1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam

92 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tái bảo hiểm và Áp dụng tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Minh Thu
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Mai Khanh
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tập trung vào: mức độ và trình độ triển khai nghiệp vụ TBH tại các công ty trong nước; những điều các nhà bảo hiểm và TBH Việt Nam đã làm được và cần phải làm tốt hơn trước nhữ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

-

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

TÁI BẢO HIỂM VÀ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Minh Thu

Lớp : A2

Khoá : K42 A - KT& KDQT

Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Mai Khanh

Hà Nội 11/2007

Trang 2

Danh mục từ viết tắt

XOL Excess of loss – hợp đồng bảo hiểm vượt mức bồi thường PVIC Petro Vietnam Insurance Company – Công ty bảo hiểm Dầu

khí Việt Nam

PJICO Petrolimex Joint Stock Insurance Company – Công ty cổ phần

bảo hiểm Petrolimex VINARE Vietnam National Reinsurance Company – Công ty tái bảo

hiểm Quốc gia Việt Nam WOE West Of England – Hội bảo hiểm tương hỗ của các chủ tàu

miền Tây nước Anh

Trang 3

Mục lục

Danh mục từ viết tắt 1

Mục lục 2

Lời mở đầu 5

Chương I Lý thuyết chung về TBH 7

I Các khái niệm chung về TBH 7

1 TBH và sự ra đời của TBH 7

1.1 Lịch sử ra đời 7

1.2 Sự cần thiết khách quan của TBH 9

1.3 Khái niệm, ưu nhược điểm 11

2 Tác dụng của TBH 13

2.1 Với công ty nhượng TBH (Cendant) 14

2.2 Với người được bảo hiểm (Insured) 14

2.3 Với công ty nhận TBH (Reinsurer) 15

3 Nguyên tắc pháp lý trong bảo hiểm 15

II Phân loại TBH 17

1 Phân loại theo hình thức TBH 18

1.1 TBH tạm thời (Facultative Reinsurance) 18

1.2 TBH cố định (Treaty) 20

1.3 TBH lựa chọn - bắt buộc (Facultative-Obligatory Reinsurance) 22

2 Phân loại theo phương thức TBH 23

2.2 TBH phi tỷ lệ 27

2.3 TBH kết hợp 31

III Các bước ký kết hợp đồng TBH 32

Chương II Thị trường TBH phi nhân thọ Việt Nam 35

I Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của thị trường TBH Việt Nam.35 1 Trước khi ban hành nghị định 100/CP về họat động kinh doanh bảo hiểm35 2 Sau khi ban hành nghị định 100/CP 36

3 Sau khi ban hành Luật bảo hiểm 2001 37

II Các chủ thể tham gia thị trường TBH phi nhân thọ Việt Nam 38

1 Công ty bảo hiểm gốc 39

Trang 4

1.3 Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex - PJICO 42

1.4 Công ty bảo hiểm Dầu khí - PVI 43

2 Công ty TBH 44

2.1 Tổng công ty Cổ phần TBH Quốc gia Việt Nam - VINARE 44

2.2 Công ty bảo hiểm và TBH nước ngoài 46

3 Môi giới TBH 47

III Tình hình phát triển của thị trường TBH phi nhân thọ trong những năm qua 48

1 Đặc điểm thị trường bảo hiểm gốc 48

1.1 Thị trường tăng trưởng nhanh 48

1.2 Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày một gay gắt 51

2 Thị trường TBH 53

2.1 Tổng quan toàn thị trường 53

2.2 Tổng quan theo nghiệp vụ 58

Chương III: Những cơ hội và thách thức với thị trường TBH trong thời kỳ hội nhập 70

I Cam kết của Việt Nam về mở cửa thi trường trong thời kỳ hội nhập 70

1 Cam kết khi gia nhập WTO 70

2 Cam kết tại hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ (Phụ lục G) 71

II Những cơ hội và thách thức mới với thị trường TBH trong thời kỳ hội nhập 73 1 Cơ hội 73

1.1 Qui mô thị trường tăng nhanh, đa dạng hóa sản phẩm 73

1.2 Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ BH và TBH theo chuẩn quốc tế 75

2 Thách thức 75

III Một số giải pháp để phát triển thị trường TBH Việt Nam 79

1 Từ phía cơ quan quản lý nhà nước 79

1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý cho doanh nghiệp bảo hiểm 79

1.2 Hỗ trợ gián tiếp cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ 80

1.3 Nâng cao ý thức của người dân về bảo hiểm 81

2 Từ phía các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm 82

2.1 Không ngừng cải tiến, thiết kế sản phẩm bảo hiểm mới 82

2.2 Chú trọng hơn nữa vào hoạt động đầu tư 83

Trang 5

2.3 ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình cấp đơn, quản lý, khai

thác, bồi thường 84

2.4 Có chính sách phát triển và xây dựng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình 85

3 Giải pháp cho công ty cổ phần TBH Quốc gia Việt Nam VINARE 87

Kết luận 89

Danh mục tài liệu tham khảo 90

Trang 6

Lời mở đầu

Bảo hiểm là một ngành kinh doanh có nguồn gốc từ rất xa xưa và cùng với nó TBH cũng đã ra đời đã từ rất lâu và là một bộ phận không thể thiếu trong ngành bảo hiểm TBH mang lại những lợi ích rõ ràng cho các nhà bảo hiểm, người được bảo hiểm và cả nền kinh tế trong môi trường kinh tế – xã hội toàn cầu không ngừng biến động và tiềm ẩn nhiều rủi ro cần được bảo hiểm Hiện nay, trên thế giới bất kỳ một công ty bảo hiểm nào cũng cần đến hoạt động TBH và số lượng các nhà TBH chuyên nghiệp cũng ngày một tăng với trình độ chuyên môn và khả năng tài chính ngày càng cao như Swiss Re, Munich Re, Alianz Re, Aon Re

Tại Việt Nam hoạt động bảo hiểm chính thức ra đời năm 1965 đánh dấu bằng việc thành lập của Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) Nhưng mãi đến năm 1994 Công ty TBH quốc gia mới ra mắt và cho đến nay vẫn là công ty TBH chuyên nghiệp duy nhất tại Việt Nam Có thể nói, bảo hiểm Việt Nam so với bảo hiểm thế giới còn rất non trẻ, và TBH Việt Nam mới chỉ có hơn chục năm phát triển tính đến thời điểm hiện nay

Tuy vậy, bối cảnh kinh tế xã hội của nước ta đang có nhiều thay đổi và ngành bảo hiểm cũng đang có những bước tiến ngoạn mục trong những năm qua mà điển hình là sự lớn mạnh của các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ với mức tăng trưởng hai con số trong 5 năm trở lại đây Việt Nam đang chứng tỏ là một thị trường bảo hiểm đầy tiềm năng và hấp dẫn không ít các nhà kinh doanh dịch vụ tài chính nước ngoài Cùng với nguyên nhân thị trường bảo hiểm thế giới đang có xu hướng bão hòa, các nhà bảo hiểm quốc tế đang chờ đón ngày thị trường bảo hiểm Việt Nam chính thức

mở cửa vào năm 2008 TBH vốn là một lĩnh vực kinh doanh mang tính quốc tế cao chắc chắn sẽ có nhiều biến động sau sự kiện này Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và TBH nói chung cần phải chuẩn bị những gì để có thể chủ động hội nhập và nắm bắt những cơ hội mới hay đơn giản là để đứng vững và giữ được thị phần ngay trong thị trường bảo hiểm nội địa Đó là một bài toán không hề đơn giản nhưng rất đáng được quan tâm Người viết vì vậy đã cố gắng nghiên cứu thêm về TBH và đã

mạnh dạn chọn đề tài “TBH và áp dụng tại thị trường Việt Nam” làm nội dung

cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 7

Những nghiên cứu của khóa luận xoay quanh việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng nghiệp vụ TBH tại thị trường Việt Nam về Khóa luận tập trung vào: mức độ và trình độ triển khai nghiệp vụ TBH tại các công ty trong nước; những điều các nhà bảo hiểm và TBH Việt Nam đã làm được và cần phải làm tốt hơn trước những chuyển biến nhanh chóng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong thời gian qua; tìm hiểu cơ hội, thách thức với các công ty bảo hiểm trong nước và cuối cùng là những đề xuất của người viết để góp phần tăng tính chủ động của các công ty bảo hiểm và TBH Việt Nam trong thời kỳ mới

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 3 chương như sau:

Chương I Lý thuyết chung về TBH

Chương II Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam

Chương III Những cơ hội và thách thức với thị trường TBH phi nhân thọ trong thời kỳ hội nhập

Cuối cùng, cho phép người viết được gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sỹ Phạm Thị Mai Khanh – giảng viên trường Đại học Ngoại Thương, người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình viết khóa luận và đã đưa ra những góp ý quý báu để bài khóa luận có thể tương đối hoàn chỉnh như hiện nay Tuy vậy, do bản thân người viết chỉ là một sinh viên không thuộc chuyên ngành bảo hiểm, thêm vào đó là trình độ nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận chắc hẳn không tránh khỏi nhiều sai sót Rất mong được các thầy cô chỉ bảo thêm

Hà nội, tháng 11 năm 2006

Nguyễn Minh Thu Lớp A2 K42A KTNT

Trang 8

CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TBH

I CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TBH

1 TBH và sự ra đời của TBH

1.1 Lịch sử ra đời

TBH ra đời muộn hơn so với bảo hiểm Những dấu hiệu cổ xưa nhất về bảo hiểm đã xuất hiện từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, nhưng TBH với vị trí là một ngành bổ trợ chỉ hình thành khi bảo hiểm đã phát triển đến một mức

độ nhất định Vào cuối thời trung cổ, hoạt động giao thương bằng thuyền vượt đại dương đã diễn ra khá sôi nổi tại Châu Âu Những chuyến đi biển dài ngày chứa đựng vô vàn rủi ro và vì vậy các ông chủ thuyền buôn đã có thói quen mua bảo hiểm cho tàu và hàng trước mỗi chuyến đi, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm vào thời này cũng đã xuất hiện và hoạt động kinh doanh của họ đều tập trung vào bảo hiểm hàng hải

Bản giao ước cổ nhất có tính chất pháp lý như một hợp đồng bảo hiểm được ký kết vào năm 1370 tại Genoa – Italy Khi đó, một nhà bảo hiểm có tên Guilano Grillo sau khi nhận bảo hiểm cho một con tàu chở hàng đi từ Genoa đến Sluys đã ký tiếp một hợp đồng TBH toàn bộ đoạn hành trình nguy hiểm nhất từ Cadiz qua vịnh Biscay dọc bờ biển nước Pháp cho hai nhà bảo hiểm khác là Gofferdo Benaina và Martino Sacco.1

Trong những năm sau đó, những thỏa thuận kiểu này xuất hiện ngày càng nhiều đặc biệt là trong đầu thế kỷ XVIII khi trung tâm thương mại chuyển dần từ Địa Trung Hải đến Bắc Âu, ngành hàng hải Anh lớn mạnh nhanh chóng, kéo theo nhu cầu về bảo hiểm và TBH hàng hải gia tăng TBH trong thời kỳ này đã bị các nhà bảo hiểm gốc lạm dụng đến mức chính phủ Hoàng Gia Anh phải ra lệnh cấm hoạt động TBH hàng hải từ năm 1746 đến

1

Edwin W Kopf – Note on the origin and development of reinsurance

Trang 9

năm 1864 Tuy nhiên các hoạt động TBH vẫn phát triển ở những mảng nghiệp

vụ khác như bảo hiểm cháy, bảo hiểm nhân thọ; TBH hàng hải cũng chuyển phạm vi sang các nước khác như Đức, Áo, Thụy Sỹ

Và cũng chính trong thời kỳ này, tại nước Đức, hợp đồng TBH cố định đầu tiên (treaty) được ra đời vào năm 1825 cho nghiệp vụ TBH cháy Trước

đó, các hợp đồng TBH tạm thời, và đồng bảo hiểm vẫn chiếm ưu thế Các nhà bảo hiểm gốc thường cũng chính là những nhà TBH, họ cung cấp dịch vụ TBH cho các nhà bảo hiểm trong và cả ngoài nước Đức Cho đến năm 1852, Công ty TBH đầu tiên là Cologne Reinsurance mới được thành lập bởi ông Mevissen Chỉ trong 3 năm đầu thành lập, công ty này đã nhanh chóng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra các nước Đức, Áo, Thụy Sỹ, Bỉ, Hà Lan Sự ra đời của Cologne đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc kinh

doanh tái bao hiểm Từ thời điểm này, TBH đã chính thức trở thành một ngành kinh doanh độc lập và có hệ thống Sau Cologne là sự ra đời của hàng

loạt các công ty TBH chuyên nghiệp khác:

 Công ty TBH Thụy Sĩ (Swiss Re) năm 1863

 Công ty TBH London (London Guarantee Reinsurance Co.,Ltd) năm 1869

 Công ty TBH Munich (Munchenes Ruck AG) năm 1880.2

Việc thành lập các công ty TBH chuyên nghiệp là một sự kiện có tính chất quan trọng trong việc phát triển của ngành bảo hiểm Bằng cách TBH, các công ty bảo hiểm đã có sẵn trong tay nguồn đảm bảo đắc lực cho hoạt động kinh doanh của họ Do đó, khả năng cạnh tranh của các công ty bảo hiểm gốc và khả năng phục vụ của các công ty TBH cũng được cải tiến bằng việc mở rộng TBH cho các loại hình bảo hiểm với các thị trường bảo hiểm nước ngoài Hai cuộc chiến tranh thế giới làm ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và TBH nói riêng, nhất là các công ty TBH ở Đức

2

PGS TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh

Trang 10

Đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II đã ảnh hưởng đến nền kinh tế các nước là rất lớn, làm cho hoạt động bảo hiểm và TBH bị ngưng trệ, thậm chí ở một số nước, nhà cầm quyền còn trưng dụng cả quỹ bảo hiểm để phục vụ chiến tranh Vì vậy mà hoạt động TBH gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm và TBH ở Thụy Sĩ vẫn rất phát triển

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện Thế giới đã thay đổi, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ra đời và phát triển, phong trào giải phóng dân tộc

ở các nước thuộc địa giành nhiều thắng lợi, kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa

bị khủng hoảng đã ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động TBH Cụ thể là thời kỳ này hoạt động TBH trên thế giới có 3 đặc điểm sau:

 Sự phục hồi các công ty TBH của cộng hoà liên bang Đức

 Thành lập các công ty TBH của các nước xã hội chủ nghĩa với đặc điểm thực hiện độc quyền về TBH và hạn chế các mối quan hệ với các nước tư bản

 Các nước chậm phát triển mới giành độc lập cũng thực hiện độc quyền TBH như Achentina, Brazil, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và một số nước ở Châu Phi, Đông Nam Á làm thu hẹp thị trường TBH quốc tế

Ngày nay, đã phát triển rất mạnh mẽ, rộng khắp và trở thành một hệ thống mang tính quốc tế cao cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Chắc chắn rằng với những đặc điểm riêng có của mình, hoạt động TBH trên phạm vi toàn cầu nói chung sẽ ngày càng phát triển hơn nữa cũng như ngày càng biến chuyển phù hợp hơn với yêu cầu đặt ra của một nền kinh tế toàn cầu hội nhập, cởi mở nhưng cũng hết sức khó tính

1.2 Sự cần thiết khách quan của TBH

Trước tiên người viết xin khẳng định lại vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế hiện nay Ngay từ khi con người biết sản xuất và có của cải thặng dư,

Trang 11

người ta đã có nhu cầu đảm bảo tài sản của họ khỏi những rủi ro không lường trước được và điều đó chính là tiền đề cho sự xuất hiện của ngành bảo hiểm trong hơn một thiên niên kỷ trước Ngày nay, khi lượng của cải xã hội ngày càng nhiều, và sản xuất không ngừng mở rộng, nhu cầu này trở nên phổ biến hơn bao giờ hết Thêm vào đó, tình hình kinh tế xã hội toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang tiềm ẩn những bất ổn từ nhiều phía: bất ổn chính trị, khủng bố, thiên tai Trong thời đại toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, một tổn thất dù xảy ra tại bất kỳ điểm nào trên thế giới ngày càng phẳng này cũng

có thể làm ngưng trệ cả chuỗi giá trị toàn cầu Điều đó lý giải tại sao quỹ bảo hiểm tại các nước phát triển nhất thế giới hiện nay lên đến 10% GDP

Bảo hiểm và TBH có mối liên hệ rất chặt chẽ Bảo hiểm là tiền đề của TBH, và ngược lại TBH giúp bảo hiểm mở rộng phạm vi của mình Trong quá trình kinh doanh các công ty bảo hiểm thường xuyên bị đe dọa phá sản bởi nhiều nguyên nhân như:

 Do đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị quá lớn mà khả năng tài chính của công ty bảo hiểm lại có hạn Điều này đặc biệt phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển, nơi có hệ thống tài chính còn yếu kém

 Do nhiều tổn thất lớn xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn vì tác động của thiên tai, lụt lội, đặc biệt là trong bối cảnh khí hậu toàn biến chuyển ngày càng xấu, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường

 Do phương pháp và kỹ thuật xác định phí bảo hiểm không chính xác, thu không đủ bù chi dẫn đến phá sản

 Do đối tượng tham gia bảo hiểm hoạt động ở địa bàn quá xa, công ty không đủ khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro

Để đối phó với nguy cơ phá sản mà vẫn tiếp tục nhận được các đơn bảo hiểm với giá trị lớn, các công ty bảo hiểm đã phải tìm cách chia sẻ rủi ro với nhau Có hai phương pháp được các nhà bảo hiểm áp dụng là đồng bảo hiểm

và TBH

Trang 12

Đồng bảo hiểm là việc nhiều công ty bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một đối tượng tham gia, như vậy mỗi công ty chỉ phải chịu một phần rủi ro nếu đối tượng tham gia bảo hiểm gặp tổn thất Tuy nhiên hình thức này có hai nhược điểm lớn là:

 Việc kí hợp đồng thường kéo dài do đặc thù của loại hợp đồng này là hợp đồng đa bên nên đòi hỏi đàm phán nhiều, gây khó khăn và tốn kém, làm mất cơ hội kinh doanh của người tham gia

 Nếu tổn thất xảy ra, việc bồi thường rất khó tập trung dẫn đến tình trạng đối tượng tham gia bảo hiểm nghi ngờ khả năng tài chính của công ty bảo hiểm

TBH đã khắc phục được hai nhược điểm trên của đồng bảo hiểm Trong hình thức này công ty bảo hiểm ban đầu là công ty gốc (hay công ty nhượng TBH) đóng vai trò người tham gia bảo hiểm trong hợp đồng TBH, các công ty còn lại là các công ty TBH (hay công ty nhận TBH) Nhờ có hình thức TBH này mà các công ty bảo hiểm sẽ được đảm bảo an toàn tài chính và

có thể bảo hiểm cho các rủi ro có giá trị lớn thông qua việc chuyển bớt trách nhiệm bảo hiểm và rủi ro sang công ty TBH Ngoài ra các công ty bảo hiểm tiến hành TBH để nhận được sự trợ giúp của công ty bảo hiểm về mặt kỹ thuật tính phí, đánh giá rủi ro, giải quyết bồi thường và hỗ trợ nhân viên của mình…

Như vậy, sự ra đời của TBH là một tất yếu khách quan nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của thị trường bảo hiểm, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế toàn cầu giữ được ổn định và phát triển

1.3 Khái niệm, ưu nhược điểm

1.3.1 Khái niệm

TBH là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho người bảo hiểm

Trang 13

khác, trên cơ sở nhượng lại cho người bảo hiểm đó một phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng TBH 3

Thực tế TBH được hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc nên nó luôn gắn liền với nghiệp vụ bảo hiểm gốc

Như vậy, nếu như bảo hiểm là hình thức dàn trải tổn thất của một ít người cho nhiều người cùng chịu thì TBH là hình thức dàn trải một lần nữa

những tổn thất mà các công ty bảo hiểm phải gánh chịu Nói cách khác, TBH

là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm

TBH được chia thành hai phần tùy theo góc độ nghiên cứu là: TBH đi

và TBH nhận

TBH đi (Outward Reinsurance): hay còn gọi là nhượng TBH tức là một công ty bảo hiểm gốc (là công ty khai thác dịch vụ bảo hiểm trực tiếp từ khách hàng) phân tán rủi ro cho các công ty TBH Trong trường hợp này công ty bảo hiểm gốc phải chuyển bớt một phần phí cho các công ty TBH và nhận được từ họ yếu tố đảm bảo và ổn định kinh doanh của mình

Quá trình ngược lại được gọi là TBH nhận (Inward Reinsurance) hay còn gọi là nhận TBH

1.3.2 Quan hệ giữa các bên tham gia

Trong một nghiệp vụ TBH cơ bản có những bên tham gia chính sau:

 Người được bảo hiểm: là người ký kết hợp đồng bảo hiểm thông

thường với công ty bảo hiểm gốc để bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm khỏi những rủi ro được xác định trong hợp đồng bảo hiểm

 Công ty bảo hiểm gốc: là công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho

người được bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và nhận trách nhiệm bồi

3

PGS TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh

Trang 14

thường cho người được bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra với đối tượng bảo hiểm như trong hợp đồng

 Công ty TBH: là công ty ký hợp đồng TBH với công ty bảo hiểm gốc,

nhận một phần phí bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc nhượng sang và đảm bảo chi trả một phần trách nhiệm tương ứng với phần phí nhượng sang đó Ngoài ra công ty TBH còn trả hoa hồng khai thác cho công ty bảo hiểm gốc Trong một thương vụ bảo hiểm có thể có hơn một nhà TBH tham gia

 Ngoài ra còn có thể kể đến sự góp mặt của các công ty môi giới bảo hiểm, các công ty đồng bảo hiểm và công ty TBH của các công ty TBH nói trên (nếu nhà TBH tiếp tục nhượng tái một phần rủi ro cho một nhà tái khác)

Như vậy có hai hợp đồng bảo hiểm tồn tại song song trong một thương

vụ liên quan đến tái bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm gốc ký giữa người tham gia bảo hiểm và nhà bảo hiểm gốc; và hợp đồng TBH ký giữa nhà bảo hiểm gốc và nhà TBH Đây là hai hợp đồng có nghĩa vụ và trách nhiệm riêng biệt, song hợp đồng TBH chỉ có thể tồn tại dựa trên một hợp đồng bảo hiểm gốc Nói cách khác, hợp đồng bảo hiểm gốc là tiền đề cho hợp đồng TBH

1.3.3 Ƣu, nhƣợc điểm của TBH

Ưu điểm: tạo tâm lý an toàn cho các công ty bảo hiểm, cân bằng các

dịch vụ bảo hiểm, bảo vệ các dịch vụ đó khỏi ảnh hưởng của các sự cố lớn có tính thảm họa, đảm bảo về mặt tài chính cho các công ty bảo hiểm

Nhược điểm: TBH có liên quan đến việc chuyển một phần, thậm chí là

một phần lớn phí bảo hiểm cho các công ty TBH Do đó, TBH có thể làm tăng hoặc giảm một cách đáng kể chỉ tiêu tài chính của một công ty bảo hiểm

Trang 15

Tại các phần trước của chương này, người viết đã hơn một lần khẳng định vai trò quan trọng của TBH trong ngành bảo hiểm nói chung và trong nền kinh tế nói riêng Dưới đây, người viết xin trình bày rõ hơn về tác dụng của TBH cho từng đối tượng cụ thể

2.1 Với công ty nhượng TBH (Cendant)

Tác dụng đầu tiên là TBH giúp cho công ty nhượng TBH tăng khả năng nhận bảo hiểm và có thể nhận bảo hiểm những rủi ro lớn mà không cần tăng thêm vốn Công ty nhượng TBH có thể kinh doanh dựa vào vốn của công ty nhận TBH Nếu không có TBH thì công ty nhượng chỉ có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro tương đương với số vốn của mình

Thứ hai, TBH giúp công ty nhượng có thể phân tán rủi ro một cách

rộng rãi, đặc biệt là các thảm họa tự nhiên có thể đe doạ cho nền kinh tế quốc dân như động đất, bão lụt …

Thứ ba, là TBH giúp đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường

trong trường hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm họa Nhờ đó tình hình tài chính cả công ty nhượng TBH được đảm bảo tính

ổn định hơn

Thứ tư, TBH có thể giúp người bảo hiểm sửa chữa tính bất thường, đột

biến của rủi ro Người bảo hiểm cũng có thể nhận được sự tư vấn nghiệp vụ từ những nhà nhận TBH

Cuối cùng, sau khi chuyển phần phí TBH cho công ty nhận TBH, công

ty bảo hiểm gốc còn nhận được một khoản tiền hoa hồng cho các dịch vụ mà mình khai thác được Nhiều khi đây là yếu tố quan trọng để các công ty bảo hiểm gốc quyết định sẽ ký hợp đồng TBH với công ty TBH nào

2.2 Với người được bảo hiểm (Insured)

Trang 16

Người được bảo hiểm sẽ được đảm bảo rằng số tiền tổn thất sẽ được thanh toán khi số tiền bảo hiểm và số tiền tổn thất là quá lớn

Nghiệp vụ TBH sẽ hạn chế xu hướng gia tăng phí bảo hiểm vì nếu không có TBH thì công ty bảo hiểm gốc sẽ phải thu một khoản phí bảo hiểm rất lớn để đề phòng bị phá sản khi có thảm hoạ xảy ra

2.3 Với công ty nhận TBH (Reinsurer)

Đối với công ty nhận TBH chuyên nghiệp: Một công ty nhận TBH

chuyên nghiệp thường có một nhóm các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực bảo hiểm và TBH khác nhau Đối với các công ty này, việc nhận TBH là vấn đề sống còn của họ và đó cũng là công việc chính để họ sử dụng nguồn vốn và

kỹ thuật chuyên môn nhằm mục đích thu lợi nhuận

Nhận TBH cũng là nghiệp vụ không thể thiếu đối với bất kỳ một công

ty bảo hiểm nào vì:

- Nhận TBH giúp cho công ty bảo hiểm có thể tăng thêm thu nhập

- Giảm tỷ trọng chi phí quản lý

- Có thể dùng phí TBH thu được để đầu tư thu lợi nhuận

- Việc nhận TBH xét trên phương diện quốc tế có thể coi là chiếc cửa

sổ mà thông qua đó công ty nhận TBH biết được sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường TBH Thế giới

2.4 Với nền kinh tế quốc dân

Hoạt động TBH diễn ra giữa nhiều tổ chức TBH của nhiều nước Như vậy, một thiệt hại có tính thảm họa ở một nước thông qua TBH sẽ được bù đắp từ những khoản tiền bồi thường mang tính quốc tế Tổn thất được phân

tán trên một phạm vi rộng, việc gánh chịu trở nên dễ dàng hơn

3 Nguyên tắc pháp lý trong bảo hiểm

Trang 17

Hợp đồng TBH chỉ có thể được thiết lập và tồn tại khi có một hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực Hay nói cách khác là không thể có hợp đồng TBH nếu không có hợp đồng bảo hiểm gốc Có một định nghĩa rất cổ điển về TBH

do luật gia nổi tiếng Lord Man – Field’s đưa ra vào năm 1807: “TBH là một

sự đảm bảo mới, bị chi phối bởi một đơn bảo hiểm mới, cho cùng một rủi ro

đã được bảo hiểm trước, nhằm bồi thường cho người được bảo hiểm theo mức thoả thuận và cả hai đơn bảo hiểm phải tồn tại đồng thời” 4 Định nghĩa này đã chỉ rõ rằng:

- Hợp đồng TBH cũng mang tính chất như một hợp đồng bảo hiểm

- Người được bảo hiểm gốc là người thứ ba trong hợp đồng TBH

- Hợp đồng bảo hiểm gốc và hợp đồng TBH phải tồn tại song song Như vậy có nghĩa là nếu công ty nhận TBH bị phá sản thì công ty nhượng TBH vẫn có trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trên đơn bảo hiểm Nhưng nếu công ty nhượng TBH bị phá sản thì người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm gốc không có quyền khiếu nại đối với công ty nhận TBH Tuy nhiên, hệ thống luật Anh – Mỹ vẫn cho phép người được bảo hiểm gốc có quyền được hưởng bồi thường trực tiếp từ người nhận TBH trong một số trường hợp đặc biệt nhưng phải có điều khoản “ Cut – through clause” trong hợp đồng TBH Điều khoản này cho phép người được bảo hiểm gốc có thể trực tiếp yêu cầu công ty nhận TBH thanh toán một phần tổn thất trong trường hợp công ty bảo hiểm không có khả năng thanh toán hoặc bị phá sản

Mọi nguyên tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm cũng đều được

áp dụng tương tự cho hợp đồng TBH giữa công ty nhượng và nhận TBH

Nguyên tắc tín nhiệm tuyệt đối (The Utmost Good Faith) là nét đặt

trưng trong TBH Trong hợp đồng TBH, nguyên tắc này phải đặc biệt được

4

PGS TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh

Trang 18

tụn trọng Cụ thể là cụng ty nhượng TBH phải cung cấp đầy đủ mọi thụng tin liờn quan tới đối tượng bảo hiểm cho cụng ty nhận TBH biết, nếu cú rủi ro xảy ra thỡ phải thụng bỏo và tớnh toỏn tổn thất một cỏch trung thực Ngược lại, cụng ty nhận TBH cũng phải trung thực trong việc đưa ra những thống kờ tổn thất trờn thị trường thế giới để tớnh đỳng phớ bảo hiểm

Nguyờn tắc bồi thường (Principle of Indemnity) cho phộp cụng ty

nhượng TBH được toàn quyền hành động trong việc giải quyết khiếu nại, trừ khi cú quy định khỏc trong hợp đồng TBH Kết quả của việc giải quyết khiếu nại sẽ được cụng ty nhận TBH chấp thuận Tuy nhiờn, theo nguyờn tắc này, khi cụng ty nhượng TBH muốn đũi bồi thường từ cụng ty nhận TBH thỡ phải chứng minh được tổn thất rơi vào phạn vi họp đồng TBH Cỏch thức tớnh toỏn

và thanh toỏn bồi thường tuỳ thuộc vào từng phương thức TBH và điều khoản thanh toỏn được quy định cụ thể trong hợp đồng

II PHÂN LOẠI TBH

TBH v-ợt mức bồi th-ờng (Excesss of loss)

TBH v-ợt tỷ lệ bồi th-ờng (stop loss) TBH cố định TBH tạm thời

Trang 19

1 Phân loại theo hình thức TBH

Có 2 hình thức TBH chính là TBH tạm thời và TBH cố định Xét về xuất xứ thì TBH tạm thời ra đời trước, tuy nhiên hình thức này dần bộc lộ nhiều nhược điểm khiến nó được sử dụng ít đi và thay vào đó là hình thức TBH cố định Ngoài ra còn có một hình thức TBH nữa là sự kết hợp giữa 2 hình thức trên gọi là TBH lựa chọn-bắt buộc

1.1 TBH tạm thời (Facultative Reinsurance)

1.1.1 Khái niệm

TBH tạm thời hay còn gọi là TBH tuỳ ý lựa chọn, là hình thức TBH cơ bản và cổ điển nhất Theo hình thức này, công ty bảo hiểm gốc chuyển nhượng cho công ty TBH từng dịch vụ hay từng đơn bảo hiểm một cách riêng

lẻ Về phần mình, công ty TBH có quyền nhận hay từ chối dịch vụ và đơn bảo hiểm đó Công ty bảo hiểm gốc có toàn quyền quyết định TBH cho dịch vụ nào, với tỷ lệ bao nhiêu, cho công ty TBH nào là tuỳ họ Mặt khác công ty TBH có quyền nhận hay từ chối hoặc chỉ nhận TBH với một tỷ lệ mà họ cho

là thích hợp

Công ty bảo hiểm gốc có nghĩa vụ phải cung cấp cho công ty TBH mọi thông tin có liên quan đến dịch vụ được bảo hiểm Trên thực tế nhà TBH cũng tiến hành đánh giá mức độ rủi ro của dịch vụ rồi quyết định có nhận TBH hay không mà không cần đầy đủ các chi tiết

1.1.2 Ưu nhược điểm

* Ưu điểm:

 Cho phép các công ty bảo hiểm nhỏ, với kinh nghiệm tương đối hạn chế có thể cạnh tranh để nhận những dịch vụ lớn nằm ngoài khả năng

Trang 20

của mình, bởi vì họ có thể sử dụng được chuyên môn nghiệp vụ và khả năng vốn của các thị trường TBH quốc tế

 Cho phép công ty bảo hiểm gốc nhận những dịch vụ nằm ngoại phạm

vi khai thác thông thường của mình Những dịch vụ như vậy chủ yếu là theo yêu cầu đặc biệt của khách hàng mà công ty bảo hiểm gốc phải chấp nhận để giữ uy tín cho mình

 Một nhóm các công ty bảo hiểm gốc có quan hệ thân thiết có khả năng trao đổi các rủi ro được đánh giá là tốt trên cơ sở tạm thời để tiến hành phân tán rủi ro và đảm bảo doanh thu ổn định

* Nhược điểm

 Đòi hỏi nhiều thời gian vì mỗi dịch vụ phải được giải quyết riêng lẻ Công ty bảo hiểm gốc phải thu xếp TBH tạm thời trước khi nhận một dịch vụ, do đó việc quyết định nhận bảo hiểm sẽ bị chậm lại cho đến khi thu xếp xong toàn bộ TBH tạm thời Như vậy, công ty bảo hiểm gốc có khả năng phải nhường dịch vụ cho những đối thủ cạnh tranh lớn mạnh hơn, hoặc nhận bảo hiểm mà không được bảo vệ đầy đủ bằng TBH và đôi khi làm mất thiện chí với khách hàng do chậm trễ

 Những công việc liên quan đến đàm phán, soạn thảo hợp đồng và thanh toán rất tốn kém và do đó giảm lợi nhuận thu được

 Trước mỗi thời kỳ TBH tiếp tục, công ty bảo hiểm gốc lại phải lặp lại toàn bộ quy trình đàm phán trước khi trao đổi với khách hàng của mình Chưa kể việc hủy bỏ hay thay đổi có thể gây ra thêm nhiều công việc khác không cần thiết

 Sự cần thiết phải tiết lộ những thông tin về dịch vụ nhận bảo hiểm có thể dẫn đến việc rò rỉ tin tức cho các đối thủ cạnh tranh

1.1.3 Trường hợp áp dụng hình thức TBH tạm thời

Trang 21

Mặc dù TBH tạm thời xuất hiện cùng với sự ra đời của bảo hiểm và có những nhược điểm như trên, song ngày nay nó vẫn được sử dụng trong một số trường hợp

 Nhà bảo hiểm gốc không hiểu biết đầy đủ về một loại rủi ro nào đó và yêu cầu công ty TBH giúp đỡ Khi ấy nhà TBH sẽ là người xác định mức phí, các điều khoản và điều kiện bảo hiểm cũng như những hạn chế cần thiết cho dịch vụ của nhà bảo hiểm gốc

 Những thỏa thuận TBH tự động hiện có của công ty bảo hiểm gốc không bao gồm một số rủi ro hay một phần những rủi ro nào đó Nếu nhà bảo hiểm gốc vẫn quyết định nhận bảo hiểm cho rủi ro đó thì phải tiến hành thu xếp TBH tạm thời

 Rủi ro nhận bảo hiểm có thể có giá trị vượt quá phạm vi những thỏa thuận TBH tự động Do đó phải thu xếp TBH tạm thời cho phần giá trị vượt quá này

 Công ty bảo hiểm gốc cũng có thể muốn tránh không đưa những dịch

vụ có nguy cơ tổn thất cao vào những thỏa thuận TBH tự động hiện có của mình Do đó, họ phải tiến hành thu xếp TBH tạm thời trước để giảm bớt khả năng tổn thất trước khi đưa vào hợp đồng TBH tự động

1.2 TBH cố định (Treaty)

1.2.1 Khái niệm

TBH cố định hay còn gọi là TBH bắt buộc, là hình thức TBH mà theo

đó công ty nhượng phải nhượng cho nhà TBH tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã thoả thuận và quy định trong hợp đồng Ngược lại,

nhà TBH cũng buộc phải chấp nhận bảo hiểm toàn bộ các rủi ro đó

1.2.2 Ưu, nhược điểm

* Ưu điểm:

Trang 22

 Giúp công ty nhượng chủ động chấp nhận, định phí bảo hiểm cho rủi ro bảo hiểm gốc mà không phải mất thời gian tham khảo ý kiến của của nhà TBH, do đó hợp đồng bảo hiểm sẽ nhanh chóng được

ký kết

 Công ty nhượng được nhà TBH bảo vệ cho mọi rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng, do đó khả năng an toàn của công ty bảo hiểm được đảm bảo

 Việc nhận TBH theo hợp đồng cố định cho phép công ty TBH nhận được nhiều dịch vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời đơn lẻ Nhà TBH có điều kiện thu được phí lớn, phù hợp với nguyên tắc "quy luật số đông" giúp nhà TBH có điều kiện đẩy mạnh tiến bộ

kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận rủi ro mới

* Nhược điểm:

 Thông thường TBH cố định có tính ổn định cho một giai đoạn nhất định, do đó thiếu tính linh hoạt trước những thay đổi của công ty chuyển nhượng

 Vì mọi rủi ro phải đem tái đi cho nên đứng về phía công ty nhượng những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm nhỏ vẫn phải đem tái đi trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có khả năng đảm đương được

 Nếu công ty nhượng thiếu kinh nghiệm, đặc biệt sơ suất việc ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc thì hậu quả đối với các nhà TBH rất khó lường trước được

1.2.3 Trường hợp áp dụng

Mang tính chất toàn diện nên hình thức này có thể áp dụng với tất cả các loại nghiệp vụ TBH cố định đã khắc phục được hầu hết các nhược điểm của TBH tạm thời (phức tạp, và tốn kém) nên ngày nay TBH cố định ngày càng được dùng phổ biến thay thế TBH tạm thời Hầu hết các công ty bảo

Trang 23

hiểm hoạt động trên thị trường hiện nay đều có những hợp đồng TBH cố định

ký với một nhà TBH khác Thực tế, chỉ khi nào trách nhiệm bảo hiểm vượt quá giới hạn của hợp đồng cố định thì công ty bảo hiểm gốc mới thu xếp phần vượt quá đó vào hợp đồng tạm thời

1.3 TBH lựa chọn - bắt buộc (Facultative-Obligatory Reinsurance)

1.3.1 Khái niệm

TBH hiểm lựa chọn - bắt buộc là một hình thức bảo hiểm mà công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bảo hiểm, nhưng ngược lại nhà TBH bắt buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đã đưa vào thoả thuận này với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã qui ước của hợp đồng TBH thoả thuận Các bên tham gia hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc cần phải có

sự trung thực tuyệt đối để đảm bảo lợi ích cho các nhà nhận TBH

1.3.2 Ưu, nhược điểm

* Ưu điểm:

 Công ty nhượng TBH không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch

vụ mà mình nhận bảo hiểm Họ có lựa chọn dịch vụ để chào TBH từng phần trách nhiệm vượt quá khả năng giữ lại của mình cho một hoặc một số nhà TBH mà họ lựa chọn, thay vì đem phân chia toàn bộ các phần vượt quá khả năng ấy cho các nhà TBH Tuy nhiên, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức TBH này để lựa chọn những rủi

ro xảy ra tổn thất đưa vào hợp đồng và giữ lại những rủi ro có độ an toàn cao hơn Để phòng ngừa trường hợp này xảy ra, nhà TBH phải nắm được ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà công ty nhượng đem TBH và thường xuyên canh chừng diễn biến của thoả ước

mà mình đã ký kết

Trang 24

 Người nhận TBH có điều kiện thu được một nguồn phí TBH lớn hơn và

có phần thăng bằng hơn so với các hình thức TBH tạm thời

 Công ty nhượng TBH có điều kiện đem chào TBH bảo hiểm từng phần trách nhiệm thặng dư so với khả năng tự giữ lại của mình cho một nhà TBH duy nhất hay cho một số nhà TBH mà họ lựa chọn thay cho việc phải đem phân chia tất cả phần thặng dư so với khả năng tự giữ lại của mình cho các nhà TBH Tuy nhiên, cách TBH như thế này thường chỉ

có thể thực hiện được bằng cách chào cho các nhà TBH có tiềm lực thật lớn vì chỉ có họ mới có thể nhận các giá trị bảo hiểm cao

* Nhược điểm:

 Nhà TBH không có quyền từ chối nhưng rủi ro mà người TBH chuyển cho họ Tuy nhiên, những rủi ro đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ước trong hợp đồng TBH cố định

 Hình thức này không thuận lợi lắm cho các nhà TBH, bởi vì nguồn dịch

vụ đưa vào hợp đồng này không thường xuyên và tổn thất gây ra rất thất thường Các bên tham gia hợp đồng cần phải có sự trung thực tuyệt đối để đảm bảo cho các nhà TBH nhận được các dịch vụ hợp lý

 Trường hợp công ty nhượng có nhiều đơn vị rủi ro cần đem TBH thì chi phí hành chính cho việc áp dụng hình thức này rất tốn kém

1.3.3 Trường hợp áp dụng

Hình thức này thường được áp dụng khi khả năng nhận TBH trong các hợp đồng số thành và mức dôi (xem phương thức TBH) đã không thể đáp ứng được Nó cũng được áp dụng trong trường hợp rủi ro giá trị lớn hoặc các dịch

vụ mà hợp đồng TBH số thành và mức dôi không cho phép đưa vào 100% giới hạn trách nhiệm của hợp đồng

2 Phân loại theo phương thức TBH

Trang 25

 TBH theo tỷ lệ (TBH theo số tiền bảo hiểm)

 TBH phi tỷ lệ (TBH theo mức bồi thường)

2.1 TBH theo tỷ lệ

TBH theo tỷ lệ hay còn gọi là TBH theo số tiền bảo hiểm, là phương thức TBH mà trong đó trách nhiệm của công ty nhượng tái bảo hiểm và nhà TBH đối với đơn vị rủi ro được bảo hiểm phân bố theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền được bảo hiểm Phương thức này được chia làm hai loại:

Ví dụ:

Công ty bảo hiểm A thu xếp một hợp đồng TBH số thành cho các đơn bảo hiểm xe cơ giới với công ty TBH B trong năm 2006 Trong năm đó, phí bảo hiểm mà công ty A thu được là 10 triệu USD và tổn thất phải trả cho người được bảo hiểm là 6 triệu USD Phí nhượng tái và mức đòi bồi thường nhà TBH trong trường hợp này được tính như sau:

đơn vị: triệu USD

Trang 26

1 Phí bảo hiểm gốc 10

2 Phí nhượng tái (25%) 2.5

3 Bồi thường bảo hiểm gốc 6

4 Đòi bồi thường từ TBH (25%) 1.5

Như vậy trong thương vụ này, công ty bảo hiểm A giữ lại được 7.5 triệu USD tiền phí bảo hiểm gốc và phải trả bồi thường là 4.5 triệu USD

* Đối với công ty nhượng TB

Ưu điểm: Công việc tính toán đơn giản, chi phí quản lý thấp, hoa hồng

cao hơn so với tất cả các loại hợp đồng TBH khác do tính chất rủi ro được dàn trải nhiều hơn, hợp đồng thường có lợi nhuận cao hơn nên vì vậy người nhận

TBH trả cho công ty nhượng TBH mức hoa hồng cao hơn

Nhược điểm: Công ty nhượng TBH không có lựa chọn trong việc giữ

lại nên phải TBH cả những rủi ro nhỏ có thể giữ lại, làm giảm đáng kể doanh thu của công ty nhượng tái Bên cạnh đó, hợp đồng TBH số thành không hạn chế được trách nhiệm tuyệt đối với công ty bảo hiểm gốc, vì thế nếu có tổn thất lớn xảy ra trong năm thì công ty bảo hiểm gốc sử dụng loại hình TBH

này vẫn không thể giảm thiểu đáng kể rủi ro về phía mình

* Đối với công ty nhận TBH

Ưu điểm: Khả năng nhận TBH và tỷ lệ chia lãi của người nhận TBH

luôn lớn hơn so với các loại hợp đồng khác

Nhược điểm: Công ty nhận TBH phải trả một mức hoa hồng cao hơn

các hợp đồng TBH khác

2.1.2 TBH mức dôi - Surplus

Đặc trưng của của TBH mức dôi là công ty nhượng ấn định mức giữ lại (mức trách nhiệm giữ lại) tuyệt đối, số dôi ra tái đi Phần tái đi được thu xếp

Trang 27

bằng một số lần của mức giữ lại Do đó phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm bồi thường vẫn được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng giữa công ty nhượng tái và nhà TBH (vì vậy vẫn là phương thức TBH theo tỷ lệ) Nhà nhượng tái được quyền chọn mức giữ lại tùy theo loại rủi ro

Ví dụ:

Một công ty bảo hiểm A ký kết hợp đồng TBH mức dôi với công ty bảo hiểm B nghiệp vụ bảo hiểm cháy: mức giữ lại của A là 10 triệu USD và hợp đồng TBH 5 lines (10 lần) Trong năm kinh doanh, công ty A đã cấp các đơn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm lần lượt là: 9 triệu USD, 15 triệu USD, 45 triệu USD và 75 triệu USD Mức phí bảo hiểm tái đi và tỷ lệ tái được tính như sau:

đơn vị: triệu USD

Số tiền hiểm gốc

Số tiền bảo hiểm giữ lại

Số tiền bảo hiểm tái đi

Tỷ lệ tái

Số lần (lines)

Nhìn vào ví dụ trên có thể thấy tuy cũng là TBH theo tỷ lệ nhưng tỷ lệ TBH trong hợp đồng mức dôi đã linh hoạt hơn nhiều Với những đơn bảo hiểm nhỏ, công ty nhượng tái có thể giữ lại toàn bộ cho mình còn với những đơn lớn hơn, công ty bảo hiểm gốc vẫn có thể ổn định được mức giữ lại phù hợp với khả năng tài chính của công ty Tuy vậy, để có thể tính toán hợp lý mức giữ lại cho mỗi loại rủi ro, công ty bảo hiểm gốc cần phải có kinh nghiệm và trình độ cũng như có một nền số liệu phân tích đáng tin cậy Điều

Trang 28

này không hề đơn giản với những nước chưa có điều kiện áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý và thống kê bảo hiểm

Về phía nhà TBH, việc đảm bảo cân đối khi nhận TBH trở nên khó khăn hơn Trong nhiều trường hợp, tỷ lệ trách nhiệm và số phí thu được là rất lớn Vì thế các nhà TBH thường giới hạn số lines (chính là bội số tối đa của mức giữ lại) trong các hợp đồng bảo hiểm mức dôi (xem trường hợp cuối cùng trong ví dụ trên) Bên cạnh đó, nhà TBH cũng phải lợi dụng quy luật số nhiều, nhận nhiều hợp đồng bảo hiểm để cân bằng tài chính cho mình

2.2 TBH phi tỷ lệ

TBH phi tỷ lệ hay còn gọi là TBH theo mức bồi thường bảo hiểm, là một phương thức TBH mà trong đó công ty nhượng TBH ấn định giới hạn bồi thường bằng một số tiền mà họ có thể tự gánh chịu cho tổn thất, là hậu quả của từng sự cố đối với một hoặc nhiều loại bảo hiểm mà mình đảm trách, còn phần tổn thất vượt quá mức giới hạn đó được chuyển cho nhà TBH gánh chịu Các phương thức TBH theo tỷ lệ liên quan đến các mức tỷ lệ của giá trị đối tượng chịu rủi ro Trong khi các phương thức TBH phi tỷ lệ nhìn nhận theo cách khác và được dựa trên các tổn thất chứ không phải là số tiền bảo hiểm

Có hai phương thức TBH cơ bản sau:

 TBH vượt mức bồi thường

 TBH vượt tỷ lệ bồi thường

2.2.1 TBH vượt mức bồi thường - Excess of Loss

TBH vượt mức bồi thường là phương thức trong đó công ty TBH đồng

ý bồi thường cho công ty bảo hiểm gốc phần tổn thất vượt quá giới hạn nào

đó cho một rủi ro hay một sự cố Theo phương pháp này, các bên thỏa thuận

là công ty nhượng TBH thanh toán số tiền cố định đầu tiên cho các tổn thất phát sinh từ một sự cố và công ty nhận TBH thanh toán số tiền vượt quá mức bồi thường giữ lại

Trang 29

Trong phương thức TBH vượt mức bồi thường có thể phân ra thành hai loại nhỏ hơn:

 TBH vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ: theo hợp đồng TBH vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ, nhà TBH sẽ bồi thường cho

một tổn thất bất kỳ của một đơn vị rủi ro vượt quá phần tổn thất giữ

lại của công ty bảo hiểm gốc và trong phạm vi giới hạn định mức Phần tổn thất này phải được xác định vào thời điểm bắt đầu ký kết hợp đồng

 TBH vượt mức bồi thường tích tụ rủi ro: (Cat XOL) hợp đồng này bảo

hiểm cho nhiều tổn thất do một sự cố đơn nhất xảy ra, ví dụ như một

trận động đất, một cơn bão hay những thiên tai khác Theo hợp đồng này, công ty nhượng tái có thể gộp tất cả các tổn thất phát sinh từ một

sự cố đơn nhất và được nhận bồi thường từ nhà TBH cho toàn bộ phần tổn thất vượt quá mức giữ lại (còn gọi là mức miễn thường) Như vậy, ngay cả khi công ty nhượng tái phải gánh chịu nhiều tổn thất của nhiều rủi ro nhận bảo hiểm, tổn thất của công ty này cũng chỉ giới hạn ở phần giữ lại Toàn bộ phần tổn thất vượt quá mức giữ lại cho tới giới hạn trách nhiệm của hợp đồng TBH sẽ được thu hồi lại từ nhà TBH Giới hạn trách nhiệm và mức giữ lại sẽ được quy định ngay từ lúc ký kết hợp đồng

Dưới đây là một ví dụ về hợp đồng TBH vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ:

Ví dụ:

Công ty bảo hiểm A thu xếp một hợp đồng TBH cố đinh vượt mức bồi thường với công ty TBH B cho 2000 đơn bảo hiểm hàng hải Hợp đồng TBH có mức giới hạn là 200 000 USD và mức miễn thường là 50 000 USD Không có giới hạn nào về số vụ tổn thất có thể khiếu nại và phí nhượng TBH là 20% tổng phí bảo hiểm gốc Trong năm kinh doanh, có những tổn thất xảy ra trong 2000 đơn bảo hiểm hàng hải như sau:

Trang 30

 (a) 5 tàu bị thiệt hại mỗi tàu 45 000 USD

 (b) 3 tàu mỗi tàu bị thiệt hại 100 000 USD

 (c) 1 tàu bị thiệt hại 300 000 USD

 Tổng phí bảo hiểm thu được cho nghiệp vụ trên trong năm bảo hiểm là

100000 USD công ty bảo hiểm gốc tự gánh chịu

 (*) Phí bảo hiểm phải trả cho nhà TBH là:

 Công ty nhượng TBH còn có thể quyết định mức trách nhiệm tối đa phải bồi thường – là yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng thanh toán của công ty (ở phương thức TBH mức dôi, công ty nhượng tái chỉ có thể quyết định tỷ số tiền bảo hiểm giữ lại, bất kể đối tượng bảo hiểm có

xảy ra tổn thất hay không) Điều khác biệt đáng chú ý ở đây là hợp đồng TBH vượt mức bồi thường không phải là để bảo hiểm cho những rủi ro lớn với tiềm năng tổn thất lớn mà là những tổn thất thực tế phải gánh chịu, không kể đến quy mô của đối tượng được bảo hiểm

Trang 31

Tuy vậy, TBH vượt mức bồi thường cũng có những nhược điểm:

 Phí TBH phải trả ngay vào lúc bắt đầu hợp đồng, hoặc phải trả tiền đặt cọc tương ứng với số phí đó

 Việc định phí và xác định mức miễn thường rất phức tạp, nếu công ty nhượng tái không tính toán hợp lý thì họ có thể mất đi một khoản doanh thu phí nhượng tái đáng kể

Phương thức bảo hiểm này thường được áp dụng cho các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm hàng hóa và tàu là những nghiệp vụ bảo hiểm chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai

2.2.2 TBH vượt tỷ lệ bồi thường - Stop Loss

Theo phương thức này, công ty nhượng khống chế trách nhiệm bồi thường một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ bồi thường vượt quá mức quy định được chuyển giao cho nhà TBH Phương pháp này giúp cho công ty nhượng chống lại sự gia tăng đột biến của tỷ lệ bồi thường trong một ngành bảo hiểm hay một dạng dịch vụ bảo hiểm nào đó trong một thời gian quy định, bất luận tình trạng đó do nguyên nhân nào xảy ra

Tỷ lệ bồi thường =

Số tiền bồi thường Phí thu Phí nhượng tái trong phương thức TBH này được tính toán trên cơ sở ước tính chi phí cho các khiếu nại vượt quá phần giữ lại của công ty bảo hiểm gốc

Ví dụ:

Công ty bảo hiểm A thu xếp một hợp đồng TBH vượt tỷ lệ bồi thường với công ty TBH B cho 2000 đơn bảo hiểm Trong năm kinh doanh, tổng phí bảo hiểm gốc mà công ty A thu được là 1 triệu USD

Trang 32

Công ty TBH B đồng ý nhận bồi thường cho các đơn bảo hiểm có tỷ lệ bồi thường vượt quá 105% sau khi các điều khoản về TBH khác đã được thực hiện Hợp đồng TBH cũng quy định mức bồi thường tối đa dựa trên tỷ lệ bồi thường là 120% Số tiền khiếu nại sau khi đã tính toán hết số tiền thu từ các hợp đồng TBH khác còn 1,100,000 USD Trong trường hợp này số tiền bồi thường có thể thu lại từ nhà TBH được tính toán như sau:

Tỷ lệ bồi thường =

1,100,000

= 110 % 1,000,000

Do tỷ lệ bồi thường dưới mức giới hạn (120%) và vượt tỷ lệ bồi thường (105%), nên công ty bảo hiểm A có thể thu đòi nhà TBH phần vượt tỷ lệ là 5% số phí bảo hiểm tương đương 50,000 USD

Với phương thức TBH vượt tỷ lệ bồi thường, các công ty bảo hiểm có thể tránh được sự gia tăng đột biến tỷ lệ bồi thường của một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó trong một thời gian quy định song hình thức này có nhược điểm lớn là không đảm bảo lợi nhuận cho các công ty bảo hiểm bởi khả năng xảy ra bồi thường vượt tỷ lệ là không nhiều mà phí bảo hiểm thì phải đóng ngay khi

ký kết hợp đồng bảo hiểm

Vì thế phương thức này thường được áp dụng trong những loại nghiệp

vụ có tính chất tổn thất thất thường, do thiên tai không thường xuyên gây ra như: cháy, bão lũ, mưa đá Trên thực tế dạng TBH này ít được sử dụng vì việc định phí phức tạp và thiếu chính xác Nó thường chỉ được dùng để bổ sung cho các dạng TBH tỷ lệ và phi tỷ lệ sẵn có

2.3 TBH kết hợp

Từ phương pháp TBH nói trên, người ta kết hợp hai phương pháp với nhau và hình thành nên 3 phương pháp TBH kết hợp sau:

* TBH kết hợp số thành - mức dôi

Trang 33

 Theo phương pháp này công ty nhượng sẽ phải TBH số thành trước, còn lại sẽ TBH theo mức dôi

 Việc phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên được tiến hành theo trình tự từng hợp đồng và căn cứ vào số tiền bảo hiểm

* TBH kết hợp số thành - vượt mức bồi thường

 Theo phương pháp này việc phân chia trách nhiệm giữa các bên trước hết là theo tỉ lệ trong hợp đồng TBH số thành

 Khi tổn thất xảy ra công ty nhận TBH vượt mức sẽ bảo vệ công ty nhượng và công ty nhận TBH số thành cho một mức khống chế nhất định

* TBH kết hợp mức đôi - vượt mức bồi thường

 Theo phương pháp này việc phân chia trách nhiệm ban đầu được tiến hành cho hợp đồng TBH mức dôi

 Khi tổn thất xảy ra, công ty nhận TBH vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng và công ty nhận TBH mức dôi

Như vậy, qua các hình thức TBH trên đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, việc lựa chọn phương pháp TBH nào phù hợp với khả năng tài chính, kỹ thuật và điều kiện sẵn có là rất cần thiết và tuỳ thuộc vào từng công

ty

III CÁC BƯỚC KÝ KẾT HỢP ĐỒNG TBH

Ký kết hợp đồng TBH qua môi giới

Hiện nay, trên thị trường bảo hiểm và TBH hầu như mọi hoạt động đều thông qua môi giới, do vậy các bước thu xếp hợp đồng đều do môi giới đảm nhận Quy trình ký kết một hợp đồng TBH qua môi giới gồm những bước sau:

Trang 34

Bước 1: Công ty nhượng TBH gửi đơn chào TBH cho môi giới hoặc

gửi Schedule để môi giới thảo đơn chào Đơn chào TBH phải bao gồm những điều khoản cơ bản nhất của hợp đồng TBH Điều quan trọng là môi giới có chấp nhận mức phí TBH và hoa hồng TBH đưa ra hay không, vì nếu hoa hồng cao cộng với phí môi giới sẽ không hấp dẫn đối với với các công ty nhận TBH Ở đây, môi giới thay mặt cho công ty nhận TBH quyết định có đồng ý với đơn chào hay phải thoả thuận lại

Bước 2: Môi giới TBH sẽ chào TBH tới nhiều công ty bảo hiểm và

TBH khác trên thị trường Môi giới TBH phải là người có quan hệ rộng rãi thì mới biết được ai là người có khả năng đứng đầu nhận TBH vì một người đứng đầu nhận TBH có kinh nghiệm và có uy tín sẽ dễ dàng cho việc thu xếp hoạt động khác trong đơn chào Sau đó môi giới sẽ tiếp tục chào TBH tới nhiều công ty khác, công ty nào đồng ý với các điều khoản của đơn chào thì sẽ nhận một phần trách nhiệm thông báo danh sách các công ty nhận TBH cùng với mức trách nhiệm của họ cho người đứng đầu nhận TBH và cho công ty nhượng TBH biết Nếu đồng ý thì công ty nhượng TBH sẽ xác nhận lại

Bước 3: Môi giới TBH sẽ lập ra Cover Note trong đó ghi lại tất cả

những điều khoản trong đơn chào đã được các bên đồng ý và gửi lại bản Cover Note này cho tất cả các bên có liên quan

Bước 4: Môi giới sẽ thảo ra một văn bản hợp đồng TBH (Reinsurance

Contract) bao gồm tất cả các điều khoản như trong Cover Note hoặc đã được sửa đổi và gửi cho công ty nhượng và các công ty nhận TBH Các công ty này đều ký tên vào trang cuối cùng của hợp đồng và gửi lại môi giới Như vậy, hợp đồng TBH đã có hiệu lực

Ký kết hợp đồng TBH trực tiếp

Trang 35

Việc ký kết hợp đồng TBH trực tiếp hiện nay ít được sử dụng, nếu có thì công ty nhượng TBH phải thực hiện mọi công việc mà môi giới TBH phải làm

Trang 36

CHƯƠNG II THỊ TRƯỜNG TBH PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

I TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TBH VIỆT NAM

Quá trình phát triển của TBH phi nhân thọ Việt Nam gắn liền với quá trình hình hình thành và phát triển của ngành bảo hiểm gốc Có thể chia quá trình này thành 3 giai đoạn chính gắn với ba mốc là trước khi có nghị định 100CP, sau khi có nghị định 100CP đến trước Luật bảo hiểm 2001, từ khi có luật bảo hiểm 2001 đến nay

1 Trước khi ban hành nghị định 100/CP về họat động kinh doanh bảo hiểm

Trong thời kỳ này, thị trường TBH Việt Nam theo đúng nghĩa vẫn chưa hình thành Vì hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam chỉ do một công ty nhà nước duy nhất đảm trách là Công ty Bảo hiểm Việt Nam (là tập đoàn Bảo Việt hiện nay) Vào thời kỳ đầu thành lập (từ năm 1965 đến năm 1975) Bảo Việt chỉ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ với một số nghiệp vụ như: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển; sau năm 1975 có mở rộng thêm các nghiệp vụ bảo hiểm cháy, bảo hiểm xây dựng lắp đặt

Do thị trường bảo hiểm gốc vẫn chưa phát triển nên chưa thể nói đến sự phát triển của TBH Hoạt động TBH trong thời kỳ này hầu hết là nhượng TBH cho các đối tác nước ngoài Phí nhượng tái chiếm đến 35 -40% phí bảo hiểm gốc Các đối tác nhận TBH của Việt Nam lúc đó chủ yếu là các công ty bảo hiểm Trung Quốc và một số ít các công ty bảo hiểm Ba Lan, Triều Tiên Sau khi Bảo Việt trở thành thành viên của Liên đoàn bảo hiểm và TBH Á-Phi thì quan hệ với các nhà tái khác trên thế giới cũng dần được mở rộng hơn Tuy còn chưa phát triển, nhưng nhìn chung hoạt động nhượng tái vẫn liên tục

có lãi

Trang 37

Hoạt động nhận TBH cũng bắt đầu được triển khai sau năm 1987 nhưng tỏ ra kém hiệu quả, thua lỗ nhiều mà điển hình là năm 1993: bồi thường nhận TBH lên đến 113% phí nhận tái Nguyên nhân chính là do năm này có nhiều tổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm của hợp đồng nhận tái, và quan trọng hơn do năng lực thu xếp hợp đồng, định phí, xác định rủi ro của tao còn yếu kém cộng với việc năng lực tài chính của ta còn yếu kém nên thu không

đủ bù chi

2 Sau khi ban hành nghị định 100/CP

Nghị định 100/CP được chính phủ ban hành vào ngày 17/2/1993 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/1994 quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu bức thiết về mở rộng và đa dạng hóa ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam cả về nghiệp vụ lẫn đối tượng tham gia Đây là nền tảng pháp lý đầu tiên cho ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam Nghị định 100CP thực sự là một bước ngoặt lớn

Việc thực hiện nghị định trên của Chính phủ đã tạo hướng đi mới cho thị trường bảo hiểm – TBH ở Việt Nam Trước hết là sự thành lập Công ty TBH Quốc gia Việt Nam (VINARE) ngày 23/8/1994, mở đường cho sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm khác như Bảo Minh (1994), PJICO (1995), PVIC (1996)

Nhiều gương mặt mới xuất hiện đã khiến cho thị trường bảo hiểm gốc trở lên ngày càng sôi động Các sản phẩm bảo hiểm được đa dạng hóa, số lượng đối tác bảo hiểm – TBH nước ngoài có uy tín ngày càng tăng giúp các công ty trong nước có cơ hội tranh thủ sự hỗ trợ về nghiệp vụ và đảm bảo an toàn kinh doanh Thị trường TBH cũng theo đó mà phát triển do nhu cầu TBH cho các đơn bảo hiểm giá trị lớn xuất hiện ngày càng nhiều (nhờ các công trình xây dựng, lắp đặt được triển khai tại khắp các địa phương trên toàn quốc) Tuy phí bảo hiểm chuyển nhượng ra nước ngoài ngày càng tăng nhưng

tỷ trọng của nó so với tổng phí bảo hiểm gốc lại giảm đi Điều này có được là

Trang 38

nhờ sự có mặt của VINARE như một đối tác bắt buộc (nhà nước quy định các doanh nghiệp bảo hiểm phải tái 20% cho VINARE trước khi tái tiếp cho các đối tác nước ngoài) và nhờ các doanh nghiệp trong nước đã nhận TBH lẫn nhau Tuy vậy điều đáng lưu tâm hơn khi thị trường TBH đang phát triển nhanh là việc quản lý cạnh tranh, kiếm soát các phương thức cạnh tranh không lành mạnh và đảm bảo khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm

3 Sau khi ban hành Luật bảo hiểm 2001

Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8 thông

qua vào ngày 9/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 1/4/2001 là một bước tiến quan trọng sau nghị định 100/CP Luật này cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng được tham gia thị trường bảo hiểm dưới hai hình thức

là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, luật có cả qui định về hoạt động kinh doanh TBH, hoạt động môi giới bảo hiểm Nếu so sánh với nghị định 100/CP, Luật bảo hiểm không chỉ có tính pháp lý cao hơn

mà nội dung còn thể hiện thiện chí cải cách rõ rệt của Đảng và Chính phủ Việt Nam

Ngoài Luật kinh doanh bảo hiểm, Chính phủ đã ban hành thêm nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường và các doanh nghiệp bảo hiểm Đó là:

 NĐ 42/2001/NĐ-CP và 45/2007/NĐ-CP chi tiết một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm,

 NĐ 43/2001/NĐ-CP và 46/2007/NĐ-CP qui định về chế độ tài chính với doanh nghiệp bảo hiểm

Bộ tài chính cũng đã ban hành các thông thư hướng dẫn chi tiết các nghị định trên đó là:

Trang 39

 Thông tư 98/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật kinh doanh bảo hiểm

 Thông tư 99/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định 43/2001/NĐ-CP

 Quyết định 150/2001/QĐ-BTC bổ sung sửa đổi chế độ kế toán với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

Từ khi có thể chế pháp lý tương đối hoàn chỉnh, số lượng các công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động đã tăng lên nhanh chóng và hiện đã lên đến trên 30 công ty, trong đó có cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thị trường bảo hiểm gốc ở cả hai lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ có những bước tăng trưởng mạnh mẽ chưa từng thấy Vì thế hoạt động TBH cũng sôi động lên rất nhiều, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước hầu như đều sử dụng nghiệp vụ TBH như một công cụ hữu hiệu để ổn định kinh doanh Đối tượng nhận TBH cũng phong phú hơn: tái bảo hiểm trong nước, ngoài nước đặc biệt là tái bảo hiểm qua môi giới đang ngày càng phát triển

II CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG TBH PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

Các chủ thể đang tham gia thị trường TBH phi nhân thọ cơ bản gồm 4 nhóm: các công ty bảo hiểm gốc, công ty TBH, môi giới TBH và các công ty bảo hiểm và TBH quốc tế

Tính đến 31/4/2007 trên thị trường Việt Nam có 19 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trong đó có 7 doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài; 9 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (4 doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài) và 1 công ty TBH chuyên nghiệp là Công ty TBH quốc gia Việt Nam (VINARE)5

Trang 40

1 Công ty bảo hiểm gốc

Biểu đồ 2.1 Thị phần bảo hiểm phi nhân thọ Việt

Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Trong hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ, các doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm ưu thế (đóng góp 80% doanh thu toàn thị trường) vì hiện chính phủ vẫn chưa cho phép các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam TBH ở thị trường Việt Nam hầu như là hoạt động nhượng tái, các doanh nghiệp bảo hiểm gốc lớn có tiềm năng tài chính đủ mạnh hiện cũng tham gia nhận TBH đó là Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, PVI Các doanh nghiệp còn lại có ít thị phần (và ảnh hưởng) đến thị trường bảo hiểm và TBH (xem biểu đồ 2.1)

Ngày đăng: 28/05/2014, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm” – website TTX Việt Nam, cập nhật ngày 11/1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm
2. “Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2003, 2004, 2005” - Website Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam - www.avi.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2003, 2004, 2005
3. “Thị trường bảo hiểm – những thuận lợi và thách thức” – bài phỏng vẫn chủ tịch HĐQT Bảo Việt Lê Quang Bình được phóng viên Anh Minh thực hiện ngày 15/1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm – những thuận lợi và thách thức
7. Nguyễn Kim Phú – Công ty bảo hiểm Sài Gòn “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm với tiến trình hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm với tiến trình hội nhập quốc tế
8. PGS. TS Hoàng Văn Châu, TS Vũ Sĩ Tuấn, TS Nguyễn Như Tiến – Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh - Trường Đại học Ngoại Thương - NXB Khoa học và Kỹ thuật – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật – 2002
9. PJICO – Báo cáo tài chính 2006 10. PVI – Báo cáo tài chính 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính 2006" 10. PVI –
16. Munich Re - Annual Report 2006 17. Swiss Re - Annual Report 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Munich Re - "Annual Report 2006 17. " Swiss Re -
19. Tony Allison - “Risks and rewards in China's insurance market” – www.asiatime.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risks and rewards in China's insurance market
20. US-Vietnam Bilateral Trade Agreement - US – Vietnam Trade issue webpage - http://www.usvtc.org/trade/bta Sách, tạp chí
Tiêu đề: US-Vietnam Bilateral Trade Agreement
21. Vinare - Annual Report 2002, 2003, 2004, 2005 22. WOE - Annual Report 2006Một số websites tham khảo khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vinare - "Annual Report 2002, 2003, 2004, 2005 22. " WOE - "Annual Report 2006
13. Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo hiểm và tái bảo hiểm của Việt Nam...Tiếng Anh Khác
15. IISA - Reinsurance Practice - Explain Reinsurance as it is applied in short term insurance Khác
18. Swiss Re – Understand Reinsurance hand book Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 CHỈ SỐ TÀI CHÍNH NĂM 2006 CỦA MỘT SỐ CÔNG TY BH PHI NHÂN THỌ CHÍNH - Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam
Bảng 2.1 CHỈ SỐ TÀI CHÍNH NĂM 2006 CỦA MỘT SỐ CÔNG TY BH PHI NHÂN THỌ CHÍNH (Trang 41)
Bảng 2.2 MỘT SỐ CHỈ SỐ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN TÁI BẢO HIỂM TRÊN TG - Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam
Bảng 2.2 MỘT SỐ CHỈ SỐ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN TÁI BẢO HIỂM TRÊN TG (Trang 47)
BẢNG 2.4   Bồi th-ờng tổn thất qua các năm - Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam
BẢNG 2.4 Bồi th-ờng tổn thất qua các năm (Trang 51)
Bảng 2.3 BỒI THƯỜNG NHẬN TBH NGOÀI NƯỚC TOÀN THỊ TRƯỜNG - Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam
Bảng 2.3 BỒI THƯỜNG NHẬN TBH NGOÀI NƯỚC TOÀN THỊ TRƯỜNG (Trang 58)
Bảng 2.4 TỶ  LỆ NHƢỢNG TBH THEO NGHIỆP VỤ NĂM 2006 - Khóa luận tốt nghiệp tái bảo hiểm và áp dụng tại việt nam
Bảng 2.4 TỶ LỆ NHƢỢNG TBH THEO NGHIỆP VỤ NĂM 2006 (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w