1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Phương Pháp Dạy Học, Ngữ Văn, Tính Dân Tộc, Thơ;, Lý Thuyết Trường Nghĩa, Tố Hữu, 1920-2002.Pdf

90 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua lí thuyết trường nghĩa
Tác giả Ngô Thị Chi
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Ninh
Trường học Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử nghiên cứu 3 (9)
  • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7 (13)
  • 4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7 (13)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu 7 (13)
  • 6. Đóng góp của luận văn 7 (13)
  • 7. Cấu trúc của luận văn 8 (0)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9 (0)
    • 1.1. Một số vấn đề về trường nghĩa 9 (15)
      • 1.1.1. Khái niệm về trường nghĩa 9 (15)
      • 1.1.2. Phân loại trường nghĩa 10 (16)
      • 1.1.3. Đọc hiểu văn bản và đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa 13 (19)
    • 1.2. Một số vấn đề lí luận về tính dân tộc trong văn học Việt Nam 17 (23)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC BÀI THƠ “VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA 24 (30)
    • 2.1. Thực trạng dạy học bài thơ “Việt Bắc” ở trường THPT 24 (30)
      • 2.1.1. Vị trí của bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT 24 (30)
      • 2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn 24 (30)
    • 2.2. Vài nét về tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu 27 (33)
    • 2.3. Định hướng dạy học bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT theo lí thuyết trường nghĩa 31 (37)
      • 2.3.1. Khả năng phân tích tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu dưới góc độ trường từ vựng – ngữ nghĩa 32 (38)
      • 2.3.2. Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu 34 (40)
      • 2.3.3. Tổ chức học sinh tìm hiểu, phân tích bài thơ “Việt Bắc” 58 (64)
      • 2.3.4. Những kết luận rút ra từ việc phân tích tính trường nghĩa của bài thơ “Việt Bắc” 61 (67)
  • CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 62 (68)
    • 3.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm Đoạn trích Việt Bắc 62 (68)
    • 3.2. Những vấn đề chung về thực nghiệm 70 (79)
      • 3.2.1. Mục đích thực nghiệm 70 (79)
      • 3.2.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 70 (80)
    • 3.3. Nội dung thực nghiệm và tiến trình thực nghiệm 70 (80)
      • 3.3.2. Tiến trình thực nghiệm: 70 (80)
      • 3.3.1. Nội dung thực nghiệm: 70 (0)
    • 3.4. Kết quả thực nghiệm 71 (81)
      • 3.4.1. Tiến hành kiểm tra 71 (81)
      • 3.4.2. Kết quả kiểm tra 72 (81)
    • 3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 72 (82)

Nội dung

MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ CHI HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU TÍNH DÂN TỘC TRONG THƠ TỐ HỮU THÔNG QUA LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI –[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGÔ THỊ CHI

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU TÍNH DÂN TỘC TRONG THƠ TỐ

HỮU THÔNG QUA LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGÔ THỊ CHI

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU TÍNH DÂN TỘC TRONG THƠ TỐ

HỮU THÔNG QUA LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 60 140 111

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Ninh

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ

Nhân dịp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy

giáo - Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Quang Ninh, người hướng dẫn khoa học đã

tận tình chỉ bảo, động viên, khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện

đề tài

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa sư phạm, Trường Đại

học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện

giúp đỡ em trong quá trình học tập, thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng

dạy tại trường THPT Trần Khánh Dư – Vân Đồn – Quảng Ninh cùng những người

thân yêu trong gia đình đã dành cho tôi sự quan tâm, khích lệ và chia sẻ trong suốt

thời gian học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Ngô Thị Chi

Trang 4

CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

SGV Sách giáo viên THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở

TP Tác phẩm TPVC Tác phẩm văn chương TPVH Tác phẩm văn học

TN Thực nghiệm

VB Văn bản

VB Việt Bắc

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ( xếp theo A B C ) ii

MỞ ĐẦU trang 1 1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Một số vấn đề về trường nghĩa 9

1.1.1 Khái niệm về trường nghĩa 9

1.1.2 Phân loại trường nghĩa 10

1.1.3 Đọc hiểu văn bản và đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa 13

a Đọc hiểu văn bản 13

b Đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa 16

1.2 Một số vấn đề lí luận về tính dân tộc trong văn học Việt Nam 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC BÀI THƠ “VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA 24

2.1 Thực trạng dạy học bài thơ “Việt Bắc” ở trường THPT 24

2.1.1 Vị trí của bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT 24

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn 24

2.2 Vài nét về tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu 27

2.3 Định hướng dạy học bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT theo lí thuyết trường nghĩa 31

2.3.1 Khả năng phân tích tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu dưới góc độ trường từ vựng – ngữ nghĩa 32

Trang 6

2.3.2 Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu 34

2.3.3 Tổ chức học sinh tìm hiểu, phân tích bài thơ “Việt Bắc” 58

2.3.4 Những kết luận rút ra từ việc phân tích tính trường nghĩa của bài thơ “Việt

3.2.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 70

3.3 Nội dung thực nghiệm và tiến trình thực nghiệm 70

3.3.2 Tiến trình thực nghiệm: 70

3.3.1 Nội dung thực nghiệm: 70

3.4 Kết quả thực nghiệm 71

3.4.1 Tiến hành kiểm tra 71

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 79

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Qua bài viết "Về sự phân tích ngôn ngữ tác phẩm văn học trong nhà

trường" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 1975 của PGS Đinh Trọng Lạc, chúng tôi

nhận thấy: ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, ngôn ngữ trở thành vật liệu xây

dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật Nếu học sinh tri giác và

nhận thức được những đặc điểm của ngôn ngữ trong một tác phẩm văn học thì các em

sẽ hiểu và cảm được sâu sắc sự miêu tả nghệ thuật, nội dung tư tưởng của tác phẩm

văn học đó Tiếp theo, từ công trình "Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường từ

góc độ ngôn ngữ" (Nxb Giáo dục, 2006) của tác giả Nguyễn Trọng Khánh, một lần

nữa chúng tôi thấy: xuất phát từ góc độ ngôn ngữ, không ít ý nghĩa chân chính của các

từ ngữ, hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm văn học đã được phát hiện, không ít những

cách lí giải có tính chất áp đặt chủ quan hoặc xa rời tác phẩm tồn tại bấy lâu trong

nhiều tài liệu giảng dạy đã được xem xét, điều chỉnh lại một cách có cơ sở khoa học và

phù hợp hơn; góp phần khơi dậy niềm hứng thú, say mê văn học từ chính quá trình

nhận thức và làm chủ ngôn ngữ - phương tiện biểu hiện chủ yếu của tác phẩm Qua

đây chúng ta có thể thấy giữa ngôn ngữ và văn học có mối quan hệ mật thiết, không

thể tách rời Và với một tác phẩm văn học, có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau

như hướng phân tâm học, xã hội học, lịch sử phát sinh, văn hóa học, cấu trúc luận

nhưng cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ vẫn là con đường đơn giản nhất, nhanh chóng

nhất để giải mã những giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm một cách hợp lí,

logic

1.2 Ngôn ngữ có một đặc tính rất quan trọng, đó chính là tính hệ thống Tính hệ

thống này được biểu hiện ở tất cả các cấp độ từ thấp đến cao Thậm chí, tính hệ thống

của ngôn ngữ còn quyết định tính hệ thống của các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm

văn học Ở phạm vi nội bộ tác phẩm, nếu mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật thì

nó yêu cầu tất cả các yếu tố phải tạo nên hệ thống Đối với nghệ thuật văn chương thì

các tín hiệu thẩm mĩ đơn trong nội bộ tác phẩm hòa hợp với nhau, phối hợp với nhau

để phục vụ cho ý nghĩa thẩm mĩ chung của toàn tác phẩm Khi tìm hiểu một tác phẩm,

tất yếu người đọc phải có sự liên kết giữa các tín hiệu thẩm mĩ theo một hệ thống để

có thể hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu tác phẩm Ở cấp độ thấp nhất, tính hệ thống của

Trang 8

ngôn ngữ được biểu hiện trong tính hệ thống của hệ thống từ vựng Và về mặt ý nghĩa,

nó được biểu hiện trong hệ thống trường nghĩa Do vậy, tìm hiểu hệ thống trường

nghĩa chính là con đường tiếp cận tác phẩm văn chương theo hướng ngôn ngữ học

1.3 Hiện nay, dạy học văn trong nhà trường phổ thông theo con đường tích hợp

ngữ - văn đang là một hướng đi được đề cao Có rất nhiều lí thuyết ngôn ngữ đã được

áp dụng để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về văn học Đặc biệt, khi phân tích cách

sử dụng từ ngữ của nhà văn trong tác phẩm, việc vận dụng lí thuyết về trường nghĩa sẽ

đem lại cho người nghiên cứu nhiều kết quả hữu ích Lí thuyết này giúp lí giải một

cách cặn kẽ, khoa học những đặc điểm độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của nhà

văn, tính gợi cảm, tính hàm súc của hình tượng văn học Chính vì vậy, tìm hiểu tác

phẩm văn học từ góc độ trường nghĩa là một con đường hứa hẹn đem lại nhiều kết

quả

1.4 Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Tố Hữu là một nhà thơ lớn Ông vừa

là nhà thơ đầu tiên của giai cấp vô sản – Người văn nghệ binh thứ nhất, theo cách nói

của Nguyễn Đình Thi – vừa là con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam

hiện đại Suốt nửa thế kỷ qua, thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của giới

văn học nghệ thuật, mà còn là đối tượng để dạy và học trong các nhà trường phổ thông

và đại học Trong chương trình môn Ngữ Văn THPT, Tố Hữu là một tác gia có vị trí

quan trọng và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam với 04 tác phẩm được đưa

vào giảng dạy, trong đó có bài thơ "Việt Bắc" (SGK Ngữ văn 12, tập 1) Như chúng ta

đã biết, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc từ nội dung cho đến hình thức nghệ thuật Và

“Việt Bắc” là một tác phẩm hay, đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách

nghệ thuật của Tố Hữu Về phương pháp giảng dạy tác phẩm này đã được quan tâm

tìm hiểu nhiều trong một số công trình nghiên cứu.Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy

tôi nhận thấy việc tìm hiểu bài thơ "Việt Bắc" còn gặp rất nhiểu khó khăn đối với học

sinh vì phần lớn giáo viên chỉ truyền thụ kiến thức một chiều, cung cấp những kiến

thức có sẵn cho học sinh mà chưa phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của học

sinh Do đó, dạy học văn bản này dưới góc độ trường nghĩa vẫn là một hướng đi mới

mẻ Và trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn sử dụng ánh sáng của

lí thuyết trường nghĩa để làm sáng tỏ hơn tính dân tộc trong thơ Tố Hữu, trong đó tập

trung chủ yếu vào bài thơ “Việt Bắc”, đồng thời cũng mở ra một hướng đi mới trong

Trang 9

việc dạy học tác phẩm "Việt Bắc" ở nhà trường phổ thông, từ đó tạo tiền đề để tiếp tục

dạy học các văn bản khác dưới góc độ trường nghĩa

Đó là những lí do khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh

tìm hiểu tính dân tộc trong thơ của Tố Hữu thông qua lí thuyết trường nghĩa” (Qua

bài thơ “Việt Bắc”) cho việc nghiên cứu khoa học của mình Hi vọng, sự thành công

của đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào việc tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy

học thơ Tố Hữu nói chung, tác phẩm "Việt Bắc" nói riêng trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm văn học dựa trên lí thuyết về trường nghĩa

Việc nghiên cứu trường từ vựng đã diễn ra từ lâu trên thế giới và là một phương pháp nghiên cứu mới để tìm hiểu ngôn ngữ một cách có hệ thống hơn

Ở nước ta, GS Đỗ Hữu Châu là người có đóng góp quan trọng trong việc giới thiệu khái niệm trường từ vựng và thúc đẩy khuynh hướng nghiên cứu trường từ vựng

Trong các công trình của mình, song song với việc trình bày lí thuyết về trường từ

vựng, GS cũng đã bước đầu chỉ ra con đường tiếp cận tác phẩm văn học dựa trên lí

thuyết này, tiêu biểu nhất là bài viết "Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ trong

tác phẩm nghệ thuật" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 3 năm 1974

Kế thừa những kết quả nghiên cứu của GS Đỗ Hữu Châu, nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng của các nhà nghiên cứu đã ra đời Nhưng nhìn chung

các nhà nghiên cứu đều mới chỉ dừng lại ở một hệ thống trường nghĩa nào đó (như

"Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh" – Phạm Nhị Hà;

"Trường từ vựng chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ Chế Lan Viên" – Nguyễn Chí

Trung ) còn việc sử dụng trường nghĩa như là một con đường dễ khám phá toàn bộ

một tác phẩm thì có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến Theo thống kê của chúng

tôi, đã có một số công trình đi theo con đường này:

Đầu tiên, phải kế đến công trình "Tìm hiều một số phương pháp phân tích ngôn

ngữ tác phẩm văn học (một thử nghiệm so sánh các phương pháp qua việc phân tich

một bài thơ)" của tác giả Phạm Minh Diện Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ,

Phạm Minh Diện đã tiến hành đối chiếu, so sánh một số phương pháp phân tích bài

thơ "Từ ấy" của Tố Hữu, bao gồm cả những phương pháp văn học và phương pháp

ngôn ngữ học, như: hướng phân tích tổng hợp của Hoàng Tuệ; hướng phân tích hệ

Trang 10

thống của Đái Xuân Ninh; hướng phân tích phong cách học của Nguyễn Thái Hòa và

hướng phân tích theo "trường từ vựng – ngữ nghĩa" của tác giả Đỗ Hữu Châu Qua

việc đối chiếu, so sánh, tác giả đã nhận ra, điểm mạnh của phương pháp phân tích theo

trường từ vựng – ngữ nghĩa đó là "có cơ sở khoa học do dựa trên lí thuyết "trường liên

tưởng" nên có thể chỉ ra những ý nghĩa liên hội xuất hiện trên cơ sở nghĩa thông

thường, dựa trên nghĩa thực cần phân tích mà chỉ ra "ý nghĩa hàm ẩn" (mà theo các

phương pháp khác sẽ gặp phải trở ngại và thường phải dừng lại ở việc phát hiện ra

các yếu tố cần phân tích)" và "các phương pháp ngôn ngữ học thực thụ (như phương

pháp ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu) bao giờ cũng cho phép ta bắt đầu từ các từ

ngữ với những ý nghĩa rõ ràng của nó, trên cơ sở đó mới tuần tự chỉ ra các lớp nghĩa

do phối hợp hay do đối lập với ngữ cảnh Bởi vậy, các hình ảnh, cảm xúc bao giờ

cũng hiện ra với tư cách là những ý nghĩa thuộc các lớp khác nhau, và cũng do vậy,

chúng có cấu trúc cực kì tinh vi, phức tạp nhưng lại khá rõ ràng Đó chính là điểm

mạnh của phương pháp ngôn ngữ học"

Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra điểm hạn chế của phương pháp này, đó là: vì tác phẩm được phân tích như một cấu trúc tỉ mỉ nên tác phẩm buộc phải chia nhỏ ra thành

các yếu tố đến mức nhỏ nhất, nên tính chỉnh thể của tác phẩm dễ bị phá vỡ", đồng thời

"sức rung động tình cảm dễ phải nhường chỗ cho sự phân tích lạnh lùng của lí trí

Thiết nghĩ, những nhận định của Phạn Minh Diện đưa ra là hoàn toàn xác đáng, tuy nhiên, bất kì một phương pháp nào cũng đều có những ưu điểm và hạn chế của nó

Với mục đích để khám phá ra ý nghĩa đích thực mà những thông điệp ngôn từ truyền

tải, phương pháp phân tích ngôn ngữ và là tối ưu nhất, vì nó sẽ tránh hoàn toàn được

tình trạng suy diễn, gán ghép mà các phương pháp văn học thường gặp phải (do các

phương pháp văn học không bám vào sự diễn biến và tổ chức của các lớp nghĩa của

từ)

Một công trình khác cũng sử dụng trường từ vựng – ngữ nghĩa như là một con

đường để khám phá tác phẩm là công trình luận văn thạc sĩ "Trường nghĩa và việc

phân tích tác phẩm văn học" (Qua "Thân phận tình yêu" – Bảo Ninh)" của tác giả

Phạm Thị Lệ Mĩ Trong công trình này, Phạm Thị Lệ Mĩ đã không đi theo con đường

phân tích hình tượng nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật hay các phạm trù thi

pháp học khác của hướng phân tích văn học, bằng việc khảo sát hệ thống trường từ

Trang 11

vựng – ngữ nghĩa mà Bảo Ninh sử dụng trong tác phẩm (trưởng nghĩa chỉ sự vật,

trường nghĩa chỉ hoạt động, trường nghĩa chỉ đặc điểm, tính chất), nhà nghiên cứu đã

chỉ ra được giá trị của hệ thống trường nghĩa trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm,

thấy được ưu thế của phương pháp này: vừa nhận diện được các yếu tố nghệ thuật đặc

biệt (từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ, hình tượng nhân vật), vừa khám phá được

các giá trị nội dung tác phẩm một cách tương đối toàn diện, đồng thời, phương pháp

này còn giúp quá trình phân tích khách quan, chính xác, làm nổi bật được các giá trị

nội dung, nghệ thuật một cách khách quan, không áp đặt, suy diễn, khiên cưỡng

Ngoài ra, chúng tôi cũng đã khảo sát được một số tác giả đã vận dụng lí thuyết trường nghĩa để tìm hiểu một số tác phẩm văn chương như: để chỉ ra chất thiên nhiên

xứ Huế trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phạm Thị Hà đã tiến hành thống kê chi

tiết các trường nghĩa và các tiểu trường có liên quan Ví dụ như khi phân tích riêng các

từ ngữ thuộc tiểu trường thực vật trong kí Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phạm Thị Hà đã

chỉ ra sự phong phú, đa dạng về các loài thực vật của thiên nhiên xứ Huế Tác giả luận

văn đã có những nhận xét xác đáng từ việc phân tích các từ ngữ trong trường này:

“Dường như thế giới thực vật của cả bốn vùng đều quy tụ hết ở nơi đây Có tới 99 loài

hoa xuất hiện trong văn ông Mỗi loài hoa đều mang một hương sắc riêng, đều có

tiếng nói riêng của mình Dân dã như các loài: Nhài, lý, thạch lựu, mặt trời, tường vi

lan Hoa hải đường thì “phơi phới như một lời chào hạnh phúc”, “màu đỏ thắm hân

hoan, say đắm” là hình ảnh của những người đẹp vương giả, hoa trà mi đỏ tươi, màu

đỏ rất sâu, cứ cuốn hút cái nhìn của người xem… hoa trắng thì đẹp lạ, trong và tinh

khôi như một phiến ngọc thạch Hoa vông “đỏ rực tung tóe giống hình ngọn lửa”, lay

ơn “hoa màu gạch bạc thếch”, xương rồng “nở hoa trắng muốt”… Chỉ mỗi hoa phong

lan được tác giả phân chia lên tới 23 lại khác nhau nở từ xuân sang hè: nghinh xuân,

long tu, kim điệp, kim phong hội, hồng liên song tử ngọc, lan ý thảo, cẩm báo, dã hạc,

dáng thu, đoản kiếm… [13,202]

Hoặc khi phân tích sự chuyến biến tư tưởng, tình cảm của Chế Lan Viên qua hai

tập thơ “Điêu tàn” và “Ánh sáng và phù sa”, Vũ Quỳnh Nga đã dựa vào sự thống kê

các từ ngữ chỉ cảm xúc, tâm trạng

Bên cạnh tác dụng của trường nghĩa trong việc xác định đề tài, chủ đề của tác phẩm, việc xác lập trường nghĩa, đặc biệt là việc phân tích các hiện tượng chuyển di

Trang 12

trường nghĩa trong hoạt động cụ thể, còn có ý nghĩa lớn trong việc phân tích giá trị

biểu trưng, phân tích quan niệm của tác giả văn học, quan niệm của cộng đồng Ví dụ,

qua phân tích trường nghĩa “núi” trong thành ngữ, tục ngữ, Nguyễn Diệu Hiền đã chỉ

ra các ý nghĩa biểu trưng của “núi”: Núi rừng biểu trưng cho khó khăn, thử thách

(Rừng xanh núi đỏ, rừng thiêng nước độc, Thâm sơn cùng cốc,… ); Núi rừng biểu

trưng cho công lao, tình cảm của cha mẹ (Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết

công lao mẫu từ……)

Như vậy, việc xác lập trường nghĩa khi tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn chương là cơ sở khoa học cho những nhận xét về nội dung, chủ đề của tác phẩm Xác

lập trường nghĩa trong phân tích văn học là một trong những điều kiện để tránh những

nhận xét chung chung, thiếu căn cứ ngôn từ văn bản

Qua phần khảo sát lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy, việc sử dụng trường nghĩa để tìm hiểu giá trị tác phẩm không phải là một hướng đi quá mới mẻ, song cũng

không phải cũ mòn Đặc biệt, việc ứng dụng trưởng nghĩa vào việc dạy học – đọc hiểu

văn bản cho học sinh ở bậc Trung học Phổ thông thì lại là một hướng đi hoàn toàn

mới, chưa có công trình nào đề cập đến Được gợi ý từ những công trình nghiên cứu

trên, trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn sử dụng lí thuyết

trường nghĩa để có thể tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời

bước đầu hướng dẫn học sinh khám phá tác phẩm theo con đường ngôn ngữ học qua

tác phẩm "Việt Bắc" của nhà thơ Tố Hữu (SGK Ngữ văn 12, tập 1)

2.2 Lịch sử nghiên cứu việc giảng dạy tác phẩm "Việt Bắc" của Tố Hữu

Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam và bài thơ “Việt Bắc” là tác

phẩm nổi tiếng đã làm tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu Có thể kể đến

một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Trần Đình Sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu (chuyên luận), NxbTác phẩm mới – Hội

nhà văn Việt Nam

- Nhiều tác giả (2007), Tác giả trong nhà trường Tố Hữu, Nxb Văn học

- Nhiều tác giả (2000), Tố Hữu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục

Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả cũng ít nhiều đề cập đến

tính dân tộc trong thơ của Tố Hữu Nhiều đề tài, luận văn, luận án cũng đã đề cập đến

thơ Tố Hữu và bài thơ “Việt Bắc”, nhiều bài văn hay cũng đã phân tích tính dân tộc

Trang 13

trong thơ Tố Hữu nói chung, tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” nói riêng Tuy

nhiên, nhận thấy việc hướng dẫn học sinh tiếp cận, tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố

Hữu – cụ thể trong bài thơ “Việt Bắc”, đặc biệt là tìm hiểu tính dân tộc thông qua lí

thuyết trường nghĩa thì chưa thấy có tài liệu nào thực sự chú trọng Do đó, trên cơ sở

kế thừa và phát huy những thành tựu của những người đi trước, chúng tôi xin đề xuất

đề tài “Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tính dân tộc trong thơ của Tố Hữu thông qua

lí thuyết trường nghĩa” (Qua bài thơ “Việt Bắc”)

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Dạy học bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu cho học sinh THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Chủ yếu tìm hiểu tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu thông qua lí

thuyết trường nghĩa

- Tại trường THPT Trần Khánh Dư – Huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Vận dụng lý thuyết về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm văn chương dưới góc độ trường nghĩa, đề xuất các phương pháp cụ thể của việc dạy thơ Tố Hữu, đặc biệt là tác

phẩm “Việt Bắc” trong chương trình THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác

phẩm văn học, góp phần khẳng định ưu điểm và tính khả thi của đề tài

Khảo nghiệm dạy học tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu trong chương trình THPT

ở trường THPT Trần Khánh Dư – Huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có nội dung liên quan

Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích

Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: vận dụng kiến thức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào giải quyết đề tài

Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát

6 Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn có những đóng góp sau:

Trang 14

- Về mặt lí luận: Luận văn cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về trường nghĩa và khả năng ứng dụng trường nghĩa trong việc đọc hiểu văn bản

- Về mặt thực tiễn: Những kết quả chúng tôi thu được khi tìm hiểu việc dạy học – đọc hiểu tác phẩm "Việt Bắc" của Tố Hữu có thể áp dụng vào quá trình dạy học theo

hướng tích hợp Ngữ - Văn ở nhà trường phổ thông

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn có 03 phần chính:

- Chương I: Cơ sở lí luận

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề mang tính lí luận về trường nghĩa, đọc – hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa, tính dân tộc trong thơ Việt Nam để

có cái nhìn tổng quát, toàn diện về vấn đề trường nghĩa, tính dân tộc trong thơ để có

cơ sở hướng dẫn học sinh tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu nói chung và qua bài

thơ Việt Bắc nói riêng thông qua lí thuyết trường nghĩa

- Chương II: Thực trạng và định hướng dạy học bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở

trường trung học phổ thông theo lí thuyết trường nghĩa

Trên những cơ sở lí luận đã có, chúng tôi sẽ vận dụng để hướng dẫn học sinh tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể dựa trên lí thuyết trường nghĩa (Bài thơ

“Việt Bắc” của Tố Hữu)

- Chương III: Thực nghiệm

Đến đây, chúng tôi sẽ vận dụng tất cả những đơn vị kiến thức đã tìm hiểu, nghiên

cứu vào một giáo án giảng dạy cụ thể, đưa lí thuyết vào thực hành để kiểm tra, đánh

giá tính khả thi của đề tài

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm về trường nghĩa

Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa

Lí thuyết về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ đưa ra từ rất sớm vào khoảng thập kỉ

20 và 30 của thế kỉ XX

Nhắc đến lí lí thuyết trường nghĩa phải kể đến tên tuổi của hai nhà ngôn ngữ Đức là J.Trier và L.Weisgerber Ông J.Trier là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ về

trường vào ngôn ngữ học và đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng

ngữ nghĩa Ông cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của

nó là quan hệ với các từ khác trong trường quyết định Đối với L Weisgerber ông lại

đưa ra quan điểm rất đáng chú ý về trường, theo ông phải tính đến các góc nhìn khác

nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó

của cuộc sống

Tuy nhiên, các quan niệm của J.Trier và L.Weisgerber đều có những hạn chế nhất định Và để khắc phục những hạn chế đó, W Porzig đã phân chia trường theo

những nguyên tắc khác Từ năm 1934, W Porzig đã đề nghị nguyên tắc liên tưởng

Theo quan niệm của W Porzig, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến sự tồn

tại của những từ khác Chẳng hạn từ “ăn uống” sẽ gợi đến sự tồn tại của miệng, nhưng

quan hệ ngược không xảy ra vì miệng không nhất thiết là phải ăn – uống mà còn thực

hiện rất nhiều hoạt động khác như “nói”, “mắng”… Dựa trên cơ sở này, từ vựng

được chia ra thành “các trường cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ

hoặc tính từ, tức là chúng thường làm vị ngữ

Ở Việt Nam trường nghĩa cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như:

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó

GS Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những

phạm trù liên quan đến trường nghĩa Ông đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của

các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa

Trước tiên trường là một tập hợp bao chứa những đối tượng có tính tương liên với

nhau Tập hợp đó tồn tại một cách khách quan, có mối liên hệ nội tại chặt chẽ và làm

nên một giá trị chung Và trường nghĩa được GS Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm

Trang 16

như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những từ

đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”

Như vậy, một tập hợp từ đồng nhất với nhau ở một nét nghĩa tổng quát mang

tính chất của một hệ thống con nằm trong hệ thống từ vựng lớn sẽ được gọi là trường

nghĩa Trường nghĩa là kết quả của sự phản ánh khái quát mà mức độ cao nhất là giúp

xác lập từ loại

1.1.2 Phân loại trường nghĩa

GS Đỗ Hữu Châu đã chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng

dựa trên hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan

hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ

đoạn)

a Trường nghĩa biểu vật

Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật

Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về mắt: lông mày, lông mi, mí, mi, lòng trắng, lòng

đen, khóc, nước mắt, lệ, lụy… Đây là các đơn vị có cùng phạm vi biểu vật

Mỗi một trường nghĩa biểu vật đều có trung tâm là danh từ Danh từ này có tính

khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, thực vật, động

vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn

chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét cụ thể thu hẹp ý nghĩa của từ Như

vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của

nó trùng với tên gọi của danh từ trên

Dựa vào danh từ trung tâm người ta xác lập nghĩa biểu vật Ở ví dụ trường biểu vật về mắt thì dựa vào danh từ mắt, có thể tập hợp được rất nhiều từ về mắt nằm trong

trường nghĩa mắt

Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ và các trường nghĩa biểu vật nhỏ này lại có thể tiếp tục phân chia thành các trường

nhỏ hơn Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về mắt có thể chia thành các trường nhỏ:

trường biểu vật về mày (lươn, lá răm, lưỡi mác, lá liễu, nhung…), mắt (bồ câu, ốc

nhồi, dao cau, phượng…)

Trang 17

Số lượng từ ngữ và cách tổ chức của các trường nghĩa biểu vật rất khác nhau

Sự khác nhau này diễn ra giữa các trường lớn với nhau và giữa các trường nhỏ trong

cùng một trường lớn Nếu so sánh các trường cùng một tên gọi trong các ngôn ngữ với

nhau thì sự khác nhau trên còn rõ rệt hơn nữa

Nếu tạm gọi một trường nhỏ là một miền của một trường thì thấy các miền thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống tức là không có từ ngữ ở

ngôn ngữ này nhưng trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ này

nhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia

Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật cho nên từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau, hệ quả là các trường biểu vật có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau Xét

trường biểu vật về người và động vật ta sẽ thấy rất rõ điều này Trường nghĩa người sẽ

gồm các từ: đầu, tóc, mình, chân, tay, mắt, mũi, miệng, răng, da, lưỡi, ruột, gan, phổi,

dạ dày, máu, xương, ăn uống, cắn, đạp, đi, nhảy, chạy, nói, khóc, cười, hát, hét, nằm,

ngủ… trường nghĩa động vật sẽ gồm các từ: đầu, mình, đuôi, bụng, cổ, sừng, răng,

lưỡi, mắt, mũi, chân, dạ dày, máu, xương, thịt, ăn, uống, đi, chạy, nhảy, hú, hót, nằm,

ngủ… và hầu hết các từ thuộc trường động vật đều nằm trong trường người như các

từ: đầu, mình, chân, dạ dày, xương, máu, mắt, mũi, ăn, uống, đi, chạy, nhảy… ta nói

trường người và trường động vật giao thoa, thẩm thấu vào nhau

Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường nghĩa biểu vật không giống nhau

Có những từ điển hình cho trường được gọi là các từ hướng tâm và những từ không

điển hình cho trường gọi là từ hướng biên Từ hướng tâm gắn chặt với trường làm

thành cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường Từ hướng

biên thì gắn bó lỏng lẻo hơn và đi xa dần với lõi, liên hệ với trường mờ dần đi Ở ví dụ

về trường người và động vật trên là những từ chỉ có ở trường này mà không có ở

trường kia, từ hướng tâm của trường người: khóc, cười, hát… từ hướng tâm của

trường động vật: hót, hú, đuôi… từ hướng biên là những tữ xuất hiện ở hai trường

người và động vật: đầu, chân, mắt, ruột, dạ dày, xương, máu, chạy, nằm, ăn, uống,

đi…

b Trường nghĩa biểu niệm

Trường nghĩa biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm” [4;

tr.176] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt)

Trang 18

gồm dụng cụ để đặt: bàn, giá, gác, xích đông; dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường,

phản, đi văng; dụng cụ để chứa, đựng: tủ, rương, vali, hòm, chạn, thúng, mũng, nong,

nia, chai, lọ, chum, vại, hũ, bình; dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, khăn, khố, váy,

giày, dép; dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, chăn, chiếu…

Cũng như trường nghĩa biểu vật các trường nghĩa biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu niệm nhỏ và cũng có những miền với những mức độ

khác nhau

Từ có nhiều nghĩa biểu niệm, bởi vậy, một từ có thể đi vào nhiều nghĩa biểu niệm khác nhau Vì thế cũng giống như trường nghĩa biểu vật, các trường nghĩa biểu

niệm cũng có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau và có lõi trung tâm với các từ điển

hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi

c Trường nghĩa tuyến tính

Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp những từ có thể kết hợp với một từ gốc để

có thể tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Chẳng hạn, trường tuyến tính của của từ đi:nhanh, chậm, khập khiễng, tập tễnh…; lên,

xuống, ra, vào…; học, làm, chơi, chợ…; giày, dép, tất, vớ…

Để lập các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận

được trong ngôn ngữ [4, tr.185] Cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật

và trường nghĩa biểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những

quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện được những đặc điểm nội tại và

những đặc điểm hoạt động của từ

d Trường nghĩa liên tưởng

Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra Chẳng hạn, trường liên tưởng của từ “đỏ” bao gồm các đơn vị từ

vựng: dâu tây, dưa hấu, áo, quần, môi, tim, mặt trời, lửa, máu…

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm

Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc

đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song, trong trường liên tưởng còn

Trang 19

có nhiều từ khác được liên tưởng tới do sự xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong

những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các

trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân

1.1.3 Đọc hiểu văn bản và đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa

a Đọc hiểu văn bản

Vấn đề dạy học – đọc hiểu văn bản có thể coi là vấn đề mấu chốt nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học Văn ở nhà trường phổ thông Thực ra, vấn đề đọc hiểu

không phải đến nay mới xuất hiện, mà ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX, ở Châu

Âu, Châu Mĩ và Liên Xô việc đọc hiểu đã được nghiên cứu rộng rãi với các tác giả

như: K.Goodman (1970), A.Pugh (1978), P.Arson (1984), L.Baker (1984),

M.K.Bogolepkaia và W.Septsenko, A.Primacopxki Đặc biệt, ở Mĩ, vấn đề đọc hiểu

được nghiên cứu khá toàn diện Nhiều công trình nghiên cứu về đọc hiểu trong nhà

trường phổ thông được tập trung vào các chủ đề: "Giải pháp để cải thiện năng lực đọc

hiểu của học sinh", "Đọc để học – những ảnh hưởng của sự hấp dẫn chiến lược kết

nối với học sinh trung học" của tác giả M.Alfassi Học cũng chú ý đến sự phản ứng

của người đọc, đứng đầu là Seebesta đã trình bày 4 giai đoạn của hệ thống cấp độ

dùng để đánh giá sự hồi đáp của người đọc Tác giả chỉ ra rằng tiến trình đọc hiểu

không chỉ tập trung vào văn bản mà còn tập trung vào người đọc Đặc biệt, cuốn sách

"Đọc sách như một nghệ thuật" của Mortimer Adler do NXB Lao động Xã hội dịch

năm 2008 trình bày rất kĩ càng về các thao tác kĩ thuật, kĩ năng và phương pháp đọc

hiểu

Ở Việt Nam, vấn đề đọc hiểu cũng đã được nghiên cứu từ hàng chục năm nay, chúng tôi đã điểm qua các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ và phương

pháp dạy tiếng Việt như: GS.TS Lê Phương Nga, PGS.TS Nguyễn Thái Hòa,

PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, TS Nguyễn Thị Hồng Mai

Trực tiếp về dạy học tác phẩm văn chương có những đóng góp cụ thể của các tác giả

như: TS Trần Thị Hồng Thu, TS.Trần Đình Chung, TS.Nguyễn Trọng Hoàn, PGS.TS

Lê Huy Bắc Riêng GS.TS Trần Đình Sử với tư cách là người khởi xướng và kiên

định về vấn đề dạy học trong các bài viết và bộ SGK Ngữ văn THPT nâng cao đã có

nhiều đóng góp cụ thể Ông là người thấy đọc hiểu không phải chỉ là văn hóa đọc đối

với mọi người mà ý nghĩa và khả năng phong phú của nó trong đổi mới dạy học là vô

Trang 20

cùng to lớn với quan điểm: "Đọc hiểu văn bản – khâu đột phá trong nội dung và

phương pháp dạy học văn hiện nay" Tác giả đã khẳng định thực chất của việc dạy học

văn trong nhà trường chính là việc dạy học sinh đọc hiểu Tác giả phân tích việc đọc

hiểu gồm hai quá trình: Đọc và Hiểu Trong đó, đọc có nhiều hình thức khác nhau: đọc

thành tiếng, đọc diễn cảm, đọc nhanh, đọc kĩ tựu chung lại đều nhằm mục đích "nắm

bắt ý nghĩa của văn bản được đọc, tức là hiểu văn bản để sống trong thế giới nghệ

thuật, thưởng ngoạn, giả trí và làm giàu tâm hồn mình" Về hiểu, theo GS, hiểu có hai

bước: hiểu thông báo và hiểu ý nghĩa; và người đọc chỉ thực sự hiểu được văn bản khi

"người đọc biến văn bản của nhà văn thành văn bản của người đọc, hay nói cách khác

là người đọc chồng văn bản của mình lên văn bản của tác giả" Như vậy, dạy học đọc

hiểu văn bản là "dạy học sinh năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn bản của tác giả

mà kiến tạo nên văn bản của mình, đem chồng lên văn bản ấy" Để làm được điều đó,

theo tác giả, cần xóa bỏ dần mô hình "dạy học lấy thầy giáo làm trung tâm", xây dựng

mô hình mới, lấy học sinh làm trung tâm, thầy giáo chỉ giữ vai trò khơi gợi, hướng

dẫn, việc dạy học đọc văn chính là "quá trình đối thoại giữa học sinh, thầy giáo và

văn bản [ ] Đó là một cuộc đối thoại vượt thời gian, vượt không gian, vượt chênh

lệch lứa tuổi để đến với cái thật, cái đẹp, cái thiện"

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng được coi là người đề cập đến vấn đề đọc hiểu sớm

nhất ở Việt Nam với công trình "Đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc" Và

năm 2008, chuyên luận "Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường" được coi

là công trình lí thuyết đầu tiên về đọc hiểu tác phẩm văn chương đã phản ánh được

những nội dung cốt yếu và có chỗ gần gũi với các đồng nghiệp trong và ngoài nước

GS đã đặt đọc hiểu tác phẩm văn chương trong mối quan hệ với mục đích "Đọc để

hiểu giá trị ý nghĩa đích thực của tác phẩm" Chỉ riêng phần bàn bạc về đọc để nắm

vững ý nghĩa, GS đã viết: người đọc cần phải hiểu rằng nghĩa thuộc về hiện tượng và

sự kiện được kể về cuộc sống khách quan Ý nghĩa thuộc về bản chất thẩm mĩ của

cuộc sống được miêu tả Nghĩa lí của tác phẩm văn chương thuộc về giá trị khai sáng

Nó góp phần phản tư và tự điều chỉnh bản thân, cón nghĩa tình chính là dấu hiệu đồng

cảm, chia sẻ niềm vui mới ở người đọc Nghĩa của tác phẩm đem lại cái biết cho người

đọc Ý nghĩa tác phẩm đem lại cái hiểu cho người đọc Nghĩa lí của tác phẩm đem lại

Trang 21

cái hay, cái thích thú cho người đọc Còn nghĩa tình của tác phẩm xới xáo lòng người

đem lại cái đẹp của sự cải hóa tâm hồn

Và thông qua một số công trình nghiên cứu về đọc hiểu, chúng tôi xin rút ra một

số kết luận như sau:

Đọc hiểu là một thuật ngữ kép dùng để chỉ một hoạt động có mục đích cụ thể của con người Đó là hoạt động tự lĩnh hội tri thức bằng hoạt động trí tuệ Đọc hiểu

vừa là năng lực, vừa là kĩ năng cần rèn luyện của con người Trong đó, đọc là sự thu

nhận nội dung có ý nghĩa nào đó Vì thế, đọc liên quan đến năng lực nhận thức, đến

nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càng cao

Đọc gồm có đọc đúng, đọc hay và đọc diễn cảm; có thể là đọc lướt, đọc kĩ, đọc hồi

cố nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để hiểu

"Hiểu" theo kinh thánh là "lặn sâu vào thế giới bí ẩn bên trong", theo triết học

Nga hiện đại là "đưa ra một cách thức để nhận thức sự vật", nhìn chung, đều có hàm

nghĩa "hiểu" là giải quyết được mối quan hệ phức tạp bên trong của sự vật, đối tượng

khác Hiểu có nhiều mức độ Cơ bản nhất là phải hiểu được ý nghĩa của các kí hiệu,

hiểu trên bề mặt, hiểu nghĩa đen, hiểu hiển ngôn ("on the line"); tiếp đến là phải hiểu

được ý nghĩa, tính ám chỉ trong từng con chữ ("in the line"); và cuối cùng là hiểu sâu

sắc, hiểu vượt ra ngoài văn bản trong sự liên hệ với cuộc sống, với tương lai ("out the

line") Trong giờ dạy đọc hiểu văn bản, GV phải từng bước giúp học sinh khám phá ra

từng lớp nghĩa của tác phẩm, bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái

biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính

cũng như chủ đề của tác phẩm" rồi đến "hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội

nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó Hoạt động đọc hiểu không nhũng có

khả năng tích hợp văn học và tiếng Việt mà còn có khả năng khơi gợi và khai thác

những tri thức thuộc các lĩnh vực khoa học và văn hóa khác

Hoạt động đọc hiểu cũng là một hoạt động tiếp nhận, do đó, cần đặc biệt quan tâm và đề cao tới vai trò của chủ thể tiếp nhận (trong nhà trường là các em học sinh)

Công việc đọc hiểu cần phải quan niệm là công việc tự giác, chủ động của học sinh

dưới sự dẫn dắt, gợi mở của GV, GV cần quan tâm tới tính chủ thể, tính sáng tạo của

các em, tránh áp đặt, coi ý kiến của GV là duy nhất đúng Từ đó dẫn tới sự đổi mới

trong giờ dạy Văn: giờ Văn không còn là giờ thao giảng của mình GV, GV nói, học

Trang 22

sinh nghe, ghi chép và học thuộc Trái lại, giờ Văn cần được tổ chức như một cuộc đối

thoại giữa giáo viên, học sinh và tác giả (ẩn sau tác phẩm)

Tóm lại, việc dạy học đọc hiểu văn bản chính là khâu trung tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường, và nó thể hiện rõ ràng nhất trong bản

chất của mình tình thần: "Học sinh là bạn đọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn"

mà GS Phan Trọng Luận đã đề xuất trong hàng loạt những công trình nghiên cứu của

mình

b Đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa

Trong lí thuyết đọc hiểu văn bản, bước đầu tiên quan trọng nhất chính là việc

hiểu nghĩa của từ, tức là "nhận ra kí hiệu và nghĩa của kí hiệu" Nhấn mạnh vai trò của

khâu này, trong giáo trình dạy học của các trường sư phạm ở New York và London,

hai tác giả Roger L.Rouch và Shirley Birr đánh giá cao khái niệm đọc của Tinker và

McCullough, trong đó thừa nhận rằng: Việc đọc bao gồm sự phát hiện và công nhận

các kí hiệu in hoặc viết có tác dụng khơi gợi nghĩa của từ vốn đã được người đọc thiết

lập bằng kinh nghiệm trong quá khứ và xây dựng thêm các ý nghĩa mới mà người đọc

tìm ra nhờ những khái niệm tương tự, sẵn có ở người đọc Điều đó có nghĩa là việc

hiểu được nghĩa của từ, hiểu được các từ đó liên kết với nhau như thế nào để chuyển

tải một bức thông điệp, và chúng tác động như thế nào đến tình cảm, nhận thức và

hành vi của người đọc là những yếu tố thiết yếu trong quá trình đọc Không một quá

trình tư duy cao hơn nào có thể diễn ra nếu người đọc không giải mã được những từ

ngữ đã được viết ra

Và như vậy, bước đầu tiên của đọc chính là giải mã những kí hiệu từ ngữ Do

đó, GV trước hết cần cung cấp cho học sinh vốn hiểu biết kĩ càng về nghĩa của từ

(nghĩa đen, nghĩa chuyển, những ý nghĩa hàm ẩn và nghĩa liên hội), hiểu được sự vận

dụng từ ngữ của nhà văn trong tác phẩm Chính vì lí do này, việc kết hợp lí thuyết đọc

hiểu văn bản với lí thuyết trường nghĩa sẽ tạo một cơ sở vững chắc, khoa học và logic

để học sinh từ từ khám phá ý nghĩa của tác phẩm qua các lớp nghĩa của từ, không chỉ

ở trạng thái tĩnh (trong hệ thống) mà ở trong trạng thái sinh động, phong phú (trong

tác phẩm)

Đề cập đến vấn đề hiểu văn bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất việc hiểu

có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến sâu sắc Nhưng một điều đặc biệt, là đối với văn bản

Trang 23

văn học, HS cần hiểu, không chỉ giá trị tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm thông

qua tác phẩm mà còn phải hiểu cái hay, cái đẹp trong việc sử dụng ngôn ngữ của nhà

văn (tức là không chỉ hiểu tác giả "nói cái gì" mà cần hiểu tác giả "nói như thế nào?")

Vẻ đẹp trong dùng từ, đặt câu, thậm chí những đặc điểm về phong cách nghệ thuật của

nhà văn cũng được khám phá một cách kĩ càng dưới ánh sáng của lí thuyết trường

nghĩa

Qua những lí thuyết trên, chúng tôi nhận thấy, việc tích hợp kiến thức ngôn ngữ học (trường nghĩa) và lí thuyết đọc hiểu văn bản sẽ tạo ra một con đường hiệu quả cao

cho quá trình tiếp nhận văn bản văn chương của học sinh

1.2 Một số vấn đề lí luận về tính dân tộc trong văn học Việt Nam

Có lẽ, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu dân tộc là gì? Đó là một cộng đồng người ở trong một khu vực địa lý có chung một ngôn ngữ, một tập quán, phong tục,

tâm lý…Việt Nam có 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng nhưng

đều mang đặc điểm chung của Tổ quốc Việt Nam không lẫn với nước nào trên thế

giới

Tính dân tộc trong văn học là thuộc tính, là bản chất xã hội của văn học

Khái niệm thuộc phạm trù tư tưởng, thẩm mỹ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học

và dân tộc, thể hiện qua những đặc điểm độc đáo tương đối bền vững chung cho

các sáng tác của một dân tộc, được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử,

phân biệt với văn học dân tộc khác

Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung đến hình thức của sáng tác văn học Về nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết là tính dân tộc biểu hiện trong

sự phản ánh màu sắc dân tộc của thiên nhiên, của đời sống vật chất và tinh thần của

xã hội Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, tính cách dân tộc

và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời

Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng, một

dân tộc nhất định Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa,

phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình Vậy tính dân tộc

có thể được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một “ thuộc tính tất yếu

của việc sáng tạo” ( Bielinxki)

Trang 24

Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người

có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời kì lịch

sử lâu dài Tính dân tộc không bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể thành yếu tố hữu hình

mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nhìn và phương thức thể hiện của tác

phẩm Nhà văn không phải cứ chăm chú miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên hay kể về

những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc mình đang sinh sống thì tác phẩm mới có

tính dân tộc Đọc tác phẩm “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du chúng ta thấy trong tác

phẩm xuất hiện nhiều địa danh, nhân vật, kể cả cốt truyện đều có nguồn gốc từ đất

nước Trung Hoa, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tâm hồn dân tộc thấm đẫm

trong những trang Kiều

Rõ ràng một tác phẩm có tính dân tộc là tác phẩm thể hiện được “tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời”.Tính cách dân tộc là những nét phẩm chất lặp

đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc Chẳng hạn, người phụ nữ Việt Nam

từ xưa đến nay đều có chung một nét tính cách phổ biến là chịu thương, chịu khó, giàu

đức hi sinh, giàu lòng yêu thương và thủy chung, son sắt Tính cách đó đã hình thành

từ thời xa xưa, được lưu giữ qua truyền thuyết, truyền tụng trong nhiều bài ca dao và

truyện kể khác

Đến thời kì văn học trung đại ta bắt gặp tính cách ấy trong hình tượng nàng Kiều – một người con gái rất mực xinh đẹp, tài hoa Mặc dù đang sống trong cảnh “ êm đềm

trướng rũ màn che” nhưng khi gia đình gặp cơn nguy biến, Kiều sẵn lòng hi sinh mối

tình đầu đẹp đẽ của mình với Kim Trọng, hi sinh cả bản thân mình để bán mình cứu

cha “Làm con trước phải đền ơn sinh thành” Mười lăm năm lưu lạc với biết bao đau

đớn, ê chề, tủi nhục cũng không làm phai nhạt đi những nét tính cách, phẩm chất đáng

quí của nàng mà ngược lại chính hoàn cảnh éo le càng làm nổi bật thêm vẻ đẹp tâm

hồn đó Tác giả khắc hoạ một nàng Kiều đầy đủ nhất với tấm lòng trong trắng, thủy

chung, giàu đức hi sinh và luôn dành hết nỗi lo lắng, nhớ thương cho những người mà

Kiều thương yêu:

Nhớ ơn chín chữ cao sâu Một ngày một ngả bóng dâu tà tà

Dặm ngàn nước thẳm non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!

Trang 25

Sân hoè đôi chút thơ ngây

Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?

Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai ? Khi về hỏi liễu Chương Đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay?

Tình sâu mong trả nghĩa dày, Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?

Ở đây, ta thấy một nàng Kiều có ý thức thật sự về thân phận, đó là con người dịu dàng mà cương quyết, sẵn sàng hi sinh phẩm giá, mạng sống của mình cho những

người thương, cho lẽ phải và lòng tự trọng

Tính cách ấy của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện cao đẹp nhất trong thời

kì văn học hiện đại với hình ảnh chị Sứ trong tiểu thuyết "Hòn đất” của nhà văn Anh

Đức, một người phụ nữ “chỉ sung sướng bằng sự sung sướng của mẹ, cha, anh em

đồng chí và khi có con chị dành cho con tất cả những gì mình có”, hay hình ảnh

những cô gái thanh niên xung phong sẵn sàng hi sinh tuổi xuân của mình cho dân tộc,

cho nhân dân:

Cạnh giếng nước có bom từ trường

Em không rửa ngủ ngày chân lấm Ngày em phá nhiều bom nổ chậm Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà

(Gửi em cô thanh niên xung phong- Phạm Tiến Duật)

Phải chăng những tính cách, phẩm chất đó là điển hình cho vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tổng hòa những tính cách tiêu biểu mang đậm cốt cách, truyền

thống của con người Việt, dân tộc Việt ?

Tính dân tộc còn thể hiện ở cái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và

các mối quan hệ giữa con người với con người Đọc thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh

Khiêm hay Nguyễn Khuyến ta nhận ra điệu hồn dân tộc thể hiện qua những trăn trở,

nghĩ suy về nhân tình thế thái hay đơn giản chỉ là những rung động, xúc cảm của các

nhà thơ trước cảnh sắc thiên nhiên Nguyễn Trãi – một quan đại thần thời nhà Lê đã có

Trang 26

lúc từ bỏ chốn quan trường với những bon chen, đố kỵ, để tìm về núi Côn Sơn ở ẩn,

sống chan hoà với thiên nhiên cảnh vật:

Côn Sơn có khe, Tiếng nước chảy rì rầm

Ta lấy làm đàn cầm

Côn Sơn có đá, Mưa xối rêu xanh đậm,

Ta lấy làm chiếu thảm

Trên núi có thông, Muôn dặm rờn rơn biếc một vùng,

Ta tha hồ ngơi nghỉ ở trong

(Côn Sơn ca, Nguyễn Trãi)

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mang tâm trạng thoải mái, thanh thản khi được sống

một cuộc đời bình dị, thanh nhàn trong thế giới tự nhiên:

" Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Còn với Nguyễn Khuyến, người được mệnh danh là “nhà thơ của quê hương

làng cảnh Việt Nam” thì bước vào thơ ông ta có cảm tưởng như bước vào một thế giới

riêng biệt, thế giới bên trong luỹ tre làng, tách hẳn với thế giới bên ngoài Trong cái

thế giới đó là khung cảnh làng quê với bờ tre bụi trúc, cảnh nước lụt đồng chiêm, bầu

trời thu xanh ngắt, ao thu lạnh lẽo, lưng dậu phất phơ màu khói … tất cả đều thân

thương và nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam Rõ ràng sự cảm nhận, cái nhìn đối với

thế giới xung quanh của các nhà thơ trung đại là biểu hiện đặc trưng cho tính dân tộc

của những con người sinh sống ở một nước nông nghiệp trong một chế độ phong kiến

kéo dài hàng thế kỉ Các nhà thơ trung đại suy nghĩ, cảm nhận và chiêm nghiệm về

cuộc đời, con người qua cảnh sắc thiên nhiên xung quanh và thiên nhiên là nơi gửi

Trang 27

gắm tâm tình, tình cảm, thậm chí thiên nhiên còn trở thành thước đo cho vẻ đẹp của

con người

Bàn về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật, nhà nghiên cứu người Nga A.Tôn

xtoi đã từng nhận định "Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai,

trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật… " Quan điểm đó

rất đúng bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ,

nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai

cấp mà họ đang sống Vậy nên tinh thần dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ,

trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ Và cũng chính đặc thù của đời

sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo được

bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ

Về hình thức, tính dân tộc biểu hiện ở chỗ: mỗi nền văn học dân tộc có hệ thống thể loại truyền thống, có các phương tiện miêu tả, biểu hiện riêng, nhất là có ngôn ngữ

dân tộc thể hiện bản sắc riêng trong tư duy và tâm hồn của dân tộc mình Một trong

những thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam là thơ Lục bát Ngay từ những bài

ca dao, nhân dân ta đã sử dụng thể thơ này để thể hiện những tâm sự, tâm trạng, những

cung bậc tình cảm khác nhau trong cuộc sống lao động của mình Đó có thể là một lời

than thân, trách phận của những cô gái “hồng nhan bạc phận”:

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Hay những cô gái không có nhan sắc nhưng cũng tự ý thức được giá trị, nhân phẩm của mình:

“Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Cũng có thể là tâm sự của những đôi lứa găp nhiều trắc trở trong tình yêu:

- “Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc

Em đã có chồng anh tiếc lắm thay

Trang 28

Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không

Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra”

Cũng có khi là những kinh nghiệm trong lao động sàn xuất được truyền từ đời này qua đời khác:

- “Tháng Giêng là tháng ăn chơi Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

Cỏ úa dọn đã sạch rồi Nước ruộng vơi mười còn độ một hai”

- “Ruộng thấp đóng một gàu dai, Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng Chờ cho lúa có đòng đòng, Bấy giờ ta sẽ trả công cho người Bao giờ cho đến tháng mười

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta Gặt hái ta đem về nhà, Phơi khô quạt sạch ấy là xong công”……

Trang 29

Người dân Việt Nam luôn thể hiện tình yêu quê hương đất nước, luôn tự hào về quê hương của mình:

- “Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”

- “Làng tôi có lũy tre xanh,

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng Bên bờ vải, nhãn, hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng”…

Với thể thơ lục bát, âm điệu nhẹ nhàng, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, có vần có nhịp, rất dễ nhớ, dễ thuộc, người dân Việt Nam đã thể hiện được tâm hồn, tính cách

của mình Chúng ta đã sử dụng cách nói nôm na, dễ hiểu, mỗi bài ca dao như một cuộc

trò chuyện đầy thân tình, thể hiện sự ân tình, ân nghĩa vốn là những phẩm chất đáng

quý và vốn có của người dân Việt Nam Những cách nói ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,

hoán dụ hay những phép liệt kê, điệp, đối… cũng là bản sắc riêng của văn học và con

người Việt Nam

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC BÀI THƠ

“VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO

LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA 2.1 Thực trạng dạy học bài thơ “Việt Bắc” ở trường THPT

2.1.1 Vị trí của bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT

Sách giáo khoa mới Ngữ Văn

Gồm hai bộ sách Thơ Tố Hữu được học ở lớp 11 và lớp 12

Bộ 1: Do GS.Trần Đình Sử tổng chủ biên:

Lớp 11 (tập 2) - Ban KHXH&NV, bài Nhớ đồng - 1 tiết

Lớp 12 (tập 1) - Ban KHTN, bài Việt Bắc (trích) - 2 tiết; và một bài đọc thêm bắt buộc Bác ơi

Bộ 2: Do GS.Phan Trọng Luận tổng chủ biên:

Lớp 11 (tập 2)- Ban KHXH&NV, bài Từ ấy - 1 tiết, Nhớ đồng (Đọc thêm)

Lớp 12: Việt Bắc (trích) - 2 tiết, Bác ơi (đọc thêm)

Như vậy, chúng ta có thể thấy, so với các tác giả khác Tố Hữu đã có một vị trí nhất định trong nền văn học Việt Nam Có tới 04 tác phẩm của Tố Hữu được lựa chọn

để đưa vào giảng dạy ở cả chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, ở cả phần

học chính và đọc thêm Qua đó có thể khẳng định được những đóng góp và thành công

nhất định của thơ ca Tố Hữu

Trong đó, bài thơ “Việt Bắc” luôn là lựa chọn hàng đầu trong giảng văn lớp 12

Chúng ta có thể khẳng định những thành công trên cả phương diện nội dung và nghệ

thuật của tác phẩm “Việt Bắc” bởi bài thơ được coi là đỉnh cao của thơ ca Tố Hữu

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn

a Thuận lợi

Cũng như các hình thức nghệ thuật khác, văn chương là hoạt động của con người nhằm chiếm lĩnh thực tại “theo quy luật của cái đẹp” (Mác) Thế giới nghệ

thuật luôn đầy ắp những rung động mãnh liệt, kết quả của những “hiểu biết, khám

phá, sáng tạo” (Phạm Văn Đồng) Giờ dạy học thơ Tố Hữu ở trường THPT nếu không

làm nổi bật lên cái đẹp, không gắn liền với cảm xúc, không tạo nên những rung động

trong tâm hồn và không làm nổi bật lên phong cách nghệ thuật của nhà thơ thì sẽ đánh

mất bản chất của văn chương, trái với quy luật cảm thụ nghệ thuật Chúng ta vẫn có

Trang 31

thể dạy và học thành công thơ Tố Hữu ở trường THPT bởi có những thuận lợi sau

đây:

Đối với người học: các em cũng đã có những kiến thức nền tảng về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu như thể thơ, cách gieo vần, lối xưng hô Bên cạnh đó, các em đã

được học khá nhiều tác phẩm thơ trữ tình ở trung học cơ sở với những đề tài, thể loại,

nội dung đa dạng Đó cũng là lí do quan trọng khiến các em không quá khó khăn, bỡ

ngỡ khi tiếp nhận tác phẩm thơ Tố Hữu Hơn nữa, học sinh ở lứa tuổi này có sự phát

triển mạnh mẽ về thể lực, trí tuệ và tình cảm Điều đó giúp các em hoàn toàn có khả

năng tư duy trừu tượng và tưởng tượng tái hiện Khi đứng trước cái hay, cái đẹp, cái lạ

của sự vật, hiện tượng các em sẽ nhạy bén, suy nghĩ sâu sắc và độc lập hơn

Đối với người dạy: dạy học tính dân tộc trong thơ Tố Hữu dựa trên lí thuyết trường nghĩa là con đường quan trọng để hình thành những cách khai thác tác phẩm ở

những thể loại khác nhau Trong thực tế không phải tác phẩm nào cũng tuân thủ tuyệt

đối theo đặc trưng riêng biệt của một thể loại nhất định, mà chúng thường thâm nhập

vào nhau Đặc biệt, trong xu hướng đổi mới môn Ngữ văn thì hình thành năng lực đọc

hiểu cho học sinh là yêu cầu quan trọng Nếu học sinh có kiến thức nhất định về

trường nghĩa thì sẽ rất thuận lợi trong việc tiếp cận các văn bản khác nhau Từ đó sẽ

giúp học sinh cũng như giáo viên có cách cảm thụ tác phẩm chính xác và có chiều sâu

b Khó khăn

Về nội dung chương trình: nhà thơ Tố Hữu có một vai trò quan trọng trên thi đàn cũng như trong nền văn học sử nước nhà Những tác phẩm đưa vào giảng dạy

trong chương trình Ngữ văn THPT đều là những tác phẩm xuất sắc góp phần làm nên

diện mạo, gương mặt, phong cách độc đáo của nhà thơ Tuy nhiên, với bài thơ Việt

Bắc, sách giáo khoa chỉ trích dẫn một đoạn tiêu biểu (Phần đầu: tái hiện những kỉ

niệm về Việt Bắc, cách mạng và kháng chiến) Vì thế, học sinh khó có thể có cái nhìn

toàn diện, đầy đủ về tác phẩm Thời gian phân phối cho mỗi tác phẩm còn ít Mặt

khác, tư duy lý luận ngày càng cao đòi hỏi nắm bắt thơ Tố Hữu như một chỉnh thể,

một thế giới nghệ thuật có quy luật vận động nội tại, xem xét nó trong cả tiến trình đổi

mới thơ ca Tiếng Việt từ một nền văn học trung cổ sang văn học hiện đại và tiến lên

theo phương hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, suy nghĩ về khả năng và chiều sâu

phản ánh hiện thực của cả một hệ thống thơ Bên cạnh đó khi cái tôi trong thơ được

Trang 32

giải phóng, trên thi đàn xuất hiện nhiều tài năng thi ca đa phong cách, chịu ảnh hưởng

của những thi pháp thơ mới mẻ thì những sáng tác của họ cũng đầy màu sắc Để khám

phá hết cái hay, cái đẹp ở mỗi tác phẩm thật không dễ dàng

Về phía học sinh: hiện nay ở trường phổ thông, hầu hết các em học sinh còn thờ

ơ, lãnh đạm với thơ, không có thói quen chủ động, khám phá, tìm hiểu bài học Các

em thường ít hiểu, ít yêu thơ Ít em có một quyển sổ đẹp mà chăm chút vào đấy những

bài thơ hay mà mình yêu thích Nếu được hỏi những bài thơ hay mà các em yêu thích,

thường thì hiểu biết của các em chỉ quanh quẩn những bài trong sách giáo khoa Cá

biệt có những em còn không kể được tên những tác phẩm thơ trữ tình đã được học

trong chương trình Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển cùng với xu hướng toàn cầu

hoá thì những môn học thời thượng như Toán, Lí, Hoá, Ngoại ngữ…được lựa chọn

nhiều hơn Trái lại, văn chương ít có tính năng ứng dụng, tương lai người học ít được

bảo đảm, học sinh ngày càng rời xa môn học này Đặc biệt, một thực tế mà giáo viên

nào cũng nhận thấy: sách tham khảo, sách hướng dẫn học tốt, sách chuẩn kiến thức và

những bài văn mẫu quá nhiều, vô hình chung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo

khoa, nhiều em còn học đối phó bằng cách soạn bài hoàn toàn dựa vào sách tham khảo

nhưng chưa một lần đọc văn bản trong sách giáo khoa Vì thế, đôi khi cái nhìn của các

em về tác phẩm còn lệch lạc, thậm chí sai kiến thức cơ bản

Về phía giáo viên: khi dạy học thơ Tố Hữu, nhiều giáo viên chỉ đi sâu tìm hiểu nội dung và tư tưởng phản ánh trong bài thơ, chưa chú ý đúng mức đến hình thức

nghệ thuật Hoặc có chú ý đến hình thức nghệ thuật nhưng tách rời các hình thức nghệ

thuật ra khỏi nội dung Cũng có những trường hợp suy diễn một cách máy móc,

gượng ép các nội dung và vai trò, ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong tác

phẩm Cũng có những giờ học, hệ thống câu hỏi đưa ra mang tính chiếu lệ, chưa phát

huy được trí tuệ, năng lực cảm thụ văn chương của học sinh Một trong những nguyên

nhân dẫn đến tình trạng trên là do giáo viên chưa tìm hiểu kĩ phong cách nghệ thuật

thơ Tố Hữu gắn với lí thuyết trường nghĩa Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên dạy thơ

Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, chưa chú ý tới việc tiếp nhận của học sinh và

yêu cầu đổi mới phương pháp

Dạy học từ trường nghĩa là lối tiếp cận tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ học, có thể coi đó là hướng đi từ nghệ thuật đến nội dung tư tưởng Theo phương pháp này, mọi

Trang 33

giá trị nội dung của tác phẩm đều trở thành “ý nghĩa” hoặc là của các đơn vị ngôn ngữ

riêng rẽ, hoặc là của sự phối hợp và quan hệ chồng chéo giữa chúng Do đó, người

phân tích bao giờ cũng phải bắt đầu từ các từ ngữ với những ý nghĩa rõ ràng của nó,

trên cơ sở đó mới tuần tự chỉ ra các lớp nghĩa có được do sự phối hợp hay đối lập với

ngữ cảnh Do đó, tác phẩm hiện ra như một cấu trúc cực kì tinh vi nhưng cũng khá rõ

ràng, có thể lí giải một cách logic

Như vậy, so với phương pháp văn học, phương pháp ngôn ngữ học, cụ thể là tiếp cận tác phẩm từ góc độ trường nghĩa sẽ giúp giáo viên và học sinh bóc tách các

lớp nghĩa của tác phẩm một cách logic hơn, bài bản hơn Mặt khác, do xuất phát từ

chính các đơn vị ngôn ngữ nên giáo viên có cơ hội chỉ rõ cho học sinh thấy những đặc

sắc về mặt nghệ thuật của tác phẩm, cái hay cái lạ trong việc dùng từ, lựa chọn và kết

hợp từ ngữ của nhà văn (thể hiện qua việc chuyển trường từ vựng và cộng hưởng ngữ

nghĩa)

Tất nhiên, dạy học tác phẩm đi theo con đường đi từ góc độ Trường từ vựng – ngữ nghĩa cũng không thể tách ra khỏi việc phải định hướng tác phẩm thuộc thể loại

nào, kết hợp các biện pháp và thủ pháp dạy học khác nhau như tích hợp (văn học và

tiếng Việt, văn học và địa lí, văn học và lịch sử….), sử dụng hệ thống câu hỏi để dẫn

dắt, khơi gợi, hoặc chia nhóm học sinh để làm việc…

Vì vậy, trong luận văn này, kế thừa những thành quả về phương pháp dạy học hiện đại nói chung và phương pháp dạy học văn nói riêng, chúng tôi xin bước đầu đề

xuất các bước tìm hiểu tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu từ góc độ trường từ vựng –

ngữ nghĩa

2.2 Vài nét về tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu

Thơ Tố Hữu là một thành tựu nổi bật của thơ ca cách mạng Việt Nam Đó là bài

ca của thời đại Hồ Chí Minh đấu tranh anh hùng và thắng lợi vẻ vang, bài ca về lẽ

sống lớn, về ân tình cách mạng sâu nặng, về niềm vui tin cách mạng mới mẻ, trong

trẻo Là một nhà thơ lớn, Tố Hữu không chỉ là người thể hiện sâu sắc tinh thần thời

đại, mà còn là người đánh dấu một bước phát triển mới của thơ ca dân tộc

Tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu được thể hiện trước hết ở phương diện nội dung: thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc

Trang 34

Đã có người từng nhận xét: Tố Hữu là nhà thơ cộng sản Thơ anh là thơ chiến

đấu, thơ “mang cánh lửa” Có cách mạng mới có anh Và anh làm thơ để ca ngợi

cách mạng, tuyên truyền cho cách mạng Không phải ngay từ những bài thơ đầu, anh

đã đề cập được một cách kịp thời và sâu sắc nhất đến những vấn đề nóng hổi và lớn

lao của cách mạng Có lúc “cái tình” riêng của nhà thơ chưa theo được “cái lý”

chung của giai cấp, sự hiểu biết về cuộc sống thực tế còn thiếu sót so với tấm lòng say

sưa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa vĩ đại Nhưng trước sau vẫn “tâm hồn hăng chiến

đấu” ấy “Ta bước tới chỉ một đường cách mạng” Lời dặn lòng này đã trở thành

phương hướng và niềm tự hào trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu Chính

tính chất chiến đấu đã làm cho tập Từ ấy của Tố Hữu khác hẳn với thơ ca hợp pháp

đương thời

Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình

trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân

danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc Với cái tôi trữ tình ngày càng có ý nghĩa

khái quát rộng lớn hơn như thế, lẽ sống cũng có sự vận động Nếu ở tập Từ ấy, Tố

Hữu khẳng định lí tưởng đẹp nhất của mỗi con người lúc đó là dũng cảm dấn thân vào

con đường cách mạng giải phóng dân tộc thì từ tập Việt Bắc trở đi, nhà thơ nhấn mạnh

mục đích cao cả của đời người là phấn đấu vì cuộc sống tươi đẹp của dân tộc và cũng

là “Vì thiêng liêng giá trị Con Người - Vì muôn đời hoa lá xanh tươi” (Bài ca xuân

68) Thơ Tố Hữu không đi sâu vào cuộc sống và những tình cảm riêng tư mà tập trung

thể hiện những tình cảm lớn, mang tính chất tiêu biểu, phổ biến của con người cách

mạng: đó là tình cảm yêu lí tưởng (Từ ấy), tình cảm kính yêu lãnh tụ (Sáng tháng

Năm), tình cảm đồng bào đồng chí, tình quân dân (Cá nước), tình cảm quốc tế vô sản

(Em bé Triều Tiên), Niềm vui trong thơ Tố Hữu không nhỏ bé, tầm thường mà là

niềm vui lớn; sôi nổi, hân hoan nhất và cũng rực rỡ, tươi sáng nhất là những vần thơ

về chiến thắng (Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Toàn thắng về ta) Nhân

vật trữ tình trong thơ Tố Hữu thường là con người đại diện cho vẻ đẹp, sức mạnh,

phẩm chất cộng đồng, mang tầm vóc lịch sử và thời đại (Lượm, Mẹ Tơm, Người con

gái Việt Nam, Hãy nhớ lấy lời tôi, )

Trang 35

Thơ Tố Hữu luôn tràn đầy cảm hứng lãng mạn luôn hướng người đọc đến một tương lai tươi sáng, khơi gợi niềm vui, lòng tin tưởng, niềm say mê với con đường

cách mạng, ca ngợi nghĩa tình cách mạng và con người cánh mạng (Tiếng hát sông

Hương, Ta đi tới, Việt Bắc, ) Khuynh hướng cảm hứng ấy càng có tác động mạnh

mẽ tới tâm hồn, tình cảm con người khi được thể hiện trong những bài thơ mang

giọng điệu tâm tình ngọt ngào, tha thiết Giọng điệu đặc biệt này không chỉ thừa

hưởng từ điệu hồn của con người xứ Huế mà còn xuất phát từ quan niệm của Tố Hữu

về thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu, nó là tiếng nói của một người đến với những người

nào đó có sự cảm thông ”, sự cảm thông thường có trong những tâm tình, nhắn nhủ chân

thành

Cảm hứng xã hội, thiên hướng tổng hợp đã làm cho thơ Tố Hữu càng thấm nhuần chủ nghĩa lịch sử, đã nâng Tố Hữu lên thành nhà thơ cách mạng xuất sắc nhất

trong nền thi ca hiện đại của chúng ta Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những

sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến

những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Nhà thơ ít chú ý tới những

diễn biến bình thường của đời sống mà thường tập trung khắc hoạ những bối cảnh

rộng lớn, những biến cố quan trọng tác động mạnh mẽ đến vận mệnh dân tộc – đó là

cảnh xây dựng đất nước thật vĩ đại, hào hùng (Bài ca mùa xuân 1961), cảnh cả nước

lên đường ra trận chiến đấu vì độc lập, tự do (Chào xuân 67) Cảm hứng chủ đạo

trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử - dân tộc, chứ không phải cảm hứng thế sự - đời

tư; nổi bật trong thơ Tố Hữu là vấn đề vận mệnh cộng đồng, chứ không phải vấn đề số

phận cá nhân Điều đó đã dẫn tới con người trong thơ Tố Hữu là con người của sự

nghiệp chung với những cố gắng phi thường, các nhân vật trữ tình thường mang phẩm

chất tiêu biểu cho dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử và thời đại - đó là anh vệ

quốc quân trong bài Lên Tây Bắc, anh giải phóng quân trong bài Tiếng hát sang xuân,

anh Nguyễn Văn Trỗi trong bài Hãy nhớ lấy lời tôi hay chị Trần Thị Lý trong bài Người

con gái Việt Nam,

Đáng chú ý là những tư tưởng, tình cảm lớn của con người, những vấn đề lớn lao của đời sống đã được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất

tự nhiên, đằm thắm, chân thành Nhà thơ đặc biệt rung động với đời sống cách mạng,

Trang 36

với nghĩa tình cách mạng cho nên thường hướng về đồng bào, đồng chí mà trò

chuyện, nhắn nhủ, tâm sự:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

(Việt Bắc)

Nhưng không chỉ ở lời xưng hô mà “tình thương mến đặc biệt trong thơ Tố

Hữu là sự cảm hoà với người với cảnh một thứ nhạc tâm tình riêng bàng bạc thấm

lấy các câu thơ” (Xuân Diệu) Những lời tâm tình đó có cuội nguồn từ “chất Huế” của

hồn thơ Tố Hữu, từ quan niệm của ông về mối giao cảm giữa nhà thơ và người đọc

thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu, nó là tiếng nói của một người đến với những người

nào đó có sự cảm thông chung dựa trên cơ sở đồng ý đồng tình ”

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Đó cũng là lí do thơ ông có khuynh hướng

sử thi và cảm hứng lãng mạn rất đậm nét

Cảm hứng lớn nhất trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử - dân tộc Những sự kiện lịch sử, những vấn đề chính trị quan trọng có tác động lớn đến vận mệnh dân tộc,

qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật

thực sự (Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Bài ca mùa xuân 1961, Việt

Nam máu và hoa, )

Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà Thơ Tố Hữu nghiêng về tính truyền thống hơn là khuynh hướng hiện đại, đổi mới Tố Hữu

đặc biệt thành công trong các thể thơ dân tộc như lục bát, ngũ ngôn, thất

ngôn, (Lượm, Việt Bắc, Nước non ngàn dặm, ) Tố Hữu thường sử dụng những lối

nói, cách diễn đạt, những phương thức chuyển nghĩa quen thuộc của thơ ca dân gian

(Mình đi mình lại nhớ mình – Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu ) Thơ ông

thường xuất hiện những ngôn từ giản dị, những thi liệu truyền thống (Ai về mua vại

Hương Canh - Ai lên mình gửi cho anh với nàng ) Tố Hữu có biệt tài sử dụng từ láy,

phối hợp âm thanh, vần điệu, tạo ra nhạc tính thể hiện cảm xúc dân tộc, tâm hồn dân

tộc (Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa – Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát )

Về thể thơ, Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới, của thơ

ca thế giới cổ điển và hiện đại, nhưng ông đặc biệt thành công khi vận dụng những thể

thơ truyền thống của dân tộc Những bài thơ lục bát như Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm

Trang 37

ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du mang cả sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển, dào

dạt những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc Những bài thơ theo thể thất ngôn

như Quê mẹ, Mẹ Tơm, Bác ơi !,Theo chân Bác trang trọng nhưng không khuôn sáo,

trái lại, hơi thơ rất liền mạch, tự nhiên, diễn tả được hiện thực đa dạng và nhiều trạng

thái cảm xúc khác nhau

Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo những từ mới, cách diễn đạt mới

mà ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc Đặc biệt,

thơ Tố Hữu đã phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt, nhà thơ sử dụng

rất tài tình các từ láy Các thanh điệu, các vần thơ:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn

(Em ơi Ba Lan )

Thác, bao nhiêu thác, cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

(Nước non ngàn dặm)

Tố Hữu từng nhận xét: “Thơ là tấm gương của tâm hồn” Thực tế cho thấy thơ

Tố Hữu đã là tấm gương trong sáng phản chiếu tâm hồn một người chiến sĩ cách

mạng suốt đời phấn đấu hi sinh vì tương lai tươi đẹp của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc

của con người, đấy cũng là tấm gương phản chiếu tâm hồn dân tộc, đời sống dân tộc

trên con đường lớn của cách mạng Nói cách khác, thơ Tố Hữu là bằng chứng sinh

động về sự kết hợp hài hoà hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật,

sáng tác thi ca Qua phong cách thơ Tố Hữu, có thể thấy một thành tựu xuất sắc của

thơ ca cách mạng, một nền thơ luôn coi vận mệnh của dân tộc là lẽ sống lớn nhất Tố

Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu là thành tựu xuất sắc của thơ cách

mạng Việt Nam Thơ Tố Hữu vừa là tiếng lòng của một nhà thơ gắn bó sâu sắc và tự

nguyện hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho đất nước, nhân dân, vừa có thể coi là

biên niên sử bằng thơ của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta trong

kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

2.3 Định hướng dạy học bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT theo lí

thuyết trường nghĩa

Trang 38

2.3.1 Khả năng phân tích tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu dưới góc độ trường từ

vựng – ngữ nghĩa

a Tính hệ thống của từ ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống Đó là một luận đề mang tính chân lí hiển nhiên Có

tổ chức thành hệ thống thì ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng là công cụ tư duy,

là phương tiện giao tiếp, trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ nghệ thuật chỉ là một trong

những hình thức giao tiếp có phần độc đáo mà thôi

Trường nghĩa cũng là một khía cạnh biểu hiện tính hệ thống của ngôn ngữ Đó chính là hệ thống từ vựng dựa trên mối quan hệ đồng nhất về ý nghĩa Nhưng hệ thống

từ vựng này không chỉ bao hàm ý nghĩa chỉ hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ của cả

cộng đồng dân tộc mà còn chỉ đến hệ thống ngôn ngữ tồn tại trong mỗi cá nhân con

người và tạo nên vốn từ riêng của mỗi cá nhân ấy, đồng thời bao gồm cả hệ thống

ngôn ngữ trong hoạt động hành chức – tức là hệ thống từ vựng khi đã được hiện thực

hóa, cụ thể hóa các thuộc tính và đặc điểm thuộc các bình diện khác nhau (có thể có cả

những sự biến đổi và chuyển hóa đa dạng)

Mỗi một ngôn bản (văn bản) ra đời chính là một biểu hiện của ngôn ngữ đã được hiện thực hóa Một văn bản được tổ chức tốt là văn bản mà ở đó tất cả các yếu tố

ngôn ngữ được phối hợp chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất nhằm đạt được

hiệu quả giao tiếp cao nhất Xét ở cấp độ từ vựng, các từ trong văn bản không thể ở

tình trạng ô hợp, chắp và mà cũng phải được tổ chức thành hệ thống Có thể nói, tính

hệ thống của các từ trong một ngôn bản là một nguyên tắc để đạt hiệu quả giao tiếp

cao Một nghệ sĩ bậc thầy là người có khả năng huy động các từ vựng và tổ chức thành

một hệ thống sao cho có sự phối hợp sát sao giữa các từ với nhau và giữa các từ với

các yếu tố ngôn ngữ khác để tác phẩm trở thành một bức tranh toàn bích

Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam

Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Tính dân tộc thể hiện trong cả nội dung và hình thức

nghệ thuật Về nội dung, những vấn đề cốt lõi của cách mạng và đời sống được Tố

Hữu phản ánh và giải quyết theo truyền thống đạo lí của cha ông Về hình thức nghệ

thuật, đó là việc vận dụng các thể thơ truyền thống; vận dụng tục ngữ, ca dao, những

lối nói quen thuộc của nhân dân; tính dân tộc ở thơ Tố Hữu thể hiện trong cách cảm,

Trang 39

cách nghĩ, cách phô diễn mang phong vị dân tộc Đặc biệt, thơ lục bát của Tố Hữu

luôn ngân nga điệu tâm hồn của dân tộc, dễ lay động lòng người

Ở Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu thể hiện ở lối kết cấu đậm chất ca dao, ở giọng điệu lục bát điêu luyện, ngọt ngào Nhờ thế mà bài thơ chẳng

những nói lên được những vấn đề có ý nghĩa lớn lao của thời đại mà còn khơi được

đúng vào chỗ sâu thẳm nhất trong truyền thống ân nghĩa thủy chung ngàn đời của

nhân dân ta Tác giả cũng đã xây dựng được hệ thống ngôn từ để:

- Vừa làm sống dậy những kỉ niệm ân nghĩa, ân tình của đời sống cách mạng và kháng chiến

- Vừa là lời nhắc nhở về sự thủy chung của con người đối với con người và đối với quá khứ cách mạng nói chung

Để thấy rõ hơn tính hệ thống trong việc sử dụng từ ngữ ở tác phẩm “Việt Bắc”, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các đơn vị từ vựng vào các trường nghĩa theo cách

phân loại như sau:

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ sự vật (ứng với các danh từ)

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ hoạt động, trạng thái (ứng với các động từ)

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ tính chất (ứng với các tính từ)

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa hô gọi (ứng với các đại từ nhân xưng)

Trong từng trường lớn, các từ lại được phân chia thành các nhóm nhỏ hơn Kết quả phân loại này là cơ sở để phân tích tác phẩm từ góc độ trường nghĩa

Dưới đây là bảng kết quả khảo sát:

Đơn vị Phân loại Số lượng % Tần số %

Trang 40

- Các hiện tượng chuyển trường

Việc phân tích toàn bộ hệ thống từ vựng được Tố Hữu sử dụng trong tác phẩm

“Việt Bắc” sẽ giúp người đọc có cái nhìn vừa bao quát, vừa cụ thể hơn về việc sử

dụng từ ngữ để khắc họa các hình tượng trong tác phẩm của mình Kết hợp với yếu tố

vần nhịp và sự chuyển trường nghĩa, người đọc sẽ có sự hiểu biết sâu sắc hơn về nội

dung cũng như nghệ thuật của bài thơ

2.3.2 Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu

chim không mỏi, Theo Chân Bác, Ta đi tới, Việt Bắc…những tác phẩm ấy không phải

chỉ là cảm xúc riêng của nhà thơ mà còn là tấm lòng của những người con Việt

Nam hướng về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, mà qua những bài thơ đó, Tố Hữu đã

thể hiện tập trung những suy nghĩ, cảm xúc của mình về hình tượng Hồ Chí Minh

với tất cả lí tưởng, lẽ sống, niềm vui và những ân tình cách mạng Có lẽ chưa bao

giờ trong văn học Việt Nam hình ảnh vị lãnh tụ, vị cha già kính yêu của dân tộc

Ngày đăng: 06/07/2023, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ hai, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
2. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2001), Tài liệu học tập văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập văn kiện Đại hội X của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
3. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2007
5. Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2007
6. Đỗ Hữu Châu (1973), Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng, Ngôn ngữ, Số 2, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1973
7. Đỗ Hữu Châu (1974), Trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ trong tác phẩm nghệ thuật, Tạp chí ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ trong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1974
8. Đỗ Hữu Châu (1998), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG HN. 86 of 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w