ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRỊNH VĂN LỊCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DAO ĐỘNG CƠ ĐIỀU HÒA” LUẬN V[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-
TRỊNH VĂN LỊCH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG
DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DAO ĐỘNG CƠ ĐIỀU HÒA”
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH VĂN LỊCH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG
DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DAO ĐỘNG CƠ ĐIỀU HÒA”
Trang 3sáng tạo của học sinh để từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học,
hình thành khả năng học tập suốt đời là một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên, việc
đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay còn khá nhiều bất cập
Trong dạy học hiện nay ở trường phổ thông, phương pháp thuyết trình, truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều
giáo viên Trong khi thuyết trình, nhiều giáo viên cũng có cố gắng trong việc
sử dụng phương pháp đàm thoại nhưng lại ít đầu tư xây dựng hệ thống câu
hỏi khiến cho việc đặt các câu hỏi kém chất lượng, không kích thích được tư
duy của học sinh Việc sử dụng các phương pháp trực quan hiện nay khá hạn
chế Mặc dù ở tất cả các trường phổ thông đều đã được trang bị hệ thống thiết
bị dạy học tối thiểu nhưng giáo viên ít sử dụng Tình trạng "dạy chay" vẫn
diễn ra phổ biến Đặc biệt, hiện nay phần lớn giáo viên nghĩ đến việc sử dụng
máy tính để trình chiếu bài giảng mỗi khi có ý định sử dụng phương pháp trực
quan Học sinh được quan sát các hình ảnh, video, thậm chí cả kênh chữ trên
máy chiếu thay cho việc được quan sát các dụng cụ thực tế, khiến cho tính
"trực quan" của phương pháp này không còn mang đúng ý nghĩa của nó Tình
trạng "lạm dụng" công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay vẫn diễn ra phổ
biến Nhóm phương pháp thực hành có thể nói là một khâu yếu nhất trong nhà
trường phổ thông hiện nay Mặc dù đã có những bài thực hành bắt buộc trong
chương trình và sách giáo khoa nhưng việc "bỏ qua" chúng vẫn được nhiều
nơi áp dụng
Trang 4Nhiều thầy cô hiện nay luôn cho rằng: Muốn đổi mới phương pháp dạy
học thì phải đổi mới nội dung dạy học bởi vì nội dung dạy học hiện tại quá tải
với học sinh Theo chúng tôi, nội dung chương trình SGK không nặng mà do
cách truyền tải của thầy cô giáo luôn đòi hỏi phải theo logic khoa học tuần tự
Giáo viên chỉ chú trọng vào việc dạy học sao cho học sinh nhớ kiến thức,
không chú ý nhiều đến việc cho học sinh rèn luyện kĩ năng, ít đặt ra các vấn
đề, tình huống liên quan giữa kiến thức và đời sống nên không tạo điều kiện
cho học sinh bộc lộ và trình bày những hiểu biết, cách giải quyết vấn đề của
các em, dẫn đến tình trạng giáo viên tự mình phải hoạt động rất nhiều, còn
kiến thức học sinh lĩnh hội được thì rất nặng nề xa rời thực tế
Trong lí luận dạy học có ba thuyết dạy học chính là thuyết hành vi, thuyết nhận thức, thuyết kiến tạo, thực tế qua các đợt tập huấn của Sở GD-
ĐT về đổi mới phương pháp, giáo viên đã được tìm hiểu về ba thuyết này và
thống nhất với quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Họ cũng
được tiếp cận các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại để tổ chức hoạt
động học tích cực cho học sinh Tuy nhiên với tâm lí sợ cháy giáo án, không
thể truyền thụ hết được kiến thức bài học, giáo viên đã không cung cấp đủ
thời gian và sự dẫn dắt cụ thể trong từng hoạt động học nên học sinh chỉ được
hoạt động một cách hình thức và thực sự các em không tự lực tìm ra kiến
thức Đôi khi giáo viên vận dụng nhiều kĩ thuật dạy học chỉ để biểu diễn trong
các giờ hội giảng nhằm đáp ứng theo đúng tiêu chí của ban giám khảo
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt đòi hỏi con người phải có nhiều năng lực như: quan sát, tư duy,
tự quản lý, giao tiếp, hợp tác, sử dụng CNTT và truyền thông, sử dụng ngôn
ngữ, tính toán nhằm hình thành và phát triển một năng lực đảm bảo sự thành
công trong cuộc sống là phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn Vì vậy dạy học phải đổi mới theo hướng góp phần đắc
lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo
Trang 5của học sinh để từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành
khả năng học tập suốt đời
Tiến tới đổi mới một cách căn bản toàn diện nền giáo dục, Bộ GDĐT
đã ban hành công văn 5555 về hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, tổ chức và quản lí các hoạt động
chuyên môn của trường trung học Một phần nội dung chính của Công văn đã
chỉ rõ : “Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong
sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương
trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên
đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong
điều kiện thực tế của nhà trường Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng,
thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức
cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và
phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng.”
Vật lí là môn học gắn liền với những ứng dụng thực tế, các quy luật định luật vật lí được tìm bằng thí nghiệm, hoặc thí nghiệm để minh chứng cho
sự đúng đắn tin cậy của một định luật vật lý Việc dạy học vật lí gắn liền với
giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn là việc rất cần thiết Muốn hình
thành được các loại năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học phải tổ
chức để học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới trên nền tảng các kiến thức đã
được lĩnh hội dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy Trong quá trình học sinh
tìm tòi khám phá tìm các phương án giải quyết một vấn đề, một nhiệm vụ do
giáo viên đặt ra, họ sẽ huy động được những hiểu biết vốn có, các kĩ năng làm
việc nhóm, năng lực tư duy định hướng, phân tích, đánh giá tổng hợp,phát
biểu vấn đề…vv sẽ dần hình thành
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học vật lí chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tổ
Trang 6chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trung học phổ
thông trong dạy học chuyên đề “Dao động cơ điều hòa”
2 Mục đích nghiên cứu :
Xây dựng chuyên đề "Dao động cơ điều hòa" và tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trung học phổ thông
Thiết kế tiến trình dạy học theo quan điểm dạy học hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát :
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học các nội dung kiến thức trong chương “Dao động cơ” ở trường trung học phổ thông
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học chuyên đề “Dao động cơ điều hòa” ở trường trung học phổ thông
3.3 Đối tượng khảo sát:
- Học sinh lớp 12A4 trường THPT Xuân Trường -Nam Định (Để điều tra năng lực trước và sau khi vận dụng đề tài)
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu xây dựng chuyên đề "Dao động cơ điều hòa" và tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong dạy học chuyên đề đó thì sẽ
nâng cao được tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT về đổi mới GD
- Nghiên cứu cơ sở lý luận :
+ Lý thuyết tâm lí học
+ Quan điểm dạy học kiến tạo
+ Phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học hiện đại
+ Vấn đề đổi mới phương pháp theo hướng tiếp cận năng lực
+ Mô hình dạy học theo chủ đề
Trang 7- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng chương “ Dao động cơ” Vật lý 12 THPT
- Tìm hiểu thực trạng các mô hình tổ chức hoạt động học cho học sinh
ở môn vật lí nói chung và ở chương “ Dao động cơ” nói riêng
- Phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó đưa ra những ưu nhược điểm và những đóng góp của đề tài, từ đó đưa ra các kết luận
và kiến nghị
- Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề “ Dao động cơ điều hòa”
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định giả thuyết khoa học
và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các kết luận được rút ra từ luận văn
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông
- Xử lí dữ liệu file hình ảnh video tổ chức hoạt động học
7 Cấu trúc của luận văn:
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TÍCH CỰC, TỰ LỰC, SÁNG
TẠO CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DAO ĐỘNG
CƠ ĐIỀU HÒA”
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 8đề ra cho các môn học trong nhà trường phổ thông là phải làm sao cho khi
vào cuộc sống, tham gia vào lao động, sản xuất hoặc nghiên cứu khoa học,
HS có thể nhanh chóng tiếp thu được cái mới, thích ứng được với những nhu
cầu của xã hội Để làm được việc đó, ngoài việc trang bị kiến thức, kĩ năng
cần thiết, các môn học phải tạo ra cho họ tiềm lực nhất định để họ thu được
những hiểu biết xa hơn những gì mà họ đã thu lượm được khi còn ngồi trên
ghế nhà trường Tiềm lực đó chính là khả năng giải quyết những vấn đề mà
thực tiễn đặt ra, khả năng tự vạch ra con đường để đạt đến những nhận thức
mới, tìm ra giải pháp mới Tiềm lực đó nằm trong phương pháp tư duy và
hành động một cách khoa học [1]
Vì vậy, việc dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, nhất là đổi mới phương pháp dạy
và học sao cho nâng cao tính tích cực, sáng tạo của HS trong dạy học Để đạt
được điều này, trong quá trình dạy học ở trường phổ thông cần phải tổ chức
HS tham gia vào các HĐ nhận thức phỏng theo HĐ của các nhà khoa học, qua
đó ngoài việc có thể giúp HS trang bị kiến thức cho bản thân, đồng thời còn
cho họ rèn luyện tính sáng tạo khoa học và năng lực giải quyết vấn đề Vì
vậy, phương pháp dạy học mới hiện nay được xây dựng trên tinh thần dạy học
giải quyết vấn đề thông qua việc tổ chức cho HS HĐ tích cực chiếm lĩnh kiến
thức mà cơ sở của nó là 2 lí thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget
(1896-1980) và Lép Vưgôtski (1896-1934) Việc học tập của HS có bản chất
HĐ, thông qua HĐ của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát
Trang 9triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Như vậy, dạy học
là dạy HĐ Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể nhận thức, GV có vai trò
tổ chức, kiểm tra và định hướng HĐ học tập của HS với phương pháp hợp lí
để HS tích cực chiếm lĩnh, xây dựng tri thức Quá trình dạy học các kiến thức
thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá trình HĐ của GV và của HS
trong sự tương tác thống nhất biện chứng của 3 thành phần trong hệ dạy học
bao gồm: GV, HS và tư liệu HĐ dạy học
Tóm lại, theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy giải quyết vấn đề;
quá trình dạy - học là hệ thống các hành động có mục đích của GV tổ chức
HĐ trí óc và tay chân của HS, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được nội dung dạy
học với các mục tiêu xác định Trong quá trình dạy học, GV tổ chức định
hướng hành động chiếm lĩnh tri thức vật lí của HS phỏng theo tiến trình của
chu trình sáng tạo khoa học Chúng ta có thể hình dung diễn biến của HĐ dạy
phù hợp với những đòi hỏi của phương pháp luận
- GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS, bổ sung, tổng kết, khái quát hóa, thể chế hóa tri thức và kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu
dạy học các nội dung kiến thức đã xác định
Trang 101.2 Cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề của học
sinh
1.2.1 Chu trình sáng tạo khoa học
Cơ sở lí luận của việc phát triển khả năng sáng tạo của HS trong quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật sáng tạo khoa học tự nhiên Có
thể trình bày quá trình sáng tạo khoa học bằng chu trình gồm 4 giai đoạn
chính [3] (Hình 1.1): Từ sự khái quát hoá những sự kiện khởi đầu đi đến xây
dựng mô hình trừu tƣợng của hiện tƣợng (đề xuất giả thuyết); từ mô hình suy
ra các hệ quả lôgíc; từ hệ quả đi đến thiết kế và tiến hành kiểm tra bằng thực
nghiệm; nếu các sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả
thuyết trở thành chân lí khoa học (một định luật, một thuyết vật lí) và kết thúc
một chu trình
Hình 1.1 Chu trình sáng tạo khoa học
Những hệ quả ngày một nhiều nên phạm vi ứng dụng của các thuyết và định luật vật lí ngày càng mở rộng Đến khi xuất hiện những sự kiện thực
nghiệm mới không phù hợp với các hệ quả rút ra từ lí thuyết thì điều đó dẫn
tới phải xem lại lí thuyết cũ và chỉnh lí lại hoặc phải thay đổi mô hình giả
thuyết, lại bắt đầu một chu trình mới, xây dựng những giả thuyết mới, thiết kế
những thiết bị mới để kiểm tra và nhờ đó mà kiến thức của nhân loại ngày
càng phong phú thêm
Mô hình, giả thuyết trừu tƣợng
Các sự kiện
Các hệ quả lôgíc
Trang 111.2.2 Tiến trình khoa học giải quyết vấn đề
Tương ứng với chu trình sáng tạo khoa học thì việc xây dựng kiến thức vật lí cụ thể có tiến trình HĐ giải quyết vấn đề được mô tả như sau:[4]
Hình 1.2 Sơ đồ tiến trình giải quyết vấn đề khi xây dựng, kiểm nghiệm, ứng
dụng kiến thức
Vấn đề (Đòi hỏi kiểm nghiệm, ứng dụng thực
tiễn kiến thức)
Điều kiện cần sử dụng để tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra, một mặt nhờ suy luận, mặt khác nhờ TN và quan sát
Vấn đề (Đòi hỏi tìm kiếm xây dựng kiến thức)
Điều kiện cần sử dụng
để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra
KẾT LUẬN / NHẬN ĐỊNH Giải quyết bài toán
Giải bài toán bằng suy luận lí thuyết
KẾT LUẬN (Thu được nhờ suy luận lí thuyết)
KẾT LUẬN (Thu được nhờ
TN và quan sát) Giải bài toán bằng TN và
quan sát
Trang 12- Đề xuất vấn đề: Từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết nảy sinh nhu cầu về cái còn chưa biết, về cách giải quyết không có sẵn, nhưng hi vọng
có thể tìm tòi, xây dựng được Và diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi
- Suy đoán giải pháp: Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm xuất phát cho phép đi tìm lời giải: chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành
được để đi tới cái cần tìm; hoặc phỏng đoán các biến cố thực nghiệm có thể
xảy ra mà nhờ đó có thể khảo sát thực nghiệm để xây dựng cái cần tìm
- Khảo sát lí thuyết và/hoặc thực nghiệm: Vận hành mô hình rút ra kết luận lôgíc về cái cần tìm và/hoặc thiết kế phương án thực nghiệm, tiến hành
thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và xem xét, rút ra kết luận về cái
cần tìm
- Kiểm tra, vận dụng kết quả: Xem xét khả năng chấp nhận được của các kết quả tìm được, trên cơ sở vận dụng chúng để giải thích/tiên đoán các sự
kiện và xem xét sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm Xem xét sự cách
biệt giữa kết luận có được nhờ suy luận lí thuyết với kết luận có được từ các
dữ liệu thực nghiệm để quy nạp chấp nhận kết quả tìm được khi có sự phù
hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, hoặc để xét lại, bổ sung, sửa đổi đối với
thực nghiệm hoặc đối với sự xây dựng và vận hành mô hình xuất phát khi
chưa có sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, nhằm tiếp tục tìm tòi xây
Trang 13thân kiến thức đã biết của nhân loại Trong học tập, học sinh tự "khám phá
lại" các kiến thức để tập làm cái công việc khám phá đó trong hoạt động thực
tiễn sau này
Về thời gian: Nhà khoa học có thời gian dài để khám phá một kiến thức, còn học sinh thì chỉ có thời gian rất ngắn trên lớp
Về phương tiện: Nhà khoa học có các thiết bị thí nghiệm, máy móc hiện đại, còn học sinh, trong điều kiện của trường phổ thông chỉ có những
thiết bị đơn giản
Chính vì sự khác biệt rất lớn đó cho nên trong dạy học, giáo viên phải từng bước tập dượt cho học sinh vượt qua những khó khăn trong hoạt động
giải quyết vấn đề Để đạt được mục tiêu đó, người giáo viên cần phải vận
dụng được lý thuyết về "vùng phát triển gần" của Vưgôtxki để tạo ra những
điều kiện thuận lợi để học sinh tình nguyện tham gia vào hoạt động nhận thức
và thực hiện thành công nhiệm vụ được giao [4, 5]
Về mặt tâm lý, cần phải tạo được mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm cái mới bằng cách xây dựng các tình huống có vấn đề, đồng thời
tạo ra một môi trường sư phạm thuận lợi để học sinh tin tưởng vào khả năng
của mình trong việc giải quyết nhiệm vụ được giao và tình nguyện tham gia
vào hoạt động nhận thức
Về nội dung và biện pháp hỗ trợ hoạt động nhận thức, giáo viên cần phải tạo mọi điều kiện để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm
vụ được giao Điều này là hết sức quan trọng bởi vì sự thành công của họ
trong việc giải quyết vấn đề học tập có tác dụng rất lớn cho họ tự tin, hứng
thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết các vấn đề tiếp theo Muốn vậy, trước
hết cần phải lựa chọn một lôgíc bài học thích hợp, phân chia bài học thành
những nhiệm vụ nhận thức cụ thể phù hợp với năng lực của học sinh sao cho
họ có thể tự lực giải quyết được với cố gắng vừa phải Bên cạnh đó, cần phải
Trang 14từng bước rèn luyện cho học sinh thực hiện một số kỹ năng cơ bản bao gồm
các thao tác chân tay và các thao tác tư duy, giúp cho học sinh có khả năng
quan sát, sử dụng các phương tiện học tập Cuối cùng là phải cho học sinh
làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý phổ biến như phương pháp
thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp mô hình
1.2.4 Cơ sở định hướng việc tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề của học
sinh
Chính vì sự khác biệt lớn giữa HĐ nhận thức của HS và HĐ nhận thức của nhà khoa học cho nên trong dạy học, GV phải từng bước tập dượt cho HS
vượt qua những khó khăn trong HĐ giải quyết vấn đề Để đạt được mục tiêu
đó, người GV cần phải vận dụng được lí thuyết về "Vùng phát triển gần" của
Vưgôtxki để tạo ra những điều kiện thuận lợi để HS tình nguyện tham gia vào
HĐ nhận thức, thực hiện thành công nhiệm vụ được giao [6]
Về mặt tâm lí: GV cần phải tạo được mâu thuẫn nhận thức, gợi động
cơ, hứng thú tìm cái mới bằng cách xây dựng các tình huống có vấn đề, đồng
thời tạo ra một môi trường sư phạm thuận lợi để HS tin tưởng vào khả năng
của mình trong việc giải quyết nhiệm vụ được giao và tình nguyện tham gia
vào HĐ nhận thức
Về nội dung và biện pháp hỗ trợ HĐ nhận thức: GV cần phải tạo mọi điều kiện để HS có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao
Điều này là hết sức quan trọng bởi vì sự thành công của họ trong việc giải
quyết vấn đề học tập có tác dụng rất lớn cho họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn
suy nghĩ để giải quyết các vấn đề tiếp theo Muốn vậy, trước hết cần phải lựa
chọn một lôgíc bài học thích hợp, phân chia bài học thành những nhiệm vụ
nhận thức cụ thể phù hợp với năng lực của HS sao cho họ có thể tự lực giải
quyết được với cố gắng vừa phải Bên cạnh đó, cần phải từng bước rèn luyện
cho HS thực hiện một số kĩ năng cơ bản bao gồm các thao tác chân tay và các
thao tác tư duy, giúp cho HS có khả năng quan sát, sử dụng các phương tiện
Trang 15học tập Cuối cùng là phải cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức
vật lí phổ biến như phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương
pháp mô hình
Hai mục tiêu quan trọng cần hướng tới đối với việc tổ chức HĐ nhận thức của HS là phát huy tính tích cực nhận thức và năng lực nhận thức sáng
tạo Vì vậy, tổ chức HĐ giải quyết vấn đề cần dựa trên cơ sở những hiểu biết
sâu sắc về tính tích cực nhận thức và năng lực nhận thức sáng tạo của HS
1.2.5 Tính tích cực nhận thức của học sinh trong học tập
1.2.5.1 Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức của HS tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là kết quả của nhiều nguyên nhân Có những nguyên nhân phát
sinh lúc học tập, có những nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí
từ lịch sử lâu dài của nhân cách Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ
thuộc vào các nhân tố sau đây: Hứng thú; nhu cầu; động cơ; năng lực; ý chí;
sức khoẻ; môi trường [7]
Những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới
ảnh hưởng của rất nhiều tác động Như vậy, việc tích cực hoá HĐ nhận thức
của HS đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp HĐ gia đình,
nhà trường và xã hội
1.2.5.2 Các biểu hiện tính tích cực của học sinh trong học tập
- GV muốn phát hiện được HS có tích cực hay không, cần dựa vào một
số dấu hiệu sau đây:
+ Các em có chú ý học tập không?
+ Có hăng hái tham gia vào các HĐ học tập không (thể hiện ở hành động giơ tay phát biểu ý kiến, thảo luận nhóm, ghi chép )?
Trang 16+ Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
+ Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
+ Thực hiện nhiệm vụ của GV ở mức độ tối thiểu hay tối đa?
+ Tích cực nhất thời hay thường xuyên?
+ Tích cực ngày càng tăng hay giảm dần?
+ Có kiên trì, vượt khó hay không?
1.2.5.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
- Nói lên ý nghĩa lí thuyết, ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng của vấn
đề sẽ nghiên cứu
- Nội dung dạy học phải mới, nhưng cái mới ở đây không phải quá xa
lạ với HS, cái mới phải liên hệ và phát triển từ cái cũ Kiến thức phải có tính
thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn nhu cầu
nhận thức của HS
Trang 17- Phải dùng các phương pháp, hình thức dạy học đa dạng: Nêu vấn đề
và giải quyết vấn đề, đàm thoại, thuyết giảng, trò chơi,
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau Những vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc cần
1.2.6 Phát huy tính tự lực của học sinh trong học tập
“Tính tự lực học tập là một phẩm chất nhân cách quan trọng của con người được hình thành trong quá trình HĐ học tập của chủ thể Người học xác
định mục đích, động cơ học tập đúng đắn, luôn luôn bồi dưỡng năng lực học
tập và tự tổ chức học tập cho bản thân, người học có sự nỗ lực cao về trí tuệ,
thể lực và ý chí nhằm lĩnh hội trí thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để thỏa mãn
nhu cầu nhận thức nói chung và học tập nói riêng của bản thân.”
1.2.6.1 Biểu hiện của tính tự lực :
- HS có đi học đều không?
- HS học thuộc bài cũ, hoàn thành các bài tập về nhà với mức độ nào?
- Chuẩn bị dụng cụ học tập có đầy đủ không? Có hăng hái tham gia phát biểu ý kiến không?
- Thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm tra thi cử hay không?
Trang 18- Tham gia các giờ ngoại khóa với mức độ nào?
- Chủ động trao đổi bài hoặc học nhóm với bạn hay không?
- Có thường xuyên Lập kế hoạch học tập hàng ngày không?
- Có tự tra cứu tài liệu bổ xung kiến thức hoặc làm thêm bài kiểm tra trên mạng internet để tự kiểm tra kiến thức không?
1.2.6.2.Các biện pháp giúp học sinh tự lực học tập
- Thứ nhất : Nhằm tạo ra nhu cầu nhận thức, kích thích hứng thú học tập của HS thì GV phải cải tiến nội dung bài giảng, đổi mới phương pháp dạy
Giải tỏa cách nhìn tự ti đối với cá nhân
Lựa chọn tư vấn cho HS phương pháp học tập thích hợp
Định ra các kết quả tích cực, thường xuyên kiểm tra các kết quả đạt được
Khích lệ kết quả, xây dựng lòng tin, rút kinh nghiệm từ những thất bại
Cách tiếp cận như trên rõ ràng là sự tập trung, hướng vào người học ở mức cao nhất để phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động
và sáng tạo trong quá trình học tập của HS
Trang 19- Thứ 2 : GV tổ chức hướng dẫn các kỹ năng tự học cần thiết cho HS trên cơ sở rèn luyện các kỹ năng tự học dần dần và hình thành phát triển tính
tự lực học tập cho HS :
+ GV giúp HS thực hiện các HĐ phù hợp với mục tiêu và điều kiện cụ thể Ví dụ: kỹ năng ghi chép, kỹ năng phân tích tài liệu trong ý nghĩ,
liên kết kiến thức… Muốn như vậy, trước hết GV giúp HS có kiến thức cơ sở
cho sự hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện được
một HĐ theo đúng mục đích yêu cầu
+ GV phải tỉ mỉ, kiên trì, hướng dẫn các thao tác và qui trình nhất định Trước mỗi việc làm của HS có mang tính tự lập học tập thì GV nên
giải thích cho HS hiểu tác dụng ý nghĩa, rồi hướng dẫn, khuyến khích, động
viên các em thực hiện, sau đó giúp các em tự đánh giá các việc làm
- Thứ ba : Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để HS tổ chức HĐ học tập của mình một cách nghiêm túc, đạt hiệu quả cao :
+ Tổ chức học tập theo nhóm
+ Giao bài tập thực hành
+ Giới thiệu sách tham khảo
+ Hướng dẫn học và có kế hoạch tự học theo tuần, tháng
- Thứ tư : Tăng cường tính tự lực học của HS ngay trên lớp học
+ GV ra bài tập, câu hỏi hay những tình huống học tập có vấn đề cho HS bằng phiếu in sẵn
+ GV yêu cầu HS nghiên cứu một đoạn ở sách giáo khoa hoặc tài liệu bổ sung theo chỉ dẫn nhằm giúp HS nắm được sơ bộ các kiến thức từng
phần
+ GV định hướng suy nghĩ của HS về nội dung kiến thức qua các câu hỏi giúp HS sử dụng các thao tác tư duy kết nối kiến thức các phần theo
Trang 20một logic Đó là kiến thức mà HS cần lĩnh hội (có thể chưa chính xác hoàn
toàn)
+ Tổ chức thảo luận nhóm trước lớp để thảo luận những kiến thức cần đạt, qua đó khẳng định năng lực của bản thân Tìm ra những thiếu
sót, từ đó rút ra kinh nghiệm tự học cho HS GV làm trọng tài nhận xét và đưa
ra kết luận về nội dung kiến thức qua đó HS tiếp thu được trọn vẹn, chính xác
nguồn kiến thức
- Thứ 5 : Định hướng giúp đỡ HS tự lực học tập tại nhà :
+ Tự học tại nhà là mở rộng và tinh lọc kiến thức: Ngày nay với
sự hỗ trợ của máy vi tính và hệ thống mạng, HS có thể mang kiến thức từ
ngoài vào trong nhà trường nhưng vì lượng kiến thức bên ngoài khá phong
phú do đó đòi hỏi HS phải biết tinh lọc Muốn vậy ta phải hướng dẫn HS một
số thao tác cơ bản như so sánh, phân loại, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
…
+ Giao bài tập (nhiệm vụ) về nhà cho HS, đòi hỏi HS phải tự lực giải quyết nhiệm vụ đó Đây là một việc khó đối với cả GV lẫn HS GV phải
giao nhiệm vụ như thế nào mà chúng vừa tầm với HS, không quá khó cũng
không quá dễ, phải tạo điều kiện để HS tư duy để HS giải quyết vấn đề
+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài mới ở nhà: đọc sơ lược sách giáo khoa, nắm một số mục, ý quan trọng, ấn tượng… GV có thể đặt ra một số câu
hỏi của bài cũ nhưng có liên quan đến bài mới nhằm kích thích HS đọc trước
bài mới Hoặc giao cho HS tìm một số ví dụ, hình ảnh minh hoạ có liên quan
đến bài mới điều này thúc đẩy HS phát huy tính tự lực trong HĐ học khi học
bài mới
- Thứ 6: Giúp HS ôn tập : Hướng dẫn HS nhận ra trọng tâm của bài học, hệ thống hoá bài học và các thủ thuật dễ ghi nhớ kiến thức vừa học…
Trang 211.2.7 Năng lực nhận thức sáng tạo của học sinh trong học tập
1.2.7.1 Khái niệm năng lực và năng lực sáng tạo
Trong khoa học tâm lí, người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của cá nhân; nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt
một loại HĐ nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả
tốt Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực HĐ tương ứng Song
kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loại hành động hẹp chuyên
biệt, đến mức thành thạo, tự động hoá, máy móc Còn năng lực chứa đựng
yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành
công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực rộng hơn Tâm lí
học hiện đại cho rằng: con người mới sinh ra chưa có năng lực, chưa có nhân
cách Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, con người đã
hình thành và phát triển năng lực của mình Sự hình thành và phát triển năng
lực của con người chịu tác động của nhiều yếu tố: yếu tố sinh học, yếu tố tự
vận động của chủ thể, yếu tố môi trường xã hội và vai trò của giáo dục, dạy
học [7]
Sáng tạo là một HĐ mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị [8] Năng lực sáng tạo có
thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra
cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã
có vào hoàn cảnh mới HĐ sáng tạo đối với HS mang ý nghĩa là một HĐ tập
dượt sáng tạo, sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được không phải là những
sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ Kiến thức HS sáng tạo ra
sau này sẽ quên đi vì không được dùng đến, còn năng lực sáng tạo của họ thì
sẽ luôn được sử dụng trong HĐ thực tiễn sau này
1.2.7.2 Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh
Để đánh giá năng lực sáng tạo, người ta thường căn cứ vào các sản phẩm của quá trình hoạt động Tuy nhiên, nếu tạo điều kiện cho HS tích cực
Trang 22tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập thì có thể đánh giá năng lực sáng
tạo của HS thông qua những dấu hiệu được bộc lộ ngay trong quá trình thực
hiện các nhiệm vụ Các biểu hiện của năng lực sáng tạo bao gồm:
- Từ những kinh nghiệm thực tế, từ những kiến thức đã có HS đề xuất được các giả thuyết (dự đoán có căn cứ, lí lẽ) Trong chế tạo các dụng cụ TN,
HS đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ TN và cùng một TN
đưa ra được các phương án chế tạo dụng cụ TN khác nhau HS đưa ra được
những sáng kiến kĩ thuật để dụng cụ bền hơn, đẹp hơn, kết quả TN chính xác
hơn
- Đề xuất được phương án dùng những dụng cụ TN đã chế tạo để làm
TN kiểm tra các dự đoán và kiểm nghiệm lại các kiến thức đã học
- HS dự đoán được kết quả các TN, dự đoán được phương án nào chính xác hơn, phương án nào sai số ít hơn
- Vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tế một cách linh hoạt như giải thích một số hiện tượng vật lí và một số ứng dụng có liên quan
Những biểu hiện của năng lực sáng tạo nêu trên là căn cứ để chúng tôi chế tạo TBTN và soạn thảo tiến trình dạy học nhằm phát triển năng lực sáng
tạo của HS và cũng là tiêu chí để chúng tôi đánh tính khả thi của TBTN đã
chế tạo và tiến trình dạy học đã soạn thảo
1.2.7.3 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học
sinh
Năng lực sáng tạo gắn liền với vốn hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể Khi càng thành thạo trong lập luận, càng có kiến thức sâu rộng
thì càng nhạy bén trong tư duy để đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án
hợp lí, nhiều giải pháp giải quyết và tạo điều kiện cho trực giác phát triển Để
phát triển năng lực sáng tạo của HS, có thể chú ý đến các biện pháp sau:
Trang 23- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới: Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài
người khẳng định; tuy vậy, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với HS Việc
nghiên cứu kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi
HS phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ
Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HS trên
con đường hoạt động sáng tạo dễ nhận biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa
trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới
Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu
quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường
hợp, GV có thể giới thiệu cho HS kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết: Như đã biết, dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán
dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức
sâu sắc về mỗi lĩnh vực Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn
đầu của hoạt động nhận thức vật lí của HS:
+ Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
+ Dựa trên sự tương tự: dựa trên một dấu hiện bên ngoài giống nhau mà dự đoán sự giống nhau về bản chất; dựa trên sự giống nhau về cấu
tạo mà dự đoán sự giống nhau về tính chất; dựa trên sự xuất hiện đồng thời
giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả; dựa trên
nhận xét thấy: hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc
cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng; dựa trên sự thuận
nghịch thường thấy của nhiều quá trình; dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng
dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác; dự đoán về mối quan
hệ định lượng
Trang 24- Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán: Trong nghiên cứu vật
lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là một sự khái quát các sự kiện thực
nghiệm nên nó có tính chất trừu tượng, tính chất chung, không thể kiểm tra
trực tiếp được Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế
không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có
những dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều đó có nghĩa là: từ một dự
đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong
thực tế, sau đó tiến hành TN để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù
hợp với kết qủa TN không Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện
ban đầu dùng làm cơ sở cho dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp
với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn, sát với chân lí
hơn
- Giải các bài tập sáng tạo: Ở trên, ta đã xem xét việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS trong quá trình xây dựng kiến thức mới Ngoài ra, trong
dạy học vật lí, người ta còn xây dựng những loại bài tập riêng vì mục đích này
và được gọi là bài tập sáng tạo Trong loại bài tập sáng tạo này, ngoài việc
phải vận dụng một số kiến thức đã học, HS bắt buộc phải có những ý kiến độc
lập mới mẻ, không thể suy ra một cách lôgic từ những kiến thức đã học
1.3 Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề
1.3.1 Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề
Để phát huy đầy đủ vai trò tích cực của HS trong HĐ cá nhân và thảo luận tập
thể nhằm giải quyết vấn đề cũng như vai trò của GV trong việc tổ chức, kiểm
tra, định hướng các HĐ đó thì với mỗi nhiệm vụ nhận thức cần phải được
thực hiện theo các pha như sau [6] (Hình 1.3):
- Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hoá tri thức, phát biểu vấn đề
Trang 25Trong pha này, GV giao cho HS một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề Dưới
sự hướng dẫn của GV, HS quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự
nguyện thực hiện nhiệm vụ Trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đó, quan
niệm và giải pháp ban đầu của HS được thử thách và HS ý thức được khó
khăn Lúc này vấn đề đối với HS xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của GV vấn
quá trình tìm tòi giải quyết vấn đề, HS diễn đạt, trao đổi với người khác trong
nhóm về cách giải quyết vấn đề của mình và kết quả thu được, qua đó có thể
chỉnh lí, hoàn thiện tiếp Dưới sự hướng dẫn của GV, hành động của HS được
định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học và thông qua các tình
huống thứ cấp khi cần Qua quá trình dạy học, cùng với sự phát triển năng lực
giải quyết vấn đề của HS, các tình huống thứ cấp sẽ giảm dần Sự định hướng
của GV chuyển dần từ định hướng khái quát chương trình hoá (theo các bước
tuỳ theo trình độ của HS) tiệm cận dần đến định hướng tìm tòi sáng tạo, nghĩa
là GV chỉ đưa ra cho HS những gợi ý sao cho HS có thể tự tìm tòi, huy động
hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức HĐ thích hợp để giải quyết
nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là dần dần bồi dưỡng cho HS khả năng tự
xác định hành động thích hợp trong những tình huống không phải là quen
thuộc đối với họ Để có thể thực hiện tốt vai trò định hướng của mình trong
quá trình dạy học, GV cần phải nắm vững quy luật chung của quá trình nhận
thức khoa học, lôgíc hình thành các kiến thức vật lí, những hành động thường
gặp trong quá trình nhận thức vật lí, những phương pháp nhận thức vật lí phổ
biến để hoạch định những hành động, thao tác cần thiết của HS trong quá
trình chiếm lĩnh một kiến thức hay một kĩ năng xác định
Trang 26- Pha thứ 3: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới
Trong pha này, dưới sự hướng dẫn của GV, HS tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được GV chính xác hoá, bổ sung, thể chế hóa tri thức mới HS
chính thức ghi nhận tri thức mới và vận dụng
Hình 1.3 Sơ đồ các pha của tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học
Tổ chức dạy học theo tiến trình trên, GV đã tạo điều kiện thuận lợi để
HS phát huy sự tích cực hành động xây dựng kiến thức đồng thời cũng phát
huy được vai trò tương tác của tập thể HS đối với quá trình nhận thức của mỗi
cá nhân HS Tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề như vậy, HĐ của HS đã
được định hướng phỏng theo tiến trình xây dựng kiến thức trong nghiên cứu
khoa học Như vậy, kiến thức của HS được xây dựng một cách hệ thống và
vững chắc, năng lực sáng tạo của HS từng bước được phát triển
Pha thứ nhất:
Chuyển giao nhiệm vụ, bất
ổn hóa tri thức, phát biểu
Tình huống có tiềm ẩn vấn đề
Phát biểu vấn đề - bài toán
Giải quyết vấn đề:
suy đoán, thực hiện giải pháp
Kiểm tra, xác nhận kết quả: xem xét sự phù hợp của
đề
Pha thứ 3:
Tranh luận, thể chế hóa, vận dụng tri thức mới
Trang 27Hình thức dạy học cần phải phù hợp với phương pháp tổ chức HĐ nhận thức Với phương pháp tổ chức HĐ nhận thức theo hướng dạy học giải quyết
vấn đề thì hình thức dạy học tương ứng là hình thức dạy học nhóm Nếu như
tiến trình dạy học giải quyết vấn đề chia thành các pha với các đặc trưng riêng
thì hình thức dạy học nhóm ứng với các pha ấy cũng có những đặc điểm khác
đang được áp dụng rộng rãi, hiệu quả trên thế giới Việc cộng tác giữa các
thành viên trong nhóm và giữa các nhóm với nhau là tự giác, tự nguyện dưới
sự tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của GV
1.3.2.1 Khái niệm hoạt động nhóm
Trong dạy học, HĐ nhóm là hình thức tổ chức cho HS học tập, thảo luận theo từng nhóm, cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào
đó giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, hiểu thấu đáo vấn đề và phát triển những
kĩ năng trí tuệ cần thiết [7]
Cơ sở của việc tổ chức HĐ nhóm gồm triết học, tâm lí học, xã hội học,
sư phạm học Tổ chức HĐ nhóm cần tuân thủ 5 nguyên tắc: Phụ thuộc tích
cực; trách nhiệm cá nhân; tương tác tích cực trực tiếp; kĩ năng xã hội; đánh
giá rút kinh nghiệm
1.3.2.2 Bản chất của quá trình dạy học nhóm
Trong phương pháp dạy học, khi tổ chức HĐ nhóm, ta lấy HS làm trung tâm tiếp cận từ việc dạy cho tới việc học vì hiệu quả thực tế của người
học Sự tác động giữa 3 thành tố: GV, HS và tri thức được diễn ra trong môi
trường HĐ nhóm, trong đó [7]:
Trang 28- HS là chủ thể tích cực của HĐ học, tự mình tìm ra tri thức bằng chính
HĐ của bản thân và sự hợp tác với bạn, với GV
- Nhóm là môi trường xã hội cơ sở, là nơi diễn ra quá trình hình thành giao lưu giữa các HS với nhau và giữa HS với GV làm cho các tri thức cá
nhân được xã hội hoá
- GV là người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển HĐ của các nhóm HS, giúp HS tự tìm ra tri thức
- Tri thức được HS tự tìm ra trong HĐ hợp tác với bạn, với GV
Như vậy, bản chất của quá trình dạy học nhóm là quá trình thực hiện những biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển mối tương tác giữa
các thành tố: GV, nhóm HS và tri thức làm cho chúng vận động và phát triển
đựng vấn đề) cho cả lớp và mỗi cá nhân HS sẽ tự lực suy nghĩ để trả lời Khi
gặp khó khăn, có nhu cầu trao đổi, HS có thể quay sang bên cạnh để hỏi các
bạn cùng bàn, cùng tổ của mình Như vậy, trong tình huống học tập này, các
nhóm nhỏ có thể được thành lập một cách ngẫu nhiên, phù hợp với quy luật
xã hội của một lớp học
Cá nhân HS phát biểu ý kiến trả lời cho câu hỏi của GV Dưới sự hướng dẫn của GV, HS từ chỗ quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra đến chỗ sẵn sàng
nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ Lúc này, các nhóm nhỏ 2 – 4 em tích
cực thảo luận và tranh luận hơn để tìm hướng giải quyết nhiệm vụ đặt ra
Trang 29Trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đó, quan niệm và giải pháp ban đầu của
mỗi HS trong nhóm được thử thách, chọn lọc và mỗi cá nhân ý thức được khó
khăn Lúc này, vấn đề đối với HS xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của GV vấn
trung tư duy của tập thể, là HĐ nhóm Lúc này các nhóm trung bình được
thành lập một cách có chủ định theo sự chỉ đạo của GV GV cần thể hiện rõ
vai trò định hướng của mình mà trước tiên thể hiện ở việc chia nhóm HS
Không nên chia các nhóm HS quá nhỏ vì số lượng phương tiện dạy học (TN,
mô hình,…) cần cung cấp cho các nhóm quá nhiều Cũng không nên chia các
nhóm HS quá lớn vì như vậy các em sẽ khó HĐ, bàn bạc, thảo luận chung với
nhau Tùy thuộc vào điều kiện phương tiện dạy học hoặc bàn ghế, không gian
lớp học, số lượng HS, mà có thể chia lớp thành 4, 5 hoặc 6 nhóm
Trong quá trình tìm tòi giải quyết vấn đề, có thể do chủ định hoặc ngẫu nhiên mà mỗi nhóm sẽ có một nhóm trưởng để điều hành quá trình HĐ của
nhóm Trong quá trình này, HS diễn đạt, trao đổi với các bạn trong nhóm về
cách thức cụ thể để giải quyết vấn đề: Hoặc là sự suy luận từ các kiến thức đã
biết, hoặc là các thao thác để nghiên cứu TN Qua trao đổi, tranh luận, các
giải pháp cụ thể được thống nhất và được thực hiện với sự đóng góp công sức,
trí tuệ chung của cả nhóm Quá trình này diễn ra dưới sự hướng dẫn của GV,
hành động của HS được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa
học Qua quá trình dạy học nhóm trong mỗi kì học, năm học, cùng với sự phát
triển năng lực giải quyết vấn đề của HS thì tính chủ động, tích cực, sáng tạo
của mỗi cá nhân trong HĐ nhóm và tính tích cực của mỗi nhóm ngày càng
được tăng cường và nâng cao Sự định hướng của GV đối với HĐ nhóm từ
Trang 30chỗ hướng dẫn trình tự HĐ, nội dung thảo luận, cách thức trình bày đến chỗ
chỉ đưa ra những gợi ý để nhóm có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng
những kiến thức và cách thức HĐ thích hợp để giải quyết các nhiệm vụ mà
nhóm đảm nhận
- Trong pha thứ 3: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới
Dưới sự hướng dẫn của GV, các nhóm HS tranh luận, bảo vệ kết quả
HĐ của nhóm mình Trong tình huống này, không chỉ có nhóm trưởng hay
người đại diện cho nhóm tranh luận mà mỗi thành viên trong nhóm cũng có
quyền và cơ hội phát biểu ý kiến trước lớp Như vậy, quá trình tranh luận, bảo
vệ tri thức đã dần dần gộp các nhóm trung bình thành nhóm lớn hơn, đó chính
là cả lớp học Khi nhiệm vụ thống nhất, thể chế kiến thức được đặt ra, chính
tính xã hội của lớp đã xóa nhòa ranh giới giữa các nhóm Trong tình huống
này, GV chính là người điều hành nhóm, chính xác hoá, bổ sung, thể chế hóa
tri thức mới HS chính thức ghi nhận tri thức mới và vận dụng
1.2.3.4 Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức dạy học nhóm
lầm, học qua giao tiếp, trình bày ý kiến với người khác, với thực tiễn
+ GV có cơ hội tận dụng ý kiến và kinh nghiệm của người học
+ Việc sử dụng dạy học nhóm sẽ cải thiện quan hệ của HS với nhau, tạo cho lớp học không khí tin cậy, khuyến khích hơn Hầu hết mọi
Trang 31người ai cũng thích HĐ giao tiếp xã hội, việc chia nhóm sẽ xây dựng được
thái độ tích cực, chủ động của người học
- Nhược điểm:
+ Các nhóm có thể đi chệch hướng và một HS nào đó tích cực hơn có thể “bắt cóc cả nhóm”
+ Một số HS trong nhóm có thể sẽ trở thành “bù nhìn” hoặc “kẻ
ăn theo” thụ động nếu GV không đảm bảo được rằng mọi thành viên đều có
trách nhiệm với công việc của nhóm
+ Khi thảo luận nhóm, lớp học thường sẽ ồn và một số HS sẽ có
tư thế ngồi không thuận lợi để nhìn lên bảng
+ Giao nhiệm vụ, thảo luận nhóm không khoa học sẽ mất nhiều thời gian và việc tổ chức HĐ theo nhóm sẽ trở nên “hình thức”
+ GV có thể mắc vào 2 thái cực: Hoặc rất ít khi tổ chức hoạt động nhóm, dẫn đến không phát huy được tính ưu việt của hình thức dạy học
này hoặc dạy học kiến thức nào cũng tổ chức hoạt động nhóm, mặc dù, thực
tế, HS cũng cần có những lúc suy nghĩ độc lập và tập trung tư duy ở mức độ
cao
1.4 Tổ chức dạy học theo chuyên đề
Theo tài liệu tập huấn các chuyên đề dạy học và cách kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo dục và đào tạo tháng 12 năm 2014 thì chuyên đề dạy học được
hiểu như sau: Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết
trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào
chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các
chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực
trong điều kiện thực tế của nhà trường
Trang 321.4.1.Định hướng chung
Căn cứ vào những đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực, khi xây dựng các chuyên đề dạy học ta cần căn cứ vào một phương pháp dạy học
tích cực cụ thể được lựa chọn để hình dung chuỗi hoạt động học sẽ tổ chức
cho HS thực hiện Nhìn chung các phương pháp dạy học tích cực đều dực trên
việc tổ chức cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ
học tập Chuỗi hoạt động trong mỗi chuyên đề đều tuân theo con đường nhận
thức chung như sau:
- Hoạt động giải quyết một tình huống học tập: mục đích của hoạt động này là tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập,
hứng thú học tập bài mới GV sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy
động kiến thức, kinh nghiệm của bản thân HS có liên quan đến vấn đề xuất
hiện trong tài liệu hướng dẫn học, bộc lộ “cái” HS đã biết, bổ khuyết những gì
cá nhân HS còn thiếu, giúp HS nhận ra “cái” chưa biết và muốn biết
- Hoạt động tìm tòi, khám phá, lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng mới hoặc/và thực hành, luyện tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng vừa lĩnh
hội được nhằm giải quyết tình huống/vấn đề học tập
- Hoạt động vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề thực tiễn
Dựa trên con đường nhận thức chung đó và căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành, tổ/nhóm chuyên môn tổ chức cho GV
thảo luận, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp
1.4.2 So sánh dạy học theo chuyên đề với dạy học truyền thống
Dạy học theo chuyên đề Dạy học truyền thống + HS được giao nhiệm vụ học tập và
tự tìm cách thực hiện (có sự hỗ trự của GV)
+ GV quyết định tiến trình học tập của HS
Trang 33+ Phù hợp với nhiều đối tượng HS vì mỗi HS có một phương pháp học tập riêng phù hợp
+ Mục tiêu: kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng tiến hành tiến trình khoa học (quan sát, thu thập dữ liệu, xử
lý, suy luận và áp dụng vào thực tiễn)
+ Dạy theo một chuyên đề thống nhất, được tổ chức lại từ một phần chương trình học
+ Kiến thức thu được có liên hệ mạng lưới với nhau
+ Trình độ nhận thức có thể đạt:
phân tích, tổng hợp, đánh giá + Kiến thức chủ đề: có một tổng thể kiến mới, tinh giản và chặt chẽ
+ Kiến thức gần với thực tiễn + Có thể hướng tới bồi dưỡng các kỹ năng: giao tiếp, hợp tác, quản lý, điều hành, quyết định
+ Phù hợp với một số HS có tư duy logic, tuần tự, chặt chẽ
+ Mục tiêu: kiến thức mới thông qua hoạt động, bồi dưỡng các phương thức tư duy khoa học
+ Dạy theo từng bào riêng rẽ trong một thời lượng cố định đành cho từng bài
+ Kiến thức thu được rời rạc hoặc chỉ liên hệ một chiều
+ Trình độ nhận thức có thể đạt:
biết, hiểu, vận dụng (giải bài tập) + Kiến thức một chương: không có một tổng thể kiến thức mới, mà có kiến thức từng phần riêng biệt, hoặc
hệ thống kiến thức liên hệ một chiều theo trật tự bài học
+ Kiến thức khá xa rời thực tiễn + Không thể hướng tới bồi dưỡng các kỹ năng: giao tiếp, hợp tác, quản
lý, điều hành, quyết định
Trang 34Điểm gần tương đồng giữa dạy học theo chuyên đề và dạy học truyền thống: vẫn coi trọng việc lĩnh hội một dung lượng kiến thức nền tảng Dó đó
dạy học theo chuyên đề là có khả năng vận dụng vào thực tiễn
Trong quá trình học tập để vận dụng dạy học theo chuyên đề cần phải
tổ chức lại một số bài học theo một chuyên đề có ý nghĩa thực tiễn
Cần lưu ý khi dạy học theo chuyên đề cũng như các mô hình dạy học tích cực khác là không được coi HS là chưa biết gì mà càn tận dụng những
kinh nghiệm sống thực tiễn của HS để giải quyết vấn đề
1.4.3 Những nét đặc trưng cơ bản của dạy học theo chuyên đề
- Các kiến thức cần truyền đạt cho HS có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau
- Định hướng cho HS nhận thức những kiến thức trong chuyên đề bằng các câu hỏi định hướng Hệ thống kiến thức chặt chẽ, sát thực và thiết thực,
quá trình học tập thoải mái, luôn tạo điều kiện, cơ hội cho HS đạt mục đích
- Rèn luyện được khả năng làm việc theo nhóm, tính hợp tác của HS
- Nếu thành công, phương pháp dạy học theo chuyên đề sẽ giúp HS phát huy tính chủ động, tự tin, tự vận động, năng động, độc lập và tính độc
đáo của cá nhân
Trang 35Bên cạnh đó, phương pháp dạy học theo chuyên đề cũng gặp khó khăn, hạn chế sau:
- Khi khai thác chuyên đề, các câu hỏi HS đưa ra có thể vượt ra ngoài phạm vi chương trình
- GV cần năng động, sáng tạo, là người có vai trò nhất định trong việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung chương trình học tập của HS
- Vấn đề thời gian là quyết định rất lớn trong dạy học theo chuyên đề
1.4.4 Quy trình xây dựng chuyên đề dạy học
Mỗi chuyên đề dạy học phải giải quyết vấn đề trọn vẹn một vấn đề học tập Vì vậy, việc xây dựng mỗi chuyên đề dạy học cần thực hiện theo quy
trình sau:
1.4.4.1 Xác định vấn đề
Xác định vấn đề cần giải quyết trong dạy học chuyên đề sẽ xây dựng
Vấn đề cần giải quyết có thể là một trong các loại sau:
- Vấn đề kiểm tra, xây dựng kiến thức mới
- Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới Căn cứ vào nội dung chương trình, SGK của môn Vật lí và những ứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn , xác định các nội dung
kiến thức liên quan với nhau để thể hiện ở một số bài/tiết hiện hành, từ đó xây
dựng thành một vấn đề
Tùy nội dung kiến thức, điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường, năng lực GV và HS, có thể xác định một trong các mức độ sau:
Trang 36- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng đẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc của
HS
- Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS
cùng đánh giá
- Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện
và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn
giải pháp HS thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh
giá
- Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự
đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc
1.4.4.2 Xây dựng nội dung chuyên đề
Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được
sử dụng để tổ chức hoạt động học cho HS, từ tình huống xuất phát đã xây
dựng, dự kiến các nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt
động học của HS, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chuyên
đề Lựa chọn các nội dung của chuyên đề từ các bài/tiết và các môn học có
liên quan để xây dựng chuyên đề dạy học
1.4.4.3 Xác định chuẩn
Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành
và các hoạt động dự kiến sẽ tổ chức cho HS theo phương pháp dạy học tích
cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho HS trong
chuyên đề sẽ xây dựng
Bảng dưới đây là biểu hiện của một số phẩm chất cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học
Trang 37Có ý thức tìm hiểu và giữ gìn các truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Yêu thương con người; sẵn sàng giúp đỡ mọi người và tham gia các hoạt động tập thể, xã hội; hòa nhập, hợp tác với mọi người xung quanh; tôn trọng sự khác biệt của mỗi người; phê phán và tham gia ngăn chặn các hành vi bạo lực
Sống hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên;
có ý thức tìm hiểu và sẵn sàng tham gia các hoạt động tuyên truyền, chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên; phê phán những hành vi phá hoại thiên nhiên
Tôn trọng các dân tộc, các quốc gia và các nền văn hóa trên thế giới
Có ý thức giải quyết công việc theo lẽ phải, công bằng
Tự lực, chủ động, tích cực học hỏi để thực hiện những công việc hàng ngày của bản thân trong học tập, lao động, sinh hoạt
Trang 38Tự tin trong giao tiếp, sinh hoạt, học tập, hoạt động cộng đồng
Ý thức được thuận lợi, khó khăn trong học tập và sinh hoạt của bản thân và chủ động khắc phục, vượt qua
Có thói quen tự chăm sóc, rèn luyện thân thể
Có ý thức tự hoàn thiện bản thân Biết xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập; có ý thức lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai cho bản thân
Tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật; phê phán những hành vi trái quy định của pháp luật
Tôn trọng, giữ gìn và tuyên truyền, vận động, nhắc nhở các bạn cùng giữ gìn di sản văn hoá của quê hương, đất nước
Quan tâm đến những sự kiện chính trị, thời sự nổi bật ở địa phương, trong nước và quốc tế,
Bảng dưới đây là biểu hiện của một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học
Trang 39Tích cực, tự lực thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao và lựa chọn các nguồn tài liệu đọc phù hợp; tìm kiếm, chọn lọc và ghi chép được thông tin cần thiết; ghi được nội dung thảo luận; nhận ra
và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập; tự đặt ra yêu cầu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tích cực, chủ động tìm tòi thông tin bổ sung và mở rộng thêm kiến thức
Đặt những câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; phát hiện yếu tố mới trong tình huống quen thuộc; tôn trọng các quan điểm trái chiều; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác nhau; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau, xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; hứng thú, độc lập trong suy nghĩ, chủ động nêu ý kiến, vấn đề và ý tưởng mới
Đề xuất một hoặc nhiều giải pháp khả thi; so sánh và bình luận về các giải pháp đề xuất; lựa chọn được giải pháp phù hợp; hình thành
ý tưởng về giải pháp mới dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp
Giải quyết vấn đề theo giải pháp đã lựa chọn; nhận ra sự không phù hợp và điều chỉnh được giải pháp; chủ động tim sự hỗ trợ khi gặp khó khăn; giải quyết được vấn đề
Suy nghĩ và khái quát hóa thành kiến thức mới của bản thân khi giải quyết vấn đề; áp dụng tiến trình đã biết vào giải quyết tình huống
Trang 40tương tự với những điều chỉnh hợp lý
Xác định được trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm; tự đánh giá khả năng của mình và đánh giá khả năng của các thành viên trong nhóm để phân công công việc phù hợp; chủ động hoàn thành phần việc được giao; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm; khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp, học hỏi các thành viên trong nhóm
Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyên kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; diễn đạt ý tưởng một cách
tự tin; có biểu cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp; nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ
đề thuộc chương trinh học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn bản
Sử dụng đúng cách các thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông;
bước đầu biết khai thác, sử dụng máy vi tính và mạng internet trong học tập; nhận biết các thành phần của hệ thống công nghệ thông tin
và truyền thông cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng
Tìm kiếm thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống