1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại việt nam và các biện pháp phòng ngừa

96 2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Trong Kinh Doanh Ngoại Hối Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam Và Các Biện Pháp Phòng Ngừa
Tác giả Lờ Thị Thanh Hường
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Quy
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương này nêu ra các lý luận về thị trường ngoại hối, các vấn đề cơ bản về các Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro và các biện pháp phòng ngừa mà các NHTM h

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

********* O0O ********

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

Rñi ro trong kinh doanh ngo¹i hèi t¹i c¸c ng©n

hµng ngo¹i th-¬ng viÖt nam vµ c¸c biÖn

Trang 2

MỤC LỤC

MụC LụC 1

LờI Mở ĐầU 5

CHƯƠNG 1: NHữNG VấN Đề CƠ BảN Về THị TRƯờNG NGOạI HốI Và KINH DOANH NGOạI HốI CủA CáC NGÂN HàNG THƯƠNG MạI 7

1.1 Thị tr-ờng ngoại hối 7

1.1.1 Khái niệm ngoại hối và thị tr-ờng ngoại hối 7

1.1.2 Đặc điểm của thị tr-ờng ngoại hối 8

1.1.3 Chức năng của Thị tr-ờng ngoại hối 9

1.1.4 Các thành viên tham gia Thị tr-ờng ngoại hối 10

1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng th-ơng mại 11

1.2.1 Khái niệm NHTM 11

1.2.2 Chức năng của các NHTM 12

1.2.3 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của các NHTM 15

1.3 Tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM 20 1.3.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 20

1.3.2 Các loại tỷ giá trên Thị tr-ờng ngoại hối 20

1.3.3 Các ph-ơng pháp yết tỷ giá 22

1.3.4 Các nhân tố ảnh h-ởng tới tỷ giá 23

1.4 Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM 24

1.4.1 Khái niệm chung về rủi ro 24

1.4.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM 25 1.4.3 Nguyên nhân phát sinh rủi ro 28

Trang 3

1.5.1 Vai trò của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 31

1.5.2 Kinh nghiệm của các n-ớc trong việc quản lý rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối 32

1.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 33

1.6.1 Biện pháp đo l-ờng rủi ro 33

1.6.2 Biện pháp bảo hiểm rủi ro 34

1.6.3 Biệp pháp đào tạo nguồn nhân lực 37

1.6.4 Biện pháp về công nghệ 37

CHƯƠNG 2: THựC TRạNG RủI RO Và VIệC áP DụNG CáC BIệN PHáP PHòNG NGừA TRONG HOạT ĐộNG KINH DOANH NGOạI HốI TạI CáC NHTM VIệT NAM 39

2.1 Tình hình kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam 39

2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển Thị tr-ờng ngoại hối Việt Nam 39

2.1.2 Tình hình kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam 40

2.1.3 Những điểm hạn chế trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam 46

2.2 Thực trạng các rủi ro th-ờng gặp trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam 47

2.2.1 Rủi ro đạo đức 47

2.2.2 Rủi ro tỷ giá 51

2.2.3 Rủi ro quản lý 54

2.2.4 Rủi ro do trình độ tác nghiệp 55

2.2.5 Rủi ro tổ chức 56

2.2.6 Rủi ro do môi tr-ờng thông tin 57

2.2.7 Rủi ro vận hành 59

Trang 4

2.3 Yếu tố tác động tới hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt

Nam 60

2.3.1 Cơ chế pháp lý 60

2.3.2 Cơ chế điều hành tỷ giá 61

2.3.3 Sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ du lịch, đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài 62

2.4 Thực trạng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam 63

2.4.1 Quản lý rủi ro 63

2.4.2 Các biện pháp đào tạo nguồn nhân lực 66

2.4.3 Các biện pháp về công nghệ 67

2.4.4 Các biện pháp bảo hiểm rủi ro 69

2.5 Đánh giá công tác phòng ngừa hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam 69

2.5.1 Những kết quả đạt đ-ợc 69

2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 70

CHƯƠNG 3: CáC GIảI PHáP PHòNG NGừA RủI RO TRONG HOạT ĐộNG KINH DOANH NGOạI HốI CủA CáC NHTM VIệT NAM 72

3.1 Định h-ớng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới 72

3.1.1 Các cam kết chung của Việt Nam trên lĩnh vực ngân hàng khi gia nhập WTO 72

3.1.2 Định h-ớng phát triển dịch vụ kinh doanh ngoại hối của các NHTM từ nay tới năm 2010 73

3.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đối với các NHTM Việt Nam 75

Trang 5

3.2.1 Quản lý rủi ro bằng hạn mức 75

3.2.2 Dự báo biến động tỷ giá bằng ph-ơng pháp phân tích kĩ thuật 77

3.2.3 Nhóm giải pháp về công nghệ 82

3.2.4 Nhóm giải pháp về con ng-ời 85

3.2.5 Đổi mới công tác quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh ngoại hối 87

3.3 Các kiến nghị 89

3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà n-ớc 89

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 90

KếT LUậN 91

TàI LIệU THAM KHảO 93

DANH MụC CHữ VIếT TắT 95

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2006, Việt Nam đã ra nhập WTO - sân chơi kinh tế chung của cả thế giới Với tư cách là một thành viên mới và là một nước đang phát triển, Việt Nam không thể tách mình ra khỏi xu thế chung mà phải nhanh chóng hội nhập

và bắt nhịp Cũng như những lĩnh vực kinh tế khác, hoạt động ngân hàng nói chung và kinh doanh ngoại hối nói riêng đang đứng trước những cơ hội và những thách thức vô cùng to lớn Đặc biệt là năm 2010, khi Việt Nam phải chính thức mở cửa hoàn toàn thị trường ngân hàng trên hầu hết các lĩnh vực thì những thách thức đó sẽ trở thành sự thực Vì vậy, các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam phải nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ hiện đại hóa hoạt động ngân hàng trong đó đa dạng hóa các loại hình dịch vụ là nhiệm vụ hàng đầu

Kinh doanh ngoại hối là một hình thức kinh doanh từ lâu đã phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam loại hình kinh doanh này mới ra đời được hơn 10 năm nay Tuy còn non trẻ, nhưng kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam là lĩnh vực kinh doanh tiềm năng và đang ngày càng có vị thế quan trọng trong hoạt động của hầu hết các NHTM

Mặc dù vậy, thực tế là hoạt động này tại các NHTM Việt Nam trong những năm qua chưa thực sự hiệu quả như những gì người ta kỳ vọng mà nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề đạo đức, trình độ tác nghiệp chưa cao, quản lý

và tổ chức kém…đã gây ra cho các NHTM không ít những rủi ro và thiệt hại có khi lên tới hàng chục tỷ đồng

Vì vậy, để góp phần làm tăng tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngoại hối, nhiều NHTM Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp phòng ngừa rủi ro trong loại hình kinh doanh có lợi nhuận rất cao này Tuy nhiên, các biện pháp

Trang 7

tăng Vì vậy, trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt, các NHTM cần nhanh chóng hoàn thiện hơn nữa các biện pháp để có thể chủ động phòng tránh các rủi

ro và tối đa hóa lợi nhuận Xuất phát từ nhu cầu thực tế cấp thiết đó, tác giả đã

chọn đề tài nghiên cứu là: Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân

hàng thương mại Việt Nam và các biện pháp phòng ngừa

Kết cấu khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thị trường ngoại hối và kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại Chương này nêu ra các lý

luận về thị trường ngoại hối, các vấn đề cơ bản về các Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro và các biện pháp phòng ngừa mà các NHTM hay sử dụng

Chương II: Thực trạng rủi ro và việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam

Chương này trình bày các lý luận, phân tích nguyên nhân các rủi ro mà các NHTM Việt Nam thường gặp trong kinh doanh ngoại hối và các biện pháp phòng ngừa các ngân hàng đã áp dụng kèm theo các ví dụ thực tế minh họa

Chương III: Các giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối cho các NHTM Việt Nam Phần này tác giả xin đưa ra một số

biện pháp, kiến nghị mà các NHTM Việt Nam có thế ứng dụng trong việc phòng ngừa rủi ro

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới giáo viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Thị Quy đã giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Thị trường ngoại hối

1.1.1 Khái niệm ngoại hối và thị trường ngoại hối

1.1.1.1 Khái niệm ngoại hối (Foreign Exchange hay Forex hay FX)

Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để

thanh toán giữa các quốc gia Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối có thể là không giống nhau Tuy nhiên, nhìn chung, ngoại hối gồm có 5 loại:

 Ngoại tệ (foreign currency): Tiền của nước khác lưu thông trong một nước Ngoại tệ bao gồm: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng

 Các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ: Hối phiếu, lệnh phiếu, séc, thư chuyển tiền (mail transfer), điện chuyển tiền (telegraphic transfer), thẻ tín dụng (credit card), thư tín dụng ngân hàng (bank letter of credit), là những chứng từ chi trả phát sinh từ quan hệ tín dụng, thể hiện một số tiền nhất định, được lưu thông dễ dàng từ người này sang người khác Phần lớn các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng Các phương tiện này không có giá trị nội tại của nó, mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ

 Các chứng khoán có giá ghi bằng ngoại tệ: Cổ phiếu (Stock), trái phiếu công ty (Corporate Bond), trái phiếu chính phủ (Government Bond)

 Vàng bạc, kim cuơng, ngọc trai, đá quý…được dùng làm tiền tệ

Trang 9

 Tiền Việt Nam dưới các hình thức: Tiều của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay về Việt Nam, tiền Việt Nam là lợi nhuận của người đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác

1.1.1.2 Khái niệm thị trường ngoại hối (The Foreign Exchange Market)

và các đặc điểm của Thị trường ngoại hối

Trong các hợp đồng xuất-nhập khẩu, để thanh toán tiền hàng, các nhà nhập khẩu thường xuyên phải mua các ngoại tệ thích hợp với điểu khoản thanh toán, nghĩa là họ phải bán đồng nội tệ Hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau như thế được diễn ra trên thị trường và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối

Một cách tổng quát, thị trường ngoại hối được định nghĩa là bất cứ ở đâu diễn ra việc mua và bán các đồng tiền khác nhau

1.1.2 Đặc điểm của thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối có các đặc điểm sau:

 Không nhất thiết phải tập trung tại một vị trí địa lý hữu hình nhất định

 Thị trường ngoại hối là thị trường toàn cầu

 Trung tâm của Thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các thành viên chủ yếu là các Ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối

Trang 10

 Thị trường ngoại hối rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý…nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển

 Hiện nay các thị trường giao dịch ngoại hối tầm cỡ thế giới là New York, London và Tokyo Tầm cỡ khu vực có Frankfurt, Zurich ở châu Âu hay Hongkong, Singapore ở châu á Tầm cỡ quốc gia có Bangkok, Thượng Hải, Manila, Sydney…

1.1.3 Chức năng của Thị trường ngoại hối

Để thỏa mãn nhu cầu ngoại hối của các khách hàng là các nhà nhập khẩu, các Ngân hàng thương mại luôn sẵn sàng giúp khách hàng thực hiện các giao dịch ngoại hối Đó chính là chức năng cơ bản của Thị trường ngoại hối-nhằm dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế

Ngoài chức năng cơ bản trên, Thị trường ngoại hối còn có một số chức năng khác như:

 Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia

 Thông qua hoạt động của Thị trường ngoại hối, giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường

 Cung cấp các công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho các khoản thu, chi, vay bằng ngoại tệ thông qua các hợp đồng như: Kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai

 Thị trường ngoại hối là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế

Trang 11

1.1.4 Các thành viên tham gia Thị trường ngoại hối

Căn cứ vào hình thái tổ chức của các thành viên ta có thể phân loại các thành viên tham gia Thị trường ngoại hối như sau:

1.1.4.1 Ngân hàng thương mại (Commercial Banks):

Các NHTM tham gia vào Thị trường ngoại hối với hai mục đích: Cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua việc mua và bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán lẻ Trong trường hợp này, các NHTM sẽ thu về một khoản phí từ cung cấp dịch vụ nhưng không chịu bất kỳ một rủi ro nào do hoạt động mua bán hộ của mình gây ra và cơ cấu bảng tổng kết tài sản của họ không thay đổi Ngoài ra, các NHTM còn giao dịch ngoại hối vì mục đích kinh doanh của chính mình, nghĩa là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi Trong trường hợp này, các NHTM phải chịu rủi ro do hoạt động mua bán đó và các giao dịch như thế này làm cho cơ cấu tài sản của họ thay đổi

1.1.4.2 Những nhà môi giới ngoại hối (Foreign Exchange Brokers):

Các NHTM tham gia kinh doanh ngoại hối có thể mua bán trực tiếp với nhau nhưng cũng có thể thông qua môi giới Các nhà môi giới chỉ tham gia với vai trò là người cung cấp dịch vụ và hưởng hoa hồng hoặc phí chứ không mua bán ngoại hối cho chính mình.Vì vậy, họ không chịu trách nhiệm về tiến trình giao dịch cũng như rủi ro giữa hai bên

1.1.4.3 Ngân hàng trung ương (Central Bank):

Các NHTW tham gia Thị trường ngoại hối với mục đích là tác động lên tỷ giá theo hướng mà họ cho là có lợi kể cả trong chế độ tỷ giá thả nổi

Với chế độ tỷ giá cố định, can thiệp của NHTW lên Thị trường ngoại hối

là bắt buộc để nhằm duy trì tỷ giá trong một biên độ nhất định Khi cung ngoại tệ

Trang 12

cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ, họ sẽ tiến hành bán ngoại tệ ra tức là mua nội tệ trên Thị trường ngoại hối

1.1.4.4 Nhóm các công ty đa quốc gia (Multinational Corporations):

Nhóm các công ty này tham gia Thị trường ngoại hối có thể vì mục tiêu đầu cơ kiếm lời cũng như để phục vụ cho hoạt động mậu dịch quốc tế của họ hoặc để hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Thông thường họ tham gia mua bán với số lượng lớn nên có thể gây ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

1.1.4.5 Các công ty xuất nhập khẩu:

Nhóm thành viên này có nhu cầu ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động đầu tư

và mậu dịch quốc tế chứ không nhằm mục đích kinh doanh

1.1.4.6 Những người kinh doanh ngoại tệ (Dealers):

Nhóm này thường gồm các chuyên viên của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty được phép kinh doanh ngoại hối

Một hệ thống ngân hàng bao gồm 2 loại ngân hàng là: Các ngân hàng

Trang 13

hàng chuyên kinh doanh tiền tệ, không được phép phát hành tiền, gọi là các trung gian thương mại mà trong đó chủ yếu là các NHTM

Vậy, Ngân hàng thương mại là gì?

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất

của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại…

Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua

ngày 12/12/1997 thì các Ngân hàng thương mại được gọi là các tổ chức tín

dụng Theo điều 20, khoản 1 của luật này, Tổ chức tín dụng là "doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi

và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán"

Tại Hoa kỳ và nhiều nước khác, khái niệm ngân hàng thương mại

được hiểu là những công ty kinh doanh, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán

1.2.2 Chức năng của các NHTM

1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng

Trong quá trình tuần hoàn vốn phục vụ tái sản xuất đã phát sinh mâu thuẫn

Trang 14

rỗi và một bên là ở một số chủ thể khác lại có nhu cầu bổ sung vốn Ngân hàng thương mại với tư cách là một tổ chức tín dụng có khả năng giải quyết mâu thuẫn này bằng cách đóng vai trò là người trung gian môi giới hay là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay: tập trung vốn nhàn rỗi và sau đó cho các thành phần kinh tế khác vay lại

Với hoạt động này, thực chất, NHTM đang thực hiện chức năng trung gian tín dụng của nó với vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay (Xem sơ đồ minh họa chức năng của NHTM)

Sơ đồ 1: Chức năng của NHTM

1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Chức năng này dựa trên cơ sỏ chức năng trung gian tín dụng Vì trong quá trình làm trung gian tín dụng, các NHTM đã thu hút được một lượng vốn nhất định từ phía các doanh nghiệp, cá nhân trên các tài khoản tiền gửi của họ tại Ngân hàng Thông qua các tài khoản đó, NHTM thực hiện thanh toán theo lệnh của các khách hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng của mình theo các hợp đồng mua bán, giao dịch Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp, cung cấp cho các doanh nghiệp các phương tiện thanh toán như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán… để các doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức phù hợp

1.2.2.3 Chức năng "tạo tiền"

Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và thanh toán, các NHTM có

cần vốn Người

có vốn

Trang 15

qua cho vay bằng chuyển khoản, các ngân hàng đã nhân số tiền đó lên nhiều lần

Số tiền được nhân lên nhiều hay ít phụ thuộc vòa hệ số mở rộng tiền gửi

Xét ví dụ sau: Một khách hàng đem 100.000đ gửi vào tài khoản ngân

hàng A, ngân hàng A dự trữ một phần (10%) còn lại cho vay hết

Bảng cân đối tài sản của Ngân hàng A thay đổi như sau

Trang 16

Số tiền gửi tăng lên trong cả hệ thống ngân hàng = Số tiền gửi ban đầu x

Hệ số mở rộng tiền gửi (H)

Mà:

1(Tû lÖ dù tr÷ b¾t buéc) + Tû lÖ thanh to¸n b»ng + (Tû lÖ dù tr÷ d­ thõa)

Do đó, số tiền gửi tăng lên trong cả hệ thống là: 100.000 x 10 = 1.000.000

1.2.3 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của các NHTM

1.2.3.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot Transaction)

Nghiệp vụ giao ngay trên thị trường ngoại hối là hoạt động mua, bán các đồng tiền khác nhau, trong đó ngày thanh toán (còn gọi là ngày giá trị-ngày xảy

ra các luồng tiền) có giá trị trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo Trong thời hạn

2 ngày này, các bên tiến hành kiểm tra, hoàn tất giấy tờ, thủ tục thanh toán Lọai giao dịch này thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay và nơi diễn ra được gọi là thị trường ngoại hối giao ngay Đây là thị trường phi tổ chức (không giao dịch trên

sở giao dịch)

Ví dụ: NHTM A mua 100.000 USD vào ngày thứ 2 (5/11/2007), có nghĩa

là sau đó 2 ngày, tức là ngày thứ 4 (7/11/2007), NHTM A sẽ nhận được báo Có

Trang 17

trên tài khoản số đô la đó Đối với nước nghỉ 2 ngày cuối tuần thì ngày giao nhận ngoại hối không tính ngày đó

1.2.3.2 Nghiệp vụ kỳ hạn (Forward Transaction)

Giao dịch hối đoái có kỳ hạn là nghiệp vụ kinh doanh, trong đó các yếu tố của giao dịch (tỷ giá, số tiền, ngày giao) được xác định ở thời điểm hiện tại, còn việc thực hiện chúng thì ở một thời điểm trong tương lai Hai bên mua bán sẽ thỏa thuận về việc chuyển giao một số ngoại tệ nhất định, sau một thời gian nhất định kể từ ngày ký kết hợp đồng, theo tỷ giá được xác định ở thời điểm ký kết

Trong nghiệp vụ này, việc giao ngoại tệ được quy định theo kỳ hạn thích hợp (30.60,90…360 ngày) Thời hạn này có thể kéo dài vài tháng thậm chí vài năm

I là lãi suất cho vay DEM

N là thời hạn cho vay

K là hệ số thời hạn cho vay trong năm N/360 hay N/12

u

P là số lượng USD đầu tư ban đầu

Công thức tính tỷ giá kỳ hạn như sau:

K I

K I R R

u

d S F

u d S

S F

I I N R R

Nếu lãi suất đồng USD thấp, thời hạn cho vay ngắn, ta có thể coi 1 I u  1

Do vậy, kết quả là:

Trang 18

) (

360 d u

S S

1.2.3.3 Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (Swap Transaction)

Giao dịch hoán đổi tiền tệ là giao dịch gồm đồng thời hai giao dịch, trong

đó, một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn

Ví dụ với một hợp đồng hoán đổi giữa đồng tiền X và đồng tiền Y sẽ bao gồm 2 giao dịch là: mua X và bán Y giao ngay (giao dịch giao ngay) và bán X và mua Y kỳ hạn là 6 tháng (giao dịch kỳ hạn) Nghĩa là bên mua X sẽ giao ngay Y nhưng bên bán X sẽ không giao ngay X mà giao kỳ hạn 6 tháng Vì vậy, tỷ giá hoán đổi phải phản ánh các mức lãi suất kỳ hạn 6 tháng của 2 đồng tiền này trên thị trường tiền tệ Trong đó, Tỷ giá hoán đổi = Tỷ giá kỳ hạn - Tỷ giá giao ngay,

mà tỷ giá kỳ hạn thì đã bao gồm cả lãi suất của 2 đồng tiền trên thị trường

1.2.3.4 Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá (Arbitrage)

Kinh doanh chênh lệch tỷ giá là việc mua một loại tiền tệ trên thị trường hối đoái này đồng thời bán lại loại tiền tệ đó tại thị trường khác để hưởng chênh lệch giá giữa hai thị trường

Ví dụ: Có bảng yết tỷ giá mua vào và bán ra của 2 đồng tiền X và Y tại 2 thị trường A, B như sau

Trang 19

Tỷ giá: (X/Y) Mua vào Bán ra

Do tỷ giá mua vào, bán ra của 2 ngân hàng lệch nhau, nên nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá có thể diễn ra như sau:

Mua Y ở thị trường A tại tỷ giá 1,6425

Bán Y tại thị trường B tại tỷ giá 1,6430

Cứ mỗi một đồng Y bán ra sẽ thu được lãi là = 1,6430 - 1,6425 = 0,0005X Thế nhưng hoạt loại nghiệp vụ này không phổ biến một phần là do tình trạng các ngân hàng luôn điều chỉnh lại giá niêm yết của mình khi tình hình yết giá không thống nhất

1.2.3.5 Nghiệp vụ tương lai (Future Transaction)

Hợp đồng hối đoái tương lai cũng là một thỏa thuận sẽ giao trả trong một tương lai nhất định một số tiền nhất định theo một giá thỏa thuận của ngày hôm nay Nhưng các giao dịch tiền tệ tương lai được tiêu chuẩn hóa, được thực hiện trên sàn giao dịch của sở giao dịch

Khác với hợp đồng kỳ hạn, người mua hay bán trong giao dịch này không

có ý định thật sự giao trả tiền đã ghi trong hợp đồng mà họ thường tiến hành mua lại hoặc bán đi hợp đồng tương lai khi hợp đồng gần đáo hạn để kiếm lợi bù trừ cho phần lỗ mà họ có thể gánh chịu do sự biến động của tỷ giá

Ví dụ: Một NHTM ký một hợp đồng mua 125000 DEM thanh toán vào một ngày cụ thể trong tháng 3 Vào bất cứ ngày nào trước tháng 3, nếu ngân hàng đó quyết định kết thúc hợp đồng thì chỉ việc ký hợp đồng bán 125000 DEM

Trang 20

nhau Nếu tỷ giá mua lớn hơn tỷ giá bán, NHTM sẽ thu được một khoản tiền lời, ngược lại sẽ phải chịu lỗ và khoản chênh lệch này được hai bên thanh toán ngay khi NHTM ký hợp đồng thứ hai

1.2.3.6 Giao dịch quyền chọn (Options Transaction)

Hợp đồng quyền chọ tiền tệ cho phép người mua hợp đồng có quyền, chứ không có nghĩa vụ, mua hoặc bán một đồng tiền nhất định trong tương lai tại mức tỷ giá đã được thỏa thuận, gọi là tỷ giá quyền chọ, hay tỷ giá giao dịch

Nhƣ vậy có hai loại hợp đồng quyền chọn tiền tệ:

Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ (Call Option) là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng có quyền mua một đồng tiền nhất định tại một tỷ giá đã xác định trong hợp đồng

Ví dụ: NHTM A ký hợp đồng quyền chọn mua 1.000.000 USD với NHTM B giao tháng 12/2007 theo tỷ giá USD/VND = 16.000 và phải đặt cọc 1.000 VND cho 1 USD Nếu đến tháng 12/2007, tỷ giá này chỉ còn 14.000, NHTM A sẽ đề nghị hủy hợp đồng và chịu mất 1.000 VND cho 1 USD và mua USD theo giá 14.000 VND vì còn có lợi hơn so với việc thực hiện hợp đồng Nếu đến tháng 12/2007, tỷ giá này tăng lên tới mức 18.000 thì NHTM A sẽ đề nghị thực hiện hợp đồng Khi đó, NHTM A chỉ chịu chi phí là 16.000 VND và tiền đặt cọc là 1.000 VND để mua 1 USD Như vậy NHTM A vẫn có lãi 1.000 VND cho 1 USD

Hợp đồng quyền chọ bán tiền tệ (Put Option) là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định tại một tỷ giá đã xác định trong hợp đồng

Trang 21

Ví dụ: NHTM B ký bán cho NHTM A 1.000.000 USD tỷ giá USD/VND = 16.000, chi phí đặt cọc 1.000 VND, giao tháng 12/2007 Nếu giá xuống dưới 15.000 thì NHTM B đề nghị NHTM A thực hiện hợp đồng Ngược lại nếu giá lên trên 16.000 thì NHTM B sẽ đề nghị hủy hợp đồng và mất chi phí đặt cọc

1.3 Tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các

NHTM

1.3.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Sự phát triển các quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch, văn hóa, ngoại giao giữa các nước làm phát sinh những quan hệ thanh toán quốc tế Do hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng nên thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khác nhau, đồng tiền nước này đổi lấy đồng tiền nước kia Hai đồng tiền được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá

Vậy, Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một đồng tiền khác

Ví dụ: 1 USD = 16010 VND ở đây, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá là 16010 VND

1.3.2 Các loại tỷ giá trên Thị trường ngoại hối

 Tỷ giá mua vào (Bid Exchange Rate) là tỷ giá tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá

 Tỷ giá bán ra (Offer Exchange Rate) là tỷ giá tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá

Trang 22

Ví dụ: Ngân hàng ngoại thương yết giá ngày 28/9/2007 như sau:

Tỷ giá mua vào Tỷ giá bán ra

S(USD/VND) = (16.083-16.100)

 Tỷ giá giao ngay (Spot Exchange Rate) là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc tiến hành thanh toán xảy ra trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo

 Tỷ giá kỳ hạn (Forward Exchange Rate) là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng thanh toán xảy ra sau đó từ 3 ngày làm việc trở lên

 Tỷ giá tiền mặt (Bank Note Rate) là tỷ giá áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng

 Tỷ giá chuyển khoản (Transaction Rate) là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản

 Tỷ giá mở cửa (Open Exchange Rate) là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch đầu tiên trong ngày

 Tỷ giá đóng cửa (Close Exchange Rate) là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày

 Tỷ giá chính thức (Official Exchange Rate) là tỷ giá do NHTW công

bố, phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ

 Tỷ giá danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) là tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền

 Tỷ giá thực (Real Exchange Rate) phản ánh tương quan sức mua giữa hai đồng tiền trong tỷ giá

Trang 23

 Tỷ giá trung bình (Effective Exchange Rate) là tỷ giá đối với một rổ các đồng tiền

 Tỳ giá chéo (Crosed Exchange Rate) là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ 3

 Tỷ giá cố định (Fixed Exchange Rate) là tỷ giá do NHTW công bố cố định không thay đổi

 Tỷ giá thả nổi (Floating Exchange Rate) là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên Thị trường ngoại hối, NHTW không bắt buộc phải can thiệp

1.3.3 Các phương pháp yết tỷ giá

Có hai phương pháp yết tỷ giá là yết tỷ giá trực tiếp và yết tỷ giá gián tiếp

1.3.2.1 Yết tỷ giá trực tiếp (Direct Quotation)

Yết giá trực tiếp là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài được biểu hiện bằng các đơn vị nội tệ

VD: Tại Hà Nội USD/VND = 16.010/16.059

1.3.2.2 Yết tỷ giá gián tiếp (Indirect Quotation)

Yết giá gián tiếp là giá của một đơn vị nội tệ được biểu hiện bằng các đơn

vị ngoại tệ

Ví dụ: Tại London: GBP/USD = 1.7612/20

Ngoài hai phương pháp yết giá truyền thống được sử dụng rộng rãi này còn các phương pháp yết giá khác:

Yết giá kiểu Mỹ, tức là số lượng đồng USD trên một đơn vị ngoại tệ Ví

dụ, tại Tokyo: GBP/USD = 1.7612/20

Yết giá kiểu châu Âu, tức là 1 USD tương đương với một số lượng đồng ngoại tệ khác Ví dụ, ở London: USD/JPY = 127,60/65

Trang 24

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá

Cán cân thanh toán quốc tế: Nếu cán cân thanh toán cân bằng: Tỷ giá

hối đoái ổn định Nếu cán cân thanh toán bội thu: Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ, làm cho dự trữ ngoại tệ tăng lên và dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm

Tỷ lệ lạm phát: Giả sử khi lạm phát tăng, đồng tiền sẽ bị mất giá, tức là

để mua một loại hàng hóa ta sẽ mất nhiều tiền hơn Do đó, khi ta so sánh tỷ lệ lạm phát của 2 nước hay so sánh sức mua của hai đồng tiền Nếu mức lạm phát của một nước này cao hơn mức lạm phát của một nước khác, thì sức mua của nội

tệ sẽ giảm Và làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên VD: Giả sử, mức lạm phát của

VN cao hơn USA, tính cùng thời điểm Khi đó, sức mua của đồng VND giảm, VND mất giá Dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng

Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước: Khi so sánh mức lãi suất giữa

hai nước, ta có: Nước có mức lãi suất cao, chứng tỏ đồng tiền có giá, nền kinh tế

ổn định Do đó kých thích các luồng vốn ngắn đầu tư vào thị trường trong nước Dẫn đến cung ngoại tệ tăng, cầu ngoại tệ giảm Và tỷ giá hối đoái giảm

Tác động của hoạt động đầu cơ ngoại tệ: Khi nhà đầu cơ dự đoán giá

của một loại ngoại tệ nào đó sẽ lên, họ sẽ đổ tiền mua vào với số lượng lớn Dẫn đến làm cho ngoại tệ này trở nên khan hiếm, cung < cầu, dẫn đến giá ngoại tệ này tăng lên, tỷ giá hối đoái tăng Và ngược lại

Tăng trưởng kinh tế hay suy thoái kinh tế: Mức độ tăng %GDP thực

tế sẽ ảnh hưởng làm tăng hoặc giảm cung và cầu vệ ngoại tệ, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồng tiền trong nước so với tiền nước ngoài giảm đi hoặc tăng lên Ngoài ra còn có các yếu tố tác động khác như: yếu tố tâm lý; các chính sách liên quan tới quản lý ngoại hối; các rủi ro như dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh…

Trang 25

1.4 Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM

1.4.1 Khái niệm chung về rủi ro

Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh tế, con người không thể tránh khỏi những rủi ro Thế nhưng không phải ở đâu người ta cũng đồng nhất quan điểm về rủi ro Tùy theo từng giai đoạn phát triển của nhận thức, theo lình vực nghiên cứu, con người đã đưa ra những khái niệm rủi ro khác nhau

Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt Online: "Rủi ro là khả năng gặp nguy

hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay từ một vài sự kiện" Tương tự như

thế, từ điển Oxford (Oxford Advanced Learner's Dictionary, Nhà xuất đại học

Oxford, 2000) cũng định nghĩa rằng: "Rủi ro là khả năng xuất hiện một việc không tốt tại một thời điểm nào đó trong tương lai, là một tình trạng nguy hiểm

hoặc có thể mang lại những kết quả xấu" Còn theo GS Nguyễn Lân trong cuốn

Từ điển Từ ngữ Việt Nam, xuất bản năm 1998 thì "Rủi ro đồng nghĩa với rủi, là

sự không may"

Khác với các quan điểm trên xem xét khái niệm rủi ro dưới góc độ sự không may, sự tổn thất hay nguy hiểm là những quan điểm gắn rủi ro với tính

ngẫu nhiêu của nó Theo từ điển kinh doanh Anh-Việt (Nguyễn Đức Dy, NXB

Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2000, tr 911) thì "rủi ro là một tình hình mà xác suất

của một biến số có thể biết được nhưng không biết lúc nào xảy ra" Theo từ điển

kinh tế học hiện đại (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 904) thì "rủi ro

là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong một trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất" Hay đơn

giản hơn, theo nhà kinh tế học người Mỹ-Frank Knight: "Rủi ro là sự bất trắc

có thể đo lường được"

Trang 26

Qua những khái niệm nêu trên, có thể thấy rủi ro có những đặc điểm chính là: Bất ngờ, gây ra tổn thất và xuất hiện ngoài mong muốn của con người

1.4.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các

NHTM

Hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với rủi ro Nhưng đối với mỗi ngành, mỗi nghề, mỗi lĩnh vực, rủi ro gặp phải ngoài những đặc tính chung nêu trên chắc chắn có những đặc thù riêng của nó

Đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối, căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro ta có thể chia ra làm các loại rủi ro sau: Rủi ro chủ quan và rủi ro khách quan

1.4.2.1 Rủi ro khách quan

1.4.2.1.1 Rủi ro đối tác

Rủi ro đối tác là rủi ro xảy ra khi một ngân hàng đối tác hay một khách hàng không thể hay không muốn thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong giao dịch mua bán ngoại tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ đã cam kết đó \

1.4.2.1.2 Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà NHTM có thể bị thiệt hại do sự biến động của tỷ giá hối đoái khi NHTM này đang nắm giữ một lượng tiền tệ nhất định

1.4.2.1.3 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất, là rủi ro làm giảm thu nhập ròng từ lãi khi lãi sự thay đổi theo hướng bất lợi cho ngân hàng

Ví dụ: NHTM A mua USD bằng đồng EUR của NHTM B kỳ hạn 6 tháng Trước ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất cho vay của đồng USD tăng lên còn đồng lãi suất đồng EUR và tỷ giá hối đoái USD/EUR không đổi Khi đó, giao dịch vẫn

Trang 27

diễn ra nhưng NHTM B đã bị lỗ một khoản do quyết định bán USD - đồng tiền

sẽ có lợi khi giữ lại để cho vay

1.4.2.1.4 Rủi ro do môi trường thông tin

Đối với hoạt động ngân hàng, nhất là kinh doanh ngoại hối, thông tin là một yếu tố quan trọng Thông tin là nguồn dữ liệu để các NHTM dự báo, đo lường sự biến động của các yếu tố trong kinh doanh ngoại hối trong đó có cả rủi

ro kinh doanh ngoại hối Vì vậy, thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc những tin đồn ác ý cũng có thể sẽ dẫn tới những rủi ro cho NHTM Rủi ro do môi trường thông tin có thể xảy ra dưới các dạng sau:

 Thiếu thông tin về đối tác nên bị đối tác lừa không thanh toán

 Thiếu thông tin phục vụ cho công tác đo lường, dự báo sự biến động của một số yếu tố như: tỷ giá hối đoái, rủi ro…nên đưa ra các quyết định sai lầm

 Gặp phải những tin đồn ác ý do đối thủ cạnh tranh hoặc kẻ xấu tung ra 1.4.2.1.5 Rủi ro vận hành

Đây là rủi ro có thể được đưa đến từ những sai sót của của mạng điện thoại, giao dịch qua Telex, Reuter, giao dịch Telerate, hỏng hóc của máy tính cá nhân, hệ thống mạng quá tải, thiết bị hư hại hay mất điện…

Trang 28

Còn trên góc độ tài chính, cũng theo Wikipedia, Rủi ro đạo đức rủi ro xảy

ra khi mà các tổ chức cho vay dù biết rằng họ đang thực hiện một khoản cho vay mạo hiểm mà người đi vay có thể thanh toán nếu hoạt động đầu tư của họ tốt đẹp nhưng cũng có thể không thanh toán hoặc thanh toán không đủ trong trường hợp ngược lại nhưng vẫn thực hiện khoản cho vay này Rủi ro này có thể xảy ra với

cả người đi vay và người cho vay

Nhưng cũng có những quan điểm đơn giản chỉ cho rằng: Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra do một hoặc hai bên cố tình làm trái với nguyên tắc hoặc vi phạm các nghĩa vụ để làm lợi cho bản thân mình

Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro đạo đức ngày càng trở nên phổ biến Rủi ro này có thể xuất phát từ phía đối tác của các NHTM (đã đề cập ở phần 1.4.2.1 Rủi ro khách quan) nhưng cũng có thể xuất phát từ chính NHTM Phần 1.4.2.2 - Rủi ro chủ quan này chỉ đi làm rõ rủi ro đạo đức từ phía các NHTM

Trong một NHTM, rủi ro đạo đức có thể xuất phát từ hai bộ phận: Bộ phận quản lý và bộ phận nhân viên

1.4.2.2.2 Rủi ro tổ chức

Rủi ro tổ chức là những rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đem lại Rủi ro này thường là do sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối là bộ phận giao dịch, thanh toán, kiểm soát; hay mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối còn chưa hiệu quả và hợp lý

1.4.2.2.3 Rủi ro quản lý

Đây là rủi ro do trình độ yếu kém của nhà quản lý trong khâu dùng người, quản lý hoạt động hoặc yếu kém trong việc đưa ra các quyết định

Trang 29

Rủi ro do trình độ tác nghiệp trong kinh doanh ngoại hối là rủi ro sai sót, nhầm lẫn do sự yếu kém về năng lực, trình độ của các cán bộ, nhân viên có liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh ngoại hối

1.4.3 Nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM do nhiều nguyên nhân phát sinh

1.4.3.1 Vấn đề đạo đức

Khi khách hàng của các NHTM cố tình tạo lập những bộ hồ sơ và tài khoản giả mạo để ký kết các hợp đồng mua bán ngoại tệ với ngân hàng hoặc thông đồng với nhân viên của ngân hàng vi phạm các nghĩa vụ nhằm thực hiện mục đích của mình thì đó chính là vấn để đạo đức Và đây có thể là nguyên nhân phát sinh rủi ro đối tác hay rủi ro tín dụng

Còn đối với bản thân NHTM, đạo đức của nhà quản lý và cán bộ nhân viên cũng có thể phát sinh những rủi ro tương tự Một nhà quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thì phòng ngừa được loại rủi ro này Nhưng thực tế là, vì lợi ích cá nhân hay một nhóm người, cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã

vô tình hoặc cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro này phát triển mặc dù đã được nhân viên cấp dưới thẩm định là có dấu hiệu nghi ngờ gian lận Mặt khác, rủi ro tín dụng đối với một ngân hàng là không thể tránh khỏi cho dù nhân viên làm nghiệp vụ đã rất tận tâm Thế nhưng, một phần không nhỏ gây nên tình trạng rủi ro tín dụng ngày càng gia tăng ở các NHTM, đặc biệt trong các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, chính là do một bộ phận cán bộ thẩm định, dự báo… bị sa sút về phẩm chất, đạo đức, thiếu trách nhiệm nên dẫn tới việc dự báo không chính xác, thông tin không đầy đủ khiến ngân hàng gặp phải những hợp đồng

Trang 30

"ma" Hoặc có khi, nhân viên nghiệp vụ lại moắc ngoặc với nhau hay với những người khác để thực hiện các hành vi phi pháp nhằm rút tiền của ngân hàng

1.4.3.2 Sự biến động của tình hình kinh tế chính trị

Có thể xảy ra trường hợp đối tác của các NHTM không thể hoặc có thể sẽ không thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết vào thời điểm phát sinh các nghĩa

vụ đã cam kết mà nguyên nhân là do chiến tranh, bạo động, cách mạng hay hệ thống thanh toán của quốc gia đó (quốc gia của bên đối tác) ngừng hoạt động thanh toán ra nước ngoài…

1.4.3.3 Sự mất cân đối trong trạng thái ngoại hối

Do sự mất cân đối trong trạng thái ngoại hối thực của một đồng tiền

nhất định tại các NHTM: trong trường hợp này, NHTM sẽ chịu rủi ro tỷ giá Vì

vậy, lúc này rủi ro tỷ giá còn được gọi là rủi ro trong trạng thái ngoại hối thực Nếu trạng thái ngoại hối thực của NHTM là dư thừa ngoại tệ (tổng tài sản có lớn hơn tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó) thì chắc chắn NHTM sẽ gặp rủi ro khi ngoại

tệ đó giảm giá vì phải chịu một khoản lỗ Tương tự, nếu trạng thái ngoại hối thực

là thiếu ngoại tệ (tổng tài sản có nhỏ hơn tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó) thì NHTM cũng sẽ mất đi một khoản lợi nhuận khi giá của ngoại tệ đó tăng lên

Ví dụ vào ngày giao dịch, một NHTM thực hiện việc mua vào 1 triệu EUR bằng USD theo tỷ giá USD/EUR = 0,7010 và giao vào ngày hôm sau Nhưng ngày hôm sau, tỷ giá này tăng lên tới mức là USD/EUR = 0,7110, tức là USD tăng giá Do vậy, giao dịch này khiến ngân hàng bị lỗ một khoản chính là: (0,7110 - 0,7010) x 1.000.000 = 10.000 USD

Do sự mất cân đối trong trạng thái kỳ hạn: trong trường hợp này rủi

ro tỷ giá cũng có thể xảy đến cho các NHTM Do đó, lúc này rủi ro tỷ giá còn

Trang 31

giá vào thời điểm đáo hạn hợp đồng Thậm chí ngay cả khi trạng thái ngoại tệ là cân bằng vào một thời điểm nào đó thì vẫn tiềm ẩn rủi ro tỷ giá Nguyên nhân là

do kỳ đáo hạn của các giao dịch mua và bán ngoại tệ kỳ hạn không trùng nhau (ví dụ trong các nghiệp vụ hoán đổi)

1.4.3.4 Trình độ yếu kém của nhà quản lý và nhân viên

Kinh doanh ngoại hối là một lĩnh vực kinh doanh tương đối khó và đòi hỏi người quản lý, nhân viên phải nhạy bén và tinh thông nghiệp vụ Chỉ cần một sự sai sót nhỏ trong quyết định kinh doanh, quyết định dùng người của nhà quản lý hay những sai sót trong thao tác của nhân viên dự báo rủi ro, nhân viên trực tiếp làm nghiệp vụ… là có thể dẫn tới những tổn thất nghiêm trọng cho ngân hàng

1.4.3.5 Môi trường thông tin

Trong kinh doanh ngoại hối, thông tin là vấn đề rất quan trọng Thông tin sai sót, không đầy đủ, không đúng có thể dẫn tới việc bản thân NHTM không nắm rõ được các thông tin chính xác về đối tác cũng như diễn biến của thị trường Do đó sẽ gặp nhiều loại rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá và đôi khi hậu quả của nó là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới cả uy tín của chính NHTM

1.4.3.6 Mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối

Sự bất cập trong mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối, trong đó vấn đề phân công chức năng quyền hạn của các bộ phận tham gia kinh doanh chưa rõ ràng đã tạo kẽ hở cho nhiều rủi ro khác phát sinh như rủi ro đạo đức, rủi do tín dụng…

1.4.3.7 Vấn đề công nghệ

Những trục trặc trong vấn đề công nghệ có thể dẫn tới việc các thông tin mang lại cho NHTM cũng như các đối tác của họ không kịp thời, không đầy đủ

Trang 32

và thiếu chính xác Từ đó các rủi ro khác cũng có thể phát sinh như rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng…

1.5 Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

1.5.1 Vai trò của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

Mỗi một lĩnh vực sẽ có quan niệm khác nhau về quản lý rủi ro Tuy nhiên trong kinh doanh ngoại hối, quản lý rủi ro có thể được xem xét dưới khía cạnh là việc nhận định và áp dụng các biện pháp dự báo và phòng ngừa rủi ro cần thiết đồng thời có khả năng kiểm soát và quản trị được những rủi ro này nếu như chúng xảy ra nhằm mục đích tránh, hạn chế tổn thất, thiệt hại hay chấp nhận rủi

Ngày nay do sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và hội nhập kinh tế quốc tế các hoạt động kinh doanh ngoại hối trên Thị trường ngoại hối đã trở nên đa dạng và hiệu quả hơn tuy nhiên chính trong bối cảnh đó những rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng nhiều hơn và phức tạp hơn Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải nhận biết được các rủi ro, đồng thời có

Trang 33

ro đó và đó chính là nhiệm vụ của công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

1.5.2 Kinh nghiệm của các nước trong việc quản lý rủi ro đối với hoạt

động kinh doanh ngoại hối

Trên thế giới hiện nay, có hai mô hình quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là mô hình quản lý rủi ro phân tán và mô hình quản lý rủi ro tập trung

1.5.2.1 Mô hình quản lý rủi ro phân tán

Ngân hàng thương mại tại các nước có trình độ phát triển thấp thường sử dụng mô hình quản lý này như Việt Nam, Lào, Camphuchia, Mianma, Bangladesh…

Đây là mô hình quản lý rủi ro thực hiện trên cơ sở hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM được thực hiện ở nhiều chi nhánh trong cùng một hệ thống có thể là tại một hay nhiều quốc gia Trong mô hình này, nhiều chi nhánh của cùng một NHTM cũng được phép kinh doanh ngoại hối trực tiếp nên rủi ro

sẽ bị phân tán và do đó hoạt động quản lý rủi ro cũng sẽ được thực hiện tại tất cả các chi nhánh này Một điểm hạn chế của mô hình này là giữa hoạt động kinh doanh ngoại hối và quản lý rủi ro không có sự tách bạch, không có sự phân chia thành các bộ phận độc lập như bộ phận giao dịch trực tiếp, bộ phận kiểm soát và quản lý rủi ro, bộ phận thực hiện giao dịch

1.5.2.2 Mô hình quản lý rủi ro tập trung

Đây là mô hình được NHTM của các nước phát triển áp dụng như Anh, Mĩ…

Đa số các ngân hàng lớn của các nước phát triển đều tập trung quản lý hoạt động kinh doanh ngoại hối về một hoặc một số đầu mối với mục đích giảm

Trang 34

nguồn tiền nhàn rỗi trong kinh doanh ngoại hối nhằm đem lại lợi nhuận lớn nhất trong mức rủi ro có thể chấp nhận được

Thông qua việc tập trung các giao dịch kinh doanh ngoại hối ngoại tệ vào một hoặc một số đầu não chính, rủi ro cũng sẽ được tập trung vào đầu mối và do

đó việc quản lý rủi ro cũng sẽ chỉ cần tập trung vào đầu mối đó mà thôi Hơn nữa, ngược lại với mô hình quản lý rủi ro phân tán, trong mô hình này, bộ phận kinh doanh ngoại hối của các NHTM sẽ được chia thành các bộ phận chuyên trách: bộ phận giao dịch trực tiếp, bộ phận kiểm soát và quản lý rủi ro, bộ phận thực hiện giao dịch Chính vì những ưu điểm trên mà các NHTM trên thế giới đang có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều mô hình này

1.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

Kinh doanh ngoại hối là một loại hình kinh doanh có thể mang lại lợi nhuận cao và đồng nghĩa với việc luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn Để tránh bị thiệt hại và tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM phải chủ động xây dựng cho mình quy trình đánh giá và quản trị rủi ro phù hợp, nhằm tự vệ trước biến động khôn lường của thị trường ngoại hối

Đối với mỗi loại rủi ro sẽ có những biện pháp phòng ngừa rủi ro khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối,

có các biện pháp chủ yếu sau: Biện pháp đo lường, dự báo rủi ro; các biện pháp bảo hiểm rủi ro; biện pháp đào tạo nguồn nhân lực và các biện pháp về công nghệ

1.6.1 Biện pháp đo lường rủi ro

Trang 35

Đo lường rủi ro là một biện pháp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc quản lý các rủi ro tại hầu hết các NHTM trên thế giới và không chỉ áp dụng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối

Đo lường rủi ro có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau nhưng nhìn chung đó là một quá trình gồm 2 bước:

Bước đầu tiên là tính toán mức thu lợi có thể đạt được hoặc quan trọng hơn cả trong quản trị rủi ro là tính toán mức tổn thất có thể chấp nhận được trong trường hợp xảy ra biến động xấu về giá cả trên thị trường Nói cách khác, đo lường rủi ro chính là việc trả lời cho câu hỏi "Các NHTM có thể chấp nhận tổn thất đến mức độ nào?" Để có được câu trả lời thì việc tính toán khả năng và mức

độ tổn thất phải được định lượng bằng những con số biết nói Tuỳ theo độ nhạy cảm của từng loại công cụ đo lường, kết quả có được có thể tính bằng thời gian mất đi hoặc số tiền thiệt hại trên vốn hoặc lợi nhuận Chẳng hạn, việc sử dụng các công cụ phát sinh như Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps) sẽ giúp doanh nghiệp tính toán được mức độ tổn thất này bằng các con số chính xác khi thị trường biến động theo hướng ngược chiều với dự đoán Chi phí bỏ ra khi sử dụng các công cụ này chính là cái giá mà doanh nghiệp phải trả nếu rủi ro xảy ra

Bước thứ hai của quá trình này là xác định các khả năng xảy ra tương ứng với từng mức độ biến động trên thị trường hay chính là xác định xác suất Dựa trên những khả năng biến động về giá cũng như biên độ dao động giá, mức độ tổn thất cũng như mức thu lợi có thể được tính toán chi tiết và cụ thể cho từng trường hợp

1.6.2 Biện pháp bảo hiểm rủi ro

Trang 36

Ví dụ một ngân hàng muốn 1 năm sẽ bán một lượng ngoại tệ nhất định và thu về nội tệ nhưng không biết được tỷ giá giao ngay của ngày đó là bao nhiêu Nếu vào ngày hôm đó giá của ngoại tệ đó tăng thì ngân hàng sẽ lãi nhưng nếu ngược lại thì ngân hàng sẽ bị lỗ Bởi vậy để đảm bảo mức lợi tức dự tính, NHTM này có thể ký một hợp đồng kỳ hạn 1 năm

Mục đích của các hợp đồng kỳ hạn là nhằm loại trừ những khả năng không chắc chắn về tỷ giá giao ngay tại thời điểm tín dụng đến hạn Như vậy, thay vì chờ đến tận thời điểm cuối năm, mới chuyển lượng ngoại tệ thu được thành nội tệ với một mức tỷ giá giao ngay chưa biết trước, thì ngân hàng có thể tại thời điểm ngày hôm nay bán có kỳ hạn 1 năm lượng ngoại tệ dự tính sẽ thu được bao gồm cả gốc và lãi tại mức tỷ giá kỳ hạn đã biết để nhận nội tệ Việc giao nhận giữa ngoại tệ và nội tệ được thực hiện tại thời điểm cuối năm Như vậy, bằng cách bàn kỳ hạn số ngoại tệ dự tính thu được với một tỷ giá đã được xác định ngay ngày hôm nay, ngân hàng đã tránh được rủi ro do tỷ giá biến động tại thời điểm cuối năm và do đó, đảm bảo được mức lợi tức dự tính trong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ

1.6.2.2 Sử dụng nghiệp vụ giao dịch tương lai

Thay vì sử dụng nghiệp vụ kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro ngoại hối Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên cơ sở có tổ chức

Cần phải xác định số lượng hợp đồng mà ngân hàng phải bán là số lượng

mà sao cho lợi nhuận thu được từ các hợp đồng tương lai này để bù đắp mọi thua

lỗ từ khoản tín dụng bằng ngoại tệ khi giá trị đồng ngoại tệ giảm so với đồng nội

tệ Có hai trường hợp xem xét :

Mức thay đổi giá trị tương lai của nội tệ và ngoại tệ được dự tính đúng

Trang 37

Nghĩa là, sự thay đổi tỷ giá giao ngay và giao tương lai có mối tương quan hoàn hảo với nhau, tức là rủi ro cơ bản bằng 0

Tỷ giá giao ngay và giao tương lai được dự tính là thay đổi cùng chiều (tăng cùng tăng và giảm cùng giảm), nhưng mức độ thay đổi khác nhau, tức là tồn tại rủi ro cơ bản

Trong nhiều trường hợp, thị trường tuơng lai không cho phép ngân hàng

áp dụng hợp đồng dài hạn 1 năm để bảo hiểm khoản tín dụng có kỳ hạn một năm Vì vậy, ngân hàng phải áp dụng phương pháp giao dịch trên thị trường tương lai và tăng sự không chắc chắn về giá trong các hợp đồng tiếp theo Điều này đã khiến cho các nhà quản trị ngân hàng ưu tiên bảo hiểm rủi ro các tài sản

có kỳ hạn dài trên thị trường kỳ hạn hoặc thị trường hoán đổi hơn là thị trường tương lai

1.6.2.3 Sử dụng nghiệp vụ giao dịch quyền chọn

Giống như hoạt động của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, nhà đi vay và cho vay bằng ngoại tệ bảo hiểm rủi ro ngoại hối thông qua hợp đồng quyền chọn tiền tệ, một khả năng tương tự là việc các ngân hàng cũng có thể sử dụng được các hợp đồng quyền chọn nhằm bảo hiểm rủi ro ngoại hối Lúc đó, NHTM có thể mua hoặc bán một đồng tiền nhất định theo tỷ giá dã định trước, nên không sợ sự biến động của tỷ giá làm thay đổi lãi dự tính Tuy nhiên, các NHTM phải trả một khoản chi phí nhất định khi tham gia giao dịch này và khoản chi phí này sẽ chênh lệch nhau phù thuộc vào các yếu tố: Sự tồn tại rủi ro cơ bản, tính thanh khoản của thị trường, kỳ hạn của hợp đồng và bản chất của quyền chọn tương lai (quyền chọn tương lai kiểu Mỹ là có thể thực hiện quyền chọn trước khi hợp đồng đến hạn, trong khi đó bản chất của hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu chỉ

có thể thực hiện tại thời điểm khi hợp đồng đến hạn)

Trang 38

Cần lưu ý, một khía cạnh khác của thị trường phi tập trung (OTC) và thị trường không tập trung đó là tính pháp lý và thuế Trong nhiều giao dịch, thuế chỉ đánh trên sàn, cũng như tính pháp lý được xem xét rất nghiệm ngặt trên thị trường OTC Ngược lại, khi giao dịch trên sàn thì đối tác của nhà giao dịch là Sở giao dịch, trong trường hợp này thì rủi ro về tín dụng hầu như không có

1.6.2.4 Sử dụng nghiệp vụ hoán đổi

Đây là nghiệp vụ được các NHTM trên thế giới sử dụng rất phổ biến để bảo hiểm rủi ro ngoại hối của mình

Trong trường hợp các tiền tệ trên bảng cân đối tài sản không cân xứng với nhau, chúng ta dễ thấy rằng trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì phần gốc và phần lãi đều được bao gồm trong hợp đồng Đối với giao dịch hoán đổi lãi suất thì chỉ phần thanh toán lãi suất là bao gồm trong hợp đồng Lý do là vì trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì cả phần gốc và phần lãi đều bộc lộ rủi ro ngoại hối

1.6.3 Biệp pháp đào tạo nguồn nhân lực

Có rất nhiều loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối xuất phát từ nhân tố con người, vì vậy, việc đưa ra loại biện pháp này là vô cùng quan trọng

ở đây, các biện pháp đào tạo nguồn nhân lực không những tác động tới trình độ nghiệp vụ kinh doanh, nghiệp vụ quản lý của nguồn nhân lực mà còn đề cập tới cả vấn đề đạo đức nhất là khi rủi ro đạo đức trong các NHTM đang ngày một gia tăng

Mặt khác, các biện pháp này còn nhằm tới cả 2 đối tượng là các nhà quản

lý và các cán bộ, nhân viên trực tiếp làm nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Đây là biện pháp ngày càng được sử dụng rộng rãi tại các NHTM

Trang 39

Rủi ro vận hành, rủi ro do môi trường thông tin, rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối là rủi ro thường thấy ở các NHTM Vì vậy, để phòng tránh loại rủi ro này vấn đề công nghệ là vô cùng quan trọng

Mục tiêu của nhóm giải pháp này là đổi mới, nâng cấp công nghệ cho mạng thông tin, máy móc thiết bị sử dụng trong giao dịch Thông qua đó, không những làm giảm rủi ro do vấn đề công nghệ mà còn mang lại cho NHTM thêm thông tin về thị trường, đối tác, phân tích thông tin một cách chính xác và giảm thiểu rủi ro do thiếu thông tin hoặc thông tin không phản ánh trung thực

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC

NHTM VIỆT NAM

2.1 Tình hình kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam

2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển Thị trường ngoại hối Việt Nam

Trước đây, Việt Nam duy trì cơ chế kinh tế tập trung kế hoạch trong đó Nhà nước độc quyền ngoại thương, mọi nguồn thu ngoại tệ đề thuộc sở hữu Nhà nước và chỉ tập trung vào ngân hàng Nhà nước (NHNN) Do đó, Thị trường ngoại hối chưa có điều kiện phát triển

Năm 1986, cùng với việc đề ra công cuộc đổi mới, Nhà nước dần xóa bỏ độc quyền ngoại thương và độc quyền ngân hàng Từ đó, nhu cầu mua bán ngoại

tệ mới xuất hiện và đó chính là cơ sở để hình thành Thị trường ngoại hối ở Việt Nam Với Nghị định 53 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1988 về tổ chức

bộ máy Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam mới bắt đầu hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp ở dạng sơ khai Lúc đó, chỉ có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được phép tổ chức kinh doanh ngoại hối (Theo điều 3, khoản 1, Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988) Sự ra đời của Nghị định 161/HĐBT ngày 18/10/1988 và thông tư số 33-NH/TT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trao quyền kinh doanh ngoại hối cho tất cả các NHTM, từ đó độc quyền trong kinh doanh ngoại hối đã được dỡ bỏ Nhưng lúc đó ở Việt Nam vẫn duy trì tỷ giá chính thức của NHNN công bố áp đặt nên vẫn có một khoảng cách khá xa giữa

tỷ giá chính thức và sức mua thực tế của VND trên thị trường tự do Khi đó, tỷ giá mua bán của các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối dựa trên cơ sở

Ngày đăng: 28/05/2014, 18:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS. Đinh Xuân Trình (2002), Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương
Tác giả: PGS. Đinh Xuân Trình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. GS. TS. Lê Văn Tư - Lê Tùng Vân, Tín dụng xuất nhập khẩu Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng xuất nhập khẩu Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
Tác giả: Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
4. TS. Nguyễn Văn Tiến (2000), Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
5. TS. Nguyễn Văn Tiến (2001), Thị trường Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
11. Ngân hàng Nhà nước (2004), Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN ngày 28/5/2004 v/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 01/7/2002 về Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2004
13. Ngân hàng Nhà nước (2002), Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 01/7/2002 về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 01/7/2002 về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2002
14. Ngân hàng Nhà nước (2002), Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN ngày 7/10/2002 của Thống đốc NHNN về trạng thái ngoại tệ của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN ngày 7/10/2002 của Thống đốc NHNN về trạng thái ngoại tệ của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2002
16. Ngân hàng Nhà nước (1999), Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN ngày 25/02/1999 về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chứ tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN ngày 25/02/1999 về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chứ tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 1999
1. Đinh Xuân Trình - Nguyễn Thị Quy - Đặng Thị Nhàn - Lê Thị Thanh (1999), Giáo trình lý thuyết tài chính - tiền tệ, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Lê Văn Hùng (2007), Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí ngân hàng số 16, Hà Nội Khác
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1995 đến 2007), Báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến 2007 Khác
8. Ngân hàng Nhà nước (2006), Quyết định Về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối Khác
9. Ngân hàng Nhà nước (2006), Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 v/v kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài Khác
12. Ngân hàng Nhà nước (2003), Công văn số 135/NHNN-QLNN ngày 12/1/2003 về việc thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option Khác
15. Ngân hàng Nhà nước (1999), Quyết định số 101/QĐ-NHNN ngày 26/03/1999 về quy chế tổ chức và hoạt động Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Khác
17. Nguyễn Văn Thắng (2003), Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Ngoại thương, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh doanh số giao dịch ngoại tệ của các NHTM Việt Nam trên - Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại việt nam và các biện pháp phòng ngừa
Bảng 1 So sánh doanh số giao dịch ngoại tệ của các NHTM Việt Nam trên (Trang 43)
Bảng 2: Tỷ giá giữa đô la Mỹ và đồng Việt Nam năm 2006 - Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại việt nam và các biện pháp phòng ngừa
Bảng 2 Tỷ giá giữa đô la Mỹ và đồng Việt Nam năm 2006 (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w