1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện

99 651 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam và giải pháp thực hiện
Tác giả Ngụ Mai Dung
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Thu Hương
Trường học Trường đại học ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích cụ thể những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO, liên hệ thực trạng các quy định của Việt Nam hiện nay, đánh giá những tác động của các cam k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

MỤC LỤC MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

3 Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển của nền kinh tế 9

II Những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO 11

1 Những cam kết về thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO 11

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT TRONG WTO ĐỐI

VỚI DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM

22

I Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam 22

II Tác động của các cam kết WTO đến hệ thống pháp luật về bảo hiểm

của Việt Nam

30

3 Xây dựng hệ thống các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng 33

Trang 3

4 Gia tăng khả năng giám sát, đảm bảo sự thống nhất và ổn định tài chính

doanh nghiệp

34

5 Cam kết minh bạch hoá và công khai hoá các chính sách bảo hiểm 34

6 Đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng trên thị trường bảo hiểm 35

III Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO đến phát triển dịch vụ bảo hiểm

3 Rủi ro được quản lý tốt hơn tạo thêm sức hấp dẫn cho môi trường đầu tư của Việt Nam

52

5 Tăng cường xu hướng hợp nhất, sáp nhập và liên kết dịch vụ tài chính 54

II Tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc trong mở cửa thị trường bảo hiểm 57

Trang 4

4 Môi trường pháp lý 60

III Các giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt nam 62

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BAOMINH Tổng công ty cổ phần Bảo Minh

BAOVIET Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam

BTA Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ

CIRC Uỷ ban điều hành bảo hiểm Trung Quốc

PJICO Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

PTI Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện

PVI Công ty cổ phần bảo hiểm Dầu khí

VASS Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông

VINARE Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp 22

Bảng 3 Số hợp đồng, số tiền bảo hiểm và số phí bảo hiểm khai

thác mới năm 2006

27

Biểu đồ 1 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm Việt Nam 2006 24 Biểu đồ 2 Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ 25 Biểu đồ 3 Doanh thu phí bảo hiểm giữ lại theo nghiệp vụ 25

Biểu đồ 5 Phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới 2005-2006 30 Biểu đồ 6 Vốn điều lệ của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ năm 2006 44

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 7/11/2006 đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh

tế của Việt Nam- Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO sau 11 năm đàm phán Bước ra “biển lớn” kinh tế Việt Nam đón nhận được rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để phát triển, song bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối diện với nhiều khó khăn và thách thức Một trong những thách thức lớn của nền kinh

tế Việt Nam là phải cố gắng nỗ lực trên mọi phương diện để đáp ứng điều kiện của một nước thành viên và nghiêm túc thực hiện cam kết WTO trên tất

cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế, trong đó có ngành bảo hiểm

Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt- kinh doanh rủi ro Bảo hiểm cũng là một ngành dịch vụ tài chính đặc biệt mang tính toàn cầu, đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO kéo dài 11 năm cùng sự kiện Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ được ký kết ngày 13/7/2000, bảo hiểm Việt Nam đã có những thay đổi lớn do những cố gắng cải cách quy định pháp lý của Nhà nước đồng hành với sự nỗ lực cố gắng của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước Khung pháp lý được điều chỉnh hoàn thiện hơn, tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế; các doanh nghiệp cũng phấn đấu trên mọi mặt để nâng cao khả năng cạnh tranh sẵn sàng đối mặt với sức ép từ chính thị trường trong nước cùng sự “tấn công” mạnh mẽ của các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài

Năm 2007 là năm đầu tiên chúng ta thực hiện các cam kết WTO với các cơ hội và thách thức đan xen, vậy những yếu tố đó tác động đến ngành bảo hiểm Việt Nam như thế nào; thị trường bảo hiểm trong nước đã làm được

Trang 8

gì và còn thiếu sót gì trong thời gian qua; và quan trọng hơn, chúng ta phải có những giải pháp gì về phía nhà nước và doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ,

kỹ thuật bảo hiểm tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiệu quả? Việc nghiên cứu, phân tích để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề nói trên là một yêu cầu cần

thiết hiện nay; xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Cam kết về

dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam và giải pháp thực hiện” làm đề

tài khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích cụ thể những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO, liên hệ thực trạng các quy định của Việt Nam hiện nay, đánh giá những tác động của các cam kết đối với sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam

từ đó đưa ra một số giải pháp thực hiện các cam kết đồng thời cũng là các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhằm đáp ứng những quy định về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, khoá luận sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Làm rõ những vấn đề liên quan đến khái niệm dịch vụ bảo hiểm

- Phân tích những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam

- Nghiên cứu thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam và đánh giá những tác động của các cam kết đến sự phát triển toàn ngành bảo hiểm

- Đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam; thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam và những

Trang 9

tác động của các cam kết đến sự phát triển toàn ngành bảo hiểm trong những năm gần đây và tập trung vào năm 2006, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích tổng hợp, thống

kê, so sánh và đối chiếu Ngoài ra tác giả còn đề cập đến các vấn đề theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử và cụ thể nhằm phân tích một cách xác thực thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua

6 Bố cục của khoá luận

Tên khoá luận: “Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của Việt Nam và giải pháp thực hiện”

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận được bố cục thành 3 chương như sau:

Chương 1 Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

Chương 2 Tác động của các cam kết trong WTO đối với dịch vụ bảo

hiểm Việt Nam

Chương 3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt

Nam nhằm đáp ứng các cam kết WTO

Do những hạn chế về tài liệu, thời gian nghiên cứu cũng như nhận thức của tác giả, khoá luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè

Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Trịnh Thị Thu Hương- người đã dành thời gian tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này

Trang 10

CHƯƠNG 1 CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG WTO

I KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM

4 Khái niệm dịch vụ bảo hiểm

1.1 Dịch vụ

Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ hiện nay đang được sử dụng, có lẽ chính tính vô hình, khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng gặp nhiều khó khăn Theo quan điểm của Các Mác “dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển” [10]

Vào những năm cuối thế kỷ 20, khi dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà kinh tế, khoa học, người ta thường có hai cách hiểu về dịch vụ Dịch vụ hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền kinh tế quốc dân, theo cách hiểu này thì những hoạt động nào nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, thương mại, bao gồm các hoạt động hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng

Theo Tạp chí “Nhà kinh tế”, dịch vụ là “bất kỳ cái gì đem bán mà không thể rơi vào bàn chân bạn” Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là một sản phẩm vô hình, không nhìn thấy được và không nắm bắt được Dịch vụ là một sản phẩm vì nó là kết quả của sức lao động của con người, được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người

WTO đã phân loại dịch vụ thành 155 phân ngành, thuộc 11 khu vực sau đây:

- Dịch vụ kinh doanh gồm: nghề nghiệp, máy tính và liên quan,

Trang 11

nghiên cứu và triển khai, bất động sản, cho thuê, dịch vụ kinh doanh khác;

- Dịch vụ thông tin liên lạc gồm: bưu điện, chuyển phát nhanh,

viễn thông, nghe nhìn, dịch vụ khác;

- Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật gồm: thi công xây dựng, lắp đặt

xây dựng, thi công khác;

- Dịch vụ phân phối: đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, đại lý

- Dịch vụ tài chính gồm: bảo hiểm và liên quan, ngân hàng và

liên quan, dịch vụ tài chính khác;

- Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và xã hội gồm: chữa bệnh,

bệnh viện, dịch vụ khác;

- Dịch vụ du lịch và liên quan gồm: khách sạn và nhà hàng, đại

lý và điều hành du lịch, hướng dẫn du lịch, dịch vụ khác;

- Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao gồm: giải trí, tin tức, thư

viện, kiến trúc, bảo tàng…,thể thao và giải trí khác;

- Dịch vụ vận tải gồm: vận tải đường biển, vận tải thuỷ nội địa,

vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải ô tô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, vận tải đa phương thức, dịch vụ vận tải khác;

- Dịch vụ khác

Bảo hiểm

Trang 12

Có nhiều khái niệm về bảo hiểm hiện nay đang được sử dụng trên thị trường bảo hiểm thế giới Trong khuôn khổ khoá luận này, tác giả chỉ đưa ra một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới

- Theo “Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm” của “Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ” thì: “Bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này; cung cấp các quyền lợi bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm”

- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: “Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm sang người bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi hỏi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm”

- Khái niệm bảo hiểm được sử dụng tại thị trường Châu Á: “Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức

ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp những tổn thất do những rủi ro đó gây ra”

- Còn ở Việt Nam, chưa có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm Theo giáo trình “Bảo hiểm trong kinh doanh” của trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, khái niệm bảo hiểm được hiểu là “một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm” [9]

Trang 13

sở hữu đơn bảo hiểm được cấp một văn bản- đơn bảo hiểm là bằng chứng cho một hợp đồng giữa người tham gia bảo hiểm và công ty bảo hiểm Cam kết trong hợp đồng bảo hiểm là cam kết thanh toán bằng tiền hoặc hàng hoá theo giá trị tương đương với một tổn thất cụ thể nào đó Công ty bảo hiểm bán cam kết của mình cho người được bảo hiểm Hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm chỉ được chứng minh vào một thời điểm trong tương lai Vào thời điểm đó, công ty bảo hiểm phải thanh toán tiền bồi thường cho người được bảo hiểm

Ở bất cứ giai đoạn nào sau khi mua bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được bảo vệ, và đó chính là mục đích của việc mua bảo hiểm

Ở Việt nam, kinh doanh bảo hiểm được hiểu là “hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” [12]

Từ cách phân tích và cách hiểu nói trên, có thể hiểu khái quát dịch vụ bảo hiểm là “sản phẩm lao động có hàm lượng trí tuệ cao của con người, được cung ứng trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng của nền kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân” [14]

5 Phân loại bảo hiểm

Trang 14

Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà người ta có thể phân loại bảo hiểm thành nhiều loại:

2.1 Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm

2.1.1 Bảo hiểm xã hội: có tính chất bắt buộc, theo những luật lệ chung,

không tính đến rủi ro cụ thể, không nhằm mục đích kinh doanh…bao gồm chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, viên chức nhà nước; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp…

2.1.2 Bảo hiểm thương mại: loại hình bảo hiểm không mang tính chất

kinh doanh, kiếm lời

2.2 Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

2.2.1 Bảo hiểm nhân thọ: là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con

người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, bao gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm từ kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ…

2.2.2 Bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm các loại khác như: bảo hiểm sức

khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản

và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm xe cơ giới…

2.3 Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm

2.4 Căn cứ theo quy định của pháp luật

2.4.1 Bảo hiểm tự nguyện

2.4.2 Bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

Trang 15

- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

- Bảo hiểm cháy nổ

Theo biểu cam kết WTO, Việt Nam đưa ra cam kết mở cửa thị trường với bốn loại là: Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế), Bảo hiểm phi nhân thọ; Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm; Trung gian bảo hiểm (như môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm); Dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (như tư vấn, dịch

vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường) Tác giả sẽ tập trung phân tích vào nội dung cam kết này trong các phần tiếp theo của khoá luận

6 Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển của nền kinh tế

Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia bảo hiểm, để từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống; đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, bảo hiểm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội Xã hội ngày càng văn minh

và phát triển thì hoạt động dịch vụ này ngày càng phát triển đa dạng Bảo hiểm là hoạt động tài chính chứ không phải dịch vụ sản xuất và càng không phải là một hoạt động sản xuất Vai trò của bảo hiểm được thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:

Bồi thường tổn thất: Bồi thường thiệt hại là một lợi ích quan trọng đối

với xã hội Bồi thường cho phép cá nhân và hộ gia đình khôi phục tình trạng tài chính của mình sau khi tổn thất xảy ra Qua đó, họ có thể duy trì được sự

ổn định kinh tế do một phần hoặc toàn bộ tổn thất đã được phục hồi, như vậy

họ không cần đến sự trợ giúp của các quỹ phúc lợi xã hội, hay trợ cấp của nhà nước, cũng như không cần đến sự hỗ trợ tài chính của họ hàng, bạn bè

Việc bồi thường được thực hiện đối với các công ty cũng đem lại lợi ích lớn cho xã hội Sau khi tổn thất xảy ra, bồi thường cho phép các công ty tiếp

Trang 16

tục hoạt động kinh doanh của mình, công nhân tiếp tục có việc làm, các nhà cung cấp tiếp tục có hợp đồng và người tiêu dùng vẫn nhận được các hàng hoá và dịch vụ Nhà nước cũng được lợi do các khoản thuế vẫn thu được Tóm lại, việc bồi thường thiệt hại đóng góp rất nhiều cho sự ổn định của các

hộ gia đình và các hãng sản xuất kinh doanh; và vì vậy, nó là lợi ích kinh tế

xã hội quan trọng nhất của bảo hiểm

Giảm bớt lo âu và sợ hãi: Điều này đúng cả trước và sau khi tổn thất

Ví dụ, khi những người trụ cột trong gia đình sở hữu các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đủ lớn, họ sẽ ít lo lắng về mặt tài chính của những người phụ thuộc

họ trong trường hợp họ chết sớm Những người tham gia bảo hiểm tai nạn dài hạn sẽ không phải lo lắng nhiều đến thu nhập của mình nếu không may bị ốm nặng hay gặp tai nạn bất ngờ và những người chủ tài sản một khi đã tham gia bảo hiểm tài sản của mình thì cũng sẽ yên tâm rằng họ sẽ được bồi thường nếu gặp tổn thất

Tạo lập quỹ đầu tư: Các công ty bảo hiểm là những nhà đầu tư cung

cấp nguồn vốn dài hạn cho Chính phủ và các ngành công nghiệp thông qua huy động quỹ từ các cổ đông và người tham gia bảo hiểm Đầu tư là một lĩnh vực mà các công ty bảo hiểm nhân thọ rất quan tâm, điều này có được nhờ tính chất hoạt động kinh doanh của họ Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực nhiều năm, trong thời gian này người tham gia bảo hiểm đóng những khoản phí đều đặn, sau khi trích lập quỹ dự trữ để trả cho các hợp đồng đáo hạn và những tổn thất, hàng năm các công ty bảo hiểm nhân thọ luôn có những khoản tiền nhàn rỗi rất lớn Với các khoản tiền nhàn rỗi và vốn tự có của mình, trước kia họ thường đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và chứng khoán có lãi suất cố định Ngày nay, để bắt kịp với tốc độ lạm phát và chi phí gia tăng, các công ty bảo hiểm đã mở rộng các hình thức đầu tư của mình: đầu

tư vào cổ phiếu thường, đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay, bảo lãnh phát hành chứng khoán, bảo trợ cho

Trang 17

các dự án phát triển sản phẩm và công nghệ mới Nhờ những khoản đầu tư của các công ty bảo hiểm, nguồn vốn của xã hội được gia tăng đáng kể, điều này giúp cho các doanh nghiệp có thể đa dạng khoản vay và giảm chi phí vốn, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất: Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất là một

lợi ích quan trọng khác của bảo hiểm Các công ty bảo hiểm rất tích cực tham gia vào các chương trình đề phòng và hạn chế tổn thất Họ cũng sử dụng một lượng lớn cán bộ làm công tác ngăn chặn tổn thất bao gồm các kỹ sư an toàn, chuyên gia trong phòng cháy, tai nạn nghề nghiệp, chăm sóc y tế và trách nhiệm sản phẩm Một số hoạt động ngăn ngừa tổn thất quan trọng mà các công ty bảo hiểm thường tham gia như: an toàn cho đường cao tốc giảm tai nạn chết người, ngăn ngừa hoả hoạn, giảm các bệnh nghề nghiệp, chống mất cắp ô tô, ngăn ngừa và bảo vệ những tổn thất do phá hoại, ngăn ngừa việc lưu hành những sản phẩm khuyết tật, phòng chống nổ nồi hơi…Các hoạt động đề phòng, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu cả tổn thất trực tiếp và gián tiếp hay hậu quả của chúng mang lại lợi ích cho toàn xã hội

Đẩy mạnh tín dụng: Bảo hiểm là một công cụ hữu hiệu của các tổ chức

tín dụng trong việc hạn chế rủi ro, thu hồi các khoản nợ thông qua việc yêu cầu người đi vay tham gia bảo hiểm tài sản thế chấp hoặc tham gia bảo hiểm nhân thọ bản thân họ với giá trị hợp đồng tương đương với khoản vay, với điều kiện người hưởng lợi là các tổ chức cho vay Trong trường hợp tài sản thế chấp bị phá huỷ hoặc người đi vay chết hoặc bị thương tật không có khả năng thanh toán nợ thì các tổ chức tín dụng vẫn có thể thu hồi nợ trên cơ sở bồi thường của các công ty bảo hiểm Trong thực tế, các ngân hàng cung cấp tín dụng để các công ty hay hộ gia đình thực hiện mua tài sản (dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, xe hơi…) trả góp thì họ thường bắt buộc tham gia bảo hiểm vật chất cho các tài sản này Như vậy bảo hiểm có tác dụng thúc đẩy tín dụng cá nhân và doanh nghiệp trong phạm vi toàn xã hội

Trang 18

II NHỮNG CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG WTO

1 Những cam kết về thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO

Sau hơn 11 năm đàm phán kể từ khi Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); ngày 7/11/2006, bộ văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam đã được đại hội đồng WTO thông qua, bao gồm các tài liệu sau:

- Nghị định thư về việc gia nhập WTO của Việt Nam

- Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO

- Biểu cam kết về thương mại hàng hóa (bao gồm cam kết về thuế nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông nghiệp)

- Biểu cam kết về thương mại dịch vụ

1.1 Giới thiệu về biểu cam kết thương mại dịch vụ

1.1.1 Cấu trúc

Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột: i) cột mô tả ngành/phân ngành; ii) cột hạn chế về tiếp cận thị trường; iii) cột hạn chế về đối xử quốc gia và iv) cột cam kết bổ sung [11]

Cột mô tả ngành/phân ngành thể hiện tên dịch vụ cụ thể được đưa vào cam kết Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có tất cả 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ được các Thành viên WTO tiến hành đàm phán

Cột hạn chế về tiếp cận thị trường liệt kê các biện pháp duy trì đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài GATS quy định 6 loại biện pháp hạn chế bao gồm: 1) hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ; 2) hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch hoặc tài sản; 3) hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ cung cấp; 4) hạn chế về số lượng lao động; 5) hạn chế hình thức thành lập doanh nghiệp; 6) hạn chế góp vốn của nước ngoài Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp nói trên thì mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng hẹp

Trang 19

Cột hạn chế về đối xử quốc gia liệt kê các biện pháp nhằm duy trì sự phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước với nhà cung cấp dịch

vụ nước ngoài Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp trong cột hạn chế về đối xử quốc gia thì sự phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng lớn

Cột cam kết bổ sung liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia Cột này mô tả những quy định liên quan đến trình độ tiêu chuẩn kỹ thuật, các yêu cầu hoặc thủ tục về việc cấp phép…

1.1.2 Các phương thức cung cấp dịch vụ

GATS quy định 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm: 1) cung cấp qua biên giới; 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; 3) hiện diện thương mại; 4) hiện diện thể nhân [11]

Phương thức cung cấp qua biên giới (gọi tắt là phương thức 1) là

phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác, tức là không có sự di chuyển của người cung cấp và người tiêu thụ dịch vụ sang lãnh thổ của nhau

Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (gọi tắt là phương thức 2) là

phương thức theo đó người tiêu dùng của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ

Phương thức hiện diện thương mại (gọi tắt là phương thức 3) là phương

thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ

Phương thức hiện diện thể nhân (gọi tắt là phương thức 4) là phương

Trang 20

thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ

Cam kết được đưa ra cho từng phương thức từ 1 đến 4 trong hai cột hạn chế về tiếp cận thị trường và hạn chế về đối xử quốc gia

1.1.3 Mức độ cam kết

Do các điều kiện được sử dụng trong “Biểu cam kết” của mỗi thành viên sẽ tạo ra các cam kết có tính ràng buộc pháp lý nên cần chính xác trong việc thể hiện có hay không có các hạn chế về tiếp cận thị trường và về đối xử quốc gia, phụ thuộc vào mức độ hạn chế mà mỗi thành viên có thể đưa ra, thường có bốn trường hợp sau:

 Cam kết toàn bộ

Các thành viên không đưa ra bất cứ hạn chế nào về tiếp cận thị trường hay đối xử quốc gia đối với một hoặc nhiều dịch vụ hay đối với một hoặc nhiều phương thức cung cấp dịch vụ Khi đó, các thành viên sẽ thể hiện trong biểu cam kết của mình cụm từ “Không hạn chế” vào các cột và phương thức cung cấp dịch vụ thích hợp Tuy vậy, các hạn chế được liệt kê trong phần cam kết chung vẫn được áp dụng

 Cam kết kèm theo những hạn chế

Các thành viên chấp nhận mở cửa thị trường cho một hoặc nhiều ngành dịch vụ nhưng liệt kê tại các cột tương ứng của biểu cam kết các biện pháp hạn chế áp dụng cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Khi đó, các thành viên sẽ thể hiện trong biểu cam kết các cụm từ như “Không hạn chế, ngoại trừ ….” hoặc

“Chưa cam kết, ngoại trừ….” Nếu chỉ liệt kê biện pháp mà không kèm theo một trong hai cụm từ trên thì đương nhiên hiểu là “Không hạn chế, ngoại trừ …”

 Không cam kết

Các thành viên có thể duy trì khả năng đưa ra mọi biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với một hoặc nhiều phương thức

Trang 21

cung cấp dịch vụ cụ thể Khi đó, các thành viên sẽ thể hiện trong biểu cam kết cụm từ “Chưa cam kết” Trong trường hợp này, các cam kết liệt kê trong phần cam kết chung vẫn được áp dụng

 Không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật

Trong một số trường hợp, một phương thức cung cấp dịch vụ có thể là không khả thi về mặt kỹ thuật Ví dụ, dịch vụ xây nhà cung cấp qua biên giới Khi đó, các thành viên sẽ thể hiện cụm từ “Chưa cam kết” nhưng ghi chú là

“do không khả thi về mặt kỹ thuật”

1.2 Nội dung cam kết về dịch vụ tài chính trong WTO

Về cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, trong thỏa thuận WTO, Việt

Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, 155 phân ngành

Về mức độ cam kết, trước hết, công ty nước ngoài không được hiện

diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được Việt Nam cho phép trong từng ngành cụ thể mà những ngành như thế là không nhiều Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó

1.2.1 Dịch vụ bảo hiểm

Về tổng thể, mức độ cam kết ngang BTA, tuy nhiên, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày bắt đầu thực hiện cam kết Tác giả sẽ đi sâu phân tích cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong các phần tiếp theo của khoá luận

1.2.2 Dịch vụ ngân hàng

Về cơ bản, Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch

vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ trợ; không hạn chế tiêu dùng ở nước ngoài; chỉ các ngân hàng nước ngoài có tổng tài sản lớn hơn 10 tỷ USD mới được thành lập ngân hàng 100%

Trang 22

vốn nước ngoài (từ 1/4/2007), trên 20 tỷ USD mới được thành lập chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được phép phát hành thẻ tín dụng Chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép huy động tiền đồng tăng dần theo thời gian (từ 1/1/2011 sẽ được phép như ngân hàng trong nước), nhưng không được mở ATM và các điểm giao dịch ngoài trụ sở Bên nước ngoài được phép mua tối

đa 30% cổ phần của ngân hàng trong nước [27]

1.2.3 Dịch vụ chứng khoán

Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ trợ; không hạn chế việc tiêu dùng dùng dịch vụ ở nước ngoài; cho phép thành lập văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn đầu tư nước ngoài từ thời điểm gia nhập; cho phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán 100% vốn đầu tư nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập và cho phép thành lập chi nhánh của công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sau 5 năm đối với một số loại hình dịch vụ như: quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn

liên quan đến chứng khoán và cung cấp, trao đổi thông tin tài chính

2 Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

2.1 Nội dung cam kết

Theo cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa cho các dịch vụ sau:

 Bảo hiểm gốc:

- Bảo hiểm nhân thọ, trừ bảo hiểm y tế

- Bảo hiểm phi nhân thọ

 Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm

 Trung gian bảo hiểm (như môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm)

 Dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (như tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường)

Lộ trình cam kết

Trang 23

Theo “Biểu cam kết về thương mại dịch vụ” trong “Bộ văn kiện gia nhập WTO” của Việt Nam, các cam kết về dịch vụ bảo hiểm được quy định

cụ thể như sau:

2.2.1 Cam kết mở cửa thị trường

 Đối với phương thức cung cấp qua biên giới: Việt Nam cho phép các

công ty bảo hiểm nước ngoài được cung cấp không hạn chế các dịch vụ bảo hiểm sau:

- Dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam;

- Dịch vụ tái bảo hiểm;

- Dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, bao gồm bảo hiểm cho các rủi ro

liên quan tới:

 Vận tải biển quốc tế và vận tải hàng không thương mại quốc tế, với phạm vi bảo hiểm bao gồm bất kỳ hoặc toàn bộ các khoản mục sau: hàng hoá vận chuyển, phương tiện vận chuyển hàng hoá và bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ đó;

 Hàng hoá đang vận chuyển quá cảnh quốc tế

- Dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm;

- Dịch vụ tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi

- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài không được

kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình

Trang 24

dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường Hạn chế này sẽ được bãi bỏ vào ngày 1/1/2008

- Sau 5 năm kể từ khi gia nhập, cho phép doanh nghiệp bảo hiểm

nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ, căn cứ vào các quy định quản lý thận trọng

 Đối với phương thức cung cấp hiện diện thể nhân: chưa có cam kết trừ

các cam kết chung về nhập cảnh và lưu trú tạm thời

2.2.2 Cam kết đối xử quốc gia

 Đối với phương thức cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài

và hiện diện thương mại: mở cửa không hạn chế

 Đối với phương thức cung cấp hiện diện thể nhân: chưa cam kết ngoài

các cam kết chung

2.2.3 Cam kết bổ sung

Là các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch

vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia, ví dụ những quy định liên quan đến trình độ, tiêu chuẩn kỹ thuật, các yêu cầu hoặc thủ tục về việc cấp phép…Tuy nhiên trong cam kết về dịch

vụ bảo hiểm không có cam kết bổ sung

2.3 Các phương thức cam kết

2.3.1 Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới

Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam Trong thời gian đầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số

Trang 25

loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm đối tượng người nước ngoài và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì chúng ta hy vọng rằng với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước (xét về mặt

uy tín và năng lực tài chính) thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều, một phần do tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm có trụ sở tại Việt Nam, là những doanh nghiệp nắm thông tin về rủi

ro tốt nhất do đó có khả năng bảo hiểm tốt nhất, mặt khác các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thông thường cũng muốn thành lập pháp nhân để cung cấp dịch vụ tốt hơn Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam, tỷ trọng phí bảo hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân thọ, do đó những tác động của cam kết này đối với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần theo thời gian

2.3.2 Về các cam kết hiện diện thương mại

Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ bảo hiểm là những cam kết mang tính chất tự do hoá thị trường bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất đối với các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đang hoạt động trên thị trường cũng như tới tình hình chung của thị trường

Việc cho phép thêm các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam sẽ tăng thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao công nghệ khai thác bảo hiểm và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại Việt Nam

Với năng lực tài chính mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham gia thị trường này cũng sẽ cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Trong điều kiện cung cấp dịch vụ tốt hơn, khách

Trang 26

hàng sẽ là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất Đặc biệt, chi phí bảo hiểm là một cấu phần ngày càng quan trọng trong chi phí sản xuất và kinh doanh của các đơn vị kinh tế khi nền kinh tế ngày càng phát triển, vì vậy giảm giá thành đầu vào đối với chi phí bảo hiểm sẽ giúp giảm một cách tương đối giá thành sản xuất sản phẩm và dịch vụ đầu ra của các doanh nghiệp Việt Nam và là cơ sở

để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung trong điều kiện toàn cầu hoá ngày càng được đẩy mạnh

Có thể nói, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham gia vào thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ đem lại những lợi ích tổng thể cho thị trường Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực như vậy, điều kiện thị trường bảo hiểm với sự có mặt của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cũng sẽ đặt ra một số vấn đề như cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh để kiểm soát hoạt động đa dạng của các doanh nghiệp này, song các vấn đề này có thể được kiểm soát tốt nếu có những bước

đi phù hợp trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường

 Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc

Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật định gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; bảo hiểm cháy, nổ; và các loại bảo hiểm khác được quy định theo điều kiện phát triển của nền kinh tế [12]

Trong những năm gần đây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt buộc khá lớn trong tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ Tuy nhiên, tỷ trọng phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm bắt buộc này sẽ giảm tương đối qua thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị trường được khai thác tốt hơn do các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành về năng lực vốn cũng như về trình

độ chuyên môn Do đó, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu

Trang 27

tư nước ngoài cung cấp các dịch vụ này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến thị trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng đến thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường và chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ

 Cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc

Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài đều phải thực hiện tái bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) Vì vậy thực hiện cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ có tác động kép, trước tiên là ảnh hưởng tới hoạt động của VINARE, đồng thời ảnh hưởng đến tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm khác trên thị trường, cam kết này nếu được áp dụng chung sẽ tạo điều kiện cho họ linh hoạt hơn trong công tác tái bảo hiểm và tạo điều kiện tái bảo hiểm có lợi hơn xét về mặt kinh tế

Thực hiện cam kết gia nhập WTO, thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh cả về quy mô, chất lượng và cả sự ổn định trong thị trường tài chính nói chung Theo Bộ Tài chính, tác động của các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong việc Việt Nam cam kết gia nhập WTO có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh, tác động tích cực và tiêu cực Quá trình hội nhập sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ được nâng cao, năng lực thị trường được mở rộng, công nghệ quản lý mới được chuyển giao, trình độ đội ngũ cán bộ được nâng cao Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn đến các khả năng gây bất ổn định nói chung của thị trường tài chính, mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy định quản lý chưa theo kịp được với mức độ mở cửa thị trường

Như vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam mà cụ thể là các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước phải đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn từ các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Vậy thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển ra sao? Việc thực hiện các cam kết

Trang 28

WTO tác động đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm như thế nào? Việt Nam đã thực hiện được những gì và doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cùng các nhà quản lý sẽ phải làm gì để thúc đẩy khả năng phát triển? Hàng loạt vấn đề đã và đang được đặt ra sẽ lần lượt được tác giả phân tích trong những chương tiếp theo của khoá luận này

Trang 29

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT TRONG WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa và tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm từ năm 1993, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng Đặc biệt, sau 5 năm kể từ khi ký kết hiệp định BTA (2000-2004) và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2006 đã tạo ra những động lực mạnh mẽ cho ngành bảo hiểm Việt nam phát triển nhanh, mạnh thể hiện ở những mặt sau:

1 Quy mô thị trường

Tính đến ngày 31/12/2006 trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có tổng cộng 37 doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm tiến hành hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho thị trường Đối với lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 21 doanh nghiệp, bảo hiểm nhân thọ có 7 doanh nghiệp, môi giới bảo hiểm có 8 doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp tái bảo hiểm có 1 doanh nghiệp, đó là Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) (xem bảng 1)

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp

Loại hình doanh

nghiệp Nhà nước Cổ phần Liên doanh

100% vốn nước ngoài

Tổng cộng

Bảo hiểm phi nhân

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006 – Bộ Tài chính

Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng bình quân 26,5% trong giai đoạn 1993 –

Trang 30

2006; cơ cấu tỷ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh từ 0,37% GDP năm 1993 lên 1,82% GDP năm 2006 Số lượng sản phẩm bảo hiểm năm 1993 chỉ có 22, đến nay đã có gần 500 sản phẩm bảo hiểm; do không còn tình trạng hoạt động độc quyền, các doanh nghiệp đã chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm quyền lợi cho các khách hàng, giải quyết bồi thường nhanh chóng, đầy đủ theo thoả thuận trong

hợp đồng bảo hiểm

Để nâng cao sức cạnh tranh doanh nghiệp, bảo hiểm Việt Nam đã chú trọng đến những vấn đề then chốt liên quan tới hoạt động kinh doanh như chủ động tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp, thiết kế các sản phẩm bảo hiểm ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển của nền kinh tế, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm việc trong doanh nghiệp, thiết kế hệ thống kênh phân phối phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp, đồng thời các doanh nghiệp bảo hiểm cũng chủ động hơn trong việc đóng góp ý kiến của mình với Vụ bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm nhằm thúc đẩy thị trường phát triển tốt hơn

Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chiếm đa số (chiếm tỷ trọng 61,99%); thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện nay chỉ có duy nhất một doanh nghiệp của Việt Nam là Bảo Việt Nhân Thọ Tuy chỉ có một mình cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài nhưng xét về tổng thể và quy mô vốn thì Bảo Việt Nhân Thọ có thể cạnh tranh ngang ngửa với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, hiện nay doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chiếm thị phần đa số (khoảng 90% doanh số của toàn thị trường)

2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 31

Bảo Minh Groupama Pjico QBE PVI BIC PTI

Năm 2006, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 6.445 tỷ đồng tăng trưởng 17,5% so với năm 2005 Các doanh nghiệp trong nước chiếm 94,9%

Biểu đồ 1 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm Việt Nam 2006

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

thị phần, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,1% Thị phần doanh thu phí bảo hiểm tiếp tục tập trung vào các doanh nghiệp lớn hoạt động trên thị trường như Bảo Việt: 34,9%; Bảo Minh: 21,3%; PVI: 18,1%; PJICO: 10,6% (xem biểu 1)

2.1 Cơ cấu doanh thu và tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm theo nghiệp vụ

a Doanh thu bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ

Trong cơ cấu phí bảo hiểm theo nghiệp vụ 2006, nghiệp vụ bảo hiểm

xe cơ giới chiếm tỷ trọng lớn nhất (26,9%), tiếp đến là bảo hiểm tài sản và thiệt hại (23,3%), bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người (15,2%), bảo hiểm cháy, nổ (9,5%), bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu (9,9%),…

Trang 32

trong khi đó bảo hiểm nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất (0,01%) (xem

biểu 2)

Biểu đồ 2 Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

b Doanh thu bảo hiểm giữ lại theo nghiệp vụ

Sau 3 năm thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm, năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất cũng được cải thiện Kết quả là, mức phí bảo hiểm giữ lại của toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9,3% so với năm 2005 lên mức 4.206 tỷ đồng

Tµi s¶n vµ thiÖt h¹i Hµng ho¸ vËn chuyÓn Hµng kh«ng

Xe c¬ giíi Ch¸y næ n«ng nghiÖp Tµu vµ tr¸ch nhiÖm d©n sù chñ tµu

Tr¸ch nhiÖm chung

Trang 33

Biểu đồ 3 Doanh thu phí bảo hiểm giữ lại theo nghiệp vụ

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

Trong cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm giữ lại của thị trường bảo hiểm Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng lớn nhất (41,1%), tiếp đến là bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người (22,8%), bảo hiểm tài sản

và thiệt hại (11,4%) Các nghiệp vụ chiếm tỷ trọng phí bảo hiểm giữ lại thấp

là bảo hiểm nông nghiệp (0,01%), bảo hiểm thiệt hại kinh doanh (0,3%) (xem biểu 3)

2.2 Bồi thường bảo hiểm

Số tiền bồi thường bảo hiểm gốc năm 2006 là 2.482 tỷ đồng, số tiền bồi thường bảo hiểm thuộc trách nhiệm giữ lại 2.049 tỷ đồng (xem bảng 2)

Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc và bồi thường bảo hiểm thuộc trách nhiệm giữ lại năm 2006 ở mức cho phép, thể hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp đạt hiệu quả Vai trò của bảo hiểm trong việc đề phòng, khắc phục và hạn chế những tổn thất cho các đối tượng tham gia bảo hiểm, góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước được nâng cao

Bảng 2 Số tiền bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ

(Tỷ đồng)

Bồi thường bảo hiểm gốc 1.717 2.168 2.482

6.1 8.1

2.1

22.8

0.01 11.4 2.1

7.8 0.3

41.1

Ch¸y næ

Tµu vµ tr¸ch nhiÖm d©n sù chñ tµu

Trang 34

Bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại 1.443 1.625 2.049

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Năm 2006 đạt doanh thu 8.500 tỉ đồng, tăng 5% so với 2005 Dẫn đầu

là Prudential với 3.472 tỉ đồng, tiếp đến là Bảo Việt Nhân thọ là 3.097 tỉ đồng, Manulife với 897 tỉ, AIA là 519 tỉ đồng, Dai-ich Life 369 tỉ, ACE Life 52.1 tỉ, Prévoir 17 tỉ [4]

3.1 Tình hình khai thác hợp đồng bảo hiểm mới

Trong năm 2006, các doanh nghiệp bảo hiểm đã khai thác mới trên 488.000 hợp đồng bảo hiểm (tính riêng các sản phẩm bảo hiểm chính), giảm 17,1% so với năm 2005 Tổng số tiền bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm chính khai thác mới đạt 19.003 tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm 2005 Bình quân số tiền bảo hiểm của hợp đồng khai thác mới trong năm 2006 tăng 34,1% so với năm 2005 (xem bảng 3)

Bảng 3: Số hợp đồng, số tiền bảo hiểm và số phí bảo hiểm khai thác mới năm 2006

Hợp đồng bảo hiểm Số tiền bảo hiểm Phí bảo hiểm Nghiệp vụ

2005 2006 2005 2006 2005 2006

Bảo hiểm trọn đời 4.761 19.340 355 3.525 8,9 71,2 Bảo hiểm sinh kỳ 1.223 657 31 31 3,3 3,0 Bảo hiểm tử kỳ 32.905 29.980 1.609 1.594 18,1 14,7 Bảo hiểm hỗn hợp 548.745 437.077 14.804 13.264 1.204,1 1.092,9 Bảo hiểm trả tiền

Tổng cộng 589.535 488.458 17.103 19.003 1.275,7 1.248,9

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

Trang 35

Biểu đồ 4 Doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

Tổng doanh thu phí bảo hiểm của các hợp đồng khai thác mới đạt 1.289,7 tỷ đồng bằng 97,6% so với năm 2005 Trong đó, doanh thu phí của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 1.248,9 tỷ đồng bằng 97,9% so với năm

2005 Trong tổng số 1.289,7 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới, Prudential chiếm tỷ trọng 40,2%; Bảo Việt Nhân thọ chiếm 31,3%, AIA

chiếm 6,7%, Manulife chiếm 7,6%; Dai-ichi (“trước đây là Bảo Minh

CMG”) chiếm 9,2%; ACE chiếm 3,8%; Prévoir chiếm 1,2% (xem biểu đồ 4)

3.2 Tình hình trả tiền bảo hiểm

Tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp đã chi trả trong năm 2006 cho các sản phẩm chính là 2.038,9 tỷ đồng, tăng 40,9%; trả giá trị hoàn lại là 1.216 tỷ đồng tăng 44,3% so với năm 2005 (xem bảng 4) Số tiền chi trả bảo hiểm và trả giá trị hoàn lại tập trung chủ yếu vào các sản phẩm hỗn hợp, cho thấy, số đối tượng tham gia bảo hiểm được hưởng các quyền lợi bảo hiểm ngày càng nhiều qua các sản phẩm bảo hiểm có tính ưu việt mang tính chất bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư

Bảng 4 Tình hình trả tiền bảo hiểm 2005 - 2006

Trang 36

Bảo hiểm trọn đời 18.304 17.649 11.421 14.367

Bảo hiểm hỗn hợp 1.414.671 1.990.550 775.278 1.175.973 Bảo hiểm trả tiền định kỳ 3.176 518 52.299 19.650

Tổng số 1.446.437 2.038.940 839.652 1.216.040

Nguồn: Dự án VIE 002.09- Bộ Kế hoạch và đầu tư

Đây là năm thứ hai bảo hiểm nhân thọ có dấu hiệu chững lại (dù tăng trưởng 5%), ngoài việc cạnh tranh giữa các sản phẩm bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm với nhau thì sản phẩm bảo hiểm còn phải cạnh tranh với các sản phẩm khác của các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cần có những sản phẩm bảo hiểm mới, phù hợp với từng lứa tuổi, từng tầng lớp xã hội và có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của ngân hàng và chứng khoán Các doanh nghiệp bảo hiểm cần đầu tư phát triển sản phẩm mới như liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí (bổ sung cho bảo hiểm xã hội bắt buộc), bảo hiểm sức khỏe và chăm sóc y tế (bổ sung cho bảo hiểm y tế bắt buộc)

4 Hoạt động tái bảo hiểm

Bảng 5 Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2006

Trang 37

13.95 1.12 34.17 15.74 45.56

39.93

776.43 84.24

11.65 0.58

20.42 0.02 43.83 28.62 16.52 91.59

45.22

799.24 113.6

ThiÖt h¹i kinh doanh TÝn dông vµ rñi ro tµi chÝnh

Tr¸ch nhiÖm chung Th©n tµu vµ tr¸ch nhiÖm d©n sù chñ tµu

Ch¸y næ

Xe c¬ giíi Hµng kh«ng Hµng ho¸ vËn chuyÓn Tµi s¶n vµ thiÖt h¹i Søc khoÎ vµ tÝnh m¹ng con ng-êi

N¨m 2006 N¨m 2005

Nguồn: Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006- Bộ Tài chính

Năm 2006, tổng mức phí giữ lại của thị trường chiếm 85,4% tổng phí bảo hiểm gốc Phí bảo hiểm nhận tái từ thị trường nước ngoài tăng từ 98 tỷ đồng năm 2005 lên 112 tỷ đồng năm 2006 Tổng phí bảo hiểm giữ lại tại thị trường trong nước tăng từ 11.962 tỷ đồng năm 2005 lên 12.745 tỷ đồng năm

2006 (xem bảng 5) Điều này xuất phát từ năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất của các doanh nghiệp bảo hiểm được cải thiện nên đã làm tăng mạnh doanh thu phí bảo hiểm, tăng năng lực giữ lại của thị trường

5 Hoạt động trung gian bảo hiểm

5.1 Môi giới bảo hiểm

Tổng phí bảo hiểm giới thiệu cho các công ty bảo hiểm trong nước đạt 1.159 tỷ đồng, tăng 13,4% so với năm 2005, chiếm 18% tổng số phí bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường Hoạt động môi giới bảo hiểm tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và thiệt hại (68,9%), bảo hiểm sức khỏe

và tai nạn con người (9,8%), bảo hiểm xe cơ giới (7,9%), bảo hiểm hàng hóa vận chuyển (3,9%), bảo hiểm trách nhiệm chung (3,8%) (xem biểu 5)

Biểu 5 Phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới 2005-2006

Trang 38

Nguồn: Dự án VEI 02.009- Bộ Kế hoạch và đầu tư

5.2 Đại lý bảo hiểm

Tổng đại lý bảo hiểm năm 2006 ước đạt 109.256 đại lý, giảm 15% so với năm 2005 Trong đó, đại lý bảo hiểm nhân thọ là 63.550 người, giảm 31,6% so với năm 2005, đại lý bảo hiểm phi nhân thọ là 45.706 người, tăng 27,7% so với năm 2005

II TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT WTO ĐẾN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM CỦA VIỆT NAM

Trong quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ tài chính, việc mở cửa thị trường bảo hiểm là một trong các vấn đề quan trọng được đưa ra thảo luận trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Trong suốt 11 năm đàm phán gia nhập WTO và 1 năm kể từ ngày Việt Nam trở thành thành viên chính thức, chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng lớn trong việc cải thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu pháp lý trong cam kết WTO Chính phủ

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để đáp ứng các yêu cầu đó, cùng các luật được dự thảo sao cho phù hợp với thực tiễn quốc tế tốt nhất Trong phần này, tác giả sẽ đi sâu phân tích và đánh giá các biện pháp mà Chính phủ Việt nam

đã thực hiện nhằm thực thi các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO

1 Rỡ bỏ các rào cản tham gia thị trường

Rỡ bỏ các rào cản tham gia thị trường

So với các nước đang phát triển khác, Việt Nam đã rỡ bỏ tương đối các rào cản pháp lý hạn chế việc tiếp cận thị trường, trong cả lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ Trong khi nhiều quốc gia còn hạn chế các hãng bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường dưới hình thức liên doanh (với tỉ lệ vốn sở hữu thiểu số hay chi phối), Việt Nam đã cho phép thành lập công ty bảo hiểm và môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài

Rỡ bỏ các rào cản pháp lý điều chỉnh hệ thống phân phối

Trang 39

Các công ty bảo hiểm tại Việt Nam, cả nhân thọ và phi nhân thọ, đều được chủ động phát triển hệ thống phân phối sản phẩm Chính phủ cho phép các công ty bảo hiểm tự xây dựng chiến lược phát triển đại lý, xây dựng bảng phí hoa hồng đại lý Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm nước ngoài vẫn còn bị hạn chế trong việc mở chi nhánh Mặc dù Việt Nam không quy định về vốn điều lệ tốn thiểu cho việc thành lập chi nhánh mới như ở Trung Quốc, nhưng

số lượng chi nhánh mới sẽ bị hạn chế theo từng năm sau khi công ty được thành lập

Rỡ bỏ rào cản pháp lý đối với sản phẩm bảo hiểm và giá sản phẩm

Tương tự như các nước khác, các công ty bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam được chủ động thiết kế sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

và xác định giá cho các sản phẩm bảo hiểm, trừ một số sản phẩm bảo hiểm bắt buộc Theo đánh giá của các công ty bảo hiểm, mặc dù các công ty vẫn phải nộp danh mục các sản phẩm bảo hiểm và biểu phí của các sản phẩm bảo hiểm liên quan đến sức khoẻ tính mạng con người lên Vụ Bảo hiểm (Bộ Tài Chính) để được phê chuẩn, trình sản phẩm và biểu phí của các sản phẩm bảo hiểm

khác; tuy nhiên thủ tục tương đối minh bạch

2 Thành lập cơ quan quản lý nhà nước độc lập

Theo điều 121- Luật kinh doanh bảo hiểm Việt nam năm 2000, Chính phủ chỉ định Bộ Tài chính làm cơ quan thực hiện việc quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, vừa làm đầu mối cung cấp thông tin, vừa thực hiện vai trò của cơ quan giám sát và điều tiết cơ chế chính sách hoạt động của thị trường bảo hiểm Cùng với việc Vụ quản lý bảo hiểm được tách ra khỏi Vụ tài chính vào giữa năm 2003, các chức năng của cơ quan này đang dần được kiện toàn theo hướng vừa thực hiện chức năng tham mưu vừa thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 40

Tính độc lập trong chức năng của Bộ tài chính được thể hiện tại Điều

120 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, cụ thể như sau:

1 Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;

2 Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; giấy phép đặt văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;

3 Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm;

4 Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;

5 Tổ chức thông tin và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm;

6 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;

7 Chấp thuận việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài;

8 Quản lý hoạt động của văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;

9 Tổ chức việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm;

10 Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

3 Xây dựng hệ thống các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng

Nhằm đảm bảo quyền lợi của người mua bảo hiểm, chính phủ đã có quy định rõ ràng trong Luật kinh doanh bảo hiểm, theo đó theo điều 120 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định Bộ tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm thanh

Ngày đăng: 28/05/2014, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban công tác gia nhập WTO, (2006), Biểu cam kết về thương mại dịch vụ 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Dự án VIE 02.009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu cam kết về thương mại dịch vụ "3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006)
Tác giả: Ban công tác gia nhập WTO, (2006), Biểu cam kết về thương mại dịch vụ 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2006
9. Hoàng Văn Châu, Vũ Sĩ Tuấn, Nguyễn Như Tiến (2002), Giáo trình bảo hiểm trong kinh doanh, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm trong kinh doanh
Tác giả: Hoàng Văn Châu, Vũ Sĩ Tuấn, Nguyễn Như Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
10. Đặng Đình Đài (2002), Giáo trình Kinh tế các ngành thương mại dịch vụ, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế các ngành thương mại dịch vụ
Tác giả: Đặng Đình Đài
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2002
12. Luật Kinh doanh bảo hiểm, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh doanh bảo hiểm
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
13. Phùng Ngọc Khánh (2007), Định hướng phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 2007-2010, Tạp chí bảo hiểm số 2/2007, tr4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 2007-2010
Tác giả: Phùng Ngọc Khánh
Năm: 2007
14. Bùi Thu Ngà (2006), Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các quy định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, Đại học Ngoại Thương- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các quy định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
Tác giả: Bùi Thu Ngà
Năm: 2006
15. Nguyễn Như Tiến (2006), Thị trường bảo hiểm Việt Nam cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập
Tác giả: Nguyễn Như Tiến
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
16. Tang Xue Bin (3/2005), “Impact of the opening of market & assession to WTO on the insurance industry in China”, Vietnam insurance outlook 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Impact of the opening of market & assession to WTO on the insurance industry in China”
19. Swiss Re Sigma(2005), No.2. Global Insurance Industry 2004 Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005)," No.2. "Global Insurance Industry 2004
Tác giả: Swiss Re Sigma
Năm: 2005
20. Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006 và 6 tháng đầu năm 2007, Website của Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam www.avi.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006 và 6 tháng đầu năm 2007
22. Giải thích biểu cam kết WTO, Website của Bộ tài chính www.mof.gov.vn 23. Các công ty bảo hiểm niêm yết trên thị trường chứng khoán, Website Công ty Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích biểu cam kết WTO", Website của Bộ tài chính www.mof.gov.vn 23. "Các công ty bảo hiểm niêm yết trên thị trường chứng khoán
1. Ban công tác gia nhập WTO, (2006), Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO Khác
4. Bộ Tài chính (2006), Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2006 Khác
5. Chính phủ, NĐ46/ NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm Khác
6. Chính phủ, Nghị định 118/2003/NĐ-CP về qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Khác
7. Chính phủ, QĐ153/2003/QĐ-BTC về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó Bộ tài chính đã ban hành Khác
8. Chính phủ, Thông tư 31/2004 TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 118 của Chính phủ Khác
11. GATS, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ Khác
17. Ping An Insurance Company – Presentation delivered in Vietnam Insurance Outlook 2005 Khác
18. Swiss Re Sigma (2003) Emerging Insurance Markets- Lessons learned from crises Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lƣợng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
Bảng 1 Số lƣợng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp (Trang 29)
Bảng 2. Số tiền bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
Bảng 2. Số tiền bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ (Trang 33)
Bảng 3: Số hợp đồng, số tiền bảo hiểm và số phí bảo hiểm khai thác mới năm 2006  Hợp đồng bảo hiểm  Số tiền bảo hiểm  Phí bảo hiểm  Nghiệp vụ - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
Bảng 3 Số hợp đồng, số tiền bảo hiểm và số phí bảo hiểm khai thác mới năm 2006 Hợp đồng bảo hiểm Số tiền bảo hiểm Phí bảo hiểm Nghiệp vụ (Trang 34)
Bảng 4. Tình hình trả tiền bảo hiểm 2005 - 2006 - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
Bảng 4. Tình hình trả tiền bảo hiểm 2005 - 2006 (Trang 35)
Bảng 5. Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2006 - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
Bảng 5. Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2006 (Trang 36)
HÌNH THỨC  SỞ HỮU - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
HÌNH THỨC SỞ HỮU (Trang 93)
HÌNH THỨC  SỞ HỮU - Cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong WTO của việt nam và giải pháp thực hiện
HÌNH THỨC SỞ HỮU (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w