hoạt động có hiệu quả bị rơi vào tình trạng nguy hiểm Không phải ngẫu nhiêu mà rủi ro được xem là “yếu tố trung tâm có ảnh hướng tới hành

vi tài chính”

II LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

1 Giới thiệu chung về lý thuyết thông tin bất cân xứng 3

Trong suốt hơn 3 thập kỉ trở lại đây, lý thuyết về thị trường với thông tin bất cân xứng đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu kinh tế quan trọng và

3

Các ví dụ minh họa trong phần này được tham khảo tại Bài giảng Thông tin bất cân

xứng trong tài chính, Học kì Xuân 2005, Bộ môn Tài chính phát triển, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, tác giả Xuân Thành, Lê Hồng Nhật, biên dịch Thạch Quân

Trang 19

hết sức thú vị Các mô hình kinh tế với tình trạng thông tin không hoàn hảo

đã trở thành một công cụ không thể thiếu được của các nhà nghiên cứu kinh

tế Từ lý thuyết này đã có không biết bao nhiêu ứng dụng trong thực tế, từ những nền thị trường nông nghiệp truyền thống của các quốc gia đang phát triển cho đến những thị trường tài chính hiện đại ở những nền kinh tế phát triển Cơ sở cho lý thuyết thông tin bất cân xứng này được đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1970 bởi một nhóm ba nhà khoa học gồm George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz Đến năm 2001 thì lý thuyết này

đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế học hiện đại khi các nhà nghiên cứu nói trên cùng vinh dự được trao giải thưởng Nobel Kinh tế cho công trình nghiên cứu “phân tích các thị trường với tình trạng thông tin bất cân xứng”

Lý thuyết thông tin bất cân xứng ra đời khi lý thuyết kinh tế học tân

cổ điển đã thất bại trong việc giải thích một cách hiệu quả tại sao các thể chế thị trường xuất hiện Lý thuyết kinh tế tân cổ điển về thị trường giả định người bán và người mua có thông tin hoàn hảo về: (i) đối tác bên kia của giao dịch, (ii) chất lượng, đặc điểm của hàng hóa hay dịch vụ được trao đổi,

và (iii) cấu trúc thị trường Giả định trên là hoàn toàn hợp lý nếu như ta dễ dàng có được các thông tin Tuy nhiên, trên thực tế phải tốn chi phí mới có được thông tin, thậm chí trong nhiều trường hợp một đối tượng tham gia giao dịch không thể biết được thông tin của đối tác bên kia cho dù có bỏ bao nhiêu tiền để thu thập thông tin đi nữa Trong nhiều thị trường hàng hóa, người mua thường khó phân biệt được giữa sản phẩm chất lượng tốt với sản phẩm chất lượng tồi Trong thị trường lao động, các công ty và người sử dụng lao động thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định kỹ năng và năng lực của nhân viên trong công ty mình khi mới bắt đầu tuyển dụng

Trang 20

Trong thị trường tài chính, người cho vay thường phải mất chi phí khá cao

để xác định được mức độ uy tín hay thành tích tín dụng của người đi vay tiềm năng

Lý thuyết Thông tin bất cân xứng đi vào nghiên cứu tình trạng các bên tham gia vào giao dịch không có các lượng thông tin cân xứng nhau Một bên trong giao dịch có lợi thế về thông tin (informed party) còn bên kia bị bất lợi về thông tin (uninformed party) Thông tin ở đây có thể là một hành động (action) hay một đặc điểm (characteristic) của bên có lợi thế về thông tin Ví dụ của sự bất cân xứng thông tin về đặc điểm của một bên có thể thấy

ở thị trường hàng hóa cũ, như xe cũ chẳng hạn: người bán hàng thường có thông tin đầy đủ và chính xác hơn về thực trạng chất lượng của chiếc xe mình đã sử dụng, còn người mua thường rơi vào trạng thái bất lợi về thông tin Còn ví dụ cho sự bất cân xứng thông tin về hành động là mối quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp với những nhân viên của mình như nhân viên bán hàng Người chủ doanh nghiệp không thể biết một cách chính xác liệu nhân viên của mình có thực sự tận tâm với công việc hay không, có tìm mọi cách để tăng doanh số bán hàng hay không, vì sự nỗ lực không phải lúc nào cũng có thể được quan sát trực tiếp và đo lường một cách chính xác

Lý thuyết này đưa ra ba lớp bài toán quan trọng là lựa chọn ngược (hay còn gọi là lựa chọn bất lợi - adverse selection), rủi ro đạo đức (hay còn được dịch là tâm lý ỷ lại - moral harzard) và phát tín hiệu (signalling) Lựa

chọn ngược và tâm lý ỷ lại là hai hệ quả trực tiếp của hiện tượng thông tin bất cân xứng, còn phát tín hiệu là biện pháp để hạn chế tình trạng này

1.1 Lựa chọn ngược

Lựa chọn ngược là tình huống thông tin bất cân xứng xảy ra trước khi

tiến hành giao dịch: khi một bên trong giao dịch có lợi thế thông tin về một

Trang 21

đặc điểm nào đó (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm, tình trạng sức khỏe, sự

lành mạnh về tài chính, …) mà bên kia không thể quan sát với độ chính xác tuyệt đối khiến bên kia không thể đưa ra quyết định chính xác và tối ưu Bên có lợi thế về thông tin có thể lợi dụng đặc điểm này để che dấu, bóp méo thông tin theo hướng có lợi cho mình Còn bên thiếu thông tin hơn cần hiểu được bất lợi này để tìm các biện pháp buộc bên có nhiều thông tin phải bộc lộ những đặc điểm hay thông tin cần biết

Hãy xem xét một ví dụ trong hoạt động bảo hiểm Một công ty bảo hiểm phát hành một hợp đồng bảo hiểm rủi ro mất xe Kết quả có nhiều khả năng xảy ra là đa số những người phải để xe ở những nơi không an toàn sẽ mua bảo hiểm Thông tin về nơi mà người sử dụng xe hay gửi xe là thông tin chỉ riêng anh hay chị ta biết Nói một cách khác, đó là thông tin mà người ngoài và cụ thể là công ty bảo hiểm không thể quan sát được Do vậy, công

ty không thể phân biệt được để tính mức phí bảo hiểm khác nhau với độ rủi

ro khác nhau Ai cũng nói là mình luôn gửi xe ở những nơi an toàn để hy vọng được hưởng phí bảo hiểm thấp Trường hợp này, công ty bảo hiểm sẽ

áp dụng một mức phí bảo hiểm bình quân Với một mức phí bảo hiểm bình quân như vậy, thì những người thực sự luôn gửi xe ở nơi an toàn – khách hàng mà công ty bảo hiểm muốn hướng tới - sẽ thấy không đáng để mua bảo hiểm, còn những người có độ rủi ro cao - đối tượng khách hàng công ty bảo hiểm muốn tránh - sẽ sẵn sàng mua Như vậy, chỉ có những người có độ rủi

ro mất xe cao mới mua bảo hiểm Như vậy, công ty bảo hiểm đã bị đặt trong tình trạng lựa chọn ngược vì thực chất, công ty bảo hiểm chỉ muốn bán bảo hiểm cho những khách hàng gửi xe ở nơi an toàn

Trang 22

Hãy xem xét một ví dụ khác trong thị trường xe cũ 4

Những người muốn mua xe thường không thể biết một cách chính xác chất lượng của những chiếc xe đã qua sử dụng Vấn đề này còn được miêu tả trong kinh tế

học với hình ảnh “những trái chanh” (The Lemons problem *) 5

Họ không thể phân biệt được đâu là chiếc xe tốt (một quả đào), đâu là chiếc xe đã quá cũ, chất lượng tồi (một quả chanh) Vì thế, cái giá mà họ sẵn sàng trả để mua một chiếc xe cũ sẽ phản ánh chất lượng trung bình của những chiếc xe cũ trên thị trường, sẽ là một mức giá nằm giữa giá của một chiếc xe tồi và giá của một chiếc xe tốt

Về phía người bán xe cũ, anh ta biết rõ hơn ai hết chất lượng thực sự của chiếc xe của mình Nếu chiếc xe của anh ta là một “trái chanh”, thì người chủ xe sẽ cực kì sẵn lòng bán cho bạn với mức giá trung bình mà bạn chấp nhận, bởi mức giá này cao hơn giá trị thực sự của chiếc xe Trong khi

đó, nếu chiếc xe của anh ta là một “trái đào”, tức là một chiếc xe chất lượng tốt, thì anh ta sẽ không muốn bán cho bạn theo mức giá trung bình đó Bởi vì như chúng ta đã nói ở trên, mức giá trung bình đó cao hơn mức giá của chiếc

xe tồi nhưng lại thấp hơn mức giá của một chiếc xe tốt thực sự Anh ta biết rằng chiếc xe tốt của mình đã bị trả giá thấp hơn giá trị, vì thế sẽ không muốn bán nó trên thị trường Chính vì hiện tượng này, trên thị trường sẽ chỉ

có rất ít những chiếc xe tốt và người mua xe sẽ chỉ mua được những chiếc xe

4

Frederic S Mishkin, Columbia University, 2004 The Economics of Money, banking and Financial markets, Chapter 1: Why study money, banking and financial markets? Asymmetric Information: Adverse Selection and Moral Hazard, Pearson Addison Wisley,

New York, USA

5

Nghiên cứu cụ thể và những thảo luận xung quanh Vấn đề những trái chanh (Lemons

problem) có thể được tham khảo ở địa chỉ :

Trang 23

chất lượng kém, với mức giá cao hơn giá trị thực sự của nó Đây chính là hiện tượng lựa chọn ngược

Hiện tượng này có thể thấy rõ ở thị trường xe máy Trung Quốc tại Việt Nam Thị trường này có 2 loại xe: xe chất lượng tốt và xe dỏm Giả sử

xe chất lượng tốt chiếm một phần tư số xe bán Và giả sử những người có xe tốt sẵn lòng bán với giá 700$, còn những người có xe dỏm sẵn lòng bán với giá 300$ Người mua xe sẵn lòng trả 800$ cho xe tốt nhưng chỉ trả 400$ cho

xe dỏm Nếu có cách biết rõ được loại xe mà mình mua, thì người mua xe sẽ trả trong khoảng 700 - 800$ cho một chiếc xe tốt, và khoảng 300 - 400$ cho một chiếc xe dỏm

Tuy nhiên thực tế là người bán xe biết được chất lượng của chiếc xe anh ta bán, còn người mua thì không có cách nào quan sát được chất lượng của những chiếc xe trước khi mua Động cơ của người bán xe dỏm là luôn che dấu thông tin và nói rằng xe anh ta là xe tốt Do luôn có khả năng mua phải xe dỏm (với xác suất là 3/4) nên người mua không bao giờ trả 700 - 800$ cho một chiếc xe Anh ta sẽ trả một mức giá kỳ vọng là 3/4*400 + 1/4*800 = 500$ Như vậy người có xe tốt sẽ không bán vì anh ta đòi 700$ Vấn đề lựa chọn ngược nảy sinh vì những người có động cơ bán xe chỉ toàn

là những người có xe dỏm

1.2 Rủi ro đạo đức

Hiện tượng rủi ro đạo đức là tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra

sau giao dịch, trong đó một bên trong giao dịch có ít thông tin hơn bên kia

về hành động của bên kia sau khi giao kết hợp đồng Do bên có nhiều thông tin hơn có thể dễ dàng che đậy hành động của mình, nên họ có xu hướng hành động đi ngược lại lợi ích của bên kia và theo hướng có lợi cho mình Hiện tượng này còn được nghiên cứu dưới hình thức là vấn đề người ủy thác

Trang 24

- đại lý (principal - agent problem) Vấn đề nảy sinh khi có sự phân ly về

quyền lợi Một công ty muốn nhân viên bán hàng của mình chủ động tìm kiếm khách hàng, nhưng các nhân viên thì thích ngồi không và uống trà Khác biệt về quyền lợi đi kèm với thực tế là chủ công ty không thể quan sát được hành động của các nhân viên bán hàng của mình Nói một cách khác,

ta gặp phải vấn đề hành động bị che đậy Nếu như người chủ sở hữu có thể quan sát được nhân viên làm việc có trách nhiệm như thế nào, thì sẽ không

có vấn đề về động cơ khuyến khích nhân viên bỏ bê công việc để làm việc riêng Bởi lúc đó, người chủ sở hữu đơn giản chỉ cần trả lương căn cứ trên

nỗ lực người nhân viên bỏ ra Nhưng thường thì việc đo lường các hoạt động của nhân viên, việc kiểm chứng các thông tin được báo cáo đối với người chủ sở hữu là vô cùng tốn kém hoặc thậm chí không thể thực hiện được

Để hiểu rõ hơn về khái niệm rủi ro đạo đức, ta hãy dùng một ví dụ về bảo hiểm, nơi thuật ngữ này bắt nguồn Trong phần nói về lựa chọn ngược ở trên, chúng ta đã sử dụng ví dụ về rủi ro mất xe máy để minh họa cho khái niệm “lựa chọn ngược” Ta thấy rằng trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm không biết được đặc điểm của các khách hàng (thông tin bị che đậy

dẫn tới lựa chọn ngược) Thậm chí sau khi đã ký hợp đồng, công ty bảo hiểm

cũng không cũng không quan sát được hành vi của khách hàng Những người sau khi đã mua bảo hiểm thường trở nên bất cẩn hơn Họ không còn giữ xe cẩn thận như trước nữa vì ỷ lại rằng nếu mất thì cũng được công ty bảo hiểm đền

bù Đây chính là tâm lý ỷ lại hay rủi ro đạo đức Kết quả là xác suất mất xe của những người bảo hiểm tăng lên đáng kể, từ đó kéo theo chi phí đền bù của công

ty bảo hiểm tăng lên

Nếu quan sát được hành vi của khách hàng, công ty bảo hiểm sẽ đưa vào trong hợp đồng các điều khoản để xác định rõ những hành vi (bất cẩn)

Trang 25

nào dẫn tới mất xe thì sẽ không được bồi thường và sẽ thực thi những điều khoản đó Tuy nhiên, việc quan sát hành vi là rất tốn kém, nếu không muốn nói là không khả thi Do vậy, khi một khách hàng đến đòi đền bù thì công ty bảo hiểm thường không có cách nào để xác định được là khách đó có thực hiện đúng các điều khoản hợp đồng hay không

1.3 Phát tín hiệu

Trong thị trường xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng, không phải lúc nào bên có nhiều thông tin cũng là bên có lợi thế Chẳng hạn trong thị trường xe máy Trung Quốc, những người sản xuất xe máy tốt thực sự là bên

có nhiều thông tin hơn về chất lượng sản phẩm của mình nhưng họ vẫn không thể bán được hàng do phía người mua không có thông tin đầy đủ về chất lượng sản phẩm Trong những trường hợp thế này, người nắm giữ những thông tin riêng biệt cần chủ động thực hiện những hoạt động làm cho đối tác trong giao dịch biết được thông tin về mình Người bán xe chất lượng

tốt sẽ có động cơ khuyến khích để phát ra tín hiệu nhằm mục đích làm cho

người mua biết được mình bán xe tốt và sẵn lòng trả giá cao cho xe tốt này Một tín hiệu mà người bán xe có thể phát đi để người mua xe nhận biết được, đó chính là điều khoản bảo hành

Nếu người bán muốn thực hiện một hành vi nào đó để phát tín hiệu thì

sẽ phải tốn chi phí Điểm then chốt là chi phí phát tín hiệu của người bán sản phẩm chất lượng xấu luôn luôn cao hơn chi phí phát tín hiệu của người bán sản phẩm chất lượng cao Do vậy, người bán sản phẩm tồi sẽ không có động

cơ tìm cách phát tín hiệu và nói dối Ví dụ, việc cung cấp chế độ bảo hành đối với người bán xe chất lượng kém sẽ đòi hỏi nhiều chi phí hơn người bán

xe hơi tốt Khi đó, bảo hành xe đã trở thành một tín hiệu hết sức hiệu quả

Trang 26

Trong thị trường tín dụng, nếu một cá nhân trước đó đã tốn nhiều công sức để thiết lập thành tích tín dụng tốt, lời tuyên bố của anh ta rằng anh

ta có ý định hoàn trả món nợ sẽ đáng tin hơn Thành tích tín dụng của anh ta khi đó sẽ đóng vai trò như một tín hiệu

2 Thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính

Như đã trình bày ở phần lý luận chung về thị trường tài chính, một trong những vấn đề cố hữu của thị trường tài chính chính là chi phí giao dịch Sự tồn tại của chi phí giao dịch trong thị trường tài chính phần nào lý giải được tại sao các trung gian tài chính và tài chính gián tiếp lại đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính như vậy Một lý do khác nữa đó là trong thị trường tài chính, một bên thường không biết đủ thông tin về bên kia để đưa ra các quyết định đúng đắn Ví dụ một người đi vay thường có nhiều thông tin về nguồn thu nhập tiềm năng trong tương lai cũng như những rủi ro liên quan với dự án đầu tư của họ hơn là người cho vay Tình trạng thông tin bất cân xứng này trong thị trường tài chính cũng dẫn tới 2 vấn đề trong hệ thống tài chính vào 2 thời điểm: trước và sau giao dịch

2.1 Lựa chọn ngược

Lựa chọn ngược là vấn đề gây ra bởi tình trạng thông tin bất cân xứng

trước khi giao dịch được tiến hành Lựa chọn ngược trong thị trường tài

chính xảy ra khi hầu hết những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra kết quả đầu tư tồi nhất - rủi ro tín dụng cao - lại là những người có khả năng sẽ vay được nợ nhất

Để hiểu được tại sao lại xảy ra tình huống lựa chọn ngược, hãy giả thiết là bạn có 2 người bạn mà bạn có thể cho vay tiền là A và B A là kiểu người cẩn thận, truyền thống, chỉ đi vay khi anh ta có một kế hoạch đầu tư chắc chắn mang lại lợi nhuận Còn B thì ngược lại, anh ta là một kẻ ưa liều

Trang 27

lĩnh B chỉ vừa mới nghĩ tới một kế hoạch làm giàu nhanh chóng mà sẽ biến anh ta thành một triệu phú chỉ trong một đêm nếu anh ta có thể kiếm được số đầu tư ban đầu là 1000$ Tuy nhiên, không may là những dự án làm giàu nhanh kiểu như thế này lại thường đi liền với độ rủi ro rất cao: có nhiều khả năng là khoản đầu tư của B sẽ không mang lại kết quả và anh ta sẽ mất trắng 1000$

Vậy thì ai có nhiều khả năng sẽ tìm đến bạn để hỏi vay hơn? A hay B? Tất nhiên người đó sẽ là B, bởi vì anh ta sẽ kiếm được bộn tiền nếu khoản đầu tư đó thành công Tuy nhiên bạn có thể sẽ không thích cho B vay vì có nhiều khả năng B sẽ thất bại và không thể trả lại cho bạn món tiền 1000$ Nếu bạn biết cả A và B rất rõ, có nghĩa là thông tin hoàn toàn cân xứng, thì bạn sẽ không gặp vấn đề gì trong việc cho vay, bởi vì bạn biết rõ rằng B là một rủi ro tín dụng lớn và bạn sẽ không cho B vay Giả thiết là bạn không biết rõ về cả 2 thì có khả năng là bạn sẽ cho B vay bởi vì B sẽ luôn tìm mọi cách để vay được 1000$ Khi đó bạn đã tự đặt mình vào tình huống rủi ro cao Nhưng nếu giả thiết bạn hiểu rõ tình trạng thông tin bất cân xứng của mình và quyết định không cho ai vay để đảm bảo an toàn vốn, thì lại gây ra một tình trạng lãng phí nguồn lực bởi những người như A - có thành tích tín dụng tốt hoặc có tiềm năng trả nợ cao - lại không thể tìm được một nguồn vốn đầu tư cho dự án khả thi của mình

Tương tự như ví dụ về thị trường bảo hiểm đã xem xét ở trước, nếu càng tăng phí bảo hiểm thì càng làm cho những người có rủi ro cao mua và đẩy những người rủi ro thấp ra, từ đó lại làm tăng chi phí bồi thường bảo hiểm Trong thị trường tín dụng, lãi suất mà ngân hàng quy định các đối tượng vay phải trả sẽ ảnh hưởng tới sự chọn lựa những ai nộp hồ sơ xin vay vốn Lãi suất càng cao thì chỉ có những ai có dự án đầu tư rủi ro cao mới sẵn sàng vay Như

Trang 28

vậy, tăng lãi suất có thể dẫn tới sự gia tăng các dự án đầu tư rủi ro và gia tăng

nợ khó đòi cho ngân hàng Vấn đề cốt lõi dẫn tới tình trạng này là ngân hàng không thể phân biệt được những người vay vốn xem ai là người đầu tư an tòan

và ai là người đầu tư rủi ro

2.2 Rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là vấn đề gây nên bởi tình trạng thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch xảy ra Rủi ro đạo đức chính là nguy cơ (rủi ro) người đi vay sẽ tham gia vào những hoạt động không mong muốn (phi đạo đức) - xét trên quan điểm của người cho vay vì anh ta tin rằng những hoạt động như thế này sẽ làm giảm khả năng thanh toán nợ của người đi vay Và vì vấn đề rủi ro đạo đức khiến cho khả năng thu hồi nợ giảm đi nên những người cho vay sẽ không tiếp tục cho vay nợ nữa

Hãy xem xét một ví dụ về rủi ro đạo đức Giả sử bạn cho một người chú C vay 1000$ C cần khoản tiền này để mua một chiếc máy soạn thảo văn bản để anh ta có thể mở cửa hàng đánh máy thuê cho đối tượng là sinh viên viết khóa luận Tuy nhiên, sau khi bạn cho C vay nợ, C có vẻ như không muốn đầu tư vào cửa hàng đánh máy nữa mà thay vào đó, anh ta bắt đầu đi

cá cược ở trường đua ngựa Nếu anh ta cá cược 1 ăn 20 và thắng bằng số tiền cho vay của bạn, thì anh ta sẽ có khả năng hoàn trả số nợ cho bạn và ngoài ra còn có thể bỏ túi số tiền khá lớn là 19000$ Nhưng nếu anh ta thua - mà điều này rất dễ xảy ra - thì bạn sẽ mất trắng 1000$, nhưng những gì anh ta mất chỉ là uy tín của một người chú đáng tin trong gia đình mà thôi Vì thế anh ta

sẽ có động cơ đi tới cá cược ở trường đua ngựa bởi phần anh ta thu về nếu cá cược đúng (19000$) lớn hơn rất nhiều so với những gì anh ta mất (uy tín) Nếu bạn biết rõ C định làm gì, thì hiển nhiên bạn sẽ ngăn cản anh ta đến trường đua ngựa, và anh ta sẽ không thể làm tăng rủi ro đạo đức Tuy nhiên,

Trang 29

để nắm rõ thông tin về mọi hoạt động của người đi vay là rất khó, thậm chí không thể, có nghĩa là thông tin là bất cân xứng, nên có nhiều khả năng là C

sẽ tham gia cá cược và bạn có thể sẽ không thu hồi được số tiền cho vay của mình Rủi ro đạo đức khiến bạn không muốn cho vay dù bạn biết rõ nếu C dùng tiền để đầu tư thì bạn sẽ thu hồi được nợ

Trong các hợp đồng tài chính, tâm lý ỷ lại hay rủi ro đạo đức là một vấn đề cố hữu Các công ty hoạt động nhờ vào vốn vay mượn, nhưng trong trường hợp phá sản thì chỉ có trách nhiệm hữu hạn (đối với các công ty TNHH) Vì vậy, công ty sẽ tham gia vào những dự án rủi ro hơn mức mong muốn của ngân hàng Điều này đặc biệt đúng với các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản Lý do là nếu dự án thành công (cho dù với cơ hội rất thấp), thì doanh nghiệp sẽ thoát khỏi tình trạng khó khăn, còn nếu không thành công thì cũng không sao bởi đằng nào công ty cũng phá sản Ví dụ sau đây minh họa cho tình huống này

ABC Co là một công ty hiện đang vay nợ ngân hàng Giá trị tài sản (theo thị trường) của công ty là 100 triệu $ và giá trị cổ phần (cũng theo thị trường) là 50 triệu$ Hiện ABC Co có một cơ hội đầu tư với chi phí đầu tư

là 10 triệu $ Sau một năm dự án kết thúc, có 2 khả năng xảy ra: hoặc dự án tạo ra nguồn thu ròng (sau khi trừ đi chi phí) 96 triệu$ (với xác suất 10%) hoặc tạo ra nguồn thu ròng bằng 0 (với xác suất 90%) Giả sử tỷ lệ chiết khấu hợp lý (sau khi đã hiệu chỉnh rủi ro) áp dụng cho dự án là 20% Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư là:

NPV= -10 + (10%*96 + 90%*0)/(1 + 20%) = -2 (triệu $)

Việc thực hiện dự án sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp và do vậy ABC Co

sẽ không thực hiện dự án

Trang 30

Một năm sau, tình hình kinh doanh và tài chính của ABC Co trở nên xấu đi Vào lúc này, giá trị tài sản chỉ còn 40 triệu $ (trong đó có 10 triệu $ tiền mặt) Nghiêm trọng hơn, chỉ còn đúng một năm nữa là ABC phải hoàn trả ngân hàng một khoản nợ là 50 triệu $ Giả sử rằng cơ hội đầu tư vào dự

án trên vẫn còn với các chi tiết kỹ thuật và tài chính không thay đổi

Lúc này, nếu không thực hiện dự án, ABC Co có thể sẽ phải tuyên bố phá sản và/hay phát mãi toàn bộ tài sản để thanh toán cho khoản nợ ngân hàng Còn nếu thực hiện dự án và tình huống tốt xảy ra, công ty sẽ được 96 triệu $, thừa đủ để trang trải khoản nợ 50 triệu $ Mặt khác, nếu thực hiện dự

án và tình huống xấu xảy ra thì công ty phá sản, cũng như trường hợp không thực hiện dự án

Vậy ABC Co sẽ thực hiện dự án cho dù NPV có âm Lý do căn bản là

dự án có độ rủi ro rất cao và lợi nhuận trong trường hợp tốt đủ lớn để đưa công ty thoát khỏi khó khăn tài chính Ngân hàng chủ nợ của doanh nghiệp

rõ ràng sẽ chịu thiệt khi công ty thực hiện dự án rủi ro cao vì giá trị kỳ vọng của khoản nợ mà công ty trả cho ngân hàng giảm đi (Nhớ rằng việc thực hiện dự án hút đi mất 10 triệu $ từ giá trị tài sản của doanh nghiệp và giá trị hiện tại kỳ vọng của dự án chỉ là 8 triệu)

Chính vì thế mà ta thường thấy những hoạt động không thể thiếu của ngân hàng là thẩm định tín dụng, đánh giá tài sản thế chấp, theo dõi hoạt động của đối tượng cho vay nợ và đôi khi còn thiết kế hợp đồng tín dụng sao cho có thể rút vốn ngay lập tức khi thấy không yên tâm về khả năng chi trả của người cho vay Những cơ chế này chính là để đề phòng tâm lý ỷ lại của những người vay vốn

Những vấn đề gây nên bởi tình trạng Lựa chọn ngược và Rủi ro đạo đức là những trở lực lớn khiến thị trường tài chính hoạt động kém hiệu quả

Trang 31

Trong nhiều trường hợp, tình trạng thông tin bất cân xứng có thể khiến thị trường hoàn toàn sụp đổ

3 Tác động của tình trạng thông tin bất cân xứng tới tính hiệu quả của thị trường

Tình trạng thông tin bất cân xứng khiến các thị trường hoạt động kém hiệu quả Chẳng hạn trong thị trường hàng hóa, người bán hàng tốt không còn động cơ để sản xuất và bán những hàng chất lượng cao, trong khi thị trường chỉ còn lại những người bán hàng kém chất lượng Nếu người mua vẫn quyết định mua hàng, thì anh ta phải trả số tiền lớn hơn giá trị thực của hàng hóa, chỉ làm lợi cho một số cá nhân nhưng lại gây hao phí cho toàn xã hội Nếu nghiêm trọng hơn, anh ta nhận thức được vấn đề này và quyết định không tiến hành giao dịch thì thị trường lúc đó sẽ sụp đổ Trong thị trường tài chính, vấn đề thông tin bất cân xứng gây ra tình trạng lãng phí các nguồn lực xã hội vào các dự án tồi trong khi nhiều dự án tốt lại không có đủ vốn để thực hiện, gây lãng phí lớn Vấn đề thông tin bất cân xứng nếu không được hạn chế sẽ có thể khiến thị trường hoạt động lệch lạc và sụp đổ

Nhìn chung, thông tin bất cân xứng khiến các nguồn lực của xã hội được phân bổ không hiệu quả, gây lãng chí chung cho toàn xã hội, và đe dọa

sự tồn tại của một số thị trường, kìm hãm sự phát triển chung của nền kinh

tế

4 Những biện pháp chung hạn chế trở ngại thông tin bất cân xứng

4.1 Sàng lọc

Quay trở lại ví dụ về lựa chọn ngược trong ngành bảo hiểm Một cách

để khắc phục tình trạng này là công ty bảo hiểm thiết kế hợp đồng bảo hiểm sao cho có thể tách biệt 2 loại khách hàng: nhóm rủi ro mất xe cao và nhóm

Trang 32

rủi ro mất xe thấp Hợp đồng bảo hiểm gồm 2 lựa chọn, bất cứ khách hàng nào cũng có thể lựa chọn một trong hai Lựa chọn thứ nhất: bảo hiểm toàn

bộ giá trị của chiếc xe Lựa chọn thứ hai: chỉ bảo hiểm một phần với một mức phí thấp hơn mức phí trong lựa chọn thứ nhất Mẹo ở đây là xác định mức phí bảo hiểm và tỷ lệ giá trị xe được bảo hiểm sao cho nhóm rủi ro cao luôn thấy có lợi nhất khi chọn hợp đồng thứ nhất, còn nhóm rủi ro thấp chỉ chọn hợp đồng thứ 2 Trước hết, chi phí bảo hiểm trong hợp đồng thứ nhất được định ở mức cạnh tranh sao cho đủ bù đắp chi phí kỳ vọng phải bồi thường đối với nhóm rủi ro cao cộng với chi phí quản lý Đối với hợp đồng thứ hai, ta chọn một mức phí thấp hơn phù hợp với mức rủi ro thấp hơn (ví

dụ bằng một nửa phí bảo hiểm trong hợp đồng thứ nhất), nhưng khách hàng trong hợp đồng này chỉ được bảo hiểm một phần giá trị tài sản (ví dụ bảo hiểm 40% giá trị) Những người có rủi ro mất xe thấp thấy rằng chẳng tội gì chọn hợp đồng thứ nhất vì mức phí quá cao (cho dù có được bảo hiểm toàn

bộ giá trị xe) Còn những người có độ rủi ro cao lại thấy rằng hợp đồng thứ nhất là tốt hơn cả Đối với họ, đúng là có thể được lợi từ mức phí thấp ở hợp đồng thứ hai, nhưng vì chỉ được bảo hiểm một phần trong khi rủi ro mất xe cao nên việc mua hợp đồng thứ hai không còn hấp dẫn Cần nhớ rằng mặc

dù tách biệt được hai loại khách hàng, nhưng nhóm có rủi ro thấp không

được hưởng bảo hiểm toàn bộ giá trị Đó chính là chi phí của thông tin bất

cân xứng

4.2 Phát tín hiệu

Michael Spence chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu (signaling): bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy Ví dụ trong thị trường hàng hóa, để phát tín hiệu về chất lượng hàng hóa tới người tiêu dùng, người bán có thể đưa ra các điều

Trang 33

khoản bảo hành thời hạn dài nhằm chứng tỏ chất lượng cao của sản phẩm Trong thị trường tín dụng, những người đi vay vốn thường phải tích lũy thành tích tín dụng tốt, chứng minh tính khả thi của dự án và tiềm năng trả

nợ của mình, để ngân hàng có thể đánh giá được rủi ro tín dụng và quyết định cho vay Spence lấy ví dụ bằng thị trường lao động Người bán trên thị trường lao động là những ứng cử viên đi xin việc và người mua là nhà tuyển dụng Nhà tuyển dụng không thể trực tiếp quan sát các khả năng của ứng cử viên mà chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua bằng cấp của họ Nếu những người kém năng lực phải mất nhiều thời gian và nỗ lực hơn những người có năng lực để đạt được cùng trình độ học vấn thì những người có năng lực có thể phát tín hiệu bằng cách đạt được những bằng cấp mà người kém năng lực không thể đạt được Hay một ví dụ khác, việc triển khai các chương trình quảng cáo đắt tiền, việc duy trì chế độ bảo hành cho sản phẩm, việc chia cổ tức cho cổ đông đó đều là những cách phát tín hiệu trên thương trường.6

4.3 Giám sát trực tiếp

Giám sát trực tiếp là cơ chế trong đó một bên trong giao dịch bỏ ra nguồn lực để đạt được việc kiểm soát thông tin đối với bên kia Việc giám sát này có thể bao gồm gia tăng nguồn lực dành cho việc kiểm soát và kiểm chứng Trong thị trường tài chính, giải pháp này gắn với các yêu cầu về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty do các công ty kiểm toán độc lập tiến hành trước khi được phép công bố Trong hoạt động tín dụng ngân hàng của nhiều quốc gia, báo cáo tài chính được kiểm toán trở thành một điều kiện quan trọng để ngân hàng đánh giá rủi ro tín dụng, thẩm định dự án

và quyết định cho vay Người chủ công ty cử một nhân viên giám sát nhằm kiểm tra, theo dõi hành vi của các nhân viên của mình, và đưa ra các quyết

6

Th.S.Nguyễn Thúy Anh, khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngoại Thương, Thông tin

Trang 34

định tăng lương, thưởng dựa trên kết quả đánh giá của giám sát viên này Những người gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng cần có những yêu cầu cụ thể đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng, và yêu cầu công bố thông tin liên quan nhằm giám sát hoạt động sử dụng vốn huy động của ngân hàng, đảm bảo an toàn vốn Các tổ chức đầu tư mạo hiểm khi quyết định đầu tư vào các

dự án kinh doanh mới thường trực tiếp cử một người của quỹ tham gia vào quá trình tạo lập công ty nhằm hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng, đảm bảo hiệu quả sử dụng đồng vốn của họ

4.4 Giám sát gián tiếp thông qua các động cơ khuyến khích:

Giám sát gián tiếp thông qua các động cơ khuyến khích là việc một bên trong giao dịch thiết kế hợp đồng sao cho bên kia cảm thấy không có động cơ để thực hiện những hành vi đi ngược lại lợi ích của anh ta, và khiến bên kia cảm thấy rằng việc tuân thủ các điều khoản sẽ có lợi cho mình Trong hợp đồng có thể thiết kế các điều khoản hạn chế để ngăn cản bên kia tham gia vào các hoạt động có độ rủi ro cao, hạn chế vấn đề rủi ro đạo đức Quay trở lại ví dụ bạn cho người chú C vay 1000$ để đầu tư vào cửa hàng đánh máy thuê cho sinh viên viết khóa luận Nếu bạn biết rõ rằng người chú của mình sử dụng nguồn tiền vay đúng mục đích thì bạn sẽ yên tâm cho vay, bởi khả năng thu hồi vốn là chắc chắn Tuy nhiên, vì có khả năng cao là chú

C sẽ dùng khoản tiền đó để đi cá cược ở trường đua ngựa, nên bạn phải ngăn chặn tình trạng này bằng cách quy định rõ trong hợp đồng rằng khoản tiền

đó chỉ được sử dụng để mua máy soạn thảo văn bản Trong các hợp đồng vay nợ nói chung, để kiểm soát tình trạng rủi ro đạo đức, bên cho vay cần đưa vào những điều khoản hạn chế để loại trừ những hành vi không mong muốn, đồng thời khuyến khích những hành vi tích cực Có bốn loại điều khoản hạn chế thường gặp: Điều khoản ngăn cản hành vi không mong muốn,

Trang 35

Điều khoản khuyến khích hành vi mong muốn, Điều khoản đảm bảo giá trị vật thế chấp, Điều khoản cung cấp thông tin Những điều khoản này sẽ được nói kỹ hơn trong chương III

Trang 36

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ

TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán (thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu) và thị trường tín dụng ngân hàng, giữ một vai trò đặc biệt trong việc phân bổ hữu hiệu các nguồn vốn trong nền kinh tế Có được thị trường tài chính phát triển lành mạnh là một nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Với công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trong bối cảnh đó, thị trường tài chính cũng đã được hình thành và cải cách theo các nguyên tắc thị trường, góp phần phân bổ các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả hơn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đồng nghĩa với việc mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với nền kinh tế đất nước nói chung và thị trường tài chính nói riêng

Trong những năm qua, cùng với quá trình cải cách kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định Trước hết, các thị trường cấu thành cơ bản của thị trường tài chính đã được hình thành và từng bước hoàn thiện Nhiều loại hình định chế trung gian tài chính được thành

Trang 37

lập Đặc biệt, thị trường chứng khoán đã được thiết lập và có những đóng góp ban đầu trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế

Thứ hai, trong hơn 5 năm lại đây, hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ thống và những sai lệch trong chính sách tín dụng Chương trình cơ cấu lại tập trung vào việc lành mạnh hoá và tăng cường năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước Hoạt động tín dụng đã được đổi mới theo hướng các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định cho vay, lựa chọn khách hàng và biện pháp đảm bảo tiền vay trên nguyên tắc thương mại, đảm bảo an toàn và hiệu quả

Thứ ba, các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc

tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát đã và đang từng bước được thể chế hoá và ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế Các thể chế về quản trị doanh nghiệp (kể cả ngân hàng) cũng được hoàn thiện một bước, nhất là đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, khung pháp luật của thị trường tài chính đang ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế Chính sách tín dụng ngày càng đối xử bình đẳng hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài Các định chế tài chính nước ngoài ngày càng được phép mở rộng phạm vi, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình

Tuy đạt được không ít thành tựu, song thị trường tài chính Việt Nam vẫn được xem là còn kém phát triển Độ sâu tài chính đo bằng tỷ lệ của tổng phương tiện thanh toán (M2)/GDP và tổng tín dụng trong nước/GDP đã tăng đáng kể, đều từ dưới 20% năm 1990 tương ứng lên 50,5% và 35,1% năm

2000 và 79,0% và 70,2% năm 2005 Song những chỉ số này chỉ tương đương

Trang 38

với chỉ số của các nước trong khu vực vào những năm cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 19907

Thị trường chứng khoán, tuy có những bước phát triển nhanh trong năm 2006, song vẫn còn nhỏ bé Tổng vốn hoá thị trường của 54 công ty niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm 16/11/2006 đạt 58.562 tỷ đồng, tương đương 3,64 tỷ USD hay gần 7% GDP năm 2005; nếu tính cả chứng chỉ quỹ, tổng vốn hoá thị trường đạt 60.522,7 tỷ đồng, tương đương 3,77 tỷ USD hay 7,2% GDP năm 2005 Cùng thời điểm, tổng giá trị trái phiếu niêm yết cũng chỉ đạt khoảng 6,9% GDP năm 2005, trong đó hầu hết thuộc trái phiếu Chính phủ và chính quyền địa phương (chiếm khoảng 97%)8 Có rất ít trái phiếu công ty được phát hành Thị trường chứng khoán cho đến nay vẫn chưa là “hàn thử biểu” của nền kinh tế và kênh huy động vốn quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam

Mẫu hình thị trường tài chính Việt Nam cơ bản là dựa vào ngân hàng hay do ngân hàng chi phối (bank-based or bank dominated financial market), trong khi thị trường tín dụng lại chứa đựng không ít vấn đề như:

(1) Mức độ tích tụ và phân khúc thị trường còn cao Các Ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước hiện chiếm gần 80% thị phần huy động tiền gửi và tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng Nhóm khách hàng truyền thống của các NHTM Nhà nước là các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) Các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu tập trung vào đối tượng các

7

TS Võ Trí Thành, Trưởng ban NCCS hội nhập - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW,

tham luận Thị trường tài chính Việt Nam: Thực trạng và tác động của việc Việt Nam gia

nhập WTO

8Nghiên cứu trao đổi, Bức tranh toàn cảnh về thị trường chứng khoán, (08/01/2007

16:18), http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=39818

Trang 39

doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhóm khách hàng của các ngân hàng liên doanh

và chi nhánh ngân hàng nước ngoài là khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Tín dụng theo ngành cũng phản ánh sự phân khúc thị trường tín dụng, nhất là đối với các NHTM Nhà nước, mặc dù với mức độ đang giảm

(2) Rủi ro tín dụng, nhất là vấn đề nợ xấu vẫn còn hiện hữu Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ của hệ thống NHTM được công bố đã giảm từ 13% năm 2000 xuống còn 3,4% năm 20059 Tuy nhiên, nếu dựa trên cách phân loại quốc tế về nợ, thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM có thể lớn gấp nhiều lần con số công bố Hơn nữa, nguy cơ tiếp tục phát sinh nợ quá hạn là khá cao do nhiều dự án đầu tư chưa được kiểm định chặt chẽ về tính hiệu quả và khả thi, trong khi quá trình cải cách các DNNN lớn mới chỉ thực sự được triển khai từ năm 2005

(3) Vấn đề “sai lệch kép” cũng đáng lo ngại Với tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm khoảng 75%, nguy cơ sai lệch về cơ cấu thời hạn trong bảng cân đối tài sản của hệ thống NHTM là tương đối lớn Nguy cơ này có thể tăng trong bối cảnh các NHTM có thể sử dụng tới 25-30% tổng huy động vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Sai lệch về cơ cấu đồng tiền tuy có giảm trong hai ba năm lại đây, song mức

độ vẫn còn khá lớn và lại rất nhạy cảm với biến động tỷ giá, lãi suất, nhất là trong môi trường đô la hóa cao

(4) Rủi ro tín dụng có thể tăng còn do thu nhập của các NHTM chủ yếu dựa trên nguồn thu từ chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay, mặc dù nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng đã có bước phát triển trong 3-4 năm lại đây Phần lớn các khoản vay lại được thế chấp bằng bất động sản,

9T.S Phan Minh Ngọc, ĐH Kyushu Nhật Bản, Nợ xấu chưa được xử lý từ gốc? Thời báo

Trang 40

trong khi thị trường bất động sản biến động mạnh Các khoản vay được thế chấp chứng khoán tuy có tỷ trọng chưa lớn song cũng đáng lo ngại khi năng lực của các nhà đầu tư cá nhân còn thấp và thị trường chứng khoán (TTCK) vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến động lớn về giá cả

Trong khi đó, năng lực giám sát, quản trị ngân hàng còn nhiều hạn chế Công tác giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu Quá trình giám sát từ xa còn bất cập trong việc tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin, đặc biệt trong bối cảnh các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán chưa được áp dụng thật rộng rãi, nhất quán Công tác giám sát tín dụng cũng chưa bao quát hết toàn bộ các định chế tài chính có liên quan đến hoạt động tín dụng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và do mô hình quản lý hệ thống tài chính hiện tại về thực chất là quản lý theo định chế tài chính Các quy định quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản lý rủi ro, quản trị tài sản

có, tài sản nợ, kiểm toán nội bộ,…mới được áp dụng, nên chưa thật sự có hiệu lực và hiệu quả Nhìn chung, trình độ quản trị nội tại ngân hàng chưa đáp ứng tốt các chuẩn mực quốc tế như CAMEL và BASEL

Thị trường chứng khoán vẫn còn ít các định chế tài chính quan trọng như các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư tương hỗ Các công ty định mức tín nhiệm tuy

đã xuất hiện nhưng hoạt động chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa được thế giới công nhận Các nhà bảo lãnh phát hành chủ yếu là các NHTM Nhà nước Các công ty chứng khoán chưa đóng vai trò nhà tạo lập thị trường quan trọng trên thị trường, mới chỉ thực hiện bảo lãnh phát hành đối với trái phiếu chính phủ Các nhà đầu tư cá nhân nhìn chung chưa có tính chuyên nghiệp; hành vi đầu tư thường mang tính ngắn hạn, “bầy đàn”, gây biến động mạnh về giá và làm giảm độ tin cậy đối với thị trường, nhất là trong bối cảnh mức độ công khai, minh bạch của thị trường chưa cao

Ngày đăng: 28/05/2014, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w