ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC oOo GIANG NGỌC THỤY VY NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM VỀ BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NÀY LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI 2016[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-oOo -
GIANG NGỌC THỤY VY
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM VỀ BIỂU HIỆN,
NGUYÊN NHÂN
VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-oOo -
GIANG NGỌC THỤY VYs
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM VỀ BIỂU HIỆN,
NGUYÊN NHÂN
VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: 1 TS AMIE POLLACK
2 TS TRẦN THÀNH NAM
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ “Nhận thức của người bệnh
trầm cảm về triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị rối loạn này” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu
trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, năm 2016
Giang Ngọc Thụy Vy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo, các cán
bộ quản lý Trường Đại học Giáo dục đã quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi đến người hướng dẫn khoa học, TS Amie Pollack và TS
Trần Thành Nam lời biết ơn sâu sắc và sự quý trọng nhất về nhiệt huyết cùng
những định hướng quan trọng và đặc biệt là về tinh thần nghiêm túc trong
nghiên cứu khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp và người bệnh tại Viện Sức khỏe Tâm thần và Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành thử và thu thập số liệu
nghiên cứu tại đây
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp vì đã luôn bên tôi, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn
Hà Nội, năm 2016
Tác giả
Giang Ngọc Thụy Vy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Các nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng 9
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng 9
1.1.2 Các xu hướng nghiên cứu 9
1.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhận thức về trầm cảm 19
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 19
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 21
1.3 Khái niệm công cụ của đề tài 22
1.3.1 Khái niệm về nhận thức 22
1.3.2 Người bệnh trầm cảm 23
1.3.3 Nhận thức về trầm cảm 24
1.3.4 Những yếu tố liên quan trầm cảm 28
1.3.5 Những nghiên cứu về trầm cảm tại Việt Nam: 30
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Tiến trình nghiên cứu 33
2.1.1 Tiến trình 33
2.1.2 Các giai đoạn nghiên cứu 33
2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 35
2.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 35
2.3.1 Đặc điểm các bệnh viện Tâm thần 36
2.3.2 Mẫu nghiên cứu 37
2.4 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 38
2.4.1 Đặc điểm nhân khẩu học: 38
Trang 62.4.2 Mức độ trầm cảm: 39
2.4.3 Mức độ trầm cảm gây ảnh hưởng hoạt động chức năng trong cuộc sống: 40
2.4.4 Nguồn thông tin người bệnh được tiếp cận để biết đến trầm cảm: 41
2.5 Phương pháp nghiên cứu 41
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 41
2.5.2 Phương pháp dùng các thang lượng giá 42
2.5.3 Phương pháp dùng bảng hỏi 43
2.5.4 Phương pháp thống kê toán học 46
2.6 Đạo đức nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Thực trạng nhận thức của người bệnh trầm cảm về rối loạn này 48
3.1.1 Khả năng của bệnh nhân về nhận diện trầm cảm 48
3.1.2 Nhận thức của bệnh nhân về các triệu chứng của trầm cảm 50
3.1.3 Nhận thức của bệnh nhân về các nguyên nhân – yếu tố nguy cơ 56
3.1.4 Nhận thức của bệnh nhân về cách ứng phó và điều trị 60
3.2 Ảnh hưởng của một số đặc điểm nhân khẩu học đến nhận thức của về trầm cảm 63
3.2.1 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của nhóm tuổi 63
3.2.2 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của giới tính 66
3.2.3 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của trình độ học vấn 67
3.2.4 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân 71
3.2.5 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của mức thu nhập 73
3.2.6 Sự khác biệt về nhận thức trầm cảm dưới ảnh hưởng của nghề nghiệp 74
3.3 Kiểm định tương quan 77
3.3.1 Tương quan giữa mức độ trầm cảm và mức độ hiểu triệu chứng, nguyên nhân, cách điều trị 77
3.3.2 Tương quan giữa mức độ ảnh hưởng hoạt động chức năng và mức độ hiểu triệu chứng, nguyên nhân, cách điều trị 78
3.3.3 Tương quan giữa mức độ tiếp cận các nguồn thông tin và mức độ hiểu triệu chứng, nguyên nhân, cách điều trị 78
KẾT LUẬN 81
KHUYẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT
BDI: Beck Depression Inventory
Thang tự đánh giá mức dộ Trầm cảm Beck
DSM: Diagnostic and Statistical
Mannual of Mental Disorders
Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần
ECG: Electrocardiologram Điện tâm đồ
ECT: Electro Convulsive Therapy Liệu pháp sốc điện
HDRS: Hamilton Depression Rating
Scale
Thang đo lường mức độ Trầm cảm Hamilton
ICD: International Statistical
Classification of Diseases and Related
Health Problems
Phân loại bệnh quốc tế về các bệnh lý và các vấn đề liên quan sức khỏe
rTMS: repetitive Transcranial Magnetic
Stimulation Kích thích xuyên sọ từ trường lặp lại
SSRIs: Selective Serotonin Reuptake
Inhibitors
Các chất ức chế tái hấp thu Serotonin có chọn lọc
TCA: Tricyclic Amino Anti-Depression Chống trầm cảm 3 vòng
TRH: Thyroid Releasing Hormone Nội tiết tố phóng thích tuyến giấp
TSH: Thyroid Stimulatiing Hormone Nội tiết tố kích thích tuyến giáp
VNS: Vagus Neuron Stimulation Kích thích dây thần kinh lang thang
WSAS: Work and Social Adjustment
Scale
Thang đo Ảnh hưởng các chức năng Hoạt động và Xã hội
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng khách thể nghiên cứu 35
Bảng 2.2: Mức độ trầm cảm ……… 49
Bảng 2.3: Mức độ ảnh hưởng các hoạt động chức năng………50
Bảng 2.4: Tổng các nguồn thông tin……… 51
Bảng 3.1: Tên gọi người bệnh đặt cho vấn đề đang mắc phải 49
Bảng 3.2: Sự đồng thuận giữa việc nói biết trầm cảm và vận dụng vào thực tế 50
Bảng 3.3: Mức độ nhận diện các nhóm triệu chứng trầm cảm 53
Bảng 3.4: Sự đồng thuận giữa mức độ hiểu tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm và vận dụng thực tế 54
Bảng 3.5: Nhóm nguyên nhân gây ra trầm cảm do người bệnh tự nhận định 57 Bảng 3.6: Mức độ nhận diện nhóm nguyên nhân gây ra trầm cảm 58
Bảng 3.7: Mức độ nhận diện các cách ứng phó/ điều trị trầm cảm 62
Bảng 3.8: Mức độ nhận thức cách điều trị trầm cảm theo khoa học 63
Bảng 3.9: Khác biệt nhóm tuổi trong nhận diện nguyên nhân và nhóm nguyên nhân gây ra trầm cảm 64
Bảng 3.10: Nhận thức về các cách điều trị trầm cảm 65
Bảng 3.11: Khác biệt về nhận thức nguyên nhân gây trầm cảm dưới ảnh hưởng giới tính 66
Bảng 3.12: Khác biệt về nhận thức triệu chứng trầm cảm dưới ảnh hưởng của trình độ học vấn 68
Bảng 3.13: Khác biệt về nhận thức nguyên nhân gây trầm cảm dưới ảnh hưởng của trình độ học vấn 69
Bảng 3.14: Khác biệt về nhận thức cách điều trị trầm cảm dưới ảnh hưởng của trình độ học vấn 70
Trang 10Bảng 3.15: Khác biệt về nhận thức triệu chứng trầm cảm dưới ảnh hưởng của
tình trạng hôn nhân 71
Bảng 3.16: Khác biệt về nhận thức nguyên nhân gây trầm cảm dưới ảnh
hưởng của tình trạng hôn nhân 72
Bảng 3.17: Khác biệt về nhận thức cách điều trị trầm cảm dưới ảnh hưởng của
thu nhập 74
Bảng 3.18: Khác biệt về nhận thức triệu chứng trầm cảm dưới ảnh hưởng của
nghề nghiệp 75
Bảng 3.19: Khác biệt về nhận thức nguyên nhân gây ra trầm cảm dưới ảnh
hưởng của nghề nghiệp 76
Bảng 3.20: Khác biệt về nhận thức cách điều trị dưới ảnh hưởng của nghề 77
Bảng 3.21: Tương quan giữa mức độ trầm cảm và mức độ nhận thức trầm
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ % các triệu chứng chính khiến người bệnh đến khám 51
Biểu đồ 3.2: Mức độ nhận thức tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm 56
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ % nhận thức về nguyên nhân khoa học gây ra trầm cảm 59
Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ % lựa chọn cách ứng phó và tìm kiếm giúp đỡ/điều trị 61
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rối loạn trầm cảm chủ yếu (còn gọi là Rối loạn trầm cảm điển hình hay
Rối loạn trầm cảm nặng và thường được gọi là Trầm cảm) là một dạng rối
loạn tâm thần phổ biến và gây ra gánh nặng cho xã hội Trầm cảm chiếm
10-15% trong dân số chung [12] với tỉ lệ tự tử thành công khá cao và khả năng
tái phát lên đến 50% [30] Báo cáo Gánh nặng toàn cầu do bệnh tật giai đoạn
1990-2020 của Christopher cho thấy rối loạn này là nguyên nhân thứ hai gây
ra tàn tật [69] và làm suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống con người
khoảng 63% khi so sánh với nhóm người khỏe mạnh hoặc bị bệnh mạn tính
khác [39],[78]
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy công cuộc chăm sóc sức
khỏe cho những người bệnh trầm cảm thực sự gặp khó khăn nếu như chính
bản thân bệnh nhân không nhận thức đúng về vấn đề họ gặp phải Các nghiên
cứu cho thấy nhận thức thấp về bệnh không những liên quan đến việc bệnh
nhân trầm cảm không đến cơ sở chăm sóc y tế cho đến khi bệnh kéo dài, trở
nên trầm trọng hơn [75] mà còn ảnh hưởng lớn đối với việc tìm kiếm sự giúp
đỡ và cam kết với những can thiệp được đề nghị [82] và cả phòng ngừa [84]
Chính vì thế, trên thế giới trong những năm qua, nghiên cứu hiểu biết về sức
khỏe tâm thần nói chung và về trầm cảm nói riêng của cộng đồng và cả của
bệnh nhân được tiến hành nhằm tìm giải pháp để tăng cường hiệu quả và cam
kết điều trị Kết quả của các nghiên cứu đi trước đều khẳng định rằng khả
năng hiểu triệu chứng, nhận định về nguyên nhân và ý thức sự ảnh hưởng của
bệnh có ảnh hưởng tích cực đến cách chọn dịch vụ điều trị của bệnh nhân
cũng như tăng cường niềm tin, sự tuân thủ của người bệnh về phương pháp trị
liệu hay hỗ trợ được chứng minh có hiệu quả
Trang 13Tại Việt Nam, ngoài một vài nghiên cứu quan niệm của bệnh nhân về rối
loạn tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng tại cộng đồng [22],[86], hầu
hết các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần chỉ tập trung mô tả tỉ lệ dịch tễ, biểu
hiện triệu chứng, tỉ lệ đáp ứng điều trị thuốc Nói cách khác, thật sự không có
nhiều công bố khoa học nào khảo sát về hiểu biết trầm cảm của chính bệnh
nhân mắc rối loạn này, đặc biệt trên người bệnh đang đến khám tại cơ sở
chăm sóc sức khỏe tâm thần chuyên khoa
Tóm lại, (1) từ thực trạng tỉ lệ mắc trầm cảm trong xã hội và gánh nặng do
trầm cảm gây ra; (2) từ xu hướng và kết hợp các nghiên cứu đi trước về hiểu
biết của cộng đồng về tổn thương sức khỏe tâm thần trong đó có trầm cảm;
(3) từ thực tiễn thiếu vắng các nghiên cứu về nhận thức của bệnh nhân trầm
cảm về biểu hiện, nguyên nhân và cách điều trị căn bệnh này, chúng tôi tiến
hành thực hiện luận văn với đề tài "Nhận thức của người bệnh trầm cảm về
biểu hiện, nguyên nhân và cách điều trị rối loạn này"
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nhận thức về (a) biểu
hiện của trầm cảm; (b) nguyên nhân gây trầm cảm; (c) cách thức và hiệu quả
của can thiệp; (d) năng lực vận dụng kiến thức cho bản thân Từ đó, đưa ra
một số khuyến nghị, đề xuất cho các cơ sở chuyên khoa và cộng đồng nhằm
tìm các biện pháp nâng cao hiểu biết về bệnh trầm cảm cũng như ứng dụng và
phát triển những liệu pháp tâm lý phù hợp với nguồn lực sẵn có mà vẫn được
chấp nhận về mặt khoa học, văn hóa, kinh tế và xã hội
3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, một số câu hỏi được đặt ra cho đề tài gồm:
Câu hỏi 1: Thực trạng nhận thức của người bệnh trầm cảm (hiểu biết và
vận dụng kiến thức) về rối loạn này trong việc nhận diện, nhận định các triệu
Trang 14Câu hỏi 2: Nhận thức của người bệnh trầm cảm về rối loạn này (triệu
chứng, nguyên nhân, cách ứng phó - điều trị) có khác biệt giữa các nhóm tuổi,
giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập và tình trạng hôn nhân hay
không?
Câu hỏi 3: Nhận thức của của người bệnh trầm cảm về rối loạn này (triệu
chứng, nguyên nhân, cách ứng phó - điều trị) có liên hệ với mức độ trầm cảm,
mức độ ảnh hưởng hoạt động chức năng và số lượng nguồn thông tin về trầm
cảm mà bệnh nhân đã tiếp cận trước đây không?
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán Rối loạn Trầm cảm chủ yếu theo tiêu
chuẩn chẩn đoán ICD-10 hoặc DSM-IV-TR, loại trừ bệnh nhân có kèm triệu
chứng loạn thần
- Cỡ mẫu: 109 bệnh nhân (55 bệnh nhân tại Viện sức khỏe Tâm thần và 54
bệnh nhân tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh)
- Cách chọn mẫu: Ngẫu nhiên
Tất cả bệnh nhân vừa đến khám lần đầu tiên tại 2 cơ sở trên (từ tháng
5/2015) sau khi được bác sĩ chẩn đoán trầm cảm trên lâm sàng theo đúng tiêu
chuẩn chẩn đoán và đáp ứng tiêu chí chọn mẫu sẽ đều được chọn tham gia
vào nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nhận thức của bệnh nhân về trầm cảm (hiểu biết về biểu hiện, sự ảnh
hưởng lên cuộc sống, nguyên nhân được nhận biết, cách điều trị và tìm kiếm
giúp đỡ, và cách vận dụng những hiểu biết này cho bản thân)
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về trầm cảm của bệnh nhân
Trang 155 Giả thuyết nghiên cứu
Thẩm định các giả thuyết sau:
5.1 Giả thuyết 1
Người bệnh trầm cảm không nhận diện đầy đủ triệu chứng và không gọi
tên chính xác rối loạn mà mình mắc phải Bệnh nhân có xu hướng dán nhãn
vấn đề trầm cảm bằng bệnh cơ thể, bệnh thần kinh Nhận định nguyên nhân
tập trung vào nhóm di truyền và áp lực từ môi trường Cách thức điều trị chủ
yếu là uống thuốc và có sử dụng cả yếu tố tâm linh trong chữa trị
5.2 Giả thuyết 2
Nhận thức của bệnh nhân về triệu chứng, nguyên nhân, cách ứng phó - điều
trị trầm cảm có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn,
nghề nghiệp, thu nhập và tình trạng hôn nhân
5.3 Giả thuyết 3
Có mối tương quan giữa nhận thức của bệnh nhân về triệu chứng, nguyên
nhân, cách ứng phó - điều trị rối loạn trầm cảm và mức độ rối loạn chức năng,
mức độ trầm cảm mà bệnh nhân đang trải nghiệm cũng như số lượng nguồn
thông tin tuyên truyền về trầm cảm mà người bệnh tiếp cận trước đó
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu cơ sở lý luận về trầm cảm, hiểu biết của bệnh nhân về trầm cảm
Cụ thể, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các biểu hiện của trầm cảm, sự ảnh hưởng
của trầm cảm lên các mặt trong cuộc sống, nguyên nhân được nhận biết, cách
điều trị trầm cảm, việc vận dụng kiến thức cho bản thân họ Bên cạnh đó,
tham khảo các công trình nghiên cứu đi trước về các công cụ đo sử dụng cho
đề tài
Trang 166.2 Nghiên cứu thực tiễn
Triển khai thu thập dữ liệu – khảo sát nhận thức về trầm cảm của bệnh
nhân bị rối loạn này khi đến khám tại bệnh viện tâm thần
Tiến hành phân tích số liệu để trả lời câu hỏi nghiên cứu của đề tài và
chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này sẽ hệ thống lại cơ sở lý thuyết, đồng thời tìm hiểu các
nghiên cứu đã có về trầm cảm, nhận thức về trầm cảm của người bệnh bằng
việc tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành
trong và ngoài nước, v.v… Từ đó, xác định bảng khảo sát những điều này cho
bệnh nhân trầm cảm
Tìm hiểu sơ lược một số nghiên cứu liên quan việc áp dụng mô hình trị liệu
tâm lý ngắn hạn có thể phù hợp văn hóa và tình hình kinh tế, xã hội nước ta
để hỗ trợ việc tuân thủ điều trị thuốc Từ đó, đề xuất cho hướng nghiên cứu
thực nghiệm tiếp theo
7.2 Đánh giá bằng các thang đo
7.2.1 Bảng 1: Xác định mức độ trầm cảm của bệnh nhân bằng Thang đánh
giá mức độ trầm cảm Hamilton (HAM-D) và Thang đo trầm cảm Beck (BDI)
- Thang đánh giá trầm cảm Hamilton: ra đời năm 1960 từ tác giả Hamilton,
viết tắt là HDRS (Hamilton Depression Rating Scale) hoặc HAM-D
(Hamilton Depression) nhưng đến nay vẫn còn được dùng phổ biến trên lâm
sàng Thang được cấu thành một mặt bởi những triệu chứng thường quan sát
thấy ở hầu hết bệnh nhân trầm cảm, mặt khác bởi các biểu hiện tuy ít xảy ra
hơn nhưng khi xuất hiện thì chúng giúp xác định được mỗi thể lâm sàng riêng
biệt của rối loạn trầm cảm
Trang 17- Thang đo trầm cảm Beck: nguyên bản đầu tiên được giới thiệu bởi các tác
giả Beck, Ward, Mendelson, Mock và Erbaugh vào năm 1961 Đây là thang
tự đánh giá nhằm đo lường những biểu hiện trầm cảm, thời gian hoàn thành
khoảng 10 phút
Có những nghiên cứu chứng minh cho thấy có sự tương quan giữa 2 thang
HAM-D và BDI (0,73) [48]
7.2.2 Bảng 2: Đánh giá những thay đổi liên quan bệnh đến chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân bằng Thang đánh giá Sự thay đổi Công việc và xã hội
(WSAS) Đây là thang dành cho bệnh nhân tự đánh giá mức độ ảnh hưởng
các hoạt động chức năng của mình do bệnh lý gây ra [68]
7.3 Điều tra bằng bảng hỏi
Các câu hỏi mở kiểu phỏng vấn và bảng hỏi Likert đã được nghiên cứu và
thực hiện ở nước ngoài sau khi được dịch sẽ áp dụng trước với một nhóm nhỏ
người tham gia để điều chỉnh, thích ứng cho phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa
trước khi tiến hành chính thức cho nghiên cứu Quá trình này có sự hỗ trợ và
thống nhất của các giảng viên hướng dẫn
7.3.1 Bảng 3: Dựa vào những câu hỏi có nguồn gốc từ Bảng danh mục
Phỏng vấn Mô hình Giải thích (Explanatory Model Interview Catalogue –
EMIC của Weiss et al., 1992) Khảo sát này dựa vào nghiên cứu trầm cảm
trên thang EMIC của Ấn Độ (Raguram và cộng sự, 1996; Weiss và cộng sự,
1992) [76],[88] và Anh (Jadhav và cộng sự, 2001) [51] và thêm phần thang
phản ánh những quan điểm bệnh học liên quan sinh học (Nieuwsma, Jason A.,
2010) [71]
Trang 18Tìm hiểu nhận thức về trầm cảm gồm:
- Các câu hỏi mở: điều tra theo phương pháp phỏng vấn nhằm để chính
bệnh nhân trả lời với những hiểu biết hay quan niệm họ đang có mà không bị
ảnh hưởng bởi bảng hỏi cho sẵn Các câu hỏi liên quan tên gọi vấn đề, các
triệu chứng khiến bệnh nhân đến khám, nguyên nhân của vấn đề theo quan
niệm của bệnh nhân và cách thức bệnh nhân lựa chọn để tìm kiếm sự giúp đỡ
và điều trị
- Bảng hỏi khảo sát: Là bảng liệt kê có nguồn gốc từ nước ngoài nên được
chỉnh sửa và thích ứng lại cho phù hợp Phần này gồm khảo sát những hiểu
biết của người bệnh trầm cảm về các triệu chứng nhận biết, nguyên nhân và
cách điều trị, ứng phó trước rối loạn này
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được dùng để xử lý các kết quả thu được từ bảng hỏi
Các thông tin sẽ được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0
8 Đóng góp mới của đề tài
Khả năng nhận diện triệu chứng, nguyên nhân cũng như cách tự đi tìm
kiếm sự hỗ trợ và chọn lựa điều trị của đại bộ phận người bệnh trầm cảm
Sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học đối với sự khác biệt trong nhận
thức về trầm cảm của người bệnh
Mối tương quan giữa mức độ rối loạn, mức độ bị ảnh hưởng hoạt động
chức năng, số lượng thông tin tuyên truyền về trầm cảm được bệnh nhân tiếp
cận và mức độ nhận thức trầm cảm của họ
Đưa ra một số khuyến nghị dựa trên kết quả điều tra nhằm góp phần cải
thiện và nâng cao nhận thức về trầm cảm của người dân
Trang 199 Phạm vi và giới hạn của đề tài
9.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu nhận thức về trầm cảm của đề tài chỉ giới hạn ở các khía cạnh:
a) Khả năng người bệnh nhận diện triệu chứng, nguyên nhân của trầm cảm
các hình thức can thiệp, hỗ trợ có hiệu quả
d) Khả năng người bệnh vận dụng kiến thức cho bản thân
9.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Địa bàn khảo sát: Viện Sức khỏe Tâm thần (Hà Nội) và Bệnh viện Tâm
thần Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố Hồ Chí Minh)
9.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Khách thể: Bệnh nhân từ trên 18 tuổi đến khám lần đầu tiên, được chẩn
đoán bị trầm cảm tại VSKTT (Hà Nội) và BVTTTPHCM khi đáp ứng tiêu
chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu
Giới hạn về thời gian nghiên cứu: tiến hành từ tháng 5 - 11/2015
Giới hạn về cỡ mẫu: giới hạn về nhân lực và địa lý nên chỉ chọn tại bệnh
viện chuyên khoa trung tâm thành phố lớn là nơi tác giả học tập và làm việc
Giới hạn về việc sử dụng đồng nhất thang đo mức độ trầm cảm: Dùng 2
thang khác nhau đang áp dụng cho người bệnh trầm cảm tại mỗi địa bàn
nghiên cứu
10 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, danh mục tài liệu
tham khảo thì luận văn dự kiến gồm 3 chương nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng
Trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến nhận thức và hiểu biết của cộng
đồng về sức khỏe tâm thần bắt đầu được quan tâm từ khoảng những năm 1950
(Star, 1955) Đến năm 1997, tác giả Anthony F Jorm định nghĩa Hiểu biết
sức khỏe tâm thần (Mental Health Literacy - MHL) là “kiến thức và những
quan niệm về các rối loạn tâm thần giúp hỗ trợ cá nhân nhận diện, quản lý và
phòng ngừa” [54] Nói rõ hơn, nó bao gồm khả năng nhận biết các rối loạn
tâm thần chuyên biệt; biết cách tìm những thông tin sức khỏe tâm thần; có
kiến thức về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây tổn thương sức khỏe tâm
thần cũng như các phương cách tìm kiếm sự hỗ trợ và giúp đỡ phù hợp với
các phương pháp can thiệp thực chứng có hiệu quả
Từ đó đến nay, các công trình công bố về vấn đề này ngày càng nhiều, điển
hình là các tác giả như Loureiro và cộng sự, 2013; Melas và cộng sự , 2013;
Mendenhall và Frauenholtz, 2013; Vijayalakshmi và Math, 2013 Trong thời
gian qua, họ đã báo cáo những số liệu về nhận thức của bệnh nhân và người
chăm sóc về các vấn đề sức khỏe tâm thần trong các cộng đồng người Mỹ,
người Thụy Điển, Ấn độ và Bồ Đào Nha
1.1.2 Các xu hướng nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan nhận thức của cộng đồng về vấn đề sức khỏe tâm thần thường được chia thành hai hướng tiếp cận
1.1.2.1 Hiểu biết chung của cộng đồng về sức khỏe tâm thần
a) Các nghiên cứu trên thế giới
Năm 1988, Rosenstock và cộng sự cũng nói đến Mô hình Niềm tin về sức
Trang 21khỏe của có khả năng dự đoán hành vi sức khỏe bằng cách chú ý đến thái độ
và niềm tin [80] của cá nhân Cũng như các vấn đề sức khỏe khác, việc hiểu
biết thông tin đúng và chính xác về SKTT, các rối loạn, dấu hiệu và cách điều
trị khoa học sẽ giúp mỗi cá nhân tìm kiếm và có được sự điều trị hiệu quả Do
đó, việc định lượng hiểu biết của cộng đồng về SKTT được đặt ra
Từ đây, có rất nhiều nghiên cứu theo hướng khảo sát hiểu biết về sức khỏe
tâm thần đã được tiến hành Phần lớn các nghiên cứu được triển khai là những
nghiên cứu xã hội học điều tra trên diện rộng nhằm tìm hiểu năng lực nhận diện
các bệnh tâm thần cụ thể chủ yếu qua việc sử dụng các tình huống giả định về
một cá nhân đang mắc dạng rối loạn tâm thần cụ thể nào đó Những kết quả cho
thấy hiểu biết về triệu chứng và độ nặng của các bệnh lý tâm thần liên quan chặt
chẽ với sự nhận biết các bệnh lý và các triệu chứng có liên quan và cả hai đều bị
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi việc thiếu kiến thức và hiểu biết
Khảo sát tại Úc (Jorm và cộng sự, 1997) cho thấy người dân thường nhận
biết về rối loạn tâm thần qua trường hợp tâm thần phân liệt hơn những trường
hợp khác [54] Nghiên cứu của Jorm và cộng sự (Úc, 1999) cũng cho thấy
người dân trong cộng đồng và nhà chuyên môn đều cho rằng người bệnh tâm
thần phân liệt thường nghèo khổ và phân biệt đối xử với họ hơn [55] Có báo
cáo (Linhk và cộng sự, 1999) cho thấy hầu hết cộng đồng cho rằng rối loạn
tâm thần chính là tâm thần phân liệt (88%) và trầm cảm (69%), họ cũng nhận
định nguyên nhân do đa yếu tố, kết hợp giữa hoàn cảnh căng thẳng cùng vấn
đề sinh học và di truyền Tuy nhiên, họ có cách suy nghĩ rập khuôn là người
bệnh tâm thần tiềm ẩn sự nguy hiểm về bạo lực và muốn hạn chế sự tiếp xúc
xã hội của người bệnh [64] Có những vùng người dân hiểu biết về sức khỏe
tâm thần khá cao như ở 2 làng xã của Israel theo Levav (2004), 75% người
tham gia chấp nhận nguyên nhân đa yếu tố của các rối loạn tâm thần và 79%
nghĩ rằng chúng có thể được chữa trị Thế nhưng, việc xác định dạng rối loạn
Trang 22với trầm cảm Ngoài ra, họ vẫn có sự kỳ thị và phân biệt đối với người mắc
rối loạn tâm thần với 65% từ chối cho người bệnh hồi phục được tham gia
cùng họ Việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần ở đây chiếm tỉ lệ 38%
[63]
Cũng theo hướng tiếp cận này, kết quả của các nghiên cứu gần đây cho
thấy tỉ lệ cộng đồng nhận diện các rối loạn tâm thần còn thấp chỉ 51% gọi
đúng “tâm thần phân liệt” và 47% gọi đúng “trầm cảm” như trong nghiên cứu
của Klimidis và cộng sự, 2007 [60] hay 65-77% gọi đúng “trầm cảm” đối với
người Úc và 22-35% với người Nhật; 17%-33% gọi đúng “tâm thần phân liệt”
hoặc loạn thần ở người Nhật và 36%-41% ở người Úc như trong nghiên cứu
của Jorm et al., 2005 [56] Tuy nhiên, theo Jorm (2006), tín hiệu khả quan là
nhận thức về trầm cảm và tâm thần phân liệt của người Úc cao hơn so với 8
năm trước qua việc tăng chọn lựa hỗ trợ của các chuyên gia sức khỏe tâm
thần, thuốc, tâm lý trị liệu và việc nhập khoa tâm thần [53]
Như vậy, có hiểu biết tốt về sức khỏe tâm thần ở cộng đồng sẽ dẫn đến
những hệ quả tích cực đối với những người có nguy cơ hoặc có vấn đề về
SKTT do họ sẽ sớm tìm sự trợ giúp, hoặc ở chính những người có nguy cơ,
hoặc người sống xung quanh nhận diện được dấu hiệu của người thân để giúp
họ tìm kiếm can thiệp Do đó, các kết quả nghiên cứu hiểu biết về SKTT có
giá trị quan trong trọng việc xây dựng các chương trình dự phòng về SKTT và
nâng cao sự hiểu biết này được xem là chiến lược hỗ trợ phát hiện sớm và
phòng ngừa các rối loạn tâm thần (Jorm và cộng sự, 2012) [52]
Bên cạnh đó, trong sức khỏe tâm thần còn có khái niệm về “mô hình giải
thích” được định nghĩa là “những lưu ý về giai đoạn bệnh và điều trị được
thực hiện bởi tất cả những người có liên quan đến tiến trình lâm sàng”
(Engehardt, 1974; Kleinman, 1980) Mô hình giải thích này bao gồm nhiều
nhiệm vụ: giải thích những dấu báo liên quan văn hóa về trải nghiệm bệnh tật
Trang 23của bệnh nhân và cán bộ y tế, cải thiện sự đồng cảm và tuân thủ trị liệu và
điều chỉnh khuynh hướng quá nhấn mạnh vào mô hình sinh học về bệnh của
cán bộ y tế (Weiss và Somma, 2007) Những thông tin có được từ các mô
hình giải thích có thể phối hợp với các phương pháp trị liệu tâm lý nhằm lồng
ghép trị liệu một cách hiệu quả theo kiểu mẫu tâm –sinh-xã hội (Bhui và
Bhugra, 2002) [31],[38]
Deribew và Tamirat (2005) cũng phát hiện tương tự trong một nghiên cứu
tại Ethiopia và thấy rằng người ta chỉ nhận biết những tình trạng loạn thần
nặng là các rối loạn tâm thần Họ nhận thấy điều trị y khoa hiện đại được đa
số người dân chuộng hơn Một số đáng kể người dân đề nghị hỗ trợ gia đình
và chăm sóc tại nhà Rõ ràng, người ta thích chăm sóc bệnh nhân bị bệnh tâm
thần trong gia đình hơn nhưng sẽ mang bệnh nhân đến bệnh viện tâm thần nếu
tình trạng rất nặng (Nguyen, 2003 và Wagner và cộng sự, 2006) [70],[87]
Tuy vậy, điều đáng lưu ý là hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào cộng
đồng các nước Âu Mỹ, khá ít nghiên cứu và bằng chứng nói về nhận thức,
niềm tin và hiểu biết của cộng đồng các nước phương Đông vốn phần lớn là
các nước đang phát triển hoặc có thu nhập thấp-trung bình Đặc biệt, với khu
vực ASEAN, trong đó có Việt Nam thì không có nhiều khảo sát về vấn đề
này Theo thống kê của WHO thì năm 2001 có khoảng 450 triệu người trên
toàn thế giới mắc một trong các rối loạn tâm thần kinh và tỉ lệ này chia đều
cho các nước phương Tây và phương Đông [74] Theo một số tác giả nghiên
cứu, tỉ lệ mắc các rối loạn tâm thần ở các nước đang phát triển có lẽ còn cao
hơn phương Tây do tác động của các vấn đề kinh tế xã hội như thu nhập thấp,
trình độ dân trí thấp, hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần chưa phát triển
[47] Ngay cả ở các em học sinh trung học mà kiến thức về các vấn đề sức
khỏe tâm thần còn rất thấp cũng như thái độ tiêu cực và có khoảng cách với
người mắc rối loạn tâm thần [42]
Trang 24Gần đây, ngày càng có thêm nhiều công trình nghiên cứu khảo sát về các
vấn đề này ở Châu Á Tại Ấn Độ, trong nghiên cứu của Shankar và cộng sự
(2006) cho thấy 69% cộng đồng tham gia có các triệu chứng về tâm lý và
31% biểu hiện triệu chứng cơ thể, 51% tự nhận định mức độ ảnh hưởng từ
nhẹ đến trung bình và 30% tin rằng không có cách điều trị, 36% tin rằng vấn
đề của họ do bị quả báo; Kermode và cộng sự (2007) báo cáo nghiên cứu cho
thấy cộng đồng xác định nguyên nhân của bệnh lý tâm thần gồm các vấn đề
mối quan hệ gia đình, có nhiều con gái mà không có con trai, quá nhiều con,
không có tự do, không có thu nhập độc lập, bạo hành, mùa màng thất bát và
hạn hán; James và cộng sự (2002) cho thấy có mối liện hệ chặt chẽ giữa các
hành vi tìm kiếm sức khỏe, hiểu biết của dân số địa phương và việc sử dụng
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Ấn Độ và Pakistan [31] Ngoài ra,
cộng đồng còn cho rằng mắc bệnh tâm thần có nghĩa là bệnh nguy hiểm và
yếu đuối [59]
Vì vậy, cần có thêm nhiều các công trình và bằng chứng nghiên cứu về vấn
đề này ở các nước Phương Đông và các nước trong khối ASEAN, đặc biệt là
ở Việt Nam
b) Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu về khả năng hiểu biết các vấn đề sức khỏe tâm thần trên cộng
đồng người Việt đang sống tại Việt Nam chưa được lưu tâm nhiều cũng như
chưa được khảo sát bài bản và có hệ thống Một số ít các nghiên cứu đã được
thực hiện với quy mô còn nhỏ nên tính đại diện còn chưa cao, tập trung ở các
phương diện hoặc năng lực nhận diện các biểu hiện của vấn đề sức khỏe tâm
thần hoặc các nguyên nhân/ yếu tố nguy cơ được nhận biết hoặc hiểu biết về
các loại hình can thiệp và hiệu quả can thiệp
Trang 25- Khả năng nhận diện các biểu hiện của rối loạn tâm thần
Nghiên cứu của Mc Kenvey và David Sang (năm 1999) tiến hành trên 283
phụ huynh người Việt Nam Kết quả nghiên cứu về nhận thức các biểu hiện
tổn thương SKTT ở trẻ được hơn 50% bố mẹ chọn các dấu hiệu nặng nề
Đồng thời, một số các bậc cha mẹ tin vào những phương pháp không có bằng
chứng khoa học như dùng thảo dược, cúng bái, châm cứu, bấm huyệt [65]
Nghiên cứu của Trần Thành Nam (2001) cho thấy nhận thức của cha mẹ
khu vực Hà Nội về SKTT vẫn còn khá mơ hồ và mang nặng tính quan niệm
đó là bệnh lý, vì thế mà có đến 78,64% số người cho rằng tổn thương SKTT
là các biểu hiện ở thể nặng như các tổn thương về não, viêm não dẫn đến mất
ý thức, bệnh nhân không nhận biết được mọi người xung quanh, không nhận
biết được người thân Trong khi đó chỉ 11,97% quan niệm tổn thương SKTT
là các biểu hiện hành vi bất thường ở thể nhẹ [15]
- Khả năng nhận diện nguyên nhân gây ra rối loạn tâm thần
Các bằng chứng nghiên cứu của Trần Thành Nam (2001) cho thấy các bậc
cha mẹ thường nhận định vấn đề SKTT là do các nguyên nhân thuộc các
nhóm (a) tâm sinh lý; (b) xã hội; (c) tâm linh Họ cũng cho rằng các yếu tố
này cùng tác động gây ra nguy cơ tổn thương SKTT một cách tổng hợp chứ
không phải đơn lẻ [15]
- Khả năng hiểu biết về các loại hình can thiệp và hiệu quả can thiệp
Nghiên cứu của Trần Thành Nam (2001) cũng cho thấy có 52,8% số người
điều tra trả lời là có biết về các cơ sở chăm chữa tổn thương SKTT Về hành
vi, thái độ của các bậc cha mẹ khi con họ có biểu hiện tổn thương SKTT, thì
có đến 95,1 % nhờ bác sỹ chuyên khoa tâm thần, cán bộ tâm lý giúp, 46,6%
nhờ chuyên viên y học dân tộc và 52, 6% nhờ họ hàng trong gia đình hoặc
nhờ nhà trường giúp đỡ, 8,4% nhờ tổ chức tôn giáo giúp đỡ [15]
Trang 26Ngoài ra, gần đây, một số luận văn thạc sĩ của học viên ngành tâm lý học
bắt đầu nghiên cứu chủ đề này Đó là nghiên cứu của Trần Ngọc Ly (2015)
tiến hành nghiên cứu nhận thức trên 235 giáo viên tiểu học về sức khỏe tâm
thần học sinh Kết quả nghiên cứu khẳng định với những trường trường hợp
trẻ có rối loạn về cảm xúc như lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn
thì giáo viên cho rằng nguyên nhân là do trẻ gặp những sự kiện tiêu cực trong
cuộc sống Giáo viên cũng không thể phân biệt được sự khác nhau giữa 3
nhóm rối loạn này Với rối loạn dạng cơ thể, hơn 50% giáo viên được hỏi cho
rằng chắc là trẻ có vấn đề về thể chất Với những trẻ có rối loạn hành vi như
rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi chống đối hoặc tự kỷ thì giáo
viên lại cho rằng do các em thiếu kỹ năng xã hội hoặc kiểm soát cảm xúc
cũng như năng lực trí tuệ có vấn đề Cũng trong nghiên cứu này, giáo viên
nhận định nguyên nhân gây ra các rối loạn tâm thần ở học sinh bao gồm sang
chấn tâm lý, nguyên nhân tâm lý, nguyên nhân về nhận thức và về sinh học,
thể chất Nhận định về các hình thức hỗ trợ can thiệp phù hợp cho rối loạn
tâm thần ở học sinh bao gồm tư vấn gia đình và giáo dục tại trường Nghiên
cứu cũng khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên bao
gồm tuổi, trình độ học vấn, khối lớp, số năm kinh nghiệm, khu vực sống của
giáo viên [14]
Một nghiên cứu khác của Đặng Thị Thanh Tùng (2015) khi khảo sát trên
221 bậc phụ huynh về nhận thức của họ đối với các biểu hiện tổn thương sức
khỏe tâm thần ở trẻ Kết quả nghiên cứu đã kết luận một số điểm như sau: (i)
Nhận thức về các dấu hiệu của loạn thần và rối loạn tâm thần nặng, tuy nhiên
đã có một tỉ lệ lớn hơn các bậc cha mẹ nhìn nhận biểu hiện hành vi hung tính,
không vâng lời cha mẹ như dấu hiệu của tổn thương SKTT Các biểu hiện
phàn nàn đau cơ thể hay ăn quá nhiều hoặc quá ít chưa được nhận diện là tổn
thương SKTT mà chỉ là biểu hiện của một thói quen xấu; (ii) Nhận thức về
tên các bệnh tâm thần hay vấn đề sức khỏe tâm thần tập trung vào những bệnh
Trang 27tâm thần nặng, những bệnh được truyền thông và xã hội đề cập nhiều trong
thời gian gần đây nhưng lại không cho rằng những biểu hiện hành vi vi phạm
pháp luật, chống đối xã hội, nghiện game, béo phì là các bệnh hay vấn đề
SKTT; (iii) Nhận thức về nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần phù hợp với việc
nhận diện các biểu hiện tổn thương SKTT và gọi tên bệnh tâm thần Có nghĩa
là cha mẹ có xu hướng nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần là do yếu tố sinh
học, không xác định do các yếu tố động cơ cá nhân, xã hội hay tương tác liên
cá nhân [23]
Cũng theo nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Tùng, hành vi ứng xử của các
bậc cha mẹ khi con có các biểu hiện tổn thương SKTT cũng tương ứng với
mức độ nhận thức về dấu hiệu bệnh và nhận thức về nguyên nhân Điều này
có nghĩa là phần lớn cha mẹ mới chỉ có những chiến lược chung chung là tìm
sự trợ giúp từ ngoài gia đình hoặc trực tiếp nói chuyện với trẻ để trẻ cảm thấy
khá hơn chứ chưa có những hành vi ứng xử cụ thể phù hợp với khuyến nghị
của các nhà trị liệu để giảm thiểu các vấn đề hành vi cảm xúc như “khuyến
khích trẻ thể hiện cảm xúc ra bên ngoài” hay “dạy cho trẻ kỹ năng”, “thưởng
cho hành vi tốt để củng cố” hoặc “phạt/ tước quyền lợi để loại trừ những hành
vi không mong muốn”
Niềm tin của cha mẹ vào hiệu quả của các loại hình trị liệu cũng khá đa
dạng Cha mẹ tin vào hiệu quả của liệu pháp Tây Y (uống thuốc) nhiều nhất,
tiếp đến là Trợ giúp từ trường và thứ 3 là Tư vấn gia đình (trên cơ sở trao đổi
cởi mở thẳng thắn giữa các thành viên) Bên cạnh đó, vẫn còn có một số ít cha
mẹ tin vào hình thức trị liệu tâm linh và dùng thảo dược, rễ cây có thể chữa
được các vấn đề tổn thương SKTT
Về mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu cho thấy: việc nhận diện các dấu
hiệu/ tên bệnh tâm thần/ tổn thương SKTT, v.v… cho thấy ảnh hưởng và phụ
thuộc rất nhiều vào các yếu tố như biến: Học vấn của cha mẹ, tuổi tác của cha
Trang 28mẹ hay các vấn đề mà con họ gặp phải Học vấn càng cao, tuổi tác càng lớn
thì các cha mẹ có xu hướng nhận diện được tốt hơn các biểu hiện của bệnh
cũng như tên bệnh và nhóm nguyên nhân gây nên Nhóm cha mẹ có con từng
gặp phải hoặc có xu hướng nguy cơ cao gặp những khó khăn về SKTT thì họ
thường có xu hướng nhận diện tốt hơn các biểu hiện về tổn thương SKTT
cũng như chọn lựa được cách chữa trị phù hợp tương ứng với các vấn đề của
con họ một cách hiệu quả hơn Các biến về Thu nhập của gia đình cũng như
Tuổi của con thứ nhất, v.v…
Gần đây, Van der Ham và cộng sự (2011) đã sử dụng phương pháp điều tra
bằng bảng hỏi cho 200 cá nhân và thảo luận 8 nhóm khách thể sống tại Huế
nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng về các biểu hiện tổn thương SKTT
và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ Kết quả cho thấy cha mẹ thường quan niệm
biểu hiện của rối loạn sức khỏe tâm thần là nói những điều vô lý, cười nói một
mình, bỏ nhà đi lang thang [86] Ngoài ra, hơn một nửa khách thể tham gia
không thể xác định rối loạn tâm thần họ đang mắc; tâm thần phân liệt được
mô tả là rối loạn tâm thần thường gặp nhất và nặng nhất còn trầm cảm là nhẹ
nhất; nguyên nhân gây ra rối loạn tâm thần là stress, căng thẳng và học hành
hoặc suy nghĩ quá nhiều; chỉ đề nghị đi khám ở bệnh viện hoặc cơ sở điều trị
tâm thần nếu người bệnh có những hành vi kích động, đi lang thang còn
những triệu chứng khác thì nên nhận hỗ trợ từ gia đình hoặc bạn bè Nhìn
chung cho thấy người dân cộng đồng ở vùng ngoại ô miền Trung Việt Nam
thiếu kiến thức về sức khỏe tâm thần Điều này cũng được phát hiện tương tự
với nghiên cứu của Nguyen (2003) tại thành phố Hồ Chí Minh [70]
1.1.2.2 Hiểu biết, thái độ của cộng đồng với từng rối loạn tâm thần cụ thể
Khuynh hướng tiếp cận này bắt đầu sớm hơn cách trên với các nghiên cứu
của Nunnally (1961) [72] và Bhugra (1989) [37] Các tác giả tập trung chủ
yếu vào việc tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với từng rối loạn tâm thần cụ
Trang 29thể và quan niệm cách điều trị hiệu quả cho từng rối loạn cụ thể đó Những rối
loạn tâm thần thường được nghiên cứu gồm tâm thần phân liệt như trong
nghiên cứu của Furnham (2007) [46], trầm cảm trong nghiên cứu của Rippere
(1977) [79] hoặc các bệnh tâm thần phổ biến khác trong nghiên cứu của Scior
và Furnham (2011) về chậm phát triển trí tuệ [83], Furnham và Lousley về
các dạng rối loạn lo âu [45], Koyama và cộng sự (2009) về tự kỷ [61] v.v…
Những nghiên cứu trên là những nghiên cứu điều tra xã hội học khảo sát
trên những nhóm mẫu lớn và những phát hiện về niềm tin, thái độ của cộng
đồng rất quan trọng Qua đó, giúp hiểu lý do của thái độ tiêu cực và định kiến
của xã hội về từng loại rối loạn tâm thần Vì vậy, cũng giúp giải thích tại sao
có rất nhiều người mắc các rối loạn này nhưng không sẵn sàng tìm đến những
biện pháp can thiệp điều trị mà hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần cung
cấp
Gần đây, theo một nghiên cứu của Furnham (2009), các khách thể tham gia
nhìn chung rất lạc quan và tin tưởng hiệu quả của tâm lý trị liệu; họ nhìn nhận
tâm thần phân liệt có nền tảng nguyên nhân do yếu tố sinh học, còn trầm cảm
và rối loạn lưỡng cực thì do kết hợp yếu tố gia đình, căng thẳng công việc và
những yếu tố khác, rối loạn ám ảnh cưỡng bức được cho là do căng thẳng và
liên quan gia đình; họ cũng nghĩ điều trị tâm lý rất hiệu quả nhưng điều trị
thuốc hiệu quả hơn đối với tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực; họ tin
rằng trầm cảm có cơ hội được chữa lành, thuyên giảm hơn so với tâm thần
phân liệt và rối loạn lưỡng cực [44] Cách tiếp cận này tập trung vào các yếu
tố văn hóa, xã hội và không xác định độ chính xác của niềm tin này so với
thông tin khoa học về bệnh
Tóm lại, việc tìm hiểu nhận thức về sức khỏe tâm thần đã, đang và sẽ vẫn
được tiếp tục nghiên cứu do vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao
chất lượng chăm sóc cho cộng đồng và cả người bệnh Bên cạnh đó, việc
Trang 30nghiên cứu sâu hơn về từng rối loạn tâm thần cụ thể, đặc biệt là những dạng
rối loạn gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống con người như trầm
cảm thì càng cần được lưu tâm và tìm hiểu
1.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhận thức về trầm cảm
Trầm cảm đã được nói đến từ thời cổ đại trước công nguyên nhưng đến
năm 1899, từ việc tổng hợp những hiểu biết trước đó của các nhà tâm thần
học người Pháp và Đức, khái niệm trầm cảm mới được bác sĩ Emil
Kraepeline đề cập cụ thể, rõ ràng và có hệ thống hơn với những tiêu chuẩn
vẫn còn có giá trị cho đến nay Phần lớn các nghiên cứu tại nhiều nước tập
trung vào vấn đề dịch tể, những phát hiện mới về nguyên nhân-yếu tố nguy cơ
và hướng điều trị hiệu quả đối với rối loạn
Trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ tập trung vào tìm hiểu Rối loạn trầm
cảm chủ yếu hay còn gọi là trầm cảm điển hình (trầm cảm)
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thực tế, tỉ lệ mắc trầm cảm chia đều cho cả dân số phương Tây và
phương Đông nhưng phần lớn các nghiên cứu về trầm cảm cũng như hiểu
biết, quan niệm rối loạn này lại tập trung nhiều ở các nước Châu Âu và Hoa
Kỳ Vì vậy, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu khảo sát và so sánh mức độ
tương đồng và khác biệt liên quan hiểu biết về trầm cảm giữa 2 cộng đồng
này
Tại một nghiên cứu ở Anh, người Anh bản xứ nhận định trầm cảm của họ
liên quan đến vấn đề y khoa hơn và cả những thay đổi về hoàn cảnh xã hội và
xác định trầm cảm bằng khí sắc trầm và vô vọng; trong khi đó, người Anh gốc
Nam Á thường định nghĩa trầm cảm bằng sự lo lắng (Lawrence và cộng sự,
2006) [62]
Trang 31Theo Karasz (2005), người Mỹ chính gốc cũng cho rằng những nguyên
nhân của trầm cảm đa dạng, phạm vi từ “mất cân bằng hormone” đến “các
vấn đề thần kinh”, vòn người Mỹ gốc Á thì cho rằng những căng thẳng và vấn
đề trong cuộc sống liên quan trầm cảm nhiều hơn và họ chọn việc tự quản lý
để vượt qua trầm cảm [58]
Trong nghiên cứu của Niewsma (2009) thì hiểu biết về triệu chứng trầm
cảm ở người Ấn bản địa và người Ấn định cư tại Mỹ khá tương đồng nhau
nhưng người Ấn bản địa không thể xác định người nhà của mình có bị trầm
cảm cũng như phần lớn cho rằng nguyên nhân gây ra trầm cảm có liên quan
khả năng kiểm soát sự chịu đựng của bản thân [71]
Như vậy, trong mỗi nền văn hóa, những niềm tin bản địa cho thấy ảnh
hưởng đến người bị trầm cảm trong việc xác định rối loạn, dạng điều trị họ
tìm đến và việc cam kết với các cách thức điều trị Những niềm tin bản địa về
trầm cảm bao gồm điều gì gây ra nó, làm gì với nó và những hậu quả xã hội
của nó cần được xem xét cho những chính sách chăm sóc sức khỏe và cách
tiếp cận các cách điều trị hiệu quả khác nhau Tuy chúng đôi khi có vẻ đối
nghịch nhau nhưng những khái niệm nền tảng về trầm cảm cần phải không
mâu thuẫn Xem xét về mặt văn hóa, các nhà nghiên cứu và nhân viên y tế có
thể tìm cách để tôn trọng những niềm tin khác nhau mà không cần phải ép
buộc họ, cũng như các cách sử dụng kiến thức khoa học chính xác mà không
phá vỡ hệ thống niềm tin thuộc về văn hóa [43],[50] Cả hiểu biết về mặt
chuyên môn và niềm tin bản địa về trầm cảm đều có những chức năng quan
trọng liên quan đến thực hành chăm sóc sức khỏe
Bên cạnh đó, người bị trầm cảm thường mô tả bệnh lý của mình với tình trạng thể chất hơn (Rahman, 2007) [77]; Weiss và cộng sự, 1995 [88]; Mirza
và cộng sự, 2006 [67] Ngoài ra, họ cũng dùng những từ ngữ liên quan cơ thể
để đặt tên cho trầm cảm như “rối loạn thần kinh” Có nghiên cứu cho thấy họ
Trang 32hay gọi là stress, căng thẳng, áp lực Rất ít nghiên cứu cho thấy bệnh nhân gọi
trầm cảm là một rối loạn tâm thần
Trầm cảm cũng cho thấy ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành trách nhiệm trong gia đình và gây ra những khó khăn về mối quan hệ Ngoài ra, trầm cảm
còn tác động đến công việc, việc nhà, thực hiện những hoạt động thường ngày
cũng như chức năng xã hội và nghề nghiệp
Các nghiên cứu trên cũng cho thấy nhiều bệnh nhân tin rằng không có điều trị nào có thể giúp họ Phần lớn bệnh nhân tìm kiếm sự hỗ trợ từ gia đình và
bạn bè Các thành viên gia đình và bạn bè thường được mô tả là “có tính
tương trợ, bản chất tốt và thấu hiểu” Cũng có nghiên cứu cho thấy phụ nữ bị
trầm cảm giấu kín cảm xúc của họ
Bệnh nhân trầm cảm cũng ứng phó với trầm cảm bằng cách chấp nhận sự khó khăn của hoàn cảnh hoặc nhận thức tích cực về tình huống như qua thời
gian khó khăn sẽ ổn hơn Nhiều nghiên cứu cho thấy người bệnh trầm cảm
thường cố gắng giải quyết vấn đề như một cách tự ứng phó Họ cũng thực
hiện những hành vi sức khỏe như ăn uống đủ dinh dưỡng, tập thể dục thường
xuyên và tập yoga hoặc thiền Ngoài ra, bệnh nhân còn chọn cách thư giãn
khác như nghe nhạc, đọc sách và tắm nước lạnh Hơn thế, họ còn đọc sách
báo để thu thập thông tin về vấn đề và học cách ứng phó tốt hơn với trầm
cảm
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Cho đến nay, ta có rất ít công bố khoa học chính thức nào về việc khảo sát
hiểu biết, nhận thức của chính bệnh nhân người Việt Nam Gần đây, có báo
cáo của tỉnh Đà Nẵng trong việc khảo sát và can thiệp nhằm nâng cao nhận
thức của cộng đồng về trầm cảm (VVAF, 2012) cung cấp những số liệu liên
quan những kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân và lựa chọn điều trị của
người dân tại đây [22]
Trang 33Ngoài ra, Việt Nam thật sự chưa có báo cáo khoa học nào về hiểu biết trầm
cảm của chính người mắc rối loạn này, đặc biệt tại chính cơ sở khám chữa
bệnh chuyên khoa, nơi mà người bệnh có thể đã chịu ảnh hưởng từ bệnh cũng
như tìm kiếm cho mình những phương pháp can thiệp khác nhau
Vì lẽ đó, đề tài này chọn khách thể nghiên cứu chính là các bệnh nhân bị
trầm cảm lần đầu tiên đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa Tuy nhiên,
giới hạn của đề tài là khảo sát hiểu biết về trầm cảm chỉ ở các phương diện:
- Khả năng hiểu biết và nhận diện các triệu chứng trầm cảm
- Khả năng hiểu biết và chấp nhận các nguyên nhân, yếu tố nguy cơ gây ra trầm cảm
- Khả năng hiểu biết và chấp nhận các hình thức can thiệp trầm cảm cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ và giúp đỡ từ người xung quanh và các dịch vụ chăm sóc khác
- Năng lực vận dụng hiểu biết về trầm cảm cho bản thân người bệnh
1.3 Khái niệm công cụ của đề tài
1.3.1 Khái niệm về nhận thức
Có nhiều tác giả nhận định về nhận thức và theo Theo Từ điển Tâm lý học
của tác giả Nguyễn Khắc Viện: “Nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp
thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những
hiện tượng, quá trình nào đó” [25] Trong định nghĩa này nhận thức được
đánh giá như những hiểu biết về sự vật hiện tượng, về không chỉ hình thức
bên ngoài mà còn cả tính quy luật của đối tượng Từ việc phân tích các quan
điểm về nhận thức, tôi hiểu khá niệm về nhận thức là “quá trình phản ánh, tái
hiện hiện thực khách quan vào đầu óc con người qua quá trình hoạt động,
giao tiếp xã hội, từ đó, con người thể hiện khả năng biết, hiểu và vận dụng
vào trong cuộc sống của mình” Vì vậy, đề tài nghiên cứu của tôi tập trung
Trang 34chủ yếu vào khả năng biết, hiểu và áp dụng cho bản thân của người bệnh trầm
cảm
1.3.2 Người bệnh trầm cảm
Người mắc trầm cảm có biểu hiện 3 triệu chứng chủ yếu là khí sắc trầm,
mất hứng thú và giảm năng lượng, dễ mệt mỏi Các triệu chứng khác cũng
thường xuất hiện là giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm tính tự trọng và lòng
tự tin, có những ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm
đạm và bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ,
thay đổi sự ngon miệng [20],[34] Trên lâm sàng, tại Việt Nam, các bác sĩ
thường chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
(ICD – 10) [19]:
+ Ba triệu chứng cơ bản: (i) Khí sắc trầm; (ii) Mất quan tâm, hứng thú
và sở thích; (iii) Giảm năng lượng/ giảm hoạt động/ tăng mệt mỏi
+ Các triệu chứng phổ biến khác: (i) Giảm sút sự tập trung và sự chú ý;
(ii) Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin; (iii) Có những ý tưởng bị tội và
không xứng đáng; (iv) Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan; (v) Có ý tưởng
và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát; (vi) Rối loạn giấc ngủ; (vii) Ăn mất ngon;
(viii) Các triệu chứng sinh học như: sút cân, rối loạn giấc ngủ, táo bón, mất
ngon miệng, giảm dục năng, dao động khí sắc trong ngày, nhiều phụ nữ có rối
loạn kinh nguyệt
+ Căn cứ trên các triệu chứng cơ bản và các triệu chứng phổ biến, có thể phân chia trầm cảm thành (i) giai đoạn trầm cảm nhẹ; (ii) giai đoạn trầm
cảm vừa; (iii) giai đoạn trầm cảm nặng
Các giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng được mô tả chi tiết ở trên chỉ được
chẩn đoán cho một giai đoạn trầm cảm đơn độc (đầu tiên) Các giai đoạn trầm
cảm về sau được chẩn đoán theo các tiêu chuẩn trầm cảm tái diễn
Trang 35Tuy vậy, việc đánh giá khách quan từ bạn bè hoặc người thân sẽ cho thấy
một bệnh cảnh lâm sàng đầy đủ hơn [11]
1.3.3 Nhận thức về trầm cảm
1.3.3.1 Nhận thức về triệu chứng trầm cảm
Chúng tôi khảo sát kiến thức về các triệu chứng trầm cảm của người bệnh
và mức độ tùy thuộc vào khả năng hiểu biết đầy đủ của họ dựa theo tiêu
chuẩn chẩn đoán rối loạn này Trong nghiên cứu này, tiêu cuẩn đánh giá trên
lâm sàng DSM - IV được chúng tôi áp dụng [35] với nội dung cụ thể:
A Có ít nhất 5 trong số các triệu chứng sau xuất hiện đồng thời trong
khoảng thời gian 2 tuần và làm thay đổi đáng kể những chức năng trước đó
Trong số các triệu chứng này phải có ít nhất một trong số 2 triệu chứng là khí
sắc trầm hoặc mất quan tâm thích thú
6 Mệt mỏi hoặc mất năng lượng
7 Cảm thấy không xứng đáng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp
8 Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc khả năng quyết định
9 Những suy nghĩ về cái chết hoặc ý tưởng tự sát
B Các tiêu chuẩn này không đáp ứng tiêu chuẩn của rối loạn cảm xúc hỗn hợp
C Những triệu chứng này gây suy giảm đáng kể các chức năng nghề nghiệp,
xã hội hoặc chức năng quan trọng trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác
Trang 36D Những triệu chứng này không phải do ảnh hưởng trực tiếp về mặt cơ thể
của nghiện chất hoặc bệnh lý thực tổn
E Các triệu chứng này không phù hợp với sự tang tóc (các triệu chứng
trầm cảm buồn phiền kéo dài ít hơn 2 tháng)
Bên cạnh đó, nhận thức đầy đủ về biểu hiện trầm cảm còn liên quan đến
khả năng họ vận dụng cho bản thân, đồng nghĩa với việc họ gọi đúng tên vấn
đề sức khỏe họ đang mắc phải là trầm cảm cũng như nhận diện đầy đủ các
triệu chứng trầm cảm của bản thân họ
1.3.3.2 Nhận thức về nguyên nhân gây ra trầm cảm
Cho đến nay vẫn chưa xác định một nguyên nhân cụ thể dẫn đến trực tiếp
rối loạn trầm cảm mà qua nhiều nghiên cứu cho thấy đó là kết quả từ đa yếu
tố Như vậy, người bệnh có nhận thức đầy đủ khi có kiến thức về sự kết hợp
các yếu tố nguyên nhân trầm cảm được chứng minh trên cơ sở khoa học cũng
như chấp nhận chúng khi vận dụng cho chính họ
a) Yếu tố y - sinh học:
Chất dẫn truyền thần kinh trung ương [36],[40] cho đến nay được nhiều
nghiên cứu chứng minh có liên quan đến rối loạn này Trên bệnh nhân trầm
cảm, người ta cho rằng Norepinephrine giảm trong trầm cảm Bên cạnh đó,
nồng độ serotonin ở khe synap thần kinh giảm rõ rệt so với người bình
thường Khi dùng các thuốc ức chế tái hấp thu Serotonin chọn lọc, người ta
thấy nồng độ Serotonin tại các khe synap tăng lên và triệu chứng trầm cảm cải
thiện Ngoài Norepinephrine và Serotonin thì Dopamin cũng đóng một vai trò
khá quan trọng trong trầm cảm Một số công trình nghiên cứu cho thấy hoạt
động của Dopamin tăng trong hưng cảm và giảm trong trầm cảm
Mối liên hệ cuả việc tăng tiết Cortisol và trầm cảm đã được ghi nhận từ lâu
Các rối loạn cảm xúc và các rối loạn tuyến giáp có liên quan nhau, người ta
Trang 37cho rằng cơ chế hormone TSH và TRH của tuyến giáp có liên quan đến vấn
đề này
Thân nhân của người bị trầm cảm dễ bị trầm cảm hơn Tỉ lệ bệnh ở nhóm
sinh đôi cùng trứng là 65% đến 75%, trong khi sinh đôi khác trứng là 14%
đến 19% [40]
b) Yếu tố môi trường - xã hội:
Nhiều nhà lâm sàng cho rằng các rối loạn stress đóng vai trò chủ đạo trong
bệnh sinh của trầm cảm Dưới tác động lâu dài của stress cấp hay mạn tính từ
những khó khăn trong cuộc sống (mất cha mẹ sớm, không được chăm sóc đầy
đủ lúc bé, nhà ở thiếu thốn, địa vị kinh tế xã hội thấp, ly thân hoặc ly dị, mất
người thân, mất việc, lạm dụng rượu và chất gây nghiện…) khiến các yếu tố
sinh học trong não bị biến đổi, từ đó dẫn đến thay đổi trong chức năng của
não [40]
c) Yếu tố tâm lý:
Trầm cảm còn do cá nhân thiếu có kỹ năng sống quan trọng (ứng phó cảm
xúc, giải quyết vấn đề, tự chăm sóc bản thân, v.v…) cũng như cách ứng phó
tiêu cực trước những sự kiện, biến cố trong cuộc sống Ngoài ra, nhân cách
dạng ám ảnh, lòng tự tôn thấp, những kiểu mẫu tiêu cực về suy nghĩ cũng
được xem là “yếu tố nguy cơ” của trầm cảm [36]
1.3.3.3 Nhận thức về cách ứng phó – điều trị trầm cảm
Với cơ chế bệnh sinh là yếu tố đa nguyên thì việc điều trị trầm cảm cũng gồm nhiều phương pháp, hoặc đơn trị liệu hoặc kết hợp tùy theo mức độ nặng
của trầm cảm [30] Do đó, nhận thức đầy đủ về cách ứng phó – điều trị trầm
cảm chính là sự hiểu biết và chấp nhận việc phối hợp các phương pháp khoa
học được nghiên cứu và công bố như sau:
Trang 38a) Điều trị tâm lý - xã hội
Theo WHO (2010), liệu pháp tâm lý được dùng như trị liệu đầu tiên cho
trầm cảm nhẹ và kết hợp với thuốc cho thể trung bình đến nặng [73] Nhiều
dạng tâm lý trị liệu cho trầm cảm đang được dùng, tuy nhiên hai dạng tâm lý
trị liệu có bằng chứng khoa học tốt nhất là liệu pháp nhận thức (tập trung vào
các dạng nhận thức lệch lạc) và liệu pháp liên cá nhân (tập trung vào những
vấn đề về mối quan hệ của bệnh nhân) và được tìm thấy trong những nghiên
cứu có đối chứng là trị liệu hiệu quả cho trầm cảm
b) Điều trị thuốc – đơn thuần theo hướng y khoa:
Việc điều trị trầm cảm bằng thuốc cũng được áp dụng từ lâu [33]
- Thuốc chống trầm cảm đầu tiên được tìm thấy là nhóm ức chế men Monoamine Oxidase (IMAO) Tuy nhiên thuốc gây nhiều tác dụng phụ lên
tim mạch, đặc biệt là gây ra cơn cao huyết áp nguy hiểm do thiếu cảnh giác
với thức ăn chứa nhiều Tyramine, và tương tác với rất nhiều loại thuốc khác
gây ra nhiều phản ứng nguy hiểm Đến năm 1958, Roland Kuhn thử nghiệm
thành công các chất 3 vòng trong điều trị trầm cảm tại Thụy Sĩ Imipramine ra
đời trong thời điểm này Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (thường gọi là
nhóm TCA), tác động theo cơ chế làm giảm tái hấp thu Nor-Epinephrine và
Serotonin tiền synap thần kinh, phong tỏa thụ thể Muscarinic và thụ thể
Histamin Tác dụng phụ hay gặp là gây khô miệng táo bón do đặc tính kháng
cholinergic, ở mức độ trầm trọng có thể gây ra lú lẫn, nói sảng Ngoài ra tác
dụng phụ lên tim mạch khá nhiều nên bệnh nhân rất cần phải theo dõi chặt
chẽ Điện tâm đồ cũng như các rối loạn tim mạch khác [28]
- Một hướng mới trong dược lý tâm thần bắt đầu vào năm 1987 với việc phát hiện ra Fluoxetin, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc Serotonin đầu tiên,
hay thường gọi là nhóm SSRIs Nhóm này với những thuốc thế hệ đầu tiên là
Sertralin, Paroxetin, Citalopram, Fluvoxamin, và Fluoxetin đã được công
Trang 39nhận cho sử dụng tại Mỹ từ năm 1987 SSRIs tác động chủ yếu là ức chế chọn
lọc việc tái hấp thu Serotonin tiền synap tế bào thần kinh, ít ảnh hưởng lên hệ
Adrenergic, Histamin và hệ Cholinergic Tác dụng phụ thường gặp là đau
đầu, buồn nôn và các rối loạn hệ tiêu hóa, giảm chức năng tình dục, kích động
[33] Những năm sau đó, hàng loạt thuốc theo những cơ chế mới khác như
Venlafaxin (1990), Tianeptin (2000), Mirtazapine v.v… góp phần làm tăng
hiệu quả điều trị trầm cảm một cách đáng kể
- Sốc điện (ECT), kích thích từ xuyên sọ lặp đi lặp lại (rTMS) và kích thích thần kinh lang thang (VNS): những phương pháp này chưa được ứng
dụng rộng rãi tại Việt Nam do thiếu điều kiện phù hợp
1.3.4 Những yếu tố liên quan trầm cảm
1.3.4.1 Các yếu tố nhân khẩu học có liên quan
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới thì hàng năm có 3-5% dân số thế
giới, tương đương hàng trăm triệu người mắc bệnh trầm cảm [41],[81] Theo
một nghiên cứu ở 8 cộng đồng chính tại Châu Âu và Mỹ, tỉ lệ mắc phải suốt
đời của trầm cảm từ 5-17% Tỉ lệ mới mắc hằng năm là 1,59% [32] Hơn nữa,
tại Mỹ, 15% ca trầm cảm nặng đưa đến tự sát và đây là nguyên nhân gây tử
vong đứng hàng thứ 7 tại Mỹ [85]
Tỉ lệ nữ/nam là 2/1 [4] Nguyên nhân của sự chênh lệch này có thể là do sự
khác biệt về nội tiết, những ảnh hưởng do mang thai, các yếu tố stress khác
biệt giữa nam và nữ [32]
Tuổi khởi phát trầm cảm Trung bình là 40 Khoảng 50% bệnh nhân khởi
phát ở độ tuổi 20 đến 50 tuổi, cao nhất ở độ tuổi 25-44 [4] Trầm cảm có thể
khởi phát từ tuổi ấu thơ hay tuổi già Những nghiên cứu gần đây, hội chứng
trầm cảm ngày càng gia tăng ở những người trẻ dưới 20 tuổi, có thể liên quan
đến việc lạm dụng rượu hay chất kích thích ở nhóm này [32]
Trang 40Trầm cảm xảy ra ở những người có mối quan hệ khép kín hay những người
ly dị hay ly thân Không có mối liên quan rõ ràng nhưng trầm cảm thường xảy
ra ở vùng nông thôn hơn thành thị [32]
Trầm cảm thì có nguy cơ có 1 hay nhiều rối loạn tâm thần đi kèm, thường
là nghiện chất, rối loạn hoảng loạn, ám ảnh cưỡng chế hay ám ảnh sợ xã hội
[32] Khoảng 20-90% bệnh nhân có rối loạn hoảng loạn có những giai đoạn
biểu hiện của trầm cảm [57]
1.3.4.2 Tác hại, ảnh hưởng của trầm cảm
Dù ở thời đại nào thì trầm cảm cũng là một rối loạn nguy hiểm đe dọa đến cuộc sống và tính mạng con người Trầm cảm ảnh hưởng đến hàng trăm triệu
người trên khắp thế giới và nó có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào từ thời
thơ ấu đến tuổi già Rối loạn này gây ra nỗi đau khổ, mất mát nghiêm trọng,
ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống, giảm 63% so với chuẩn bình
thường [78]
Bên cạnh đó, trầm cảm còn là nguyên nhân chính gây ra các tai nạn tại nhà
và nơi làm việc cũng như khiến hiệu quả lao động thấp, ảnh hưởng đến hạnh
phúc gia đình và gia tăng các chi phí chi trả bảo hiểm [66] Ngoài ra, khả
năng 50% bệnh nhân trầm cảm bị tái phát từ trên 1 cơn và nếu không điều trị
có thể dẫn đến tử vong do tỉ lệ tự tử thành công khá cao là 10-15% [30]
1.3.4.3 Mức độ nặng của trầm cảm
Trên lâm sàng, mức độ nặng của trầm cảm thường được phân chia thành 3
mức độ là nhẹ, trung bình và nặng dựa theo tiêu chuẩn của ICD-10 [19]
* Giai đoạn trầm cảm nhẹ: Khí sắc trầm, mất quan tâm, giảm thích thú, mệt
mỏi nhiều khó tiếp tục công việc hằng ngày và hoạt động xã hội Ít nhất phải
có 2 trong số những triệu chứng chủ yếu cộng thêm 2 trong số những triệu