MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐÀO HUY KHÁNH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY THÌ, TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO HUY KHÁNH
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY THÌ, TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO HUY KHÁNH
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY THÌ, TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Quân
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Duy Thì,
tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Văn Quân
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu, các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác,
các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Học viên
Đào Huy Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả luôn nhận được sự động viên khuyến khích và tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo, các
thầy giáo, cô giáo, anh chị em đồng nghiệp và gia đình
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Giáo dục đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức
cơ bản, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được
những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
- Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Văn Quân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả trong thời gian nghiên
cứu và hoàn thành luận văn
- Tác giả xin chân thành cảm ơn sự động viên, tạo điều kiện giúp đỡ của Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc, các thầy cô giáo trường THPT Nguyễn Duy Thì
và gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và
hoàn thiện luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được
sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người
quan tâm đến luận văn này để công trình nghiên cứu tiếp theo được tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Đào Huy Khánh
Trang 5DANH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
THPT QG Trung học phổ thông quốc gia
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Khái niệm giáo viên, giáo viên THPT 9
1.2.2 Khái niệm đội ngũ, đội ngũ giáo viên 11
1.2.3 Khái niệm phát triển, phát triển ĐNGV, biện pháp phát triển ĐNGV 12 1.2.4 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 15
1.3 Tầm quan trọng của vấn đề phát triển ĐNGV trong trường THPT hiện nay 20
1.3.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển ĐNGV 20
1.3.2 Sự phát triển của giáo dục THPT hiện nay và các yêu cầu đặt ra với đội ngũ giáo viên THPT 21
1.3.3 Tầm quan trọng của việc phát triển ĐNGV 26
1.4 Những nội dung cơ bản của pháp triển ĐNGV trường THPT 27
1.4.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên 27
1.4.2 Tuyển chọn đội ngũ giáo viên 28
1.4.3 Sử dụng đội ngũ giáo viên 32
Trang 71.4.4 Đánh giá đội ngũ giáo viên 33
1.4.5 Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 34
1.4.6 Các chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV 35
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề phát triển ĐNGV trường THPT 37
1.5.1 Ảnh hưởng từ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 37
1.5.2 Ảnh hưởng từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên 38
1.5.3 Ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong quá trình phát triển ĐNGV nhà trường 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY THÌ, TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 40
2.1 Giới thiệu về trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.2 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay 41
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường hiện nay 42
2.1.4 Xu hướng phát triển của nhà trường 42
2.2 Thực trạng về ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc 42
2.2.1 Về số lượng giáo viên 42
2.2.2 Về cơ cấu ĐNGV 44
2.2.3 Về chất lượng ĐNGV 49
2.3 Đánh giá chung về thực trạng ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì 52 2.3.1 Những mặt mạnh 52
2.3.2 Những mặt hạn chế 53
2.3.3 Nguyên nhân 54
2.3.4 Hướng khắc phục 54
2.4 Thực trạng công tác phát triển ĐNGV của trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc (từ năm học 2009 - 2010 đến năm học 2014 - 2015) 55
2.4.1 Nhận thức về công tác phát triển đội ngũ giáo viên 55
Trang 82.4.2 Thực trạng công tác phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy
Thì 56
2.4.3 Đánh giá chung về công tác phát triển ĐNGV của trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc 60
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN DUY THÌ TỈNH VĨNH PHÚC 63
3.1 Định hướng phát triển trường THPT Nguyễn Duy Thì 63
3.1.1 Mục tiêu chung 63
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 63
3.1.3 Mục tiêu phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì trong giai đoạn hiện nay (2011- 2020) 63
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển ĐNGV trong nhà trường THPT 64
3.2.1 Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học 64
3.2.2 Nguyên tắc bảo đảm về tính nhất quán, toàn diện 65
3.2.3 Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp với tình hình thực tiễn 65
3.2.4 Nguyên tắc bảo đảm sự kế thừa và phát triển 65
3.2.5 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 66
3.3 Các biện pháp phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì trong giai đoạn 2011 – 2020 66
3.3.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của ĐNGV đối với sự phát triển của nhà trường 66
3.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay 68
3.3.3 Biện pháp 3: Đổi mới công tác tuyển chọn và sử dụng ĐNGV nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ 71
3.3.4 Biện pháp 4: Tổ chức tốt công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên 74
Trang 93.3.5 Biện pháp 5: Có chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho
đội ngũ giáo viên 78
3.3.6 Biện pháp 6: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên 80
3.4 Tổ chức thực hiện các biện pháp 82
3.5 Thăm dò về tính khả thi, tính cấp thiết của các biện pháp 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Số lượng ĐNGV của nhà trường 43
Bảng 2.2 : Bảng thống kê số lượng giáo viên của từng môn học 44
Bảng 2.3 : Số lượng và tỷ lệ GV theo độ tuổi của nhà trường 45
Bảng 2.4 : Tỷ lệ nam, nữ của ĐNGV nhà trường 47
Bảng 2.5 : Tỷ lệ nam, nữ của ĐNGV nhà trường theo tổ chuyên môn 48
Bảng 2.6 : Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của ĐNGV nhà trường 49
Bảng 2.7 : Trình độ đào tạo của ĐNGV nhà trường 50
Bảng 2.8 : Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của ĐNGV nhà trường 51
Bảng 2.9: Trình độ Ngoại ngữ và Tin học của ĐNGV nhà trường theo tổ chuyên môn (năm học 2014 - 2015) 51
Bảng 3.1: Kết quả thống kê nhận thức về tính khả thi và tính cấp thiết 84
của các biện pháp 84
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối tương quan giữa bồi dưỡng, phát triển nâng cao kỹ năng nghề
nghiệp và phát triển ĐNGV 14
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ các chức năng quản lý 18
Sơ đồ: 1.3: Mối quan hệ giữa các khâu trong quá trình phát triển ĐNGV 36
Biểu đồ 2.1 : Số lượng giáo viên của nhà trường so với đinh mức của Bộ 43
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ trung bình 5 năm theo độ tuổi của ĐNGV nhà trường 46
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nam, nữ trung bình của ĐNGV nhà trường 47
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển ĐNGV 83
trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc 83
Trang 12Trong khi đất nước ta đang tiến hành công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH
và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Để thực hiện mục tiêu chiến lược
này, vấn đề xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đủ sức đáp ứng yêu cầu
phát triển KT-XH là một đòi hỏi khách quan, vừa mang tính cấp bách vừa có
ý nghĩa lâu dài Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã
khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng
nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và
con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là
đầu tư phát triển”.[18]
Thực tiễn và yêu cầu xã hội đã đặt ra cho giáo dục những thời cơ và thách thức lớn Chất lượng GD&ĐT chịu sự tác động của nhiều yếu tố Song
yếu tố căn bản nhất, chiếm vị trí quan trọng nhất đó là ĐNGV, những người
trực tiếp tham gia vào quá trình hoàn thiện nhân cách công dân Vì vậy, trong
công tác phát triển GD&ĐT, ĐNGV luôn được xem là lực lượng cốt cán của
sự nghiệp phát triển GD&ĐT, là nhân tố quan trọng nhất quyết định việc nâng
cao chất lượng giáo dục, biến giáo dục, biến mục tiêu phát triển giáo dục của
Đảng thành hiện thực Do vậy, muốn phát triển GD&ĐT, điều quan trọng
trước tiên là phải chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV
Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam đã chỉ rõ: Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
Trang 13đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương
tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định
hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [1]
Với sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước, ĐNGV đã không ngừng phát triển về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu
cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng
lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước Song, trước những yêu cầu mới của
sự phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH và xu thế hội nhập quốc tế,
ĐNGV có những hạn chế, bất cập; giáo viên vẫn còn thiếu, cơ cấu chưa đồng bộ,
chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục,
làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục Trong khi đó, ngành GD&ĐT
chưa có đủ những giải pháp mạnh mẽ để đổi mới, cải tiến nội dung chương trình,
phương pháp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV
Vì vậy, việc bồi dưỡng và phát triển ĐNGV là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và cấp thiết của ngành GD&ĐT, của tất cả các cấp giáo dục,
mà giáo dục phổ thông được coi là nền tảng, có một vai trò đặc biệt quan
trọng tạo dựng mặt bằng dân trí và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp
ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc đã được quan tâm xây dựng và phát triển về mọi mặt, song vẫn còn có những hạn chế, bất
cập: số lượng giáo viên trẻ mới ra trường, thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy
chiếm gần 70% quân số giáo viên của nhà trường ĐNGV chưa đồng bộ về
chuyên môn, năng lực giảng dạy Đặc biệt, việc thực hiện đổi mới phương
pháp dạy học còn nhiều hạn chế, lực lượng giáo viên cốt cán còn mỏng Với
mong muốn tìm ra những biện pháp thiết thực và phù hợp nhằm phát triển
ĐNGV của nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay tôi
chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Duy Thì,
tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”
Trang 142 Câu hỏi nghiên cứu
Trong những năm học gần đây, tuy đã có nhiều đổi mới trong công tác quản lý nhưng chất lượng dạy và học của trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh
Vĩnh Phúc chưa có sự thay đổi rõ rệt, thứ bậc của nhà trường vẫn đứng ở vị trí
rất thấp so với các trường THPT trong tỉnh, đặc biệt là kết quả kỳ thi THPT
QG năm 2015, nhà trường xếp thứ hạng 37/38 trong các trường THPT của
tỉnh Phải chăng đây là vấn đề liên quan đến chất lượng đội ngũ giáo viên?
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là:
1) Thực trạng phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì diễn ra như thế nào?
2) Cần có những biện pháp thiết thực nào để phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao chất
lượng dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục trong giai đoạn hiện
nay?
3 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây đã được quan tâm nhưng chưa có
nhiều chuyển biến tích cực Nếu đề xuất và áp dụng đồng bộ các bộ phận theo
hướng hỗ trợ cán bộ quản lý và giáo viên thực hiện tốt đổi mới phương pháp
dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng
lực học sinh nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động dạy học,
thì chất lượng đội ngũ giáo viên sẽ được nâng cao, từ đó nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của
trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu và
nhiệm vụ giáo dục của nhà trường trong giai đoạn hiện nay (2011 - 2020)
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Trang 155.1 Khách thể nghiên cứu:
Đội ngũ giáo viên trường THPT
5.2 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác phát triển phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn
Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Giới hạn thời gian: Các số liệu khảo sát, đánh giá thực trạng công tác
phát triển ĐNGV trong giai đoạn từ 2009 - 2015
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển ĐNGV trường
THPT
7.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng ĐNGV Trường THPT
Nguyễn Duy Thì tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2009 đến nay
7.3 Đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV của trường THPT Nguyễn
Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu, sách, báo, tạp chí có liên quan đến quy hoạch, xây dựng và phát triển ĐNGV trường THPT
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát các nhóm là cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh để thu thập các số liệu, phương pháp điều tra, phương pháp hỏi ý kiến chuyên
gia, phương pháp phỏng vấn, phương pháp khảo sát, phương pháp dự giờ…
8.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Tổng kết kinh nghiệm của các cán bộ quản lý và bản thân về vấn đề quản lý phát triển chất lượng ĐNGV thời gian qua Từ đó đề xuất biện pháp
phát triển chất lượng ĐNGV trong giai đoạn hiện nay
8.4 Phương pháp thống kê
Số liệu thu được từ bảng hỏi được xử lý, phân tích bằng thống kê toán học
Trang 169 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV trường THPT Chương 2: Thực trạng về công tác phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Chương 3: Các biện pháp phát triển ĐNGV trường THPT Nguyễn Duy Thì, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề
Những năm đầu của thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ với những bước tiến nhảy vọt, thế giới chuyển từ nền văn minh công nghiệp
sang nền văn minh trí tuệ Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hoá là
xu thế tất yếu, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của tất cả các quốc gia
trên thế giới Sự vận động của nền kinh tế toàn cầu hướng tới một giai đoạn phát
triển mới - giai đoạn kinh tế tri thức Giáo dục đang bước ra khỏi vị trí truyền
thống là một bộ phận kiến trúc thượng tầng để trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, nhà trường không còn dừng ở việc truyền bá tri thức mà còn là nơi sản sinh
tri thức và áp dụng tri thức để góp phần đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao
động, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm Với tư cách là công cụ sản sinh, truyền
bá và áp dụng tri thức, giáo dục có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết trong sự
phát triển của các quốc gia Nó vừa là động lực cho việc thực hiện kinh tế tri
thức, vừa là hạ tầng cho việc hình thành xã hội tri thức
Vì những lý do trên mà vai trò của giáo dục trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội không ngừng được củng cố và tăng cường Ngày nay ở hầu
hết mọi quốc gia, giáo dục đều được đặt ở vị trí trung tâm trong các chiến lược
phát triển đất nước Thậm chí ở một số nước, người ta quan niệm vấn đề quan
trọng nhất trong phát triển ngày nay là phát triển giáo dục, đây thực sự còn là
cuộc cách mạng trong các quan niệm, các cách tiếp cận, nó đòi hỏi con người
phải đổi mới cách nghĩ, cách làm để thích nghi và làm chủ sự phát triển Với tầm
quan trọng đặc biệt của giáo dục trong nền kinh tế tri thức, nhiều quốc gia trên
thế giới đã nhạy bén tiến hành cải cách giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông
Ở Việt Nam, qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục
Trang 18mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng một cách tích cực nhu cầu nâng cao
dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã hội Trong suốt tiến trình ấy hệ
thống giáo dục Việt Nam không ngừng xây dựng và phát triển ĐNGV với
quan điểm: Chất lượng ĐNGV là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng
giáo dục
Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục
nói chung và người thầy nói riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ
giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có
giáo dục”.[27, tr 114] Các nghị quyết của Đảng, Luật Giáo dục, chiến lược
phát triển giáo dục và các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta đều nhất
quán đặt ĐNGV vào vị trí trung tâm, được xã hội tôn vinh và có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà Chăm lo xây
dựng và phát triển ĐNGV để họ đáp ứng yêu cầu và theo kịp với sự thay đổi,
phát triển của giáo dục là trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục, của từng
bản thân mỗi giáo viên và của toàn xã hội ĐNGV là bộ phận quan trọng của
nguồn nhân lực xã hội, là nguồn lực cơ bản của ngành GD&ĐT, của một nhà
trường; được thừa hưởng tất cả những ưu đãi của Nhà nước về phát triển
nguồn nhân lực và cần phải được nghiên cứu đổi mới kịp thời đáp ứng sự thay
đổi phát triển của nền giáo dục
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ
X khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, cơ cấu hợp lý, chất lượng
tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận vững vàng Có cơ chế, chính sách
bảo đảm, phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và
đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài” [17, tr 23]
Nghiên cứu về ĐNGV được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô:
Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ - TTg ngày 11
tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ)
Trang 19Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Hội đồng Quốc gia Giáo
dục thực hiện từ tháng 12 năm 2008 đến hết tháng 4 năm 2009: “Phát triển
giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập
quốc tế” có 13 nội dung, trong đó có nội dung “Nghiên cứu các chính sách
phát triển giáo viên”
Dự thảo Chiến lược phát triển Giáo dục 2011 - 2020 của Bộ GD&ĐT
và đưa ra 11 giải pháp, trong đó giải pháp: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục” được coi là 1 trong 2 giải pháp có tính đột phá
Bộ GD&ĐT đang triển khai 14 dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc
gia về GD&ĐT đến năm 2020, trong đó có dự án “Đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”
Ngoài ra còn có nhiều hội thảo khoa học về chủ đề xây dựng và phát triển ĐNGV dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học được thực
hiện Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo
-Nguyễn Đắc Hưng [5], -Nguyễn Thị Mỹ Lộc [26], Trần Bá Hoành [23]…
Gần đây có nhiều Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề này như:
- Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Vân Anh về “Biện pháp phát triển
ĐNGV Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”
- Tác giả Đặng Minh Tiến về “Phát triển ĐNGV Trung học phổ thông
Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”
- Tác giả Trần Trang Nhung về “Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung
cấp Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”
- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng về “Biện pháp phát triển ĐNGV các
Trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục hiện nay”
Các tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn công tác phát triển ĐNGV ở địa phương mình, đơn vị mình theo từng điều
kiện, đặc điểm của vùng, miền trên địa bàn toàn quốc
Trang 20Tổng quan các nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Nghiên cứu về ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục
- Các nghiên cứu về phát triển ĐNGV được tập trung vào hai mảng chính: nghiên cứu phát triển ĐNGV theo cấp bậc và ngành học; nghiên cứu
phát triển ĐNGV cho từng cơ sở giáo dục thuộc bậc, cấp, ngành học
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm giáo viên, giáo viên THPT
1.2.1.1 Giáo viên
Tại Điều 70, Luật Giáo dục 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ
về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo:
“1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
quy định đã ghi rõ: Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng
dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo
viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 21(bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ
trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp
tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh [7]
Tại Điều 31 của Điều lệ này đã ghi rõ nhiệm vụ của giáo viên THPT:
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường
tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất
lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng
tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng
nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác,
an toàn và lành mạnh;
e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong
Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Cũng tại Điều 32 của Điều lệ này giáo viên THPT được đảm bảo các quyền sau đây:
a) Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh;
Trang 22b) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
c) Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường;
d) Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;
đ) Được cử tham gia các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
e) Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường
và cơ sở giáo dục khác nếu thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quy định tại
Điều 30 của Điều lệ này và được sự đồng ý của Hiệu trưởng ;
g) Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, an toàn thân thể;
h) Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Khái niệm đội ngũ, đội ngũ giáo viên
1.2.2.1 Đội ngũ
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ Ngày nay khái niệm về đội ngũ được dùng cho các tổ chức xã hội một cách rộng rãi hơn như: đội ngũ
cán bộ công chức, đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ trí thức… đều xuất phát từ
cách hiểu thuật ngữ trong quân sự về đội ngũ “ Đó là một tổ chức gồm nhiều
người, tập hợp thành một lực lượng”
Theo Lý luận khoa học quản lý thì đây là một đội công tác, trong đó các cá nhân kết hợp với nhau, thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, học hỏi lẫn
nhau để đạt được mục tiêu và kế hoạch của tổ chức đặt ra [22]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết
với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh
thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [4]
Các khái niệm về đội ngũ tuy khác nhau, nhưng đều thống nhất là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một
hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không cùng, nhưng đều
có chung một mục đích nhất định
Trang 23Đội ngũ trong trường học bao gồm: Cán bộ quản lý các cấp trong trường học, nhà giáo (giáo viên, giảng viên), nhân viên phục vụ các hoạt động
giáo dục trong nhà trường
Vậy đội ngũ là tập hợp gồm nhiều cá thể, hoạt động qua sự phân công, hợp tác lao động, có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng
trách nhiệm pháp lý
1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên
Theo Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “ĐNGV là tập hợp những
người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức,
chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [19, tr 95]
Trên thế giới khi nghiên cứu về ĐNGV, tác giả Virgil K.Rowland đã
quan niệm: “ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm
vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống
hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”
Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể hiểu: ĐNGV là tập hợp những người làm công tác giáo dục và dạy học ở một cơ sở trường học hay một cấp học;
một ngành học nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tổ chức đó
ĐNGV THPT là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm
vụ, cùng thực hiện các nhiệm vụ theo một kế hoạch thống nhất, gắn bó với
nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần, được hưởng các quyền lợi nhu
nhau theo Luật Lao động, Luật Giáo dục và các Luật khác được Nhà nước
thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Nói cách khác, phát triển có nghĩa là làm
tăng cả về số lượng, chất lượng và quy mô của một quá trình vận động
Trang 24Theo lý luận của Phép biện chứng duy vật thì: Phát triển là sự vận động tất yếu của sự vật hiện tượng để phù hợp với quy luật khách quan Phát triển
là một quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao, trong cái thấp đã
chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn
cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của
cả tự nhiên và xã hội Phát triển có thể là một quá trình hiện thực nhưng cũng
có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng
1.2.3.2 Phát triển ĐNGV
Phát triển ĐNGV là tạo ra một ĐNGV đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng theo chuẩn giáo viên, cân đối và đồng bộ về cơ cấu, trên cơ sở đó, đội
ngũ này đảm nhiệm và thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong giai đoạn mới
Phát triển ĐNGV là sự tiếp tục của một quá trình vận động liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm cho ĐNGV không
ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình
giáo dục; đổi mới phương pháp dạy học theo xu hướng hiện đại và xu hướng hội
nhập Tiếp cận chuẩn nghề nghiệp GV của các nước tiên tiến
Phát triển ĐNGV phải tạo ra sự gắn bó giữa xây dựng chuẩn nghề nghiệp, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng với việc sự dụng hợp lý, tạo môi
trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển và đánh giá ĐNGV một cách chính
xác, khách quan
Kết quả công tác phát triển ĐNGV phải bao gồm không chỉ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn là sự thoả mãn của cá nhân, sự tận tụy của
người giáo viên đối với nhà trường, có sự thăng tiến của cá nhân người giáo
viên trong sự phát triển của nhà trường
Thuật ngữ phát triển ĐNGV được hiểu là một khái niệm tổng hợp bao trùm cả bồi dưỡng ĐNGV và phát triển nghề nghiệp ĐNGV Nếu phạm vi bồi
dưỡng bao gồm những gì mà người giáo viên phải biết, phạm vi phát triển
nâng cao kỹ năng nghề nghiệp ĐNGV bao gồm những gì mà người giáo viên
Trang 25nên biết, thì phát triển ĐNGV bao quát tất cả những gì mà người giáo viên có thể
trau dồi và phát triển đều đạt được các mục tiêu cơ bản của bản thân và của nhà
trường Đó là con đường để giáo viên phát triển toàn diện nội lực bản thân để phù
hợp, hài hòa và thỏa đáng trong sự phát triển chung của nhà trường
Sự tương quan giữa bồi dưỡng ĐNGV, phát triển nghề nghiệp ĐNGV
và phát triển ĐNGV được minh họa bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mối tương quan giữa bồi dưỡng, phát triển nâng cao kỹ năng
nghề nghiệp và phát triển ĐNGV
Phát triển ĐNGV được xem như một quá trình tích cực mang tính hợp tác cao, trong đó người GV tự phát triển sẽ đóng một vai trò quan trọng trong
sự trưởng thành về mặt nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân người
giáo viên trong sự hòa hợp cùng phát triển với nhà trường
1.2.3.3 Biện pháp phát triển ĐNGV
Biện pháp phát triển ĐNGV có thể hiểu là những việc làm cụ thể của các nhà quản lý giáo dục tác động vào ĐNGV để nhằm tạo ra sự thay đổi của
đội ngũ này theo hướng đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn
về chất lượng theo yêu cầu đổi mới của giáo dục
Vấn đề ĐNGV có thể trau dồi phát triển
Vấn đề ĐNGV nên biết
Vấn đề ĐNGV phải biết
Phát triển ĐNGV
Phát triển, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp ĐNGV
Bồi dưỡng ĐNGV
Trang 261.2.4 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.4.1 Quản lý
a) Khái niệm
Quản lý là một hoạt động đã xuất hiện và tồn tại hàng ngàn năm trước đây Từ thời Ai Cập cổ đại đến Trung Quốc cổ đại các nhà quân sự đã biết
cách tổ chức, quản lý quân đội của họ để đi đến thắng lợi vẻ vang, đó là bằng
chứng rõ nhất về hoạt động quản lý Sử gia Daniel A Wren đã nhận xét rằng:
“Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” [8, tr 23] Tuy nhiên đã có
rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý”
Theo F.W.Taylo (1856 - 1915) - được đánh giá là “cha đẻ của thuyết
quản lý khoa học” đã định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất” [8, tr.11-12]
Theo H.Fayol (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp, xuất phát từ
các loại hình “hoạt động quản lý” Ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng
thành 5 chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối
hợp và kiểm tra [8, tr 31]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học cũng có những định nghĩa
khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau:
Theo tác giả Trần Quốc Thành định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý
thức của chủ thể quản để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội,
hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí
của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [31]
Theo tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề
ra” [20, tr 2]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức
năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”.[10]
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (gọi chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [28, tr 24]
Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được
mục tiêu đề ra
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của
hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau:
- “Quản” là quá trình bao hàm sự coi sóc, duy trì ở trạng thái “ổn định
- “Lý” là quá trình bao hàm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ
vào thế “phát triển”
Trong hoạt động quản lý, nếu nhà quản lý chỉ lấy việc “Quản” làm
chính thì tổ chức dễ dẫn đến trì trệ Ngược lại, nếu chỉ chú trọng quan tâm đến
việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức lại rơi vào thế mất cân bằng, không
bền vững Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phải biết điều phối sao
cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho
trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản
lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Trong giáo dục
nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các
lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục
Trang 28đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội
dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: i) xác định, hình thành mục tiêu
đối với tổ chức; ii) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết)
về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; iii) quyết định
xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
Tổ chức
Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những
ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý
nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế Xét về mặt chức năng quản
lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành
công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ
chức có hiệu lực, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn
vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng
lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có
kết quả
Chỉ đạo
Chỉ đạo là phương thức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp
của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng
vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra
trong kỷ cương trật tự
Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng cuối cùng trong quá trình quản lý và cũng là điểm khởi đầu làm tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch… Đó là công
việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, là
việc đánh giá kết quản thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm tìm ra những
mặt ưu điểm, mặt hạn chế để điều chỉnh việc kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo
Các chức năng của quản lý được minh họa ở sơ đồ sau đây:
Trang 29Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ các chức năng quản lý
Các chức năng của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau, tạo thành một chu trình quản lý
Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn,
nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện
chức năng quản lý và ra quyết định quản lý
Quản lý được xem như là một “khoa học” đồng thời cũng được xem như là “nghệ thuật” Bởi thế, trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý,
người cán bộ quản lý phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để chỉ đạo
hoạt động của tổ chức một cách khoa học nhằm đạt được mục đích đề ra của
tổ chức
1.2.4.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Khi nghiên cứu về lĩnh vực
quản lý giáo dục với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã
đưa ra một số khái niệm về quản lý giáo dục dưới các góc độ khác nhau:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3, tr 8]
Kế hoạch
Kiểm tra, đánh giá
Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin
Trang 30Tài liệu Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, tác giả Trần Kiểm trích dẫn viết: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là
nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [24, tr 10]
Từ các khái niệm nêu trên ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ
thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở
cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
Quản lý giáo dục là quản lý con người nên đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc giáo dục Những nguyên tắc giáo dục là những yêu cầu, những
tiêu chuẩn, những luận điểm cơ bản chỉ đạo việc tổ chức của chủ thể quản lý
giáo dục Các cơ quan quản lý trong ngành giáo dục, dù ở cấp nào, dù đảm
nhận chức năng nào đều phải tổ chức và phải hoạt theo đúng các nguyên tắc
giáo dục Đó là tính khoa học và thực tiễn, tập trung và dân chủ, kết hợp nhà
nước và nhân dân
1.2.4.3 Quản lý nhà trường
Tác giả Đặng Quốc Bảo khi nghiên cứu về quản lý nhà trường đã quan
niệm: “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa
có tính kinh tế, trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là đào
tạo học sinh trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông
hành đi vào đời là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề
nghiệp và giấy thông hành kinh doanh”.[4]
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu : “Quản lý nhà trường (một cơ sở giáo
dục) là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có khoa học, có hệ thống
và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản
lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và người học…) nhằm đưa các hoạt động
giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”
Trang 31Hênghen đã khẳng định nhà trường được coi là “cái cầu nối đưa đứa trẻ
từ thế giới gia đình vào thế giới xã hội bớt đi những hẫng hụt không đáng có”
Quản lý nhà trường cũng như các hoạt động quản lý khác được thực hiện thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Quản lý nhà trường được nhìn nhận từ 2 góc độ:
- Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu là hoạt động của các cơ
quan, các tổ chức có trách nhiệm quản lý giáo như Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT,
Phòng GD&ĐT và các cấp chính quyền đối với một cơ sở giáo dục (nhà
trường) cụ thể nào đó
- Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của chủ
thể quản lý một cơ sở giáo dục (Hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương
đương như Hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục
mà họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý
1.3 Tầm quan trọng của vấn đề phát triển ĐNGV trong trường THPT
hiện nay
1.3.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển ĐNGV
Xác định phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước
ta đưa ra rất nhiều các chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm xây dựng
đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII đã nêu: “Giáo
viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh
Giáo viên phải có đủ tài, đủ đức”.[17] Nghị quyết của Đại hội Đảng khóa IX,
X, cũng đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và
đội ngũ nhà giáo cần có đủ sức, đủ tài để chấn hưng nền giáo dục nước nhà và
chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống của nhà giáo
Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục, chỉ thị nhấn mạnh: “Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu,
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất
Trang 32nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực
lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”.[1]
Đặc biệt, ngày 15 tháng 4 năm 2009, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã có Thông báo số 242 - TB/TW: Thông báo kết luận của
Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)
và phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020 Thông báo nhấn mạnh:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp
ứng yêu cầu về chất lượng”.[6]
1.3.2 Sự phát triển của giáo dục THPT hiện nay và các yêu cầu đặt ra với
đội ngũ giáo viên THPT
1.3.2.1 Sự phát triển của giáo dục THPT hiện nay:
Về phát triển giáo dục: Mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển giáo dục nói riêng đều đặt ra những mục tiêu, yêu cầu phát
triển ĐNGV mang đặc thù riêng Phát triển giáo dục THPT hiện nay được
minh họa bằng các quan điểm chỉ đạo sau:
* Các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục:
Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992), Luật giáo dục (2009), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ VIII, IX ,X, XI
của Đảng và dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 đã chỉ rõ
những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta là: Giáo dục và đào tạo
có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây
dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa đồng
thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giáo dục đào tạo phải góp phần tạo lên một thế hệ người lao động có tri thức
có đạo đức có bản lĩnh trung thực có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng
sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả
trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh
Phát triển giáo dục của dân, do dân và vì dân là quốc sách hàng đầu
Giáo dục phải chăm lo nhiều hơn đến việc học của các tầng lớp nhân dân, tạo
Trang 33điều kiện cho mọi người, đặc biệt là con em các đồng bào dân tộc thiểu số,
học sinh ở các vùng kinh tế chậm phát triển, học sinh khuyết tật, học sinh có
hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với giáo dục có chất lượng
Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội vừa thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập
Giáo dục phải bám sát nhu cầu và đòi hỏi của xã hội thông qua việc thiết kế
chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu cung cấp nhân lực phục vụ các ngành
kinh tế đa dạng, giáo dục phải chú trọng nhiều hơn đến cơ hội lựa chọn trong
học tập cho mỗi người học Các chương trình, giáo trình và các phương án tổ
chức dạy học phải đa dạng hơn tạo cơ hội cho mỗi người học những gì phù
hợp với chuẩn mực chung nhưng gắn với nhu cầu, nguyện vọng và điều kiện
học tập của mình Mỗi trường học phải trở thành một môi trường sư phạm
thân thiện ở đó người học được cảm thông, chia sẻ được bày tỏ ý kiến riêng
của mình và việc tới trường trở thành một nhu cầu của mỗi người học
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc góp phần xây dựng nền giáo dục giàu tính
nhân văn tiên tiến, hiện đại
Phát triển dịch vụ giáo dục và tăng cường yếu tố cạnh tranh trong hệ thống giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục Phát triển
những dịch vụ giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là cần thiết, nhằm thu hút nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện mở
rộng quy mô, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng
của nhân dân Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục và giữa các cá
nhân tham gia giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục
Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn hẹp Chất lượng là mục tiêu hàng đầu của mọi nền giáo dục nhưng chất
lượng cũng đòi hỏi những đầu tư thoả đáng Cần tận dụng sự đầu tư của nhà
nước, những đóng góp của xã hội với nguồn lực còn hạn hẹp để đạt đến chất
lượng giáo dục tốt nhất
Trang 34* Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 của chính phủ:
Mục tiêu chung: Phấn đấu xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
phát triển bền vững đất nước thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế;
nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực
tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải
quyết vấn đề có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh,
trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông: Chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh phổ thông có sự chuyển biến rõ rệt để phát triển năng lực làm
người Học sinh có ý thức và trách nhiệm cao trong học tập, có lối sống lành
mạnh có bản lĩnh, trung thực, có năng lực làm việc độc lập và hợp tác, có kỹ
năng sống, tích cực tham gia các hoạt động xã hội ham thích học tập và học
tập có kết qủa cao có năng lực tự học Khả năng sử dụng ngoại ngữ đặc biệt là
tiếng Anh trong học tập và vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống của học
sinh phổ thông Việt Nam tương đương với học sinh các nước phát triển trong
khu vực; tỷ lệ hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả
ba cấp học
Đối với giáo dục trung học: Học sinh được trang bị học vấn cơ bản, kỹ năng sống, những hiểu biết ban đầu về công nghệ và nghề phổ thông, được
học một cách liên tục và hiệu quả chương trình ngoại ngữ mới để đến cuối
thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 có trình độ ngoại ngữ ngang bằng với các nước
Trang 35dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức,
lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập
suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai
đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ THPT phải tiếp cận
nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng
cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau
năm 2020 Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình
độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương
1.3.2.2 Yêu cầu đặt ra với đội ngũ giáo viên THPT:
Đội ngũ giáo viên trường THPT là những người có trình độ đại học hoặc sau đại học về chuyên môn giảng dạy và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm
* Giáo viên THPT phải có những tiêu chuẩn:
Có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt
Có năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
Có năng lực dạy học
Có năng lực giáo dục
Có năng lực hoạt động chính trị, xã hội
Có năng lực phát triển nghề nghiệp
* Giáo viên THPT có chức năng nhiệm vụ:
- Giáo dục, giảng dạy theo đúng chương trình kế hoạch Soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá học sinh trong các hoạt động giáo dục,
tham gia các hoạt động giáo dục
- Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, pháp luật của nhà nước và điều lệ của nhà trường
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo
Trang 36- Phối hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động giáo dục
* Để đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ CNH, HĐH đất nước, người giáo viên phải có những phẩm chất sau:
Về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống: Chấp hành đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính
trị-xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân; luôn yêu nghề, gắn bó với nghề dạy
học, chấp hành Luật giáo dục, Điều lệ, quy chế; quy định của ngành, có ý
thức tổ chức kỷ luật tinh thần trách nhiệm; giữ gìn phẩm chất danh dự, uy tín
của nhà giáo, sống trung thực, lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh
Người giáo viên phải luôn thương yêu tôn trọng, đối xử công bằng với học
sinh giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt; luôn có
tinh thần đoàn kết, cộng tác với đồng nghiệp Có ý thức xây dựng tập thể tốt
để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục; có lối sống lành mạnh, văn minh, phù
hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm
việc khoa học
Về kiến thức: Phải làm chủ được kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác, có hệ thống, vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo
yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn; thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn
kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về trình độ được quy định trong môn học
Về kỹ năng sư phạm: Đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ
năng của học sinh; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc, chủ yếu là chuyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực cho người
học; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức,
rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ
chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh dựa theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Trang 371.3.3 Tầm quan trọng của việc phát triển ĐNGV
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nếu không có thầy giáo thì không có
giáo dục”.[27] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã
khẳng định: “Giáo viên là khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển
giáo dục và phải đặc biệt quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá
ĐNGV cũng như đội ngũ cán bộ giáo dục về cả chính trị, tư tưởng, đạo đức
và năng lực chuyên môn nghiệp vụ”.[15]
GD&ĐT là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát
triển tiềm năng “chất xám” của con người, phát triển tiềm lực khoa học và công
nghệ của mỗi quốc gia ĐNGV góp phần không nhỏ trong việc giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao tiềm lực nội sinh - yếu tố giữ vai trò quyết
định thắng lợi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Thông qua việc trang bị
những tri thức khoa học, những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,
giáo dục phẩm chất và nhân cách cho học sinh, ĐNGV đã đào tạo ra những lớp
người lao động mới, những tri thức trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước
ĐNGV có vai trò to lớn đối với sự phát triển của GD&ĐT, khoa học và công nghệ, là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Các
Mác đã nói: Việc tạo ra một đội ngũ đông đảo những người có học vấn cao,
tinh thông khoa học kỹ thuật “không phải chỉ là một phương pháp để làm
tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản
xuất ra những con người phát triển toàn diện” Xây dựng đội ngũ cán bộ
giảng dạy là một trong những điều kiện cơ bản nhất đảm bảo sự thành công
của đổi mới giáo dục Để xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy, chúng ta cần
phải giải quyết các vấn đề trên cơ sở tiêu chuẩn hoá, tuyển dụng, sắp xếp, bồi
dưỡng, đào tạo lại và thực hiện cơ chế sử dụng có hiệu quả nhằm nâng cao vị
trí xã hội và đời sống của người thầy giáo
ĐNGV THPT - lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục cấp THPT, nhằm đào tạo những con người phát triển một cách toàn diện Trong
giai đoạn hiện nay, họ có vai trò quyết định chất lượng giáo dục ở THPT Cấp
Trang 38THPT là cấp học cuối cùng của hệ thống giáo dục quốc dân, có tính chất bản
lề trong GD&ĐT, có nhiệm vụ hoàn chỉnh trình độ học vấn phổ thông cho
học sinh, giúp học sinh dần hoàn thiện nhân cách, đồng thời có nhiệm vụ
chuẩn bị tốt nhất hành trang để học sinh có thể tiếp tục học lên các trường
ĐH, CĐ và CĐDN hoặc tham gia lao động sản xuất Chất lượng đào tạo
THPT quyết định chất lượng giáo dục phổ thông Chính vì vậy, việc xây dựng
ĐNGV, khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này có ý nghĩa
quan trọng trong việc phát huy tiềm lực con người Việt Nam Đây vừa là nhu
cầu tự thân của giáo dục THPT, vừa là nhu cầu phát triển năng lực nội sinh
của dân tộc trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Do vậy, xây dựng ĐNGV
đóng vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục, là phục vụ trực tiếp
sự phát triển của các thế hệ tri thức hiện tại và tương lai Việc đề xuất các giải
pháp phát triển ĐNGV mang tính thực tiễn và đồng bộ nhằm khai thác có
hiệu quả hơn tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này sẽ góp phần nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và phát triển nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CHN-HĐH đất nước
1.4 Những nội dung cơ bản của pháp triển ĐNGV trường THPT
1.4.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên
Quy hoạch phát triển ĐNGV là một tiến trình đề ra và thực hiện các công việc về nguồn nhân lực nhằm đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu
ĐNGV đáp ứng nhu cầu của nhà trường và đảm bảo việc bố trí, sử dụng
ĐNGV một cách có hiệu quả
Quy trình quy hoạch ĐNGV có 4 bước cơ bản sau:
- Lập kế hoạch cho những nhu cầu trong tương lai về mặt số lượng, cơ cấu và chất lượng
- Lập kế hoạch cho sự cân đối trong tương lai bằng cách so sánh số lượng ĐNGV cần thiết với số lượng ĐNGV hiện có mà nhà trường muốn lưu lại
- Lập kế hoạch để tuyển mộ hoặc sa thải GV
- Lập kế hoạch để phát triển ĐNGV
Trang 391.4.2 Tuyển chọn đội ngũ giáo viên
Công tác tuyển dụng ĐNGV trong các trường THPT hiện nay phải đảm bảo đầy đủ các mặt đó là: Về số lượng ĐNGV, về cơ cấu ĐNGV và về chất
lượng ĐNGV
1.4.2.1 Số lượng ĐNGV
Số lượng ĐNGV là biểu thị về mặt định hướng của đội ngũ này, nó phản ánh quy mô của ĐNGV tương xứng với quy mô của mỗi nhà trường THPT Số
lượng ĐNGV phụ thuộc vào sự phân chia tổ chức trong nhà trường
Số lượng ĐNGV của mỗi trường THPT phụ thuộc vào quy mô phát triển nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tố tác động khách quan khác,
chẳng hạn như: Chỉ tiêu biên chế công chức của nhà trường, các chế độ chính
sách đối với ĐNGV Tuy nhiên, dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo hoạt
động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữ vững
sự cân bằng động về số lượng đội ngũ với nhu cầu đào tạo và quy mô phát
triển của nhà trường
1.4.2.2 Cơ cấu ĐNGV
Cơ cấu ĐNGV là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh, bao gồm:
Về chuyên môn, nghiệp vụ: Đảm bảo tỷ lệ giáo viên giữa các đơn vị
trong nhà trường phù hợp với quy mô và nhiệm vụ đào tạo của từng
chuyên ngành
Về độ tuổi: Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường, tránh
tình trạng “lão hoá” trong ĐNGV, tránh sự hẫng hụt về ĐNGV trẻ kế cận,
cần có thời gian nhất định để thực hiện chuyển giao giữa các thế hệ giáo viên
Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giáo viên nam và giáo viên
nữ trong từng tổ, nhóm bộ môn của nhà trường
1.4.2.3 Chất lượng ĐNGV
a) Về phẩm chất
Thông tư 30/2009/BG&ĐT ngày 22/10/2010 chỉ rõ:
Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị
Trang 40Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị
xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân
Tiêu chí 2: Đạo đức nghề nghiệp
Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành Luật Giáo dục, điều lệ quy chế; quy định của ngành; có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần trách
nhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; sống trung thực, lành
mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh
Tiêu chí 3: Ứng xử với học sinh
Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt
Tiêu chí 4: Ứng xử với đồng nghiệp
Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục
Tiêu chí 5: Lối sống, tác phong
Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học
Phẩm chất của các giáo viên tạo nên phẩm chất của ĐNGV, phẩm chất ĐNGV tạo nên linh hồn và sức mạnh của đội ngũ này Phẩm chất của ĐNGV
trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị là yếu tố
rất quan trọng giúp cho người giáo viên phải có bản lĩnh vững vàng trước
những biến động của xã hội Trên cơ sở đó thực hiện hoạt động giáo dục toàn
diện, định hướng xây dựng nhân cách cho học sinh có hiệu quả Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: “Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác, có chuyên
môn… Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài, có tài mà không có
đức là hỏng”.[27, tr 188] Bên cạnh việc nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ
chuyên môn, kỹ năng sư phạm, người giáo viên có bản lĩnh chính trị vững
vàng Bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ giúp người giáo viên có niềm tin vào
tương lai tươi sáng của đất nước và có khả năng xử lý được những tình huống