Đề tài Dạy học văn học sử trong chương trình ngữ văn lớp 11 ban cơ bản theo định hướng phát triển năng lực tự học của người học ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN MẠNH HOÀNG DẠY HỌ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH HOÀNG
DẠY HỌC VĂN HỌC SỬ ( NGỮ VĂN LỚP 11) THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của:
Lãnh đạo trường Đại học Giáo Dục – Đại học quốc gia Hà Nội, các phòng
khoa và các thầy cô trường Đại học Giáo Dục Lãnh đạo trường THPT
Nguyễn Khuyến- Huyện Vĩnh Bảo- TP Hải Phòng Các bạn đồng nghiệp và
học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến Đặc biệt sự hướng dẫn nhiệt tình của
TS Tôn Quang Cường
Với tấm lòng trân trọng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các ban ngành, của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em học
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
ục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục bi u đồ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC VHS Ở THPT 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Tự học 8
1.1.2 Năng lực tự học 16
1.1.3 Năng lực tự học đối với các bài VHS trong chương trình THPT 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THPT về tác dụng của tự học 31
1.2.2 Thực trạng về năng lực tự học môn Ngữ văn của học sinh THPT 33
1.2.3 Thực trạng việc phát tri n năng lực tự học cho HS THPT của GV 36
1.2.4 Thực trạng rèn năng lực tự học qua các bài VHS cho HS THPT 38
Kết luận chương 1 40
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA CÁC BÀI VHS TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 41
2.1 Nhóm biện pháp phát tri n kĩ năng thu thập thông tin cho HS qua các bài VHS trong chương trình ngữ văn 11 42
2.1.1 Kĩ năng thu thập thông tin 42
2.1.2 Nhóm biện pháp phát tri n kĩ năng thu thập thông tin cho HS qua các bài VHS trong chương trình ngữ văn 11 42
Trang 62.2 Nhóm biện pháp hình thành và phát tri n kĩ năng xử lý thông tin cho HS
qua các bài VHS trong chương trình ngữ văn 11 48
2.2.1 Kĩ năng xử lý thông tin 48
2.2.2 Nhóm biện pháp hình thành và phát tri n kĩ năng xử lý thông tin cho HS qua các bài VHS trong chương trình ngữ văn 11 49
2.3 Nhóm biện pháp hình thành và phát tri n kĩ năng hợp tác trao đổi thông tin về bài VHS cho HS THPT 52
2.3.1 Kĩ năng hợp tác trao đổi thông tin 52
2.3.2 Nhóm biện pháp phát tri n kĩ năng hợp tác trao đổi thông tin về bài VHS cho HS THPT 54
2.4 Nhóm biện pháp hình thành và phát tri n kĩ năng tự ki m tra – đánh giá và tự điều chỉnh trong tự học bài VHS 57
2.4.1 Kĩ năng tự ki m tra- đánh giá và tự điều chỉnh 57
2.4.2 Nhóm biện pháp hình thành và phát tri n kĩ năng tự ki m tra – đánh giá và tự điều chỉnh trong tự học bài VHS 57
2.5 Đổi mới giờ VHS theo hướng tổ chức học sinh trình bày kết quả tự học 59
2.6 Sử dụng mạng xã hội Facebook đ phát tri n năng lực tự học VHS cho HS 62
2.6.1 ạng xã hội (Facebook) với khả năng phát tri n năng lực tự học cho HS 62
2.6.2 Phát tri n năng lực tự học VHS cho HS thông qua mạng xã hội Facebook 64
2.6.3 Những đi m lưu ý khi sử dụng XH (Facebook) trong dạy học VHS đ phát tri n năng lực tự học cho HS 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 ục đích thực nghiệm 67
3.2 Đối tượng thực nghiệm 67
3.3 Nội dung thực nghiệm 69
Trang 73.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 82
3.4.1 Cách tiến hành 82
3.4.2 Cách đánh giá 83
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84
3.5.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 84
3.5.2 Kết quả thực nghiệm cụ th 84
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thực trạng nhận thức của HS THPT về tác dụng của tự học 31
Bảng 1.2 Thực trạng về năng lực tự học của HS THPT 33
Bảng 1.3 Thực trạng hoạt động dạy theo định hướng phát tri n năng lực tự
học của giáo viên 36
Bảng 1.4 Thực trạng hoạt động dạy theo định hướng phát tri n năng lực tự
học VHS cho HS THPT 38
Bảng 3.1 So sánh trình độ HS trước khi dạy thực nghiệm 68
Bảng 3.2: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 85
Trang 9Bi u đồ 3.1: So sánh kết quả học tập trước khi dạy thực nghiệm 68
Bi u đồ 3.2: Kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế tri thức cùng với sự bùng nổ của thông tin như hiện nay đã đặt con người trước những thử thách Tri thức thì vô hạn và ngày càng phong
phú trong khi kiến thức của mỗi người là có hạn Đ đáp ứng được yêu cầu
của thời đại, con người phải không ngừng học tập, học tập suốt đời Nhà
trường là nơi tối ưu nhất giúp con người chiếm lĩnh tri thức hiệu quả, nhưng
thời gian và điều kiện đ học tập ở nhà trường đối với mỗi người là có hạn Vì
vậy việc học của mỗi người không chỉ đóng khung trong nhà trường, trong thời
gian đi học mà là học bất kì lúc nào, học bất kì nơi nào và học suốt đời Đ làm
được điều đó, người học phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu Đó chính là
chìa khoá đ giải quyết nghịch lý
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuy n từ chương trình giáo dục nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc HS được học cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được
cái gì qua việc học Và trong số các năng lực cần hình thành ở người học, thì
năng lực tự học chính là năng lực nền tảng, là chìa khoá quan trọng của mọi
năng lực
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn không th đứng ngoài mục tiêu đào tạo, giáo dục hiện nay Ngày nay, việc dạy văn không còn chỉ quan
tâm đến dạy cho HS kiến thức mà phải chú trọng hình thành năng lực cho
người học Quan đi m, chủ trương là vậy nhưng thực tế cho thấy: việc dạy –
học văn vẫn nặng về trang bị kiến thức mà chưa hướng vào việc hình thành và
phát tri n các năng lực cần thiết ở người học Trong đó năng lực tự học của
HS lại càng chưa được chú trọng Chính bởi vậy mà HS tỏ ra khá lúng túng
trong việc tự học môn Ngữ văn – môn học đòi hỏi khá cao năng lực tự học
Trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT, các bài học VHS dù có vai trò quan trọng nhưng lại chưa thực sự được chú trọng Bên cạnh đó, hệ thống
kiến thức của các bài VHS với sự giao thoa giữa văn học và nghệ thuật tồn tại
Trang 11trong một hệ thống có tính chất đa chiều và hết sức phức tạp gây không ít khó
khăn cho cả người dạy và người học Việc dạy học VHS trong nhà trường vẫn
chủ yếu là thuyết giảng, truyền thụ một chiều hoặc khi tổ chức hoạt động cho
học sinh chiếm lĩnh tri thức của bài học thì thường thiếu thời gian, “cháy”
giáo án và chưa hiệu quả Tất cả những điều này dẫn đến tình trạng giờ dạy
VHS thường nặng nề, không tạo được hứng thú cho người học và nhất là chưa
chú trọng tới việc hình thành và phát tri n các năng lực cần thiết cho người
học
Vì vậy việc hình thành và phát tri n năng lực tự học cho HS thông qua các bài VHS không chỉ là một định hướng đổi mới phương pháp đ nâng cao
chất lượng dạy học các bài học VHS một cách hiệu quả mà nó thực sự trở nên
cần thiết, phù hợp với định hướng đổi mới của giáo dục phổ thông nước ta
trong giai đoạn hiện nay
Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:“ Dạy học văn học sử
(Ngữ văn 11) theo định hướng phát triển năng lực tự học của người học”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Chương trình giáo dục định hướng năng lực nay còn gọi là “dạy học
định hướng kết quả đầu ra” được bàn đến nhiều từ những năm 90 của th kỷ
XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ
các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm
chất, năng lực của người học”
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng xuất hiện những bài viết
về vấn đề đổi mới dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực Các tác giả
Nguyễn Văn Cường-Bernd eier trong cuốn “Lý luận dạy học hiện đại” phần
“Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học” cũng đã chỉ rõ “
Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Trang 12Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú
trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm
chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và
nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách
chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định
hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể
coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng
dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức
là kết quả học tập của HS” [65].
Gần đây nhất, trong tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra đánh giá
theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn ngữ văn THPT”, các
chuyên gia của Bộ giáo dục và đào tạo đã có những định hướng và hướng dẫn
cụ th việc thực hiện dạy học và ki m tra đánh giá môn Ngữ văn THPT theo
định hướng phát tri n năng lực của người học Tài liệu nêu rõ: “Phải thực
hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một
chiều” sang dạy học cách học cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
hình thành năng lực và phẩm chất” [7]
2.2 Năng lực tự học trong nhà trường nói chung
Vấn đề tự học của HS, sinh viên đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau
Ở nước ngoài, trong sách “Học tập hợp lí” (Cộng hòa dân chủ Đức
trước đây) do R.Retzke chủ biên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng
năng lực tự nghiên cứu cho HS mới vào trường Năm 1984, NXB Thanh
niên giới thiệu cuốn “Nghiên cứu học tập như thế nào” của Hebơc
Smitman (Cộng hoà dân chủ Đức) Với cuốn sách này, tác giả đã đề cập
tới nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu và tự học như thế nào cho
khoa học và đạt kết quả cao Cuốn “Tự học như thế nào” của Rubakin xuất
Trang 13b ả n 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện cho
mình Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà
giáo dục học, nhà tâm lý học người Mĩ đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái
gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải
đáp Ngoài ra, còn khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học
Ở nước ta, trong những năm gần đây vấn đề tự học rất được quan tâm
Tác giả Vũ Quốc Anh có bài viết: “Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của HS
THPT” Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề
“Nghiên cứu tự học – tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều
nhà nghiên cứu, nhiều giáo sư đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội
dung các bài viết, các bài phát bi u đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự
học và yêu cầu các cấp, các ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học
toàn dân Bên cạnh đó, còn có một số cuốn sách đã được xuất bản như “Tôi
tự học” – Nguyễn Duy Cần, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” – Nguyễn
Hiến Lê, “Luận bàn và kinh nghiệm tự học” – Nguyễn Cảnh Toàn Những
cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình
tự học của một số tác giả Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu và phát tri n tự
học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học” Tạp chí này đã thu hút sự
quan tâm chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn đề tự học của nhiều nhà khoa
học, giáo sư, nhà giáo
Cuốn “Học và dạy cách học” do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên
là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống
về việc “học” và “dạy cách học” Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích
giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá
trình dạy tự học
2.3 Năng lực tự học trong dạy học môn Ngữ văn
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên tự học trong
môn Ngữ văn cũng có những nét khác biệt Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực
trong môn Văn học” do nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức
Trang 14Tiến, Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn đã nói đến một trong những đặc trưng
của phương pháp dạy học tích cực đó là tự học Trong bài: “Dạy văn để HS
tự học văn”, GS Phan Trọng Luận đặt ra yêu cầu và mục tiêu của việc dạy
Văn là dạy HS cách tự học Văn Trong các luận văn, luận án, bài viết của các
tác giả gần đây, vấn đề tự học cũng rất được quan tâm Hai tác giả Phạm Thị
Xuyến và Vũ Thị Sáu trong hai cuốn luận văn “Dạy học văn học sử theo
hướng hình thành và phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10” và “Hình
thành thói quen tự học cho học sinh THPT qua bài học Văn học sử (tác gia)
đã quan tâm đến việc hình thành năng lực, thói quen tự học trong phần VHS
Tác giả Trần Thị Hương ai trong luận văn “Dạy học phần đọc thêm các tác
phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng
dẫn” lại đi sâu nghiên cứu dạy học các bài đọc thêm theo hướng tự học có
hướng dẫn Ngoài ra còn có một số bài viết khác như “Cách tự học môn Ngữ
văn hiệu quả” (Nguyễn Văn Phiên), “Rèn kĩ năng tự học môn Ngữ văn”
(Đặng Quang Sơn), trong đó các tác giả mới đề xuất những cách làm mang
tính chất kinh nghiệm chứ chưa đi sâu nghiên cứu kĩ vấn đề
2.4 Năng lực tự học đối với bài học VHS
Trong chương trình ngữ văn THPT các bài VHS chiếm giữ một vị trí quan trọng vì nó cung cấp tri thức khái quát về văn học cho HS, nhưng lại
chưa được quan tâm một cách đúng mức Các công trình nghiên cứu về lĩnh
vực này còn ít ỏi “Mấy vấn đề giảng dạy VHS ở trường PT cấp 3” và “Rèn
luyện tư duy qua giảng dạy văn học” của giáo sư Phan Trọng Luận hay cuốn
“Phương pháp dạy học văn” do GS Phan Trọng Luận chủ biên cũng chỉ dành
một chương đ nói về VHS Trong cuốn “Dạy văn cái hay cái đẹp”, tác giả
Nguyễn Duy Bình cũng dành một phần không nhiều đ nói về vấn đề này
Tuy vậy, trong vài năm gần đây một số luận văn cũng đã bắt đầu khai thác
vấn đề tự học, tự nghiên cứu trong các bài VHS, như “Những hình thức tích
cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong giờ VHS ở trường THPT” của tác
giả Đào Văn Phán “Hình thành năng lực nghiên cứu cho học sinh THPT
Trang 15thông qua giờ VHS” của Lê Khánh Tùng “Rèn luyện năng lực tự học cho HS
qua những giờ VHS (bài khái quát giai đoạn văn học) của Nguyễn Thị Bích
Hường “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài VHS về tác gia”
của Vũ Thị Sáu
Như vậy, qua tìm hi u lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy:
Lý luận chung về tự học đã được các tác giả nghiên cứu khá kĩ tạo ra cơ sở lí
luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về năng lực tự học Tuy nhiên
có rất ít công trình nghiên cứu một cách cụ th về năng lực tự học và nhất là
việc nghiên cứu việc hình thành và phát tri n năng lực tự học cho HS ở các
bài VHS còn hạn chế
3 Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở tìm hi u thực tế giảng dạy các bài VHS ở THPT theo chương trình SGK ngữ văn lớp 11 ban cơ bản được thực thi đại trà từ năm
học 2006-2007 mà cụ th là tìm hi u tiến trình, các phương thức tổ chức hoạt
động của thầy-trò và hiệu quả trong giờ VHS đề xuất những giải pháp cụ th
nhằm hình thành và phát tri n năng lực tự học của HS khi dạy các bài học về
VHS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học VHS theo định hướng phát tri n năng lực tự học của người học
- Khảo sát và đánh giá thực trạng của việc dạy học VHS ở trường THPT theo định hướng phát tri n năng lực tự học của người học
- Đề xuất các giải pháp đ phát tri n năng lực tự học của HS qua việc dạy học VHS ở trường THPT
- Xây dựng quy trình tổ chức dạy học các bài VHS theo định hướng phát tri n năng lực tự học của người học
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học các bài học về VHS theo
định hướng hình thành và phát tri n năng lực tự học của HS
Trang 165.2 Phạm vi nghiên cứu: Các bài học về VHS trong chương trình SGK Ngữ
văn lớp 11 ban cơ bản
6 Vấn đề nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, một số vấn đề sau đây được đưa ra đ xem xét:
- Dạy học các bài học về VHS theo định hướng phát tri n năng lực tự học của
người học ở THPT
- Các giải pháp trong việc dạy học các bài học VHS theo định hướng hình
thành và phát tri n năng lực tự học của HS
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu tri n khai đồng bộ các giải pháp được nêu trong đề tài sẽ góp phần phát tri n năng lực tự học của HS thông qua việc dạy học các bài VHS trong
chương trình ngữ văn lớp 11 ban cơ bản ở trường THPT
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với GV
và HS
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại kết quả khảo sát
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động tự học của HS trong và ngoài
giờ lên lớp
- Phương pháp thực nghiệm: ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần ở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; phụ
lục, luận văn bao gồm các chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát tri n năng
lực tự học cho HS trong dạy học VHS ở THPT
Trang 17- Chương 2: Biện pháp hình thành và phát tri n năng lực tự học cho HS qua
các bài VHS
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC VHS
Ở THPT
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tự học
1.1.1.1 Khái niệm tự học
Tự học là một khái niệm rất rộng và trừu tượng Ở Việt Nam có một
số nhà nghiên cứu về giáo dục học đã đi sâu phân tích khái niệm này
Trong “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, tác giả Thái Duy
Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so
sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm
lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã
hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [30]
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng:“Tự học là người học tích cực chủ
động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể
hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu,
xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học
thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [29]
Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, )
và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình,
rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực,
khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng
say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm
Trang 18lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở
hữu của mình [22]
Trên thế giới, khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác
nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học Ví dụ, ông liệt kê ra
tự học, học tập độc lập, người học tự ki m soát, hướng dẫn bản thân, học tập
phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự
tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự
dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất:
có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và
phương pháp học tập Đặc đi m tính cách hay "tính tự định hướng của người
học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép
họ th hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học" Đây là đặc đi m bên
trong Phương pháp học tập là một đặc đi m bên ngoài nói đến "một quá trình
mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và
đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra) Với Brockett &
Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn
đến "tự học"
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri
thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày Nó có
th được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học
Trang 19- Tự học trong cuộc sống: Là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học
tập
Xét về mức độ và cách thức tự học có hai hình thức tự học sau:
- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học, được tiến hành dựa trên nền tảng vốn tri thức sâu rộng cùng niềm khát khao,
say mê khám phá tri thức mới Ở hình thức tự học này, người học tự lực tìm
hi u, cọ xát với thực tiễn đ tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
- Tự học có hướng dẫn: Là hình thức tự học phổ biến của HS được tiến hành linh hoạt theo từng cấp học, từng loại hình trường học, từng đối tượng;
trong đó, HS tự nghiên cứu, tự lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng thông
qua các hoạt động tự học do GV tổ chức, hướng dẫn, điều khi n
Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có:
- Tự học không tương tác: Là hình thức học tập mà người học làm việc độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy
- Tự học trong tương tác: Là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có th với bạn, với thầy) trong học tập đ nghiên cứu, lĩnh
hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng; có hoặc không có sự hướng dẫn của người
Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới
(chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (sản phẩm thô) có
tính chất cá nhân
Trang 20Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự th hiện mình bằng văn bản,
bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của
mình, tự th hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo, tạo
ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự th hiện mình qua
sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, cô giáo; sau khi thầy, cô giáo kết luận,
người học tự ki m tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự
điều chỉnh thành sản phẩm khoa học
Sơ đồ: Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160)
Dưới tác động của thầy, hoạt động tự học của trò được tiến hành theo quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục như sau:
Thời 1: Nghiên cứu cá nhân
Theo hướng dẫn của thầy, HS tự đặt mình vào vị trí của người tự nghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng
cách tự lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề thầy đặt ra
cho mình theo trình tự các thao tác sau:
+ Nhận biết, phát hiện vấn đề + Định hướng giải quyết vấn đề + Thu thập thông tin
hiện (2)
Tự ki m tra điều chỉnh (3)
Tự nghiên cứu (1)
Trang 21+Xử lí thông tin + Xây dựng các giải pháp giải quyết + Thử nghiệm các giải pháp, kết quả + Đưa ra kết luận
+ Ghi lại kết quả cùng cách nghiên cứu Như vậy, sau thời 1 HS đã tự mình tìm ra cách xử lí tình huống, vấn đề thầy đặt ra Bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra “sản phẩm giáo dục
ban đầu”
Thời 2: Hợp tác với bạn, học bạn
“Sản phẩm giáo dục ban đầu” có giá trị và ý nghĩa lớn với HS vì là kết quả đạt được do nỗ lực của bản thân song dễ mang tính phiến diện, chủ quan Đ
trở nên khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sự đánh giá,
phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng các chủ th - lớp học Nghĩa là HS
phải tương tác với bạn thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm –
lớp, các hoạt động tập th …Dù ở hình thức nào, người học cũng phải tích
cực, chủ động tự mình th hiện theo các trình tự thao tác sau (không thụ động
nghe bạn nói, nhìn bạn làm):
Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm ban đầu của mình
+ Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn + Tự ghi lại ý kiến của các bạn theo nhận thức của mình
+ Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn
Vậy ở thời 2 thông qua hợp tác với bạn, sản phẩm ban đầu của người học
đã tiến bộ hơn; song trong hoạt động và thảo luận tập th xảy ra tình huống:
cả lớp gặp phải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết
luận khoa học Lúc này, HS phải học thầy và tự ki m tra, điều chỉnh sản phẩm
“nghiên cứu” của mình
Thời 3: Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Trang 22Thực ra, HS đã học thầy từ thời 1 qua nhiệm vụ thầy đặt ra và thời 2 qua
sự tổ chức, đạo diễn cho tập th lớp thảo luận Ở thời 3, thầy là người trọng
tài kết luận về những gì cá nhân và tập th lớp đã tìm ra thành bài học khoa
học Trong lúc học thầy, HS cũng không thụ động nghe thầy kết luận mà tích
cực học thầy bằng hành động của chính mình theo trình tự các thao tác sau
đây:
+Tự lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy
+ Chủ động hỏi thầy về những gì mình còn thắc mắc
+ Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy
+ Học cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau của thầy, cách ứng
xử của thầy trước những tình huống gây cấn nổi lên trong quá trình hoạt động
với kết quả là sản phẩm ban đầu; ở thời 2 là vai trò của cộng đồng các chủ th
- lớp học; ở thời 3 nổi bật vai trò của thầy với những kết luận khoa học tạo
điều kiện cho cá nhân HS tự đánh giá, điều chỉnh Quy trình trên cũng cho
thấy rõ một điều: Cả 3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ
động của chủ th HS dưới sự hướng dẫn của GV Có th cho rằng, thời 2 và 3
là sự tiếp tục lao động cá nhân ở thời 1 dưới hình thức lao động khác là lao
động hợp tác với bạn và thầy đ tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu thành một
sản phẩm khoa học, tiến bộ hơn
Từ chu trình tự học và quy trình 3 thời trên có th nhận thấy: Hoạt động tự học của HS là hoạt động chủ động, tích cực của cá nhân người học nhưng
không th thiếu sự tương tác với bạn, với thầy Trong quá trình tương tác với
bạn, với thầy, hoạt động tự học của HS được th hiện ở việc HS tự trình bày,
Trang 23trao đổi, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm giáo dục của mình đ có được một sản
phẩm khoa học, tiến bộ theo như mục tiêu đã đề ra
- Hoạt động dạy của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với quy trình tự học của trò Tương ứng với quy trình ba thời tự học của HS là
quy trình ba thời dạy – tự học của thầy
Thời 1: Hướng dẫn – đạo diễn
Thầy hướng dẫn trò về các tình huống học, các vấn đề cần giải quyết, các nhiệm vụ phải thực hiện bằng cách:
+ Giới thiệu vấn đề (mục tiêu, ý nghĩa, định hướng) + Hướng dẫn cách thu nhận thông tin
+ Hướng dẫn cách xử lí thông tin + Hướng dẫn cách giải quyết vấn đề + Tạo điều kiện thuận lợi cho trò nghiên cứu
Thời 2: Tổ chức – trọng tài
Thầy tổ chức cho trò tự th hiện mình và hợp tác với các bạn, với thầy đ tìm ra kiến thức, chân lí Ở thời này, thầy là người đạo diễn, tổ chức
+ Tổ chức trao đổi trò – trò, trò – thầy
+ Hướng dẫn trò trình bày bảo vệ sản phẩm
+ Điều khi n cuộc tranh luận của trò theo đúng mục tiêu
+ Kết luận cuộc tranh luận
Thời 3: Cố vấn
Từ chỗ đưa ra kết luận đ khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự tìm ra, thầy trở thành người cố vấn, ki m tra, đánh giá kết quả tự học
của trò trên cơ sở trò tự đánh giá, tự điều chỉnh
+ Hướng dẫn trò tự ki m tra, tự đánh giá, tự kết luận
+ Cung cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học
+ Hướng dẫn trò tự rút kinh nghiệm về cách học
Như vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trường không th thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, cố vấn của người thầy Và luôn có sự kết hợp hữu
Trang 24cơ giữa quy trình dạy – tự học của thầy với quy trình tự học của trò qua từng
thời đ cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức
1.1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của tự học
Tự học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục của mọi nhà trường suy đến cùng chính là chất lượng học tập
và rèn luyện của HS Đ tạo ra chất lượng đó đòi hỏi nhiều yếu tố trong đó có
vấn đề tự học, tự giáo dục của mỗi HS Người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng
người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội
tri thức, rèn luyện kĩ năng thì kết quả học tập sẽ không th như mong đợi
Tự học là con đường tạo ra tri thức vững chắc, lâu bền cho mỗi người trên hành trình đi tìm kiến thức Kiến thức do tự học đem lại bao
giờ cũng vững chắc, lâu bền, thiết thực và đầy sáng tạo
Tự học đã và đang trở thành chiếc “chìa khoá vàng” mở cánh cửa thông tin hiện nay Bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào cũng đề cao năng
lực cá nhân, coi trọng vấn đề tự học, tự mình giáo dục, tự mình phát tri n Tự
học là con đường tự khẳng định, con đường đi đến thành công của mỗi con
người
Tự học còn là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp Con người luôn luôn phải
tự học đ nâng cao học vấn Vì tự học chính là một bi u hiện rõ nét của
chí lớn lập nghiệp đ hoà nhập với cộng đồng của mỗi con người
Tự học giúp cho mọi người có th chủ động học tập suốt đời, học tập
đ khẳng định năng lực phẩm chất và đ cống hiến Tự học giúp con người
thích ứng với mọi biến cố của sự phát tri n kinh tế - xã hội Bằng con đường
tự học, mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng
và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang
đến, k cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng
Trang 25những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết
quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Như vậy, có th khẳng định rằng: Nếu xây dựng được phương pháp tự
học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng
lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
1.1.2 Năng lực tự học
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực
Vậy thế nào là năng lực? “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo
cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất
lượng cao” (Từ đi n tiếng Việt – Trung tâm từ đi n ngôn ngữ Hà Nội,
Việt Nam, Hà Nội 1992)
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh
“competentia” Ngày nay, khái niệm năng lực được hi u nhiều nghĩa khác
nhau Năng lực được hi u như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân
đối với một công việc
Năng lực bao gồm các kiến thức, kĩ năng cũng như quan đi m và thái
độ mà một cá nhân có đ hành động thành công trong các tình huống mới
Năng lực là “khả năng giải quyết” và mang nội dung khả năng và sự s n sàng
đ giải quyết các tình huống
Theo John Erpenbeck, “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử
dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh
nghiệm và được hiện thực hoá qua ý chí”
Weinert định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc
sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn
sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một
cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”
Các tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường trong cuốn “Lý luận
dạy học hiện đại” định nghĩa: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm
và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình
Trang 26huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở
hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”
Giáo trình “Tâm lí học đại cương” (NXBĐHQGHN, 1998) chia khả
năng thành ba mức độ khác nhau: Năng lực, tài năng, thiên tài Nếu năng lực
là một mức độ nhất định của khả năng con người, bi u thị khả năng hoàn
thành có kết quả một hoạt động nào đó; tài năng là mức độ năng lực cao
hơn, bi u thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó; thì
thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, bi u thị mức kiệt xuất, hoàn chỉnh
nhất của các vĩ nhân trong lịch sử nhân loại
Khi phân loại, người ta chia năng lực ra làm hai loại: Năng lực chung
và năng lực riêng biệt Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh
vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về th lực, về trí tuệ
(quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ ) là những điều kiện cần
thiết đ giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả Còn năng lực riêng
biệt (chuyên biệt, chuyên môn) là sự th hiện độc đáo các phẩm chất riêng
biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động
chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn: Năng lực toán học, năng lực thơ văn,
năng lực hội hoạ, năng lực âm nhạc, th dục th thao
Hai năng lực này luôn có sự bổ sung, hỗ trợ cho nhau Giữa năng lực
và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo luôn có sự thống nhất biện chứng (không th
không đồng nhất chúng với nhau) Một người có năng lực trong một lĩnh vực
nào đấy có nghĩa là có tri thức, kĩ năng kĩ xảo nhất định của lĩnh vực này
Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực, năng khiếu của mỗi người là một trong
những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
Trang 27nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát tri n và th hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục Vậy người có
năng lực tự học là người có khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ, và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, động cơ, tình
cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đ chiếm lĩnh một lĩnh vực kiến thức nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình qua sách vở, qua
bạn bè, qua thầy giáo
1.1.2.2 Khái niệm về năng lực tự học
Năng lực tự học được th hiện qua việc chủ th tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái
độ tích cực trong các hoạt động đ có th tự làm việc, điều chỉnh hoạt động
học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình đ có th độc lập làm việc
và làm việc hợp tác với người khác
Trong tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực học sinh”, các chuyên gia của Bộ GD& ĐT đã cụ th hoá
những bi u hiện của năng lực tự học bao gồm:
- Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định
hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ th , đặc biệt tập
trung nâng cao những khía cạnh còn yếu kém
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập
riêng của cá nhân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm
vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm tư
liệu phù hợp với từng chủ đề học tập cảu các bài tập khác nhau; ghi chép
thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử
dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập
- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình
học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm có th chia sẻ, vận
Trang 28dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi, biết vạch kế
hoạch điều chỉnh cách học đ nâng cao chất lượng học tập
Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì có một yêu cầu đặt ra là:
cần phải hình thành được ở người học năng lực tự học Chỉ khi đã có được
năng lực tự học trong bản thân mình, người học mới tự mình tiến hành việc
học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo
ngày nay
Nếu xem nội lực là nhân tố quyết định sự phát tri n của bản thân người học thì năng lực tự học được xem là có ý nghĩa quyết định Việc học
nhất là tự học được lấy làm trung tâm Trò là chủ th – trung tâm tự mình
chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình, tự phát tri n từ
bên trong
Thầy là tác nhân, người hướng dẫn, người tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Người thầy giỏi là người biết dạy cho trò tự học Người học giỏi là
người biết tự học, biết sáng tạo suốt đời Tự học không có nghĩa là học một
mình, đơn thân mà học trong sự tương tác với các bạn, trong môi trường xã
hội, dưới sự hướng dẫn của thầy và sự hợp tác của các bạn – ngoại lực
Ngược lại, tác động của thầy và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu
không phát huy được năng lực tự học của người học Nói cách khác, quá
trình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóa việc học phải kết hợp với quá trình
hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học và quá trình dạy học của nhà
giáo Kết hợp quá trình dạy với quá trình tự học là nhằm làm cho “dạy” và
“tự học” cộng hưởng được với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao đ
đạt mục tiêu đào tạo con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có
năng lự tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học
Hệ phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm gọi tắt theo đúng thực chất của nó là hệ phương pháp dạy tự học đã chỉ rõ: Người
học, chủ th của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm
ra kiến thức bằng hành động của chính mình Người học không phải được
Trang 29đặt trước những kiến thức có s n trong SGK hay bài giảng được chuẩn bị s n
của thầy mà tự đặt mình trước các tình huống, vấn đề thực tế, cụ th và sinh
động của cuộc sống, từ đó thấy có nhu cầu hay hứng thú phát hiện và giải
quyết những vật cản, mâu thuẫn trong nhận thức của mình đ tự mình
tiến đến “cái chưa biết”, “ cái cần khám phá”, “cái mới” Tự đặt mình vào
tình huống học, người học quan sát, suy nghĩ, tự nghiên cứu tra cứu, tự làm
thí nghiệm, đặt giả thiết, đặt vấn đề đ tự mình tìm ra kiến thức, chân lí
cùng với cách xử lí tình huống, cách giải quyết vấn đề Tri thức và phương
pháp, người học đã tự lực khám phá ra không rập theo một khuôn mẫu có
s n, đều là tri thức và phương pháp mới Do đó, hoạt động tự lực, tự tìm ra
cái chưa biết mang tính sáng tạo đối với người học Muốn phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của người học thì cần phải rèn luyện phương
pháp học tập cho HS, coi đây không chỉ là một phương tiện nâng cao hiệu
quả dạy học mà là một mục tiêu quan trọng của dạy học
Hình thành năng lực tự học cho HS THPT có nghĩa là hình thành năng lực nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho HS Là hình thành cho
họ khả năng phát huy tới mức cao nhất tính tự lực trong học tập và th hiện
được cá tính sáng tạo riêng của mình, thực hiện tốt nhất những mục đích,
nhiệm vụ mà môn học đề ra Nói cách khác, hình thành năng lực tự học cho
HS cũng chính là hình thành tri thức và kĩ năng cho họ Cho nên, vai trò của
các biện pháp nhằm hình thành năng lực tự học là vô cùng quan trọng
1.1.2.3 Các thành phần của năng lực tự học
Denise Chalmers – ichard Fuller dựa vào các nhiệm vụ học tập – nhận thức, đã cụ th hoá năng lực tự học thông qua 4 nhóm kĩ năng:
- Nhóm kĩ năng tích lũy thông tin: Gồm kĩ năng tiếp cận thông tin, kĩ năng
xác định ý chính từ bài giảng, bài đọc, kĩ năng đọc sách phục vụ cho chủ đề
- Nhóm kĩ năng xử lí thông tin: Gồm kĩ năng diễn đạt ý kiến, kĩ năng đặt câu
hỏi, kĩ năng sắp xếp khái niệm, kĩ năng viết tóm tắt, kĩ năng nghiên cứu theo
nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề
Trang 30- Nhóm kĩ năng xác nhận kết quả tự học: Gồm kĩ năng tự ki m tra, kĩ năng tự
đánh giá
- Nhóm kĩ năng quản lí kế hoạch tự học cá nhân
Tác giả Thái Duy Tuyên lại chia năng lực tự học thành các nhóm kĩ năng:
- Nhóm kĩ năng kích thích động cơ, xây dựng kế hoạch tự học: Gồm kĩ năng
xác định nhu cầu, động cơ, kích thích hứng thú
- Nhóm kĩ năng xác định mục đích, nhiệm vụ tự học: Gồm kĩ năng xác định
mục đích, kĩ năng xác định nhiệm vụ
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch
- Kĩ năng lựa chọn tài liệu, hình thức tự học
- Kĩ năng tiếp nhận thông tin: gồm kĩ năng đọc sách, kĩ năng nghe giảng, kĩ
năng xemina, kĩ năng điều tra, khảo sát
- Kĩ năng xử lí thông tin: gồm kĩ năng tóm tắt, kĩ năng xây dựng sơ đồ grap,
kĩ năng phân loại, kĩ năng phân tích – tổng hợp, so sánh
- Kĩ năng vận dụng thông tin đ giải quyết vấn đề: Gồm kĩ năng làm bài tập,
kĩ năng viết báo cáo, kĩ năng xử lí các tình huống…
- Kĩ năng ki m tra – đánh giá
Nhóm tác giả Hà Thị Đức, Võ Quang Phúc, Trịnh Quang Từ, Nguyễn Thị Tính chia năng lực tự học thành các kĩ năng:
- Kĩ năng lập kế hoạch tự học
- Kĩ năng nghe và ghi bài học trên lớp
- Kĩ năng đọc sách
- Kĩ năng ôn tập
- Kĩ năng tự ki m tra và đánh giá, tự điều chỉnh
Căn cứ vào nhiệm vụ và tính chất hoạt động tự học của HS đã nêu ở mục 1.1.1.3, chúng tôi xin đề xuất một số kĩ năng cơ bản thuộc năng lực tự
học của người học như sau :
Trang 31- Nhóm kĩ năng thu thập thông tin: gồm kĩ năng tìm kiếm thông tin, kĩ năng
thu nhận thông tin, kĩ năng sắp xếp thông tin
- Nhóm kĩ năng xử lí thông tin: gồm kĩ năng tóm tắt, phân loại thông tin, kĩ
năng so sánh, đối chiếu, phân tích, lí giải, kĩ năng tổng hợp
- Nhóm kĩ năng hợp tác, trao đổi thông tin: gồm kĩ năng trình bày, chia sẻ
thông tin, kĩ năng trao đổi, thảo luận,
- Nhóm kĩ năng tự ki m tra, tự đánh giá: gồm kĩ năng tự ki m tra, tự đánh giá,
kĩ năng tự điều chỉnh
1.1.2.4 Điều kiện để phát triển năng lực tự học
- Điều kiện về thời gian: Đây là một nhân tố quan trọng góp phần tạo
nên kết quả tự học Muốn tự học cần phải có thời gian đ tiến hành hoạt động
học tập và đòi hỏi chủ th tự học phải có kế hoạch sắp xếp thời gian một
cách linh hoạt, sáng tạo Thời gian tự học cho từng môn phải phù hợp và
tương xứng với thời lượng thông tin của môn học đó, đồng thời phải cân đối
giữa thời gian nghe giảng trên lớp với thời gian tự học ở nhà Điều cơ bản
nhất là người học phải biết nâng cao hiệu suất của thời gian học tập và đảm
bảo luân phiên hợp lí giữa thời gian học tập với thời gian nghỉ ngơi
- Điều kiện về tâm lí: Yếu tố tâm lí là yếu tố bên trong làm ảnh hưởng
đến kết quả tự học của HS Đó là nhu cầu, động cơ và thái độ học tập tích
cực của HS Đ tự học đạt kết quả cao đòi hỏi chủ th tự học phải có động cơ
và thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu và hứng thú học tập thực sự,
phải có sự say mê khoa học, phải nhận thức rõ mục đích của hoạt động học
tập và ý thức một cách đầy đủ về việc học của mình Bên cạnh đó, người học
không ngừng hoàn thiện các chức năng tâm lí, nhận thức đ tiến hành hoạt
động học tập một cách có hiệu quả dưới sự hướng dẫn, điều khi n của thầy
như các quá trình cảm giác, tri giác, ghi nhớ, tư duy đặc biệt là quá trình ghi
nhớ và tư duy Bởi lẽ, trong quá trình tự học HS phải có khả năng tái hiện
một cách chính xác, khoa học nội dung tài liệu tự nghiên cứu Đồng thời,
phải có khả năng phân tích, so sánh, khái quát hóa hệ thống nội dung tri thức
Trang 32trong tài liệu đã nghiên cứu thành một dàn ý hay một đề cương tóm tắt
Đ hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ th tự học phải có ý chí vượt khó đ vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình tự học nhằm
đạt các mục tiêu học tập đã đề ra
Trong các yếu tố tâm lí trên có một yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng đó là động cơ học tập Bởi vì, động cơ học tập của HS được th
hiện rõ ở đối tượng của hoạt động học Động cơ học tập tạo sự say mê học
tập, sự khát khao mở rộng tri thức, hi u biết và ý chí quyết tâm vượt khó đ
giải quyết các nhiệm vụ học tập Trong thực tế, động cơ học tập của HS luôn
gắn liền với nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập Vì
nhu cầu là nơi khơi nguồn tính tích cực, độc lập tự giác của HS Do vậy,
muốn hình thành năng lực tự học cho HS trong quá trình dạy học, người GV
cần quan tâm đến việc hình thành động cơ học tập cho HS
Bên cạnh việc hình thành động cơ học tập đúng, người học cũng cần hình thành cho mình hệ thống kĩ năng tự học như: kĩ năng sắp xếp thời gian,
kĩ năng đọc sách, kĩ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kĩ năng nghiên cứu
khoa học, kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập Đồng thời cũng cần hoàn
thiện các chức năng nhận thức, đặc biệt là chức năng ghi nhớ và các thao tác
tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, trừu tượng hóa
- Điều kiện về cơ sở vật chất: Điều kiện vật chất tối thi u cần đáp ứng
là SGK, các cuốn tài liệu tham khảo và các tài liệu hướng dẫn tự học
Hoạt động tự học của HS có mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động của GV Vì vậy, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy học
cũng cần phải đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động tự học của HS:
phim ảnh, đèn chiếu, băng hình, máy vi tính và các phương tiện nghe nhìn
Trang 33cần được đảm bảo
Tự học của HS là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học Nó không tách rời hoạt động dạy của GV Vì vậy, tự học chỉ có th đạt hiệu quả
cao khi nó diễn ra trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng với hoạt
động dạy của thầy
Quá trình dạy – học luôn diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy, người học và nội dung tri thức mà người học cần
chiếm lĩnh Trong mối quan hệ bộ ba của tam giác sư phạm thì người dạy
luôn đóng vai trò chủ đạo (tổ chức, chỉ đạo, điều khi n, hướng dẫn ), còn
người học, với tư cách là đối tượng chịu sự tác động, sự điều khi n của người
dạy lại là chủ th của hoạt động nhận thức, họ tích cực, tự giác, tự tổ chức,
tự điều khi n hoạt động nhận thức của mình nhằm hoàn thành nhiệm vụ và
mục tiêu dạy học đề ra
Trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, HS còn phải nắm cả thao tác
đ chiếm lĩnh khái niệm Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động tự học
của người học, đòi hỏi người dạy ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền
đạt còn cần phải dạy cách thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh nó
(nói cách khác là hướng dẫn cách học, phương pháp học) cho người học
Trong quá trình đó, người dạy và người học là hai người bạn đồng hành
cùng chung một mục đích là giúp người học chiếm lĩnh tri thức và hình
thành được phương pháp thao tác với nó Vì vậy, mà tác giả Phan Trọng
Ngọ viết: “Dạy học là sự hợp tác giữa người dạy và người học Hoạt động
dạy và hoạt động học là hoạt động hợp tác giữa người dạy và người học Chỉ
có như vậy dạy học mới đạt hiệu quả tối ưu với sự phát triển của trẻ em”
[21]; hay “Giáo dục phổ thông phải bồi dưỡng phương pháp và năng lực tự
Trang 34trong đó không chỉ bao gồm các sự kiện mà chủ yếu là các nguyên tắc, các
phương pháp xử lí các thông tin và các sự kiện Điều đó có nghĩa là hoạt
động dạy học trong nhà trường cần phải hướng tới dạy cách học, giúp HS tự
nghiên cứu, tự khám phá đ giải quyết các vấn đề do nhiệm vụ dạy học đặt ra
Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV là một phương pháp dạy học
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của HS, phát huy tính tích cực,
độc lập, tự giác, sáng tạo cho HS trong quá trình nhận thức Trong quá trình
hướng dẫn tự học, người thầy sẽ giúp người học nhận thức rõ họ phải học cái
gì và học như thế nào? học đ làm gì?
Muốn vậy, trong quá trình dạy học, người thầy cần phải giúp HS trên
cơ sở xác định mục tiêu học tập mà xác định nội dung hoạt động học tập,
hình thành các hành động học tập, các kĩ năng tự ki m tra, tự đánh giá cho
bản thân
1.1.3 Năng lực tự học đối với các bài VHS trong chương trình THPT
1.1.3.1 Mục tiêu của bài VHS
Các bài học VHS nhằm cung cấp những tri thức khoa học về lịch sử văn học cho HS đ họ có cái nhìn khái quát về cả một nền văn học, về từng
bộ phận văn học, từng thời kì và từng tác gia văn học
Các bài VHS rèn luyện năng lực tư duy lôgic và tư duy hình tượng cho HS, đặc biệt là cách học văn học có tính chất nghiên cứu Bồi dưỡng quan đi m và phương pháp phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học
Các bài VHS vun đắp tâm hồn dân tộc và nhân văn cho HS
1.1.3.2 Nội dung của các bài VHS
Các bài học VHS là những nhận định, những đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học về lịch sử văn học dân tộc trong cái nhìn bao quát của
cả một nền văn học, từng bộ phận, từng thời kì văn học và từng tác gia văn
học
1.1.3.3 Hình thức của các bài VHS
Các văn bản VHS trong SGK là những văn bản nghị luận gồm có
Trang 35nhiều phần Mỗi phần trình bày một vấn đề bằng hệ thống luận đi m và
các luận chứng, luận cứ đ làm rõ từng luận đi m
1.1.3.4 Hình thành và phát triển năng lực tự học của học sinh theo các kiểu
bài VHS
- Kiểu bài VHS khái quát thời kì văn học: Việc phân kì mới về thời kì
VHS không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa sư phạm Lịch sử văn
học thời kì có một phạm vi bao quát rộng (ít nhất 30 năm) với các kiến thức
khái quát cao, đặc biệt là rất phong phú về kiến thức cụ th , và cách trình bày
kết hợp lịch đại và đồng đại Bài VHS về thời kì văn học có một cấu trúc bề
mặt trên giáo khoa đồng thời có một cấu trúc chiều sâu trong quan hệ lôgic
với bài khái quát tác giả, tác phẩm
Trong khuynh hướng khai thác nội dung về thời kì văn học cần đặc biệt chú ý đến sự phát tri n của thi pháp, tức là chú ý đến yếu tố nội tại quy định
sự chuy n biến của từng thời kì, không chỉ giải thích văn học đơn thuần bằng
hoàn cảnh xã hội mà còn bằng các quy luật bên trong của văn học, trong đó có
mối quan hệ của văn học với các ý thức thượng tầng khác và với các yếu tố ý
thức ngoại lai được dân tộc hoá Phải cho học sinh thấy rõ là sự đổi kì của văn
học Việt Nam về cơ bản là sự chuy n kì về thi pháp từ trung đại, qua hiện đại,
đến đương đại
Sự phong phú về tư liệu, đòi hỏi ta phải biết chọn lựa tri thức minh hoạ, không đi sâu vào các minh hoạ quá cụ th , vận dụng các minh hoạ có tính
khái quát Trên cơ sở một số rất lớn về các nhận định, có th có những nhận
định cho học sinh tự nghiên cứu ở nhà Đảm bảo tính hệ thống của tri thức về
mặt lịch đại và đồng đại bằng sơ đồ, đường bi u diễn, bảng so sánh…là rất
cần thiết đói với việc dạy học thời kì văn học
Dạy học bài khái quát thời kì văn học cũng đòi hỏi GV phải có ý thức sâu sắc về yêu cầu giáo dục quan đi m nghiên cứu VHS, giáo dục truyền
thống lịch sử cũng như truyền truyền thống văn học qua việc dạy và học
Bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng
Trang 36tháng Tám năm 1945” là bài học VHS có tính khái quát, tổng hợp, vừa
cung cấp những khái niệm, phạm trù văn học, vừa cung cấp những dẫn
chứng về th loại, tác giả, tác phẩm tiêu bi u
Kiến thức trong bài VHS mang tính tổng hợp, tính tích hợp Những kiến thức mang tính tổng hợp như kiến thức về lịch sử, về tư tưởng, văn hóa
có ảnh hưởng qua lại tới văn học Đây là những kiến thức mang tính tổng hợp cần thiết đ lí giải các hiện tượng, các quy luật văn học Sự kết hợp hữu
cơ giữa VHS với lí luận văn học và làm văn tạo nên tính tích hợp của bài học VHS
- Kiểu bài VHS về tác gia văn học: Bài VHS về tác gia văn học
thường có cấu trúc đi từ việc giới thiệu ti u sử, cuộc đời đến giới thiệu về
sự nghiệp sáng tác của nhà văn
Mục tiêu tìm hi u cuộc đời một tác gia văn học là đ góp phần giải thích những đặc đi m sáng tác của nhà văn ấy Bởi mỗi tác gia văn học như một nghệ sĩ, phải là một nhân cách lớn th hiện trong cả đời thường và trong sự nghiệp sáng tác của mình Do đó, bài học thường cố gắng liên hệ trong chừng mực có th giữa những sự kiện của ti u sử tác giả với đặc
đi m sáng tác của ông chứ không k một cách “vô tình” các sự kiện ti u sử
Khi tìm hi u về sự nghiệp sáng tác của nhà văn, bài VHS thường tập trung làm nổi bật quan đi m sáng tác, tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm, đặc trưng về phong cách nghệ thuật của nhà văn, tập trung làm rõ
cá tính sáng tạo của nhà văn đ từ đó đánh giá về những đóng góp cũng như vai trò và vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam
Khi giảng về tác giả, cần phân tích một số dẫn chứng thơ văn tiêu
bi u đ làm sáng tỏ những nhận định của VHS, tránh cung cấp kiến thức VHS bằng những nhận định, những khái niệm đơn thuần Trong chương trình Ngữ văn 11 có hai bài học về tác gia văn học: Nguyễn Đình Chi u và Nam Cao HS phải nắm được những đi m cơ bản về cuộc đời
Trang 37và sự nghiệp thơ văn của hai tác gia này
Ki u bài này nghiên cứu những tác giả có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong nền văn học dân tộc Thành tựu của một số tác giả văn học không chỉ ở
số lượng tác phẩm mà còn ở giá trị của những tác phẩm góp phần khẳng định
một khuynh hướng, trào lưu cho sự hình thành và phát tri n văn học
Đóng góp to lớn của các tác giả văn học đối với tiến trình văn học dân tộc không phải chỉ ở thành tựu sáng tác mà còn ở công lao góp phần nâng cao,
phát tri n hoàn thiện th loại và kho tàng lý luận văn học ột số tác giả lớn
là kết tinh tất yếu quá trình phát tri n của một chặng đường văn học Nói đến
tác giả là nói đến sự nghiệp văn học đã ổn định chứng tỏ một tài năng và nói
đến một cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ về nhân cách ột tác giả văn học có tài
năng bao giờ cũng nổi trội lên như một nhà văn có bản sắc riêng và phong
cách nghệ thuật riêng
ột tác giả văn học được nghiên cứu trước hết như một hiện tượng tiếp nối giữa giai đoạn văn học trước và giai đoạn văn học sau Tác giả văn học là
“một gạch nối lịch sử văn học” đang chuy n đổi trong tiến trình văn học dân
tộc Qua tác giả văn học, người ta có th nhìn ra sự liên tục và gián đoạn, sự
phát tri n và đột biến, những nét định hình tiêu bi u của phương pháp sáng
tác cũ và những nét manh nha của phương pháp sáng tác mới, giữa truyền
thống và hiện đại, giữa giai đoạn văn học và tác phẩm
Khác với bài khái quát về thời kỳ và tác phẩm ở dạng VHS, bài khái quát về tác giả văn học mang tính cụ th , khái quát ột mặt kiến thức về tác
giả có ý nghĩa minh họa cho các nhận định khái quát về thời kỳ, nói khái quát
là nói bài học về tác giả lại cần được minh họa qua bài học về tác phẩm hay
các bài giảng văn ặt khác, tính khái quát ở chỗ, kiến thức về tác giả lại có
tính chất định hướng cho việc đi sâu phân tích các tác phẩm văn học cụ th
Như vậy, những yếu tố lôgic chứa đựng trong bài khái quát về tác giả văn học
là hết sức phong phú bao gồm liên hệ ngược và liên hệ xuôi Tri thức khái
quát bao gồm các quan đi m, nhận định, đánh giá về cuộc đời, sự nghiệp tác
Trang 38giả; tri thức cụ th là những tư liệu, những mẩu chuyện, những mảnh đời cụ
th về đời sống và các sáng tác của tác giả đó Chính sự kết hợp đan xen giữa
hai loại tri thức trên góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát tri n tri
thức về lý luận cho HS
Những bài khái quát về tác giả văn học có cấu trúc bề mặt và cả cấu trúc chiều sâu Xét về cấu trúc bề mặt, ki u bài này gồm hai phần chính: cuộc
đời và sự nghiệp văn học Đây là hai nội dung quan trọng không th không
nhắc tới trong bài dạy về tác giả Hai nội dung này có mối quan hệ nội tại gắn
bố khăng khít với nhau Trong phần cuộc đời tác giả không phải chỉ có những
tháng năm, những sự kiện quan trọng trong đời sống, hoàn cảnh sinh hoạt của
nhà văn mà còn có những đặc đi m về nhân sinh quan của nhà văn Và cũng
chính những điều kiện đó quyết định đến sự sáng tác văn học của nhà văn Do
vậy muốn tìm hi u được sâu sắc nội dung các sáng tác của các tác giả ta
không th không tìm hi u phần ti u sử cuộc đời tác giả đó
Phần sự nghiệp văn học được coi như là yếu tố không th thiếu được trong mỗi bài học về tác giả văn học Đây là yếu tố quan trọng tạo nên vị trí,
vai trò của tác giả trong lịch sử văn học Nhà văn chỉ có th trở thành tác gia
khi đằng sau họ có một sự nghiệp văn học phong phú, đa dạng, kết tinh trong
mỗi tác phẩm lớn Trong phần này có các nội dung cụ th như: sự ảnh hưởng
cả nền văn học đối với bản thân tác giả, quá trình sáng tác những tác phẩm
đầu tiên, các chặng đường sáng tác văn học như thế nào, tư tưởng tác giả
được phản ánh trong các tác phẩm ra sao
Tóm lại, phần sự nghiệp văn học đề cập đến sự đa dạng, phong phú, tư tưởng nghệ thuật, phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn
Bài học về tác giả văn học vốn là bài tổng th , có sự kết hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa tri thức khái quát và cụ th , giữa con người và tác
phẩm, nhân cách và tài năng, lý luận và thực tiễn sáng tác
- Kiểu bài ôn tập VHS: Trong chương trình VHS ở trường THPT, số
bài ôn tập văn học chiếm một tỉ lệ khá lớn
Trang 39Ôn tập VHS là ki u bài văn học có tính chất đặc thù Trước hết ta phải thấy tính chất tổng hợp cao của nó Nếu các bài khái quát văn học có tính chất
khái quát-tổng quát thì bài ôn tập văn học có tính khái quát-tổng hợp sau một
quá trình học sinh đã tiếp xúc với tác gia và nhất là một lượng tác phẩm và
đọc thêm hết sức phong phú của từng thời kì văn học Công việc khái quát-
tổng hợp một mặt thì phải dựa vào kiến thức khái quát-tổng quát, mặt khác
phải dựa vào tri thức tác gia và tác phẩm Nói khái quát-tổng quát là nói khái
quát chưa đi sâu vào cái cụ th Còn khái quát- tổng hợp phải là sự khái quát
cao hơn nhờ thông qua sự tập hợp của các hiện tượng minh hoạ cụ th cho cái
nhìn tổng quát
Bài ôn tập văn học ngoài việc củng cố kiến thức VHS và giảng văn cho
HS còn phải nâng cao kiến thức ấy thành các khái niệm, phạm trù, quy luật
văn học gắn với lý luận văn học, các quan đi m nghiên cứu văn học Đồng
thời phải hệ thống hoá kiến thức VHS và giảng văn
Dạy học bài ôn tập văn học cần triệt đ phát huy vai trò chủ th của HS trong việc ôn tập Hơn bất cứ bài VHS nào, bài ôn tập VHS đòi hỏi sự hoạt
động nhận thức tích cực của HS như một chủ th tiếp nhận đích thực Mọi
việc làm trong ôn tập phải xuất phát từ sự chuẩn bị trước của HS Công việc
chính trong giờ ôn tập là các hoạt động nhận thức đa dạng như hồi ức, phân
tích, khái quát, minh hoạ, phân loại, hệ thống hoá…đòi hỏi và phải do HS và
được sự chỉ đạo chặt chẽ của GV qua từng câu hỏi gợi mở thao tác Trong giờ
ôn tập VHS, HS phải được góp ý xây dựng bài, được trao đổi, được tranh
luận, được đối thoại với SGK, với thầy giáo, và đối thoại giữa HS với nhau
một cách sôi nổi
Ôn tập VHS là cả một công việc kết hợp chặt chẽ việc chuẩn bị của HS
và việc tiến hành ôn tập trên lớp Không có việc chuẩn bị chu đáo một cách tự
lực của HS thì mọi bài ôn tập trên lớp đều không có hiệu qua theo đúng yêu
cầu của nó GV cần ki m tra chặt chẽ việc chuẩn bị của HS trước khi lên lớp
Công việc được chuẩn bị ở nhà phải khớp với công việc được thực thi trên
Trang 40lớp Kết quả nhận thực sau bài ôn tập được nâng cao, bổ sung, được hệ thống
hoá, được khẳng định, được giải đáp
Việc xây dựng các mẫu thống kê, các sơ đồ hoá khác nhau đ HS hoàn thành về nội dung là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở thực tiễn
Đ nghiên cứu cụ th thực trạng tự học của HS và thực trạng rèn năng lực tự học trong dạy học VHS cho HS THPT của GV, chúng tôi đã tiến hành
điều tra 120 HS khối 11 và 10 GV giảng dạy ngữ văn tại trường THPT
Nguyễn Khuyến- Vĩnh Bảo- Hải Phòng Các vấn đề cơ bản được chúng tôi
quan tâm điều tra là: Nhận thức của HS về tác dụng của tự học; những kĩ năng
tự học HS đã được trang bị và mức độ thực hiện các kĩ năng đó; vai trò của
GV trong việc hình thành và nâng cao năng lực tự học cho HS THPT; thực
trạng việc rèn năng lực tự học VHS cho HS THPT của GV hiện nay Kết quả
điều tra thu được như sau:
1.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THPT về tác dụng của tự học
Tự học là một hoạt động có tính hệ thống bao gồm cả tư tưởng, nhận thức, kĩ năng, phương pháp của người học Đ rèn năng lực tự học có hiệu
quả, trước hết chúng tôi điều tra việc nhận thức của HS THPT về tác dụng của
tự học Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 1.1