Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG QUỐC THÁI
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN HOÁ HỌC PHI KIM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG QUỐC THÁI
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN HOÁ HỌC PHI KIM
Chuyên ngành : LL&PPDH bộ môn Hoá học
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Trung Ninh
HÀ NỘI, 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và tất
cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này đều trung thực và chưa đượccông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào của người khác Tôi camkết tuân thủ nguyên tắc đạo đức và quy tắc nghiên cứu khoa học, bao gồm sự trungthực, minh bạch và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ
Hà Nội, tháng 7 năm 2023
Tác giả
Lương Quốc Thái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫncủa tôi - PGS.TS Trần Trung Ninh, người đã luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôitrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Sự hướng dẫn và kiến thứcsâu sắc của thầy đã là nguồn động lực lớn để tôi vượt qua những khó khăn và hoànthiện công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Hóahọc, Bộ môn Phương pháp dạy học hóa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nộicùng các nhà khoa học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Sự hỗ trợ và tạo điều kiện của các cơ quan này đã đóng góp quan trọng vào thànhcông của công trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy/Cô giáo và các em học sinh ở các trườngTrung học phổ thông đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm Sự đồng hành vàcống hiến của các Thầy/Cô và các em đã tạo điều kiện thuận lợi và đáng kể cho việcthu thập dữ liệu và tiến hành các phương pháp đánh giá
Tôi xin trân trọng cảm ơn cơ quan, các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đãđộng viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này Sự đồng hành, sự khích lệ và tìnhcảm của các bạn và gia đình đã trở thành nguồn động lực mạnh mẽ, giúp tôi vượtqua những khó khăn và hoàn thành công việc nghiên cứu này
Tôi biết ơn tất cả những người đã đóng góp và hỗ trợ trong quá trình nghiêncứu này, và tôi hy vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa và mang lạiđóng góp cho cộng đồng khoa học và giáo dục
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2023
Tác giả
Lương Quốc Thái
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Điểm mới của luận án 4
8 Cấu trúc của luận án 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN HÓA HỌC PHI KIM 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT 5
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học chủ đề, dạy học tích hợp, dạy học chủ đề tích hợp hóa học……… 10
1.1.3 Nghiên cứu về dạy học dự án, dạy học WebQuest 13
1.2 Một số lý thuyết nền tảng cho dạy học phát triển năng lực cho học sinh 16
1.2.1 Thuyết nhận thức 16
1.2.2 Thuyết kiến tạo 17
1.2.3 Thuyết vùng phát triển gần của Vygotsky 18
1.2.4 Thuyết kết nối 19
1.2.5 Thuyết đa trí tuệ 20
Trang 61.3 Năng lực, năng lực tự học của học sinh 22
1.3.1 Năng lực 22
1.3.2 Tự học và năng lực tự học 25
1.3.3 Vai trò của tự học 27
1.3.4 Khung năng lực tự học 27
1.3.5 Đánh giá năng lực tự học 29
1.4 Chủ đề, tích hợp, dạy học chủ đề tích hợp hóa học 32
1.4.1 Chủ đề và dạy học theo chủ đề 32
1.4.2 Tích hợp và dạy học tích hợp 34
1.4.3 Dạy học chủ đề tích hợp phần hoá học 39
1.4.4 Tổ chức dạy học chủ đề tích hợp hóa học nhằm phát triển năng lực tự học
cho học sinh 40
1.5 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim 47
1.5.1 Mục tiêu khảo sát 47
1.5.2 Nội dung, phương pháp khảo sát 47
1.5.3 Chọn mẫu địa bàn và đối tượng khảo sát 48
1.5.4 Phương pháp xử lý số liệu và các thang đánh giá 49
1.5.5 Phân tích kết quả khảo sát 49
1.5.6 Đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và những vấn đề cần giải quyết 61
Tiểu kết chương 1 64
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN HÓA HỌC PHI KIM 65
2.1 Phân tích chương trình phần hóa học phi kim THPT 65
2.1.1 Chương trình phần hoá học phi kim THPT 65
2.1.2 Phương pháp dạy học phần hóa học phi kim 69
2.2 Xây dựng khung và công cụ đánh giá năng lực tự học cho học sinh THPT trong dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim 71
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng khung năng lực tự học 71
2.2.2 Quy trình xây dựng khung năng lực tự học 71
Trang 72.2.3 Khung năng lực tự học của học sinh THPT trong dạy học chủ đề tích hợp
phần hóa học phi kim 74
2.2.4 Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tự học cho học sinh THPT trong dạy
học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim 87
2.3 Đề xuất chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim để tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT 99
2.3.1 Nguyên tắc xây dựng chủ đề 99
2.3.2 Quy trình xây dựng chủ đề phần hóa học phi kim 103
2.3.3 Cấu trúc chung của chủ đề 106
2.3.4 Minh họa cách xây dựng một chủ đề phần hóa học phi kim theo quy trình 7
bước.107 2.3.5 Đề xuất chủ đề phần hóa học phi kim nhằm phát triển năng lực tự học cho
học sinh THPT 113
2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim 121
2.4.1 Biện pháp 1: Tổ chức dạy học dự án theo chủ đề phần hóa học phi kim để
phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT 121
2.4.2 Biện pháp 2: Tổ chức dạy học WebQuest theo chủ đề phần hóa học phi kim để phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT 129
2.5 Mối quan hệ giữa việc phát triển năng lực tự học và dạy học chủ đề tích
hợp phần hóa học phi kim trong dạy học dự án và dạy học WebQuest 138
2.5.1 Mối quan hệ giữa năng lực tự học với các phương pháp dạy học dự án, dạy học WebQuest 138
2.5.2 Mối quan hệ giữa dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim với các phương pháp dạy học dự án, WebQuest 139
Tiểu kết chương 2 141
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 142
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 142
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 142
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 142
3.2 Đối tượng, địa bàn và nội dung thực nghiệm sư phạm 142
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 142
Trang 83.2.2 Địa bàn thực nghiệm sư phạm 143
3.2.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 143
3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 144
3.4 Phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm 148
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 148
3.5.1 Kết quả định lượng 148
3.5.2 Kết quả định tính 164
3.5.3 Kết quả thăm dò ý kiến 167
Tiểu kết chương 3 169
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 170
1 Kết luận 170
2 Khuyến nghị 171
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 173
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 174
PHỤ LỤC PL-1
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân chia theo địa bàn khảo sát 48
Bảng 1.2 Nhận thức của GV về vai trò của việc phát triển NLTH cho HS 49
Bảng 1.3 Mức độ rèn luyện NLTH cho HS của GV THPT 51
Bảng 1.4 Mức độ thực hiện các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hóa học
.52Bảng 1.5 So sánh mức độ phù hợp và mức độ thực hiện các phương pháp và hìnhthức tổ chức dạy học hóa học 53
Bảng 1.6 Mức độ thường xuyên sử dụng các công cụ đánh giá HS trong dạy học
hóa học 55
Bảng 1.7 Các nguyên nhân gây khó khăn cho GV trong việc dạy học chủ đề tích
hợp phần hoá học 56
Bảng 1.8 Các KTKN hiện có của HS liên quan đến NLTH 58
Bảng 1.9 Kết quả điều tra HS về việc tự học môn Hoá học 60
Bảng 2.1 Mô hình phong cách học tập 77
Bảng 2.2 Bảng mô tả tiêu chí đánh giá NLTH của HS THPT 80
Bảng 2.3 Ma trận phân loại mục tiêu học tập các chủ đề hóa học 82
Bảng 2.4 Mức độ và quy chiếu điểm số cho các tiêu chí của thành phần NLTH Xác định mục tiêu học tập 82
Bảng 2.5 Mức độ và quy chiếu điểm số cho các tiêu chí của NL thành phần Định hình phong cách học tập 83
Bảng 2.6 Mức độ và quy chiếu điểm số cho các tiêu chí của NL thành phần Lập kế hoạch học tập 84
Bảng 2.7 Mức độ và quy chiếu điểm số cho các tiêu chí của NL thành phần Triển khai tự học 85
Bảng 2.8 Mức độ và quy chiếu điểm số cho các tiêu chí của NL thành phần Đánh
giávà điều chỉnh tự học 87
Bảng 2.9 Minh họa rà soát nội dung kiến thức liên quan chủ đề hóa học“Clo và
nướcsinh hoạt” 107
Bảng 2.10 Minh họa cách thức lên ý tưởng xây dựng chủ đề 108
Trang 11Bảng 2.11 Minh họa các bước tổ chức hoạt động với nội dung chủ đề “Clo và nước
sinh hoạt” 110
Bảng 2.12 Minh họa cách xác định mục tiêu về kiến thức cho dạy học chủ đề “Clo và nước sinh hoạt” 112
Bảng 2.13 Minh họa xây dựng nội dung các hoạt động học tập chủ đề 112
Bảng 2.14 Chương trình hoá học phi kim lớp 10 114
Bảng 2.15 Chương trình hoá học phi kim lớp 11 116
Bảng 2.16 Các chủ đề phần hóa học phi kim đề xuất trong DHTH nhằm phát triển NLTH của HS 118
Bảng 2.17 Minh họa đề cương dự án 121
Bảng 2.18 Mối quan hệ giữa các thành tố của NLTH với tiến trình thực hiện
DHDAvà WebQuest 138
Bảng 3.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm 143
Bảng 3.2 Cách thức xây dựng kế hoạch dạy học TN với các giáo án ĐC 144
Bảng 3.3 Thống kê thông tin thực nghiệm thăm dò 145
Bảng 3.4 Thống kê thông tin thực nghiệm tác động vòng 1 146
Bảng 3.5 Thống kê thông tin thực nghiệm tác động vòng 2 147
Bảng 3.6 Đánh giá kết quả t-test 148
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng xác định mục tiêu học tập của
HSở vòng 1 149
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng định hình phong cách học tập
củaHS ở vòng 1 150
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng lập kế hoạch tự học của HS ở vòng 1 150
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng triển khai tự học của HS ở vòng 1 151
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng đánh giá và điều chỉnh tự học của HS ở vòng 1 152
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về NLTH của HS ở vòng 1 153
Trang 12Bảng 3.13 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng xác định mục tiêu học tập của
HS ở vòng 2 155 Bảng 3.14 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng định hình phong cách học tập
của HS ở vòng 2 156 Bảng 3.15 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng lập kế hoạch tự học của HS ở
vòng 2 156 Bảng 3 16 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng triển khai tự học của HS ở vòng 2 157
Bảng 3.17 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về khả năng đánh giá và điều chỉnh tự học của
HSở vòng 2 158 Bảng 3.18 Kết quả đánh giá sự tiến bộ về NLTH của HS ở vòng 2 158 Bảng 3.19 Phân phối tần suất điểm các bài kiểm tra ở chủ đề “Clo và nước sinh hoạt”Bảng 3.20 Phân phối tần điểm các bài kiểm tra ở chủ đề “Clo và nước sinh hoạt” 163
Trang 13DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ GV đồng ý về biểu hiện NLTH của HS 50
Biểu đồ 1.2 So sánh mức độ phù hợp và mức độ thực hiện các phương pháp và
hìnhthức tổ chức dạy học hóa học 54
Biểu đồ 1.3 Mức độ thường xuyên sử dụng các công cụ đánh giá HS 56
Biểu đồ 1.4 Nhận thức của HS về vai trò của việc phát triển NLTH 58
Biểu đồ 3.1 So sánh sự tiến bộ về NLTH của HS ở vòng 1 154
Biểu đồ 3.2 So sánh sự tiến bộ về NLTH của HS ở vòng 2 160
Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả xếp loại các bài kiểm tra sau khi TN chủ đề “Clo và nước sinh hoạt” 162
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ GV lựa chọn mức độ phù hợp của biện pháp tổ chức DHDA 167
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ GV lựa chọn mức độ phù hợp của biện pháp tổ chức dạy học WebQuest 167
Sơ đồ 1.1 Các vùng phát triển nhận thức theo thuyết vùng phát triển gần 18
Sơ đồ 1.2 Các mức độ tích hợp 35
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ đặc điểm của DHDA 43
Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ các nội dung trong bài học phần hóa học phi kim 70
Sơ đồ 2.2 Phương thức tích hợp 103
Sơ đồ 2.3 Quy trình xây dựng chủ đề phần hóa học phi kim 104
Sơ đồ 2.4 Minh họa Sơ đồ tư duy kiến thức tích hợp cho chủ đề “Clo và nước
sinh hoạt” 110
Hình 2.1 Sơ đồ WebQuest chủ đề “Ozon và sự sống trên Trái đất” 136
Hình 2.2 Tiến trình thực hiện dạy học WebQuest trên trang Web của chủ đề 136
Hình 3.1 Đường luỹ tích các bài kiểm tra sau khi TN chủ đề “Clo và nước sinh hoạt”
163
Hình 3.2 TN dạy các chủ đề tại các trường THPT 166
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của công nghệ thông tin, truyền thông và nền kinh
tế tri thức với cuộc cách mạng công nghệ 4.0 Trong xu thế rất nhiều ngành nghềthay đổi cách vận hành, người học cần phải thay đổi tư duy và kỹ năng học tập đểthích nghi và hòa nhập Để đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, ngoàiviệc học tập trong nhà trường, người học cần có nhu cầu tự học, tự bồi đắp tri thứcbằng nhiều con đường, cách thức khác nhau Vấn đề tự học, tự đào tạo của ngườihọc đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghịquyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đàotạo [1] đã xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội” Về chương trình giáo dục, Nghị quyết khẳng định: “Triển khai chương trình đổi mới giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển phẩm chất, NL người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao NL ngoại ngữ, tin học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học” Như vậy, tự học, tự đào tạo
ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáo dục trong thời kỳ mới và trở thành nhucầu chiếm lĩnh tri thức của mỗi cá nhân nói riêng Việc tìm ra phương thức tác độngvào quá trình dạy học nhằm trang bị cho người học NLTH và phát triển các kỹ năng
tự học là nhu cầu bức thiết và mang ý nghĩa chiến lược đối với lợi ích lâu dài củangành Giáo dục nói riêng và Quốc gia nói chung
Trong chương trình GDPT 2018 [12] đã đề xuất những năng lực cốt lõi màchương trình cần hình thành và phát triển cho HS, trong đó NL tự chủ và tự học làmột trong ba năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các mônhọc và hoạt động giáo dục Để phát triển NLTH, yêu cầu đặt ra cho việc đổi mớiPPDH là lựa chọn những PPDH phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng sáng tạo của HS, hướng tới việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS đểhình thành NLTH
Trang 15Dạy theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiệnđại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà chủ yếuhướng dẫn người học tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyếtcác nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn
DHTH nhằm hình thành ở HS những NL giải quyết hiệu quả các tình huốngthực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vựckhác nhau Mục tiêu của DHTH là không chỉ truyền đạt kiến thức một cách cơ bản
mà còn khuyến khích HS biết cách áp dụng kiến thức đã học vào các tình huốngthực tế Qua việc tích hợp các nội dung, kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vựckhác nhau, DHTH tạo điều kiện cho HS phát triển những kỹ năng toàn diện và linhhoạt Các em không chỉ nắm vững kiến thức của một môn học đơn lẻ, mà còn biếtcách kết hợp, áp dụng và chuyển đổi kiến thức qua các lĩnh vực khác nhau Điềunày giúp HS trở thành người có khả năng giải quyết các tình huống phức tạp và đadạng, từ đó trở thành một công dân có trách nhiệm và một người lao động có NLtrong cuộc sống và công việc DHTH cũng tạo điều kiện để HS áp dụng kiến thứchọc được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn và bất ngờ Thay vìchỉ học thuộc lòng kiến thức và tái hiện trong bài tập hay bài kiểm tra, HS đượckhuyến khích tìm hiểu và nắm bắt bản chất của kiến thức để áp dụng linh hoạt vàocác tình huống thực tế [26]
Quan điểm của DHTH được vận dụng trong xây dựng chương trình GDPT
2018 với định hướng nghề nghiệp ở cấp THPT Bằng việc tổ chức theo hướng tíchhợp nội dung của hai hay nhiều môn học và tích hợp với các vấn đề của đời sốngtạo thành các chủ đề, DHTH đã tạo cơ hội cho HS nghiên cứu các kiến thức trongmối tương quan, logic với nhau
Thực trạng dạy phần học hóa học phi kim ở các trường THPT hiện nay, việctích hợp các chủ đề hóa học phi kim để thực hiện DHTH đáp ứng phát triển NLTHcủa học sinh ở các trường THPT chưa thực sự được chú trọng và quan tâm đúng
mức
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển NLTH
cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim’’
với mong muốn đóng góp một phần vào việc dạy học hóa học lớp 10, 11 nói riêng,việc đổi mới giáo dục nói chung
Trang 162 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng khung NLTH, công cụ đánh giá NLTH và đề xuất PPDH
để dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim nhằm phát triển NLTH cho HS THPT
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT;
Đối tượng nghiên cứu: NLTH của HS trường THPT và phương pháp DHDA,
PPDH Webquest thông qua dạy học chủ đề phần hoá học phi kim;
Phạm vị nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Phần hóa học phi kim lớp 10, 11;
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2015-2016 đến năm học 2021-2022;
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở 3 miền Bắc, Trung, Nam
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng được các phương pháp DHDA và dạy học WebQuest trongdạy học chủ đề tích hợp phần hoá học phi kim một cách hợp lý, phù hợp với đốitượng thì sẽ phát triển NLTH cho HS THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích các tài liệu về NLTH (NL, NLTH, dạy học phát triển
NL, khung NLTH, công cụ đánh giá NLTH), về DHTH (tích hợp, DHTH, chủ đềhóa học, dạy học chủ đề tích hợp hóa học) và các phương pháp DHDA, dạy họcWebQuest trong việc phát triển NLTH của HS;
- Điều tra làm rõ thực trạng NLTH của HS THPT, các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát triển NLTH, thực trạng dạy học chủ đề tích hợp hóa học và sử dụng cácPPDH hóa học phần phi kim ở trường THPT;
- Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung, đặc điểm chương trình hóa họcTHPT phần hóa học phi kim;
- Xây dựng khung NLTH của HS THPT trong dạy học chủ đề tích hợp hóahọc;
- Thiết kế bộ công cụ đánh giá NLTH của HS THPT trong dạy học chủ đềtích hợp phần hóa học phi kim;
- Đề xuất chủ đề phần hóa học phi kim để tổ chức dạy học nhằm phát triểnNLTH cho HS THPT;
- Đề xuất biện pháp tổ chức DHDA và dạy học WebQuest nhằm phát triển NLTH cho HS THPT, xây dựng các quy trình dạy học cụ thể, thiết kế bài dạy cho
Trang 17từng chủ đề đề xuất;
- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT nhằm khẳng định tính khảthi, hiệu quả của các thiết kế dạy học đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp phântích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, đánh giá, … trong tổng quan các cơ sở
lý luận của đề tài;
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp quansát, điều tra, phỏng vấn, trao đổi ý kiến chuyên gia, ý kiến giáo viên, học sinh, …
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành TNSP dạy học theo DHDA và dạy họcWebQuest nhằm phát triển NLTH cho HS ở một số trường THPT
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê toán học trongnghiên cứu khoa học giáo dục để xử lý số liệu thực nghiệm, …từ đó rút ra kết luậncủa luận án
7 Điểm mới của luận án
- Hoàn thiện và xây dựng cơ sở lý luận về NLTH, dạy học chủ đề tích hợphóa học phi kim để phát triển NLTH cho HS THPT;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng NLTH của HS THPT, các yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển NLTH, thực trạng dạy học chủ đề tích hợp phần hóa họcphi kim và sử dụng các PPDH phần hóa học phi kim ở trường THPT;
- Xây dựng khung NLTH và bộ công cụ đánh giá NLTH của HS THPTtrong dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim;
- Đề xuất và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim vớiphương pháp DHDA và dạy học WebQuest nhằm phát triển NLTH cho HS THPT
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục các công bố, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển NLTH cho HS THPT
thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hóa học phi kim
Chương 2: Biện pháp phát triển NLTH cho HS THPT thông qua dạy học chủ
đề tích hợp phần hóa học phi kim
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN HÓA
HỌC PHI KIM
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
“Tôi muốn dạy cho thanh niên suy nghĩ, chứ không nói bậy” Vì vậy ông đã dạy cho
HS lý trí, sự phán đoán và tinh thần sáng tạo [22]
Trong đầu thế kỷ XIX, nghiên cứu về NLTH đã trở nên phổ biến hơn, với sựtập trung vào mô tả quá trình tự học Nhà giáo dục Nga N.A Rubakin (1862-1946)
đã đề xuất nhiều vấn đề liên quan đến phương pháp tự học trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đặc biệt là tập trung vào việc sử dụng tài liệu [58] Tiếp theo, một nhàgiáo dục Mỹ nổi tiếng là John Dewey [64] đã đưa ra quan điểm về HS tự học TheoDewey, HS tự học là những HS chủ động và tích cực tham gia vào hoạt động họctập, và họ học thông qua quá trình thực hành và thực hành Ý kiến của Dewey đãđánh dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Ông coi trọng vai tròcủa hoạt động và trải nghiệm trong quá trình học tập Thay vì chỉ tập trung vào việctruyền đạt kiến thức, Dewey nhấn mạnh rằng HS cần tham gia vào các hoạt độngthực tế và xây dựng kiến thức thông qua việc thực hành và khám phá Phương pháp
tự học đề cao sự tự động và khám phá của HS Thay vì chỉ đóng vai trò là ngườitruyền đạt kiến thức, GV trở thành người hướng dẫn và tạo điều kiện cho HS tựtìm hiểu và phát
Trang 19“Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” Ông đã trình bày quan niệm rằng giáo dục có thể
được coi là quá trình hướng dẫn tự học, với động lực chính là kích thích người họcsáng tạo để tạo ra giá trị, nhằm đạt đến hạnh phúc cá nhân và xã hội TheoMakiguchi, mục tiêu của giáo dục không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức màcòn là khuyến khích sự phát triển toàn diện của con người Ông coi giáo dục là mộtquá trình liên tục, kéo dài suốt đời, và chủ trương cho việc tự khám phá, tự pháttriển của mỗi cá nhân Ý tưởng của Tsunesaburo Makiguchi đã có sự ảnh hưởng lớntrong lĩnh vực giáo dục Cách tiếp cận mới mẻ này đã thúc đẩy sự phát triển củaphong cách giảng dạy sáng tạo và tạo điều kiện cho HS phát triển tư duy độc lập và
kỹ năng tư duy sáng tạo trong phát triển NLTH [70]
Những năm cuối thế kỷ XX, các nhà giáo dục đã chú trọng nghiên cứu bảnchất của NLTH và đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụngđồng nghĩa với khái niệm tự học (theo thống kê của Candy năm 1987) Một trongnhững nhà nghiên cứu điển hình cho quan điểm này là Linda Leach Bà Leach đãđưa ra quan điểm rằng tự học không đơn thuần chỉ là việc học mà không có sựhướng dẫn từ GV Thay vào đó, GV có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện,cung cấp nguồn tài liệu và hỗ trợ để HS có thể phát triển NLTH một cách hiệu quả.Theo quan điểm của Linda Leach, GV không chỉ là người truyền đạt kiến thức màcòn là người hướng dẫn, truyền cảm hứng và khuyến khích HS khám phá, tìm hiểu
và giải quyết vấn đề theo cách riêng của họ GV có thể sử dụng các phương phápgiảng dạy khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự học, chẳng hạn như ghichú, hướng dẫn, gợi ý và tạo ra môi trường học tập tích cực Theo Linda Leach,NLTH không chỉ liên quan đến việc học một cách đơn lẻ và cá nhân, mà còn baogồm khả năng làm việc nhóm, tư duy phản biện và khả năng thích ứng với môitrường học tập đa dạng Vì vậy, GV cần đảm bảo rằng HS được trang bị các kỹnăng này thông qua việc thiết kế các hoạt động và nhiệm vụ phù hợp [116],Guglielmino [109], Candy [123] Theo Savin, trong cuốn “Giáo dục học tập 1”, tự
học và tự học theo SGK cần được rèn luyện theo bốn bước: (1) Xác định chủ đề,vấn đề cần biết cần tìm hiểu; (2) Đọc chăm chú tài liệu, phân chia thành các phần vàlập dàn ý; (3) Trả lời miệng cho các câu hỏi;
Trang 20(4) Rút ra kết luận về toàn bộ những điều đọc được GV có thể tổ chức việc tự học ởnhà cho HS qua các bài tập về nhà, các phiếu bài tập [69] Trong cuốn “Nền giáo dục cho thế kỉ XXI- Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” (1994), tác giả
đã làm sáng tỏ những vai trò của NLTH trong việc học tập thường xuyên và học tậpsuốt đời Trong đó, ông quan niệm rằng: “Học tập do người học điều khiển” Nhưvậy, tác giả nhấn mạnh hoạt động học, vai trò của người học trong hoạt động dạyhọc [66] Tác giả Taylor, trong công bố số ED395287 của ERIC năm 1995, “Tự học
- Một ý tưởng thích hợp nhất cho HS THPT”, đã đưa ra những biểu hiện của người
có NLTH và xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tínhđộc lập, kỉ luật, biết định hướng mục tiêu và có kỹ năng hoạt động phù hợp [104].Năm 1995, các nhà nghiên cứu Taylor [104], Candy [123] đã tập trung vào việc môphỏng và xác định những dấu hiệu của NLTH được thể hiện ra bên ngoài Nhữngnghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra các hình thức tác động đến người học nhằmgiúp họ tiến bộ thuận lợi trong quá trình tự học Để đạt được mục tiêu này, nhữngnhà nghiên cứu đã quan tâm đến các dấu hiệu hoặc biểu hiện mà HS có thể thể hiệnkhi họ phát triển NLTH Các dấu hiệu này cho phép nhà giáo dục nhận ra sự tiến bộcủa HS và tìm ra cách thức để tác động tích cực vào quá trình học tập của họ Một
số dấu hiệu của NLTH mà nhà nghiên cứu tập trung vào bao gồm khả năng tự chủ,khả năng tổ chức, khả năng quản lý thời gian, khả năng tư duy sáng tạo, khả nănggiải quyết vấn đề, khả năng phân tích và suy luận, sự ham muốn tự học, sự sẵn lòngtìm hiểu và khám phá, sự kiên nhẫn và sự đam mê với học tập Bằng việc nắm bắtnhững dấu hiệu này, nhà giáo dục có thể áp dụng các phương pháp và chiến lượcphù hợp để tác động tích cực lên sự phát triển của NLTH của HS Các phương phápnày có thể bao gồm tạo ra môi trường học tập kích thích, đề xuất bài tập thú vị vàthách thức, cung cấp phản hồi và hướng dẫn cá nhân, khuyến khích HS tham giavào hoạt động tư duy và sáng tạo, và xây dựng sự tự tin và sự đam mê trong học tập
Đến thế kỷ XXI, tự học tiếp tục được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học, với
nhiều biện pháp giúp HS học tập hiệu quả và hình thành NLTH Trong cuốn “Học tập một cách thông minh” (2002) của Michael Shayer và Philip Adey, các tác giả đã
tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS [118] Trên cơ sở đó, để giúp đỡ các em trongquá trình tự học, có thể áp dụng những yếu tố và khía cạnh mà giáo sư RichardSmith tại Đại học Warwick đã đưa ra trong nghiên cứu của mình vào năm 2008.Theo nghiên cứu này, sự tự chủ của người học được coi là yếu tố quan trọngtrong quá trình tự
Trang 21học Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tự chủ của người học: mục tiêu học tập: người học cần xác định rõ mục tiêu học tập của mình, bao gồm những gì họ muốn đạt được và tại sao họ muốn học; nội dung học tập: người học cần có sự hiểu
biết về nội dung học tập và khả năng tự tìm hiểu thông qua tài liệu, sách giáo trình,
tài nguyên trực tuyến và các nguồn thông tin khác; các giai đoạn học tập: quá trình
học tập có thể được chia thành các giai đoạn nhỏ để giúp người học tiếp cận một
cách cụ thể và có kế hoạch hơn; phương pháp và kỹ thuật: người học cần tìm hiểu
và áp dụng những phương pháp và kỹ thuật học tập phù hợp với mục tiêu và nộidung học tập của mình, bao gồm việc sử dụng sổ ghi chú, làm bài tập, thảo luận
nhóm, tự kiểm tra và tái cấu trúc kiến thức; thời gian và địa điểm: người học cần
xác định và quản lý thời gian một cách hợp lý để có thời gian tập trung vào quátrình học tập đồng thời, việc chọn địa điểm học tập thoải mái và không gây xao lạc
cũng là yếu tố quan trọng; qui trình đánh giá: người học cần có khả năng đánh giá
và đo lường sự tiến bộ của mình, từ đó điều chỉnh quá trình học tập và tạo động lực
để tiếp tục tự học [125] Trong tác phẩm “Những phẩm chất của người GV hiệuquả” (2011), James H Trongev đã nhấn mạnh vai trò của GV trong việc tạo ra mộtmôi trường học tập hiệu quả cho HS[46] Trong giai đoạn này, Robert J Marzano,một nhà giáo dục học nổi tiếng người Mỹ, đã đề cập đến việc hình thành NLTH cho
HS thông qua việc đặt câu hỏi lớn trong mỗi chương Các câu hỏi này thường tậptrung vào việc xây dựng thái độ tích cực đối với việc học, áp dụng kiến thức vàkiểm nghiệm các giả thuyết về kiến thức mới, cũng như cách xây dựng bài học mộtcách hiệu quả [65] Vào năm 2018, nhóm tác giả Jame León, Elena Medina-Garrido
và Miriam Ortega đã công bố một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng giảngdạy và NLTH của HS Nhóm tác giả đã chứng minh rằng việc quản lý quá trình họctập và tương tác với HS của GV ảnh hưởng đáng kể đến động lực học tập và sựtham gia của HS Điều này đồng nghĩa với việc GV chịu trách nhiệm không chỉtrong việc truyền đạt kiến thức mà còn trong việc tạo ra một môi trường học tập tíchcực và hỗ trợ HS phát triển NLTH Qua việc quản lý học tập, GV có thể tạo ranhững hoạt động học tập thú vị, tạo động lực và tương tác tốt với HS, từ đó khuyếnkhích sự tham gia và tạo nền tảng cho việc phát triển NLTH của HS [115]
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngườiđầu tiên phát động nghiên cứu và nêu cao tấm gương về tinh thần tự học cũng như
Trang 22[68] nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng học tập đã chia thành 4 nhóm với tên gọi vàtiêu chí có sự khác biệt đó là: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổchức, kỹ năng KTĐG Tác giả Trần Bá Hoành (1996) [38] khi bàn về khái niệm tự
học cũng liệt kê các dấu hiệu của người tự học như: “Người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình; Tự học
là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp” Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (1997)
[83] nêu ra đặc điểm của người tự học là tự động não suy nghĩ, say mê, kiên trì,không ngại khó ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó Nguyễn CảnhToàn cũng chia tự học thành hai mức Đó là tự học có hướng dẫn và tự học hoàntoàn, đồng thời đưa ra các dấu hiệu để phân biệt hai mức này Tuy nhiên, đến năm
2001, tác giả cũng đưa ra lời khuyên là nên học hệ thống với thầy trước sau đó hãy tự
học hoàn toàn [85, 84].Năm 2003, tác giả Trịnh Quốc Lập và cộng sự [117] sau nhiều năm nghiên
cứu về sự phát triển NLTH trong hoàn cảnh Việt Nam đã đi đến kết luận: “NLTH được thể hiện ở phẩm chất của con người (tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình) và hành động cụ thể (độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác)” Tác giả Thái Duy Tuyên (2003) [96] khi tìm hiểu bản chất của tựhọc đã liệt kê các hoạt động cần phải có trong quá trình tự học là quan sát, so sánh,phân tích, tổng hợp, rèn luyện kỹ năng Tác giả cũng lưu ý đến động cơ tình cảmcủa người tự học nhưng mới chỉ dừng lại ở khái niệm hành động chứ chưa phân tích
cụ thể, mô tả hành động tự học diễn ra như thế nào ở một tác phẩm khác (2010)[97] Ngoài ra là các nghiên cứu của Dương Huy Cẩn (2009) với 3 biện pháp tăngcường NLTH cho sinh viên: Dùng tài liệu tự học có hướng dẫn; Rèn kỹ năng dạyhọc bằng PPDH vi mô; tự học bằng bài tự học điện tử [13] Nguyễn Thị Ngà(2010) soạn thảo và thử
Trang 2310 nâng cao nhằm phát triển một số NL cho HS, tác giả Nguyễn Thị Thanh (2016)
tập trung vào phát triển NLTH và NL vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn Tácgiả Cao Cự Giác (2016) có bài báo nghiên cứu thực trạng phát triển NLTH mônHóa học của HS THPT [31] và một số tác giả khác như: Nguyễn Ngọc Duy (2014),
Đỗ Thị Thu Huyền (2016), Lưu Thị Lương Yến, Nguyễn Thị Ngọc Bích (2016)cũng đã nghiên cứu về tự học và bồi dưỡng NLTH cho HS qua sử dụng bài tập và
sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học [28, 45, 101] Năm 2019, tác giả Vương CẩmHương (2019) với đề tài Luận án Tiến sĩ đã nghiên cứu chuyên sâu vấn đề phát triểnNLTH cho HS thông qua dạy học Hóa học hữu cơ trường THPT, trong đó nghiêncứu sử dụng PPDH hợp đồng, thiết kế hoạt động dạy học theo chủ đề, thiết kế và sửdụng khóa học trên moodle để phát triển NLTH của HS [44] Luận án Tiến sĩ củatác giả Đào Việt Hùng (2020) cũng đã nghiên cứu về “Phát triển NLTH và NL vậndụng kiến thức cho sinh viên các trường đại học nông lâm thông qua dạy học phầnhóa học phân tích” [41]
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học chủ đề, dạy học tích hợp, dạy học chủ đề tích hợp hóa học
1.1.2.1 Trên thế giới
UNESCO (Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972)định nghĩa DHTH các khoa học là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lýkhoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấnquá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” Địnhnghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận (approach) các khái niệm và nguyên lý khoa họcchứ không phải là hợp nhất nội dung [35, 36]
DHTH phát triển mạnh mẽ từ thập niên 80 của thế kỷ XX, xuất phát từ mụctiêu đổi mới và cải cách dạy học khoa học ở các nước Những năm 1990, trên thếgiới tiếp tục có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về quan điểm tích hợptrong đó có X.Roegiers (1996), với công trình nghiên cứu “Khoa sư phạm tích hợphay cần làm thế nào để phát triển NL ở các trường học” [99] Trong công trìnhnghiên cứu của mình,
Trang 24Xavier Roegiers đã nhấn mạnh rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tìnhhuống có ý nghĩa đối với HS Mục đích cuối cùng (mục tiêu tích hợp) của quá trìnhhọc tập là nhằm hình thành cho HS những NL thực tiễn - khả năng HS có thể đốiphó với những tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống [30]
Từ năm 2000, lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục, trở thành mộtquan điểm (một trào lưu tư tưởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới Hội thảoquốc tế chào đón thế kỷ XXI “Kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập”được tổ chức tại Manila (Philippines) có sự tham gia của gần 400 nhà giáo dụcthuộc 18 quốc gia trên thế giới Tại hội nghị này, một trong những nội dung chínhđược bàn luận sôi nổi là những con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thứchướng vào người học trong thời đại thông tin
Theo nghiên cứu của B.P Exipop (1997), tổ chức dạy học theo chủ đề cóhiệu quả cao trong việc ôn tập, hệ thống hóa, củng cố và làm sâu sắc kiến thức của
HS, từ đó giúp HS linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống học tập vàtrong cuộc sống [29] Mumford, Diana (2000) cho rằng việc xây dựng chủ đề để tổchức dạy học sẽ giúp HS hình thành kiến thức thông qua giải quyết các đơn vị họctập trong tình huống nhất định [119]
Brown, H.D (2001) cũng nhấn mạnh rằng thiết kế các đơn vị học tập xoayquanh một hoặc một số chủ đề có thể thúc đẩy HS quan tâm và tập trung vào chủ đề
đã được chọn [110] Yang, Chi C.R (2009) cũng chia sẻ quan điểm tương tự, nhấnmạnh rằng khi thiết kế chủ đề để dạy học các đơn vị kiến thức và hoạt động giảngdạy sẽ được tích hợp và tổ chức tốt hơn so với PPDH thông thường [107]
Tác giả Halimah Tussa'diah, Kiki Nurfadillah (2018) đã chỉ ra rằng việc xâydựng chủ đề phát triển ở HS các kỹ năng, thái độ cũng như kinh nghiệm sống cầnthiết GV trong dạy học chủ đề trở thành người điều phối, duy trì thông qua các hoạtđộng học tập [111]
Như vậy, các tác giả đều nhấn mạnh việc tổ chức dạy học theo chủ đề manglại nhiều lợi ích cho HS Nó giúp HS tập trung, quan tâm và áp dụng kiến thức vàothực tế Đồng thời, việc tích hợp các đơn vị kiến thức trong chủ đề giúp HS thấymối liên hệ giữa các khía cạnh và ứng dụng kiến thức một cách tổng thể Ngoài ra,việc GV đóng vai trò điều phối và duy trì các hoạt động học tập cũng đảm bảo sựtiến bộ và sự phát triển toàn diện của HS
Trang 251.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, DHTH được ứng dụng trong xây dựng chương trình ở tiểu họctrong môn Khoa học, môn Tự nhiên- xã hội; ở THCS trong môn Khoa học tự nhiên,
ở THPT trong dạy học chủ đề hoá học, chủ đề giáo dục STEM
Tác giả Nguyễn Xuân Trường (2005) cho rằng, việc DHTH ở các trường phổthông không chỉ liên quan tới việc thiết kế nội dung chương trình mà còn đòi hỏi sựthay đổi đồng bộ về cách tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy và học, thayđổi việc KTĐG [93] Từ đó, chương trình tích hợp sẽ được phát triển dựa theochuẩn đầu ra, chứ không phải dựa trên nội dung đòi hỏi người dạy cần phải tậptrung suy nghĩ nhiều hơn về vận dụng kiến thức được học để giải quyết các vấn đềđặt ra trong thực tiễn hơn là thuần truyền thụ kiến thức [79]
Công trình nghiên cứu ‘‘Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015”, tác giả Cao Thị Thặng (2008)
[73] đã tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về xu thế tích hợp trong trongchương trình giáo dục một số nước trên thế giới Phân tích thực trạng việc vận dụngquan điểm dạy và học tích hợp trong chương trình giáo dục Việt Nam Đề xuất giảipháp vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp vào việc phát triển chương trình trườngphổ thông Việt Nam trong tương lai
Một số tác giả (Nguyễn Lăng Bình (2010), Đỗ Hương Trà (2011)) cho rằng:các phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại cũng được đưa ra, với mục đích giúp
HS có nhiều lựa chọn những con đường khác nhau để chiếm lĩnh tri thức, tạo cơ hộicho HS phát triển khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn, thông qua đó
HS đạt hiệu quả học tập cao hơn [6, 88] Tại hội thảo “Dạy tích hợp - dạy học phân hóa trong chương trình GDPT sau năm 2015” do Bộ GD&ĐT tổ chức ở thành phố
Hồ Chí Minh ngày 27/11/2012 [20], nhiều tác giả đưa ra mô hình DHTH và phânhóa cho GDPT nước nhà dựa trên kinh nghiệm một số nước như Mỹ, Pháp, Úc và
đề xuất xu hướng tích hợp trong chương trình Bậc THPT, ngoài các môn bắt buộc
sẽ có các môn tự chọn, nhiều nhà nghiên cứu đề xuất cần chú trọng đến việc tíchhợp trong nhiều môn học và giảm các môn học bắt buộc, tăng môn học tự chọn[73]
Tác giả Lê Thị Thùy Linh (2015) với công trình nghiên cứu: “Vận dụng dạy học theo chủ đề vào dạy học các môn khoa học tự nhiên ở THCS” đã xây dựng được
bộ câu hỏi định hướng tuy nhiên chưa vận dụng được nhiều phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực vào việc tổ chức dạy học theo chủ đề [53]
Trang 26Trong cuốn sách “DHTH Hóa học - Vật lí - Sinh học” [61], tác giả TrầnTrung Ninh (2018) đã đề cập đến công tác đào tạo GV DHTH, đặc biệt quan tâmđến NL của giảng viên ĐHSP trong đào tạo GV DHTH
Nghiên cứu về dạy học chủ đề tích hợp đã được đề cập nhiều trong nhữngnăm gần đây Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào DHTH liênmôn Công trình nghiên cứu của Cao Thị Thặng và đồng nghiệp (2010) đã chỉ rarằng việc áp dụng DHTH liên môn có thể sử dụng phương pháp DHDA (DHDA) đểphát triển NL của người học, kết nối lý thuyết với thực tế, giảm bớt kiến thức hànlâm và gắn kết các môn học để tránh sự trùng lặp kiến thức [74] Chu Văn Tiềm(2019) đã tiến hành xây dựng và tổ chức dạy học một số chủ đề tích hợp liên môntrong chương trình môn Hoá học ở trường trung học cơ sở [82] Vũ Phương Liên(2020) cũng đã thực hiện việc xây dựng và tổ chức dạy học một số chủ đề tích hợpliên môn khoa học tự nhiên nhằm phát triển NL hợp tác và giải quyết vấn đề cho HS[52] Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác cũng đã đề cập đến phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp Từ các nghiên cứu này, chúng ta
có thể thấy rằng dạy học chủ đề tích hợp có tiềm năng phát triển NL của HS và tạo
ra một môi trường học tập tích cực và sáng tạo Việc kết hợp các môn học và ápdụng PPDH đa dạng giúp HS thấy mối liên hệ giữa các kiến thức và phát triển các
kỹ năng học tập và vấn đề giải quyết
1.1.3 Nghiên cứu về dạy học dự án, dạy học WebQuest
1.1.3.1 Trên thế giới
Về DHDA, cuối thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII khái niệm dạy học theo dự
án đã dần được hình thành và phát triển tại Ý, khởi đầu từ học viện nghệ thuật - TheAccademia di San Luca Rome J.Dewey nhà triết học và tâm lý học, đóng vai tròquan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phương pháp dự án của các nhà
sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX John Dewey được công nhận là một trong những người
đề xướng đầu tiên của giáo dục dựa trên dự án hoặc ít nhất là các nguyên tắc của nóthông qua ý tưởng “vừa học vừa làm” của ông [106] Năm 1987, Dewey đã đưaquan điểm rằng: GV ở trong trường bên cạnh việc chỉ ra một số ý tưởng hoặc hìnhthành thói quen nhất định ở HS, còn với tư cách là một thành viên của cộng đồng đểlựa chọn những ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng đến HS và để hỗ trợ HS đáp ứng nhữngđiều này một cách thích hợp [114] James G Greeno cũng liên kết việc học tập dựatrên dự án với quan điểm “học tập có định vị” của Jean Piaget và các lý thuyết kiếntạo [120] Những phát triển tiếp theo về DHDA như một phương pháp sư phạmsau đó
Trang 27đã rút ra từ các lý thuyết dựa trên kinh nghiệm và nhận thức về giáo dục do các nhà
lý thuyết như Jan Comenius, Johann Heinrich Pestalozzi và Maria Montessori, cùngnhững người khác đề xuất [105]
Về dạy học WebQuest, kể từ khi khái niệm về WebQuest theo định hướngtruy vấn lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1995, chiến lược giáo dục này đã trởthành trọng tâm của các hội thảo phát triển chuyên môn và đào tạo GV như một ví
dụ về sự tích hợp hiệu quả công nghệ thông tin trong giáo dục WebQuest được
Bernie Dodge (1995) giới thiệu là “một hoạt động học tập định hướng trong đó một
số hoặc tất cả thông tin người học sẽ tương tác từ các tài nguyên trên Internet ”
[112] Tiếp theo những nghiên cứu này, một số tác giả khác (Bellofatto, Bohl,Casey, Krill, & Dodge (2001); Maddux và Cummings (2007)) đã thừa nhận sự kếtnối giữa WebQuest với lý thuyết học tập và phát triển, tuy nhiên cũng đề cập đến sựphù hợp về độ tuổi của người học [112] Murray, Richard R (2006) nghiên cứukiểm tra tác động của WebQuest đối với việc sử dụng các kỹ năng tư duy cấp caohơn của HS như mô tả của Benjamin Bloom Nghiên cứu xem xét vai trò của GV,
HS và thiết kết WebQuest khi HS phát triển các kỹ năng tư duy để hoàn thành cáchoạt động WebQuest [124] Năm 2009, Drew Polly và Leigh Ausband đã mô tảmức độ xuất hiện của các kỹ năng tư duy bậc cao (HOTS) và mức độ triển khaicông nghệ (LoTI) trong các WebQuest mà 32 GV tham gia dự án đã thiết kế.WebQuest đã cung cấp cho GV cơ hội tích hợp công nghệ vào việc giảng dạy của
họ Tuy nhiên, hầu hết các nhiệm vụ trong WebQuest đều bao gồm các kỹ năng tưduy thấp hơn và cấp độ thấp hơn trên thang điểm LoTI Các tác giả cũng thảo luận
về các tác động và cách thức hỗ trợ GV tích hợp công nghệ [108]
1.1.3.2 Ở Việt Nam
Về DHDA, đối với cấp phổ thông, cùng với việc thực hiện các dự án phát triểngiáo dục, dự án giáo dục môi trường, dạy học theo dự án đã bước đầu được tiếp cận
ở một số môn học thông qua các chương trình bồi dưỡng giáo viên Trong thập kỷ(2000-2009), bắt đầu xuất hiện nhiều nghiên cứu về DHDA, với đối tượng nghiêncứu là sinh viên, HS THPT, nội dung nghiên cứu ở nhiều môn học khác nhau Cácnghiên cứu lý luận về DHDA được một số tác giả đề cập như Việc nghiên cứu lýluận về DHDA đã được một số tác giả đề cập đến trong một số bài báo, sách như làNguyễn Văn Cường (1997) [15], Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) [16], Nguyễn VănKhôi, Nguyễn Thị Diệu Thảo (2006) [50], Đỗ Hương Trà (2007) [87], Trần ViệtCường
Trang 28(2008) [17], Nguyễn Lăng Bình (2010), Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, CaoThị Thặng [6] Từ năm 2011 đến nay, có thêm nhiều nghiên cứu về DHDA trongmôn hóa học Có thể kể đến một số bài báo và đề tài tiến sĩ như: Trịnh Văn Biều,
Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương (2011) với bài báo “Dạy học theo
dự án - Từ lý luận đến thực tiễn”, Tạp chí khoa học số 28, trang 3-12 [5]; Phạm
Hồng Bắc (2013) với đề tài Tiến sĩ “Vận dụng PPDH theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim chương trình hóa học THPT” [18]; Vũ Thị Yến (2016) với đề tài
Tiến sĩ “Vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học môn hóa học phân tích định lượng tại trường Đại học Sư phạm” [102 ]; Vũ Thị Thanh Thủy (2020) “Vận dụng dạy học theo dự án đề tài phát triển NL nghiên cứu khoa học cho HS THPT trong dạy HS thái học” [81 ]; Nguyễn Mậu Đức (2020) với bài báo “Sử dụng PPDH theo
dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm trong dạy học chủ đề tích hợp Phân bón hóa học - Bạn của nhà nông” [24]
Về dạy học WebQuest, năm 2013, các tác giả Thái Hoài Minh, Nguyễn Thị
Kim Thoa trong bài báo “Vận dụng WebQuest trong dạy học nội dung Axit Sunfuric (Chương trình hóa học 10 nâng cao)” đã tiến hành thực nghiệm và kết luận rằng
dạy học WebQuest tạo điều kiện cho HS chủ động học tập, rèn luyện và phát triển
kỹ năng mềm, trong đó có kỹ năng khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tư liệu[78] Năm 2019, tác giả Vũ Thị Thu Hoài, Dương Nữ Khánh Lê, Nguyễn Minh
Ngọc đăng bài báo “Sử dụng Webquest trong DHDA “Nghiên cứu sự có mặt của clo trong nước sinh hoạt” (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới
tự nhiên cho HS” trên Tạp chí Giáo dục (số 457, tr53-59) Bài báo trình bày việcvận dụng WebQuest vào dạy học theo dự án, khẳng định được ảnh hưởng củaWebQuest đến năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên của HS [34] Một PPDH được đềcập đến là triển khai hình thức tự học theo Website Tác giả Đào Việt Hùng và
Đặng Xuân Thu (2019) trong bài “Thiết kế website tuhochoaphantich.com và triển khai hình thức tự học cho sinh viên trường đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên” đã đưa đến một khái niệm “tự học qua truyền thông”, trong đó hướng tới
việc người học không trực tiếp học với thầy mà chủ yếu nghe giảng qua phương tiệntruyền thông, học từ xa hoặc học qua công cụ hỗ trợ của công nghệ thông tin nhưtrang web, giáo trình điện tử, (tr.603-609) [51]
Tóm lại, từ tổng quan trên, có thể thấy rõ các công trình nghiên cứu đã đi vàogiải quyết các vấn đề cơ bản trong phát triển NL HS thông qua DHTH theo nhiềuhướng tiếp cận khác nhau, với nhiều nội dung dạy học khác nhau Song cho đếnnay, chưa có
Trang 29“Phát triển NLTH cho HS THPT thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hoá học phi kim” theo chương trình GDPT 2006 và chương trình GDPT 2018 Với xu thế tất
yếu của hội nhập và vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong hội nhập, với
đặc thù của sự tương tác cá nhân hóa trong cuộc cách mạng 4.0, nghiên cứu Phát triển NLTH cho HS THPT thông qua dạy học chủ đề tích hợp phần hoá học phi kim
là nội dung cấp thiết để có thể nhanh chóng ứng dụng trong thực tiễn cho các nhàtrường THPT hiện nay
1.2 Một số lý thuyết nền tảng cho dạy học phát triển năng lực cho học sinh
1.2.1 Thuyết nhận thức
Thuyết nhận thức ra đời vào những năm 1920 và phát triển mạnh trong nửasau của thế kỉ XX Nhà tâm lý học người Thuỵ Sĩ Jeans Piaget là một trong nhữngđại diện lớn của thuyết này Thuyết nhận thức nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúcnhận thức đối với sự học tập Thuyết nhận thức thừa nhận tính khách quan của trithức, nhưng cũng nhấn mạnh vai trò của chủ thể nhận thức [4]
Thuyết nhận thức không chỉ quan tâm đến kết quả học tập mà còn quan tâmđặc biệt đến quá trình học tập và quá trình tư duy của HS Theo Bernd Meier vàNguyễn Văn Cường [4], việc học tập theo thuyết nhận thức có một số đặc điểmchính:
- “Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giới thực tiễn (thế giới khách quan);
- Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, tạo ra cơ hội hành động và tư duy tích cực;
- Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tư duy;
- Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của người học, bao gồm tất cả các cách thức và tư duy mà người học sử dụng để tổ chức và thực hiện quá trình học tập của mình một cách hiệu quả nhất;
- Việc học tập thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăng cường những khả năng về mặt xã hội;
Trang 301.2.2 Thuyết kiến tạo
Thuyết kiến tạo do học giả tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ Jean Piaget(1896-1980) khởi xướng, sau đó được các nhà tâm lý học L.Vygotsky (1896-1934),D.Ausube (1918-2008), J Bruner (1915-2016)… kế thừa và phát triển, hình thànhcác trường phái khác nhau như: Thuyết kiến tạo cấp tiến; Thuyết kiến tạo mang tính
xã hội; Thuyết kiến tạo xử lý thông tin; Quan điểm nhận thức văn hóa xã hội, Mặc
dù vậy, những lý luận trên đây đều có chung nội hàm: tri thức là sản phẩm của hoạtđộng tạo ra bởi chủ thể thông qua trải nghiệm cá nhân - người học kết nối thông tinmới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa với cá nhân đó [90]
Một số tác giả theo thuyết kiến tạo cho rằng: “Học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho bản thân bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng các tác giả đều cho rằng dạy học phải là khuyến khích nguời học tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên những kinh nghiệm của bản thân và vận dụng vào môi truờng học tập, nghĩa là nhấn mạnh đến vai trò chủ động, sáng tạo của nguời học chứ không phải tiếp nhận từ môi truờng một cách thụ động Việc học của mỗi cá nhân
là trung tâm của tiến trình dạy học, kiến thức đuợc xây dựng và ứng dụng thống nhất với các TN mang tính cá nhân, phù hợp trong tổng thể đã có” [44]
Khái niệm học theo thuyết kiến tạo đã từ bỏ niềm tin vào một khả năng điềukhiển được các quá trình học từ bên ngoài Thuyết kiến tạo dành cho cá nhân ngườihọc một vị trí trung tâm trong khuôn khổ các quá trình học Theo đó, việc học diễn
ra qua những quá trình kiến tạo chủ động của cá nhân Điều cơ bản đối với việc họctập theo thuyết kiến tạo là tính độc lập của người học (học tự điều chỉnh trongnhóm) Nhiều quan niệm dạy học mới đã bắt nguồn từ thuyết kiến tạo như: học tập
tự điều
Trang 3118
chỉnh, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sai lầm [4] Lý thuyết này phùhợp với việc dạy học phát triển NLTH của HS, tương ứng với một số PPDH như:DHDA, dạy học hợp tác theo nhóm, dạy học thông qua tình huống,
1.2.3 Thuyết vùng phát triển gần của Vygotsky
Lev Semyonovich Vygotsky là một nhà tâm lý học Liên Xô, người sáng lậpmột lý thuyết về phát triển văn hóa và sinh học-xã hội của con người Công trìnhnghiên cứu về lý thuyết giáo dục của Vygotsky (1934) trở thành nền tảng cho nhiềunghiên cứu về sự phát triển nhận thức Các lý thuyết của nhấn mạnh vai trò nền tảngcủa sự tương tác xã hội trong sự phát triển nhận thức Vygotsky đưa ra khái niệm
“người hiểu biết hơn - MKO”, hàm nghĩa một cá nhân có nhiều kiến thức hay kinhnghiệm hơn, có thể là một thầy giáo, một người lớn tuổi hơn, một người bạn đồnglứa hoặc một người bạn hơn tuổi của HS Khái niệm MKO hoàn toàn liên quan đếnnguyên lý thứ hai quan trọng của Vygotsky: Vùng phát triển gần (ZPD) [126]
Theo Vygotsky, vùng phát triển gần (ZPD) là một khái niệm quan trọng về
sự khác biệt giữa những gì một học sinh có thể đạt được một cách độc lập và những
gì một HS có thể đạt được dưới sự hướng dẫn và khuyến khích từ MKO
Trong lý thuyết vùng phát triển gần
và giàn giáo (ZPD and scaffolding),
Vygotsky (1978) đưa ra các vùng phát triển
nhận thức, biểu thị theo sơ đồ bên:
Theo sơ đồ này, Vygotsky chia vùng
nhận thức thành các vùng [128]:
- Vùng 1: Điều tôi có thể học một
mình - Vùng phát triển hiện tại: Là vùng thể
Sơ đồ 1.1 Các vùng phát triển nhận thức theo thuyết vùng phát triển gần
hiện các chức năng tâm lý đã đạt đến độ chín muồi, tức là HS đã tự thực hiện đượcnhiệm vụ, tự giải quyết vấn đề mà không cần sự hỗ trợ của GV Nói cách khác, đó
là mức phát triển mà HS có thể tiếp thu, HS có thể tự mình giải quyết các vấn đề(xác định bởi khả năng tự học một mình)
- Vùng 2: Điều tôi có thể học với sự trợ giúp (ZPD) - Vùng phát triển gần:
Là vùng cần đưa ra chỉ dẫn hoặc hướng dẫn nhạy cảm nhất - cho phép HS phát triểncác kỹ năng mà chúng sẽ tự sử dụng - phát triển các chức năng nhận thức cao hơn[2] Ở mức độ này, HS chưa tự mình thực hiện được nhiệm vụ mà chỉ thực hiệnđược khi có sự hợp tác, giúp đỡ của người khác và sau đó HS sẽ tự mình thực hiệnđược
Trang 32những nhiệm vụ tương ứng (xác định bởi khả năng tự học khi có sự giúp đỡ, hướngdẫn của người lớn hoặc những người có NL hơn (MKO)).
- Vùng 3: Ngoài tầm với của tôi - Vùng phát triển xa: Là vùng mà HSkhông thể thực hiện được nhiệm vụ cho dù có sự hỗ trợ của người lớn (kiến thứcquá khó, yêu cầu nhiệm vụ quá cao đối với HS)
Như vậy, theo Vygotsky, trong suốt quá trình học tập, tâm lý của HS diễn ratheo cách chuyển đổi qua hai mức độ nhận thức được gọi là: vùng phát triển hiện tại(Điều tôi có thể học một mình) và vùng phát triển gần nhất (Điều tôi có thể học với
sự trợ giúp) Lý thuyết “ZPD and scaffolding” của Vygotsky là nền tảng cho nhữngPPDH có thể giúp HS học được nhiều thông tin nhanh hơn so với hướng dẫn truyềnthống “Scaffolding” - “Giàn giáo” giống như một giàn giáo trong xây dựng, nhữngngười hướng dẫn, GV đóng vai trò nâng đỡ và giúp HS mở rộng ranh giới học tập
và học hỏi nhiều hơn bằng cách tự mình làm dưới sự trợ giúp của công nghệ, cáccông cụ và MKO
1.2.4 Thuyết kết nối
Stephen Downes và George Siemens đã đưa ra quan điểm của thuyết kết nối,coi lý thuyết kết nối là một lý thuyết học tập trong thời đại kỹ thuật số phát triểnmạnh mẽ, trong đó, việc học tập xảy ra thông qua các kết nối trong mạng, với mộtmạng lưới với các nút và các kết nối giúp cho quá trình học tập Lý thuyết kết nối là
sự tích hợp các nguồn thông tin, có thể cập nhật, bổ sung liên tục [54] Siemens
(2005) đưa ra 8 nguyên tắc cốt lõi của lý thuyết kết nối như sau: “(1) Học tập và kiến thức dựa trên sự đa dạng của các ý kiến; (2) Học tập là một quá trình kết nối các nguồn thông tin; (3) Việc học có thể nằm trong các thiết bị ngoại vi; (4) NL hiểu biết quan trọng hơn những gì để biết; (5) Nuôi dưỡng và duy trì các kết nối là việc cần thiết để tạo ra điều kiện học tập liên tục; (6) Khả năng thấy được sự kết nối giữa các lĩnh vực, ý tưởng và khái niệm là một kỹ năng cốt lõi; (7) Chuẩn xác, cập nhật kiến thức là mục đích của hoạt động học tập theo lý thuyết kết nối; (8) Việc ra quyết định chính là quá trình học tập Chọn lọc những thông tin có được phù hợp với thực tế Kiến thức chuẩn của ngày hôm nay cũng có thể bị sai ở tương lai bởi những thông tin mới được bổ sung” [54]
Với xu hướng bùng nổ tri thức hiện nay, việc học tập sẽ phải diễn ra suốt đời.Với các nền tảng công nghệ di động và không dây, con người có thể truy cập vàokho tri thức khổng lồ của nhân loại bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào Việc học tập diễn ramột
Trang 33cách tự nhiên, không ngừng [42] Lý thuyết học tập kết nối phản ánh một xu thế họctập trong môi trường hiện đại của thời kỳ công nghệ, xã hội hóa, bùng nổ tri thức,
sự đa dạng của các hình thức học tập, của các nhóm người học, người dạy Theo đó,học tập là sự kết nối các nguồn tri thức trên mạng (xã hội, công nghệ); học tập làquá trình định hướng kết nối thay vì định hướng nội dung
Trên cơ sở lí luận này, một số PPDH được ưu tiên sử dụng như: dạy họcWebQuets, dạy học theo Website, dạy học trên nền tảng các phần mềm kết nối trựctuyến, dạy học thông qua bài giảng E-learning…
1.2.5 Thuyết đa trí tuệ
Thuyết đa trí tuệ là một học thuyết nổi tiếng của Gardner, hướng đến việcdạy học dựa trên trí thông minh nổi trội của mỗi HS Vẫn cùng một nội dung họctập song HS được tiếp cận bằng phương pháp phát huy tối đa trí thông minh nổi trộicủa mình thì sẽ lĩnh hội được nhiều kiến thức nhất Theo đó, mỗi người đều có năngkhiếu trong tất cả 8 dạng trí tuệ [40] Tuy nhiên, 8 dạng trí tuệ này được hoạt độngvới mức độ cao thấp khác nhau trong trí tuệ mỗi chúng ta, cụ thể:
o Trí thông minh ngôn ngữ
- Khả năng đọc, nói, viết, học ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệuquả để đạt được mục tiêu Trí thông minh này có thể thể hiện bằng khả năng hùngbiện hoặc qua thi ca, hoặc có thể dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin
- Lĩnh vực chuyên môn điển hình: nhà thơ, nhà văn, nhà báo, sư phạm, luật
sư, truyền thông…
o Trí thông minh logic - toán học
- Là trí thông minh đối với những con số và sự logic, có óc sáng tạo, ưathích các quan điểm dựa trên lí trí
- Khả năng phân tích các vấn đề một cách logic, khoa học; khả năng pháthiện, suy diễn ra các trình tự, lý do và tư duy logic tốt, cách tư duy theo dạngnguyên nhân – kết quả
- Năng khiếu về Logic - toán học thường bộc lộ qua khả năng tư duy xử línhững bài toán, những phương trình thường gặp trong các bài trắc nghiệm
- Lĩnh vực điển hình: nhà khoa học, toán học, khoa học-công nghệ, nghiêncứu lí luận…
o Trí thông minh về âm nhạc
- Khả năng biểu diễn, sáng tác và cảm nhận âm nhạc
Trang 34- Khả năng nghe tốt nghe được nhiều thể loại âm nhạc, hát theo giai điệu tốt, thường dành thời gian cho âm nhạc, tìm kiếm thông tin qua tiếng động, âm thanh.
o Trí thông minh về không gian
- Khả năng tư duy bằng hình ảnh, cảm nhận, tái tạo nhận thức bằng trực quan
- Phác họa những ý tưởng của họ dưới dạng hình ảnh, đồ hoạ
- Lĩnh vực điển hình: hội họa, điêu khắc, nhà thám hiểm, kiến trúc sư…
o Trí thông minh về giao tiếp xã hội
- Khả năng giao tiếp bằng lời và không bằng lời một cách hiệu quả, khả năng cảm nhận người khác tốt
- NL hiểu và hợp tác làm việc với người khác rất tốt, dễ cảm nhận và chia
sẻ với tâm trạng, tính cách và mong muốn của những người khác
- Có sức lôi cuốn với mọi người xung quanh
- Lĩnh vực điển hình: báo chí, quảng cáo, ngoại giao, môi giới, tư vấn tâm lý…
o Trí thông minh nội tâm
- Thấu hiểu và nhìn rõ được những cảm xúc của chính bản thân mình
- Họ có thể là người rất hay tự xem xét nội tâm và thích được trầm tư suy nghĩ, tự định hướng cho cuộc đời mình
- Tự lập, thường thích làm việc một mình
- Lĩnh vực điển hình: nhà triết học, nghệ sĩ sáng tạo, nhà nghiên cứu…
o Trí thông minh về tự nhiên
- Khả năng nhận thức, phân loại và rút ra được những đặc điểm của môi trường, nhạy cảm với các hiện tượng tự nhiên xung quanh
- Thích nuôi trồng, khám phá thiên nhiên, cắm trại, làm vườn, leo núi, khámphá thế giới và hứng thú với mọi chủ đề liên quan đến môi trường
- Lĩnh vực điển hình: nông nghiệp, môi trường, sinh học…
Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào trong quá trình tự học [25], nhiều nước trên thếgiới đã sử dụng rộng rãi các mô hình phong cách học tập của HS: Mô hình phong
Trang 35cách học tập của Kolb (1976); Mô hình của Honey - Mumford (1982) và mô hình VARK/VARK (1987) Mô hình VARK/VARK phân chia 4 loại, cụ thể là:
Người học kiểu nhìn: Người học kiểu nhìn học tốt nhất thông qua quan
sát Biểu diễn sơ đồ, biểu đồ, minh họa, tờ rơi, áp phích, đoạn phim, là nhữngcông cụ hỗ trợ đắc lực cho kiểu học này
Người học kiểu nghe: Người học kiểu nghe học tốt nhất bằng việc nghe
thông tin Họ có xu hướng nắm bắt tốt các thông tin từ các bài thuyết trình và cókhả năng ghi nhớ rất tốt các thông tin được nghe
Người học đọc-viết: Người học kiểu đọc-viết học tốt nhất bằng cách đọc
các thông tin trong tài liệu Họ có xu hướng tiếp nhận thông tin tốt nhất từ bài đọc
cá nhân, xem trình diễn thông tin và có khả năng ghi nhớ rất tốt những thông tinđược đọc, viết
Người học kiểu vận động: Người học kiểu vận động học tốt nhất bằng
việc sờ mó, đụng chạm vào đối tượng học tập và thực hành Trải nghiệm thực hành
là điều quan trọng đối với người học kiểu này
Cách tiếp cận này được đánh giá là khá phù hợp và có cơ sở khoa học đểthực hiện Song thực tế không phải HS nào cũng có thế mạnh ở một vài kiểu tríthông minh do sự phân hóa không rõ ràng Với trường hợp này, GV cần đưa ranhững PPDH để tạo điều kiện cho HS có cơ hội để phân hóa Ngoài ra nếu như GVchỉ tập trung vào những kiểu trí thông minh nổi trội thì các trí thông minh khác sẽ bịhạn chế và tụt hậu không? Câu trả lời là không bởi trong một lớp sẽ có nhiều kiểutrí thông minh nổi trội nên HS vẫn có cơ hội cải thiện các loại trí thông minh củamình thông qua việc tương tác với các bạn trong lớp
1.3 Năng lực, năng lực tự học của học sinh
1.3.1 Năng lực
1.3.1.1 Khái niệm
Trên thế giới, khái niệm NL hiểu theo nhiều góc độ và tầng bậc khác nhau.Điều này tùy thuộc nền tảng giáo dục, văn hóa, ngôn ngữ của từng quốc gia cụ thể.Định nghĩa về NL, có thể phân chia ba xu hướng như sau: (1) Xu hướng lấy dấuhiệu tố chất tâm lý để định nghĩa; (2) Xu hướng dựa vào thành phần cấu trúc củaNL; (3) Xu hướng dựa vào nguồn gốc của quá trình hình thành và phát triển NL
Theo xu hướng lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa, các tác giả đã tiếpcận từ góc độ tâm lý học Có thể kể đến Rudich P.A [67]; Vũ Dũng [27]; TrầnTrọng
Trang 36Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn [80] Đại diện xu hướng này, theo Trần Trọng Thuỷ và
Nguyễn Quang Uẩn: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”.
Theo xu hướng dựa vào thành phần cấu trúc của NL để định nghĩa, theoX.Roegiers [99]: “NL là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề cho những tình huống đó đặt ra”.
Theo xu hướng dựa vào nguồn gốc của quá trình hình thành và phát triển NL,một số định nghĩa được đưa ra Trong hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của
OECD (2010), F.E Weinert cho rằng “NL được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” Cũng tại diễn đàn này, J.Coolahan định nghĩa
“NL là những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục.”
[121] Ở Việt Nam, các tác giả Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh HuyHoá [19]; Nguyễn Thị Côi [14]; Nguyễn Công Khanh [91]; cho rằng NL được hìnhthành từ các hoạt động và thông qua hoạt động thì mới được hình thành và phát
triển: “NL là khả năng làm chủ những hệ thống KTKN, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống ” [91].
Theo Chương trình GDPT 2018: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các KTKN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [11], [10]
Từ những định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy, dù tiếp cận theo xu hướngnào, NL vẫn mang một số yếu tố cơ bản, cụ thể là:
(1) NL là một thuộc tính cá nhân, được phát triển do những yếu tố tác động của giáo dục và môi trường sống;
(2) NL thể hiện khả năng tổng hợp những KTKN, thái độ và vận hành chúngmột cách hợp lý để thực hiện thành công một nhiệm vụ nhất định;
(3) NL mang tính định hướng, được bộc lộ qua hành động và đảm bảo hành động có hiệu quả
Trang 37Trong luận án này, sử dụng khái niệm: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các KTKN và thái độ và vận hành chúng hiệu quả để thực hiện thành công một loại hoạt động nào đó trong một bối cảnh nhất định.”
1.3.1.2 Cấu trúc năng lực
Xét đến cấu trúc NL, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đưa ra cấutrúc NLkhác nhau
Tác giả T Lobanova và Yu Shunin (2008) cho rằng NL mỗi cá thể được cấu
thành từ 7 thành tố: “(1) Động cơ học tập (2) Kiến thức; (3) Kỹ năng nhận thức; (4)
Kỹ năng thực hiện và kinh nghiệm sống của người học; (5) Thái độ; (6) Xúc cảm; (7) Giá trị và đạo đức Theo nhóm tác giả, 7 thành tố này được đặt trong bối cảnh
cụ thể hoặc tình huống thực tiễn [ 127 ] Cùng các tiếp cận này, tác giả Lương Việt Thái cũng cho rằng năng lực được cấu thành từ 3 bộ phận cơ bản: (1) Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó; (2) KN tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với (trong) quan hệ nào đó; (3) Những điều kiện tâm lý để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng đó” [72]
Tác giả Trần Chí Độ xét cấu trúc NL dựa trên NL thực hiện hoạt độngchuyên môn Theo tác giả, cấu trúc NL được coi là tích hợp dựa trên bốn loại NLsau: (1) NL cá nhân; (2) NL chuyên môn/kỹ thuật; (3) NL phương pháp luận; (4)
NL xã hội [23].Các nhà nghiên cứu về giáo dục cho rằng dạy học định hướng phát triển NLngười học là cách thức tích tụ dần dần các thành tố NL người học để chuyển hóa,hình thành NL chuyên môn và phát triển nhân cách (tr.562) [51] Trên quan điểm
đó, chương trình GDPT 2018 có 3 nhóm NL chung và 3 NL đặc thù cần hình thành
Trang 381.3.2 Tự học và năng lực tự học
Theo Thái Duy Tuyên: “tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, của người học” [97] Theo Từ điển Giáo dục học: “tự học là quá trình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở đào tạo”
[33] Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các NL trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động
cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình” [85]
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất rằng NLTH không chỉ dừng ở mức
độ chủ động thu nhận kiến thức, có thái độ và kỹ năng phù hợp mà còn nhấn mạnh
vào khả năng vận dụng thực tế NLTH là những khả năng và kỹ xảo học được của
cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định.
Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra khái niệm về NLTH: “NLTH được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kỹ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” Như vậy, theo tác giả, NLTH bao hàm cả cách học,
kỹ năng học và nội dung học: “NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau”[ 86 ].
Trong nghiên cứu này, luận án cũng phân tích NLTH dựa trên định nghĩa này
và định nghĩa NLTH như sau: NLTH được hiểu là sự tích hợp khả năng thực hiện các hoạt động tự học (lập được kế hoạch tự học một cách khoa học, thực hiện có hiệu quả kế hoạch tự học đã lập, tự đánh giá kết quả đạt được và điều chỉnh quá trình tự học có sự hỗ trợ của GV) nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập xác định.
1.3.2.2 Cấu trúc của năng lực tự học
Theo Philip C Candy, NLTH bao gồm nhóm thái độ và nhóm phương pháp
Trang 39học tập Tác giả đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH, trong đó có 9 biểu hiệncủa nhóm thái độ và 3 biểu hiện của nhóm phương pháp học tập [123]:
(1) “Nhóm thái độ: Có tính kỉ luật; Có tư duy phân tích; Có khả năng tự điều chỉnh; Ham hiểu biết; Linh hoạt; Có khả năng giao tiếp xã hội; Có khả năng sáng tạo; Tự tin/tích cực; Có kỹ năng tự học.
(2) Nhóm phương pháp tự học: Có kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin; Có kiến thức để thực hiện các hoạt động học tập; Có năng lực đánh giá, kỹ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề”.
Theo Taylor, đối với HS THPT, NLTH được biểu hiện ra bên ngoài bao gồm
16 thành tố và xếp thành ba nhóm: (1) Thái độ bao gồm 4 biểu hiện; (2) Tính cáchbao gồm 9 biểu hiện; (3) Kỹ năng bao gồm 3 biểu hiện, cụ thể là [104]:
(1) “Thái độ: Chịu trách nhiệm với việc học tập của bản thân; Dám đối mặt với những thách thức; Mong muốn được thay đổi; Mong muốn được học
(2) Tính cách: Có động cơ học tập; Chủ động thể hiện kết quả học tập; Độc lập; Có tính kỉ luật; Tự tin; Hoạt động có mục đích; Thích học; Tò mò ở mức độ cao; Kiên nhẫn;
(3) Kỹ năng: Có kỹ năng thực hiện các hoạt động học tập; Có kỹ năng quản
lý thời gian học tập; Lập kế hoạch”.
Với các biểu hiện của NLTH nêu trên, có thể phân nhóm các biểu hiện theonăng lực thực hiện như: đánh giá điều kiện bản thân, xác định mục tiêu, lập kếhoạch, có các kỹ năng thực hiện kế hoạch, KTĐG, …
Theo quan điểm tiếp cận cấu trúc năng lực dựa trên NL thực hiện hoạt độngchuyên môn, chúng tôi hướng tới tiếp cận cấu trúc NLTH dựa trên NL thực hiệnhoạt các hoạt động tự học, bao gồm lập được kế hoạch tự học một cách khoa học,thực hiện có hiệu quả kế hoạch tự học đã lập, tự đánh giá kết quả đạt được và điềuchỉnh quá trình tự học có sự hỗ trợ của GV Cách thức tiếp cận này tương ứng với lýthuyết mô hình học tập tự định hướng Tác giả Trương Minh Trí và Bùi Văn Hồng[51] tiếp cận sự phát triển NLTH của HS theo mô hình học tập tự định hướng Theocác tác giả, căn cứ cấu trúc của NLTH, quy trình học tập tự định hướng được xác
định bởi 5 giai đoạn: “(1) Đánh giá điều kiện cá nhân; (2) Xác định mục tiêu học tập; (3) Lập kế hoạch học tập; (4) Tổ chức thực hiện kế hoạch học tập; (5) KTĐG kết quả học tập” (tr 594-601).
Từ những phân tích trên, luận án xác định cấu trúc NLTH dựa trên 5 NL
Trang 40thành phần tương ứng sau: (1) Xác định mục tiêu học tập; (2) Định hình phong cách học tập; (3) Lập kế hoạch học tập; (4) Triển khai tự học; (5) Đánh giá và điều chỉnh tự học.
1.3.3 Vai trò của tự học
Trong quá trình học tập của người học, hoạt động tự học có những vai trò sau:
- Nâng cao kiến thức và hiệu quả học tập: Trong quá trình tự học, HS cần
vận dụng các NL trí tuệ để giải quyết vấn đề Điều này đòi hỏi HS phải là chủ thểcủa quá trình nhận thức, biết cách tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, phê phán, để hiểukiến thức sâu sắc hơn
- Giúp người học có khả năng tự giải quyết các vấn đề học tập, biết vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn: Trong hoạt động tự học, kiến thức mà
người học chiếm lĩnh được thông qua các hoạt động tư duy của bản thân Người cókhả năng tự học có thể thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng kiến thức đã họcvào thực tiễn và tự KTĐG hoạt động học tập của mình
- Hình thành các kĩ năng, phương pháp học tập khoa học: Khi tự học, các
thao tác tư duy lặp đi lặp lại nhiều lần, góp phần hình thành cho người học các kĩnăng, phương pháp học tập cho người học Do vậy, tự học là cốt lõi của cách học,như Bác Hồ đã từng nói: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”
- Rèn luyện tư duy cho người học: Khi tự học, người học phải sử dụng các
thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát, trừu tượnghóa, để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, do đó tư duy cũng được rèn luyện thườngxuyên Trong quá trình học tập, với cùng một lượng kiến thức nhưng các nhiệm vụđặt ra ngày càng cao, điều này giúp người học rèn luyện được các kĩ năng và NLgiải quyết vấn đề, từ đó tư duy của người học cũng dần được phát triển
- Nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin cho người học: Trong thời đại bùng
nổ thông tin như hiện nay, các nguồn thông tin được cung cấp đa dạng dưới nhiềuphương thức và hình thức khác nhau Do vậy, nếu người học có kĩ năng tự học tốt
sẽ vận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng trong việc thu nhận kiến thứccho mình Ngày nay, tự học có vai trò quan trọng, là điều kiện quyết định thànhcông và có ý nghĩa đối với sự phát triển toàn diện của con người
1.3.4 Khung năng lực tự học
Chương trình GDPT 2018 [12] xác định biểu hiện NLTH của HS cấp THPTbao gồm những biểu hiện cụ thể sau đây: