Để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của thương mại dịch vụ Việt Nam nói chung và các ngành dịch vụ nói riêng, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể đồng thời phải đánh giá đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Ch-ơng 1: Lý luận chung 4
I Dịch vụ và th-ơng mại dịch vụ quốc tế 4
1 Dịch vụ 4
1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 4
1.2 Dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển 6
1.2.1 Dịch vụ bảo hiểm 6
1.2.2 Dịch vụ vận tải biển 9
2 Th-ơng mại dịch vụ 13
2.1 Khái niệm 13
2.2 Vai trò của th-ơng mại dịch vụ đối với sự phát triển nền kinh tế 15
2.2.1 Th-ơng mại dịch vụ góp phần vào việc tăng tr-ởng th-ơng mại quốc tế 15
2.2.2 Th-ơng mại dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu t- trên toàn thế giới 16
2.2.3 Th-ơng mại dịch vụ góp phần giải quyết công ăn việc làm 16
2.3 Các nguyên tắc pháp lý căn bản của GATS đối với th-ơng mại dịch vụ 17 2.3.1 Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) 17
2.3.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và tiếp cận thị tr-ờng 17
II Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế 20
1 Hội nhập kinh tế quốc tế 20
1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế 20
1.2 Nội dung hội nhập kinh tế 21
1.3 Nội dung hội nhập kinh tế trong lĩnh vực th-ơng mại dịch vụ 23
2 Năng lực cạnh tranh 24
2.1 Khái niệm về cạnh tranh 24
2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngành 26
2.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của dịch vụ: 27
2.4 Các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ 28
Ch-ơng 2: NĂNG LựC CạNH TRANH NGàNH VậN TảI BIểN Và NGàNH DịCH Vụ bảo hiểm VIệT NAM trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 29
I Thực trạng ngành dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 29
Trang 31 Thực trạng các doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm Việt Nam tr-ớc khi hội
nhập nền kinh tế thế giới 29
1.1 Bảo hiểm nhân thọ 30
1.1.1 Đánh giá hoạt động 30
1.1.2 Thị phần 31
1.1.3 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 31
1.2 Bảo hiểm phi nhân thọ 33
1.3 Tái bảo hiểm 34
1.4 Môi giới bảo hiểm 35
2 Thị tr-ờng bảo hiểm Việt Nam sau giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới 35
2.1 Các cam kết của Việt Nam khi hội nhập nền kinh tế thế giới và tác động đến ngành bảo hiểm Việt Nam 36
2.1.1 Nội dung các cam kết 36
2.1.2 Đánh giá các tác động của các cam kết đối với ngành bảo hiểm Việt Nam 36
2.2 Tình hình thị tr-ờng bảo hiểm Việt Nam sau khi hội nhập kinh tế thế giới 41
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới 44
2.3.1 Những thuận lợi 44
2.2.2 Những mặt hạn chế 47
II Thực trạng ngành vận tải biển Việt Nam 53
1 Thực trạng chung của ngành và của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam tr-ớc khi hội nhập kinh tế thế giới 53
1.1 Tình hình đội tàu biển và vận tải quốc tế 53
1.1.1 Đánh giá hoạt động 54
1.1.2 Thị phần 55
1.1.3 Tuổi tàu trung bình 56
1.1.4 Cơ cấu đội tàu biển 57
1.2 Hệ thống cảng biển tại Việt Nam 58
Trang 41.2.1 Tổng quan về cảng biển Việt Nam 59
1.2.2 Tình hình khai thác cảng biển 59
1.3 Các dịch vụ hàng hải phụ trợ 61
1.3.1 Khái quát về dịch vụ hàng hải Việt Nam 61
1.3.2 Thực trạng dịch vụ hàng hải 61
1.3.3 Chất l-ợng dịch vụ và năng lực kinh doanh 63
2 Tình hình các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam sau khi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 64
2.1 Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực vận tải biển 64
2.1.1 Nội dung các cam kết trong lĩnh vực vận tải biển 64
2.2.2 Tác động của các cam kết đối các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam 65
2.2 Tình hình vận tải biển Việt Nam sau khi hội nhập kinh tế thế giới 69
2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ vận tải biển Việt Nam 70
2.3.1 Những lợi thế 70
2.3.2 Những mặt hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 73
Ch-ơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp cho ngành dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển 78
I Đối với ngành bảo hiểm 78
1 Đối với nhà n-ớc 78
1.1 Điều chỉnh những quy định ch-a hợp lý và ch-a rõ ràng 78
1.2 Bổ sung các quy định còn thiếu 78
1.3 Lấp trống các phân đoạn thị tr-ờng bỏ ngỏ 81
1.4 Tăng c-ờng năng lực làm luật, kiểm tra, giám sát của các cán bộ quản lý nhà n-ớc 81
1.5 Xây dựng hệ thống thu thập, l-u trữ, xử lý, chia sẻ số liệu thống kê bảo hiểm và cơ chế cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp bảo hiểm 82
1.6 Tiếp tục hoàn thiện thị tr-ờng tài chính, đặc biệt là thị tr-ờng chứng khoán 82
Trang 51.7 Đào tạo nhân sự chất l-ợng cao phục vụ ngành bảo hiểm 83
2 Các khuyến nghị đối với các công ty bảo hiểm 84
2.1 Xây dựng chiến l-ợc phát triển dài hạn 84
2.2 Xây dựng văn hoá phục vụ khách hàng 85
2.3 Nâng cao kỹ năng quản lý 85
2.4 Nâng cao kỹ năng bảo hiểm các rủi ro phức tạp 86
2.5 Xây dựng hệ thống thu thập, l-u trữ, xử lý số liệu thống kê 87
2.6 ứng dụng công nghệ thông tin 87
2.7 Phát triển mạng l-ới khách hàng truyền thống 87
2.8 Tăng c-ờng khả năng tài chính 87
II Đối với ngành vận tải biển 89
1 Định h-ớng phát triển Vận tải biển Việt Nam trong những năm tới 89
Chiến l-ợc phát triển giao thông vận tải biển Việt Nam của Bộ Giao thông vận tải và Cục Hàng hải Việt Nam 89
1.1 Đội tàu biển 89
1.2 Hệ thống cảng biển 89
1.3 Về an toàn hàng hải và dịch vụ hàng hải và phát triển nguồn nhân lực hàng hải 90
2 Khuyến nghị đối với ngành dịch vụ vận tải biển 90
2.1 Các giải pháp đối với Chính phủ 90
2.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hàng hải 91
2.1.2 Đầu t- cho phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu t- n-ớc ngoài vào lĩnh vực dịch vụ vận tải biển 92
2.1.3 Tiếp tục tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển 93
2.1.4 Tăng c-ờng công tác xúc tiến th-ơng mại, mở rộng thị tr-ờng dịch vụ vận tải biển 93
2.1.5 Mở rộng các loại hình và ph-ơng thức cung cấp dịch vụ vận tải biển 94
Trang 62.1.6 Nâng cấp chất l-ợng đội ngũ nhân lực hoạt động trong ngành, từ đó
nâng cao khả năng cạnh tranh về dịch vụ vận tải biển của Việt Nam 95
2.1.7 Đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hoá thủ tục cấp phép đầu t-, đăng ký kinh doanh 97
2.1.8 Đảm bảo an toàn giao thông trên biển 97
2.2 Các kiến nghị đối với doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam 97
2.2.1 Nâng cao năng lực đi biển của đội tàu biển Việt Nam : 97
2.2.2 Đối với hệ thống cảng biển 99
2.2.3 Đối với dịch vụ hàng hải phụ trợ 102
2.2.4 Các giải pháp khác 103
Kết luận 105
Tài liệu tham khảo 106
danh mục chữ viết tắt 108
danh mục các bảng biểu 109
Phụ lục 110
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế thế giới đang trở thành xu thế của thời đại mở ra các cơ hội cho các quốc gia hòa chung vào dòng chảy kinh tế của thế giới đặc biệt lĩnh vực thương mại dịch vụ Trong những năm gần đây, nền kinh tế quốc gia đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong đó có phần đóng góp rất lớn của lĩnh vực thương mại dịch
vụ Để có được những bước đi vững chắc trong khu vực và trên thế giới, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của chính phủ và nhà nước ta trong nỗ lực đưa nước ta bước lên sân khấu lớn của khu vực và thế giới Hiện nay, Việt Nam là thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và gần đây đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO), chính thức bước vào một giai đoạn phát triển mới, thực hiện các nghĩa vụ, cam kết trên bình diện khu vực và quốc
tế Để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của thương mại dịch vụ Việt Nam nói chung và các ngành dịch vụ nói riêng, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể đồng thời phải đánh giá được ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới đối với các doanh nghiệp Việt Nam, những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, những thuận lợi và hạn chế để từ đó xây dựng các giải pháp và đưa ra những kiến nghị cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ trong thời gian tới Vì
vậy việc nghiên cứu đề tài “Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ” là rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Đề tài nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến lĩnh vực thương mại dịch vụ, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ vận tải biển, vấn đề hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, năng lực cạnh tranh của ngành nói chung và doanh nghiẹp nói riêng
Đánh giá thực trạng và năng lực cạnh tranh của hai ngành dịch vụ bảo hiểm
và vận tải biển trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Trang 8Phân tích các tác động của việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đối với hai ngành dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển, các điểm mạnh và điểm yếu của ngành nhằm tìm ra giải pháp và đưa ra khuyến nghị thích hợp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam Tuy nhiên, khóa luận không nghiên cứu tất cả các ngành dịch vụ Việt Nam mà chỉ tập
trung nghiên cứu lĩnh vực bảo hiểm và vận tải biển (theo phân loại của WTO)
trong giai đoạn từ 1997 đến nay Để giúp người đọc thấy được thực chất năng lực
cạnh tranh của 2 ngành dịch vụ Việt Nam nêu trên khoá luận tập trung vào nghiên
cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong 2 lĩnh vực bảo hiểm và vận tải biển nhằm tìm ra giải pháp nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong lĩnh vực này trong bối cảnh hội nhập
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử cùng các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam để phân tích đối tượng nghiên cứu Ngoài ra luận văn cũng sử dụng một số phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp logic, phương pháp thực chứng và dự báo…
5 Bố cục khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, dang mục các bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, mục lục, và tài liệu tham khảo, bố cục khóa luận sẽ được chia làm ba phần như sau:
Chương I: Lý luận chung
Chương II: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm và vận tải biển trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Trang 9Do thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi có những hạn chế và sai sót Tác giả mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo
Trong quá trình nghiên cứu, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường và các cơ quan tổ chức ban ngành đặc biệt là cô giáo hướng dẫn T.S Đỗ Hương Lan đã giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Tác giả Cao Văn Dũng
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG
I DỊCH VỤ VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ QUỐC TẾ
1 Dịch vụ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ
Trong vài năm qua Việt Nam đang tích cực đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh
tế khu vực và quốc tế trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thương mại, đầu tư, an ninh quốc phòng và văn hóa xã hội Việt Nam đang là một thành viên tích cực trong hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ký hiệp định song phương (BTA) với Hoa Kỳ
và gần đây vào 07/11/2006 chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc Việt Nam chủ động hội nhập trên nhiều lĩnh vực như vậy đặc biệt là lĩnh vực thương mại dịch vụ đã đem lại nhiều lợi ích cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Thương mại dịch vụ đang ngày một trở nên phổ biến và đóng góp tỷ trọng lớn cho GDP, là xu hướng phát triển nhanh và mạnh của những nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam Vì thế đưa ra một khái niệm dịch vụ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ dịch vụ có bản chất như thế nào và sẽ đưa lại lợi ích gì cho đất nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trên con đường hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Hiện nay chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về dịch vụ nói chung được chấp nhận rộng rãi trên phạm vi toàn cầu Chính tính vô hình của dịch
vụ cũng như sự đa dạng và phức tạp của nó làm cho chúng ta càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc định nghĩa dịch vụ Hơn nữa trình độ phát triển của mỗi quốc gia lại không giống nhau làm cho cách hiểu về dịch vụ lại càng khác nhau
Dịch vụ theo các nhìn nhận của Các Mác là con đẻ của sản xuất hàng hóa Khi nền kinh tế phát triển tất yếu đòi hỏi sự lưu thông hàng hóa trôi chảy, liên tục;
nó chính là cầu nối của các nhà sản xuất với nhau, giữa nhà sản xuất và ngườii tiêu dùng Vì vậy để thỏa mã nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ đã ra đời
cà phát triển
Như vậy dưới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ chính là nền sản xuất hàng hóa Tuy nhiên khi xã hội loài người ngày một phát triển, đặc biệt là với sự tiếp sức của cuộc cách mạng kĩ thuật
Trang 11lần thứ II và ngày nay con người cũng dang trải qua một cuộc cách mạng công nghệ thông tin thì ngành dịch vụ mới đã ra đời, phát triển đa dạng và phức tạp khiến cho nguồn gốc hàng hóa của dịch vụ đang bị che dấu
Hiện nay dịch vụ đang có nhiều cách hiểu Theo nghĩa rộng thì dịch vụ được coi là một nền kinh tế thứ ban, nghĩa là tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp thì đều được coi là dịch vụ Đây được coi là cách hiểu của Việt Nam được thể hiện rõ rệt khi nhà nước ta phân ngành kinh tế vào năm 1993
Theo nghĩa hẹp hơn thì dịch vụ chính là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán Định nghĩa này phản ánh nguồn gốc của dịch vụ là nền sản xuất hàng hóa Qua đó dịch vụ trở thành sản phẩm phụ cho hàng hóa, bổ sung giá trị cho hàng hóa và thúc đẩy việc tiêu dùng hàng hóa Nếu hiểu theo cách đó thì vai trò dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân lại trở nên nhỏ bé và không phản ánh hết tất cả các khía cạnh cũng như vị trí của ngành dịch vụ
Bên cạnh đó dịch vụ còn được hiểu là toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật chất Dịch vụ là một công việc mà kết quả của nó
là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp, khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp Cách hiểu này khá phổ biến và phản ánh trạng thái vô hình, phi vật chất của dịch vụ
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy dịch vụ là một ngành kinh tế,
có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình dạng vật chất mà việc cung cấp và tiêu thụ các sản phẩm và cung cấp không thể tách rời nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về dịch vụ nhưng nhìn chung dịch vụ
có những đặc tính chủ yếu sau:
Quá trình tạo ra các dịch vụ phức tạp hơn so với quá trình tạo ra các sản phẩm hàng hóa do đặc tính vô hình của dịch vụ Vì vậy dịch vụ rất khó tiêu chuẩn hóa và đánh giá bằng cách lượng hóa
Dịch vụ được tiến hàng khi có sự tiếp xúc giữa người mua và người bán hay nói cách khác quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời Mức độ tiếp xúc này có sự khác biệt đối với những loại hình dịch vụ khác nhau Ngày nay với sự
Trang 12tiến bộ của công nghệ thông tin thì mức độ tiếp xúc trực tiếp ngày càng giảm Đây chính là cơ sở để xem xét vấn đề dịch vụ thương mại và tự do hóa thuơng mại trên thế giới
Dịch vụ không thể lưu trữ đuợc và những sai sót của nó khó có thể khắc phục ngay được Đặc điểm này của dịch vụ chính là hệ quả của hai đặc điểm trên
1.2 Dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển
1.2.1 Dịch vụ bảo hiểm
Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp, do các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành nhận trách nhiệm trước rủi ro và bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiêm hoặc trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng bảo hiểm khi xảy ra rủi ro được bảo hiểm với điều kiện người kia ký kết hợp đồng và chấp nhận đóng góp một khoản phí nhất định cho chính anh ta hoặc người thứ ba để đổi lấy cam kết về những khoản bồi thường hoặc chỉ trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra
Người bảo hiểm thường căn cứ vào yếu tố rủi ro để giới hạn phạm vi trách nhiệm của mình trong hợp đồng bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí, người bảo hiểm giải quyết bồi thường trong trường hợp xảy ra tổn thất Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông cho bất hạnh của
số ít Bảo hiểm là việc trả tiền để đôi cái không chắc thành cái chắc chắn Do nhu cầu của con người và của sản xuất kinh doanh mà hoạt động bảo hiểm ra đời và ngày càng phát triển theo mức sống ngày càng cao của con người, theo đà phát triển của sản xuất kinh doanh và sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước, các khu vực
a Các khái niệm cơ bản trong bảo hiểm
Những rủi ro được nhắc đến trong định nghiã trên là thuật ngữ được dùng để chỉ đến khả năng xảy ra một biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại hoặc đem lại kết quả không mong muốn Người bảo hiểm chỉ nhận trách nhiệm trước những rủi
ro thoả mãn những tiêu chuẩn nhất định
Đối tượng bảo hiểm là phạm trù mà rủi ro có thể tác động trực tiếp vào và chính để đảm bảo quyền lợi về tài chính của đối tượng bảo hiểm trước những rủi ro
mà người được bảo hiểm đã quyết định giao kết một hợp đồng bảo hiểm
Trang 13Giá trị bảo hiểm là giá trị bằng tiển của đối tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng và thường được dùng trong bảo hiểm tài sản còn số tiền bảo hiểm
là khoản tiền nhất định ghi trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm để xác định giới hạn trách nhiệm trong bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm
Phí bảo hiểm : là khoản tiển mà người tham gia bảo hiểm phải trả để nhận được sự bảo đảm trước các rủi ro đã được người bảo hiểm chấp nhận
Bồi thường, trả tiền bảo hiểm
Bồi thường bảo hiểm : là việc người bảo hiểm thực hiện cam kết của hợp đồng, chi trả một khoản tiền nhất định nhằm đền bù cho người được bảo hiểm khi
có thiệt hại vật chất xảy ra
Trả tiền bảo hiểm : là việc người bảo hiểm thực hiện cam kết trả một khoản tiền nhất định theo qui định trong hợp đồng
b Một số quy tắc cơ bản trong bồi thường bảo hiểm
- Qui tắc áp dụng mức miễn thường : khi áp dụng qui tắc này, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà giá trị thiệt hại vượt quá một mức mà hai bên đã thoả thuận được miễn thường có hai loại miễn thường :
+ Miễn thường có khấu trừ (còn gọi là mức khấu trừ) là só tiền bồi thường của người bảo hiểm bị giảm đi bởi mức khấu trừ
+ Miễn thường không khấu trừ : người bảo hiểm bồi thường toàn bộ thiệt hại (chỉ khi nào thiệt hại lớn hơn mức miễn thường)
- Qui tắc tỉ lệ : khi áp dụng qui tắc này thì người bảo hiểm chỉ bồi thường theo một tỉ lệ nhất định Trong nhiều hợp đồng, hai bên có thể thỏa thuận, định ra những tỷ lệ bồi thường cụ thể, trên cơ sở ấn định sẵn đó tính ra số tiền bồi thường
- Qui tắc bồi thường theo rủi ro đầu tiên:
Thuật ngữ rủi ro đầu tiên này chỉ một khoảng giá trị thiệt hại không vượt qua một giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm
Như vầy nếu như giá trị thiệt hại nhỏ hơn số tiền bảo hiểm thì số tiền bồi thường bằng giá trị thiệt hại
Nếu như giá trị thiệt hại lớn hơn hoặc bằng số tiền bảo hiểm thì số tiền bồi thường bằng sô tiền bảo hiểm hoặc hạn mức trách nhiệm của hợp đồng
Trang 14c Phân loại bảo hiểm
Căn cứ theo Điều 7 , chương I – Luật kinh doanh bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm được xếp thành hai nhóm
- Bảo hiểm nhân thọ
- Bảo hiểm phi nhân thọ
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm được xếp thành ba nhóm:
- bảo hiểm tài sản
- bảo hiểm trách nhiệm dân sự
- bảo hiểm con người
Theo phương thức triển khai có hai nhóm:
- hình thức bảo hiểm tự nguyện
- hình thức bảo hiểm bắt buộc
Căn cứ vào kỹ thuật quản lý thì bảo hiểm chia thành hai nhóm
- những nghiệp vụ bảo hiểm được áp dụng kỹ thuật phân chia đối với những loại bảo hiểm có đặc điểm là : thời hạn ngẵn và có thế tái bảo hiểm liên tục và rủi ro tương đối ổn định
- Những nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng kỹ thuật tồn tích, đối với hợp đồng bảo hiểm ký kết cho một thời gian dài, rủi ro thay đổi
d Vai trò của Bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại là bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, nó có những vai trò sau:
- Hoạt động bảo hiểm, trước hết là nhằm khắc phục những hậu quả tài chính của rủi ro Rủi ro xảy ra có thế mang lại những thiệt hại tài chính bất thường cho cá nhân, tổ chức gặp phải rủi ro rất cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù đắp thiệt hại, lấy lại sự cân bằng và ổn định về tình hình tài chính Các tổ chức bảo hiểm này
sẽ đáp ứng nhu cầu đó một cách nhanh chóng và kịp thời, đảm bảo vật chất và tài chính trước rủi ro, mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt lo âu trước rủi
ro, bất trắc cho những người được bảo hiểm
Trang 15Với những hoạt động này bao hiểm thương mại góp phần làm ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống của người tham gia bảo hiểm không may mắn bị rủi ro tổn thất gây ra
Dịch vụ bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể làm việc ở các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lí bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế theo cơ chế thị trường của Việt Nam tăng trưởng với tốc độc cao, sự thu hút một lực lượng lớn lao động vào các hoạt động nói trên của bảo hiểm đã và đang sẽ góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội cũng đồng nghĩa góp phần an sinh xã hội
- Trong nến kinh tế quản lý theo cơ chế thị trường, với nội dung phong phú
đa dạng của hoạt động bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm đã đóng góp vai trò quan trọng của trung gian tài hcính, thu hút và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi thông qua nhiều khoản phí bảo hiểm và sử dụng nguồn vốn đó vào đầu tư trung và dài hạn hoạt động bảo hiểm tạo nên kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế
và được sử dụng vào đầu tư đã tạo điều kiện cho doanh ngiệp bảo hiểm có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận, tăng thu nhập va thực hiện bảo toàn vốn cho các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm
- Các hoạt động trên của bảo hiểm cũng đông thời hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thúc đẩy hoạt động thương mại, tại đó những hàng hoá dịch vụ cũng như những tài sản thế chấp sẽ được thuận lợi hơn trong kinh doanh nếu kèm theo các hợp đồng bảo hiểm, hoặc sự bảo đảm của bảo hiềm cho các khoản đầu tư cũng góp phần gián tiếp kiến thiết nước nhà, tạo ra cơ sở hạ tầng vì không có một nhà đầu tư nào bỏ ra hàng tỷ đô la cần thiết để xây dựng những cơ sở vật chất mà không có bảo đảm được bồi thường nếu như có rủi ro xảy ra
- Dịch vụ bảo hiểm giúp tăng tích luỹ và tiét kiệm chi cho Ngân sách
- Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài
1.2.2 Dịch vụ vận tải biển
a Khái niệm về dịch vụ vận tải biển
Khái niệm về vận tải:
Trang 16Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển gồm con người và vật phẩm (hàng hoá) Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về mặt di chuyển đó mà thôi
Vận tải là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt vì :
- Đối với một ngành sản xuất vật chất, ví dụ như công nghiệp, nông nghiệp,…thì trong quá trình lao động sản xuất đều có sự kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Vận tải là một ngành sản xuất vật chất vì trong quá trình sản xuất cũng có sự kết hợp của ba yếu tố đó Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đẫ tiêu thụ một lượng vật chất nhất định như vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải…Hơn nữa đối tượng lao động (hàng hoá) trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng trải qua sự thay đổi vật chất nhất định
- Sản phẩm của vận tải chính là sự di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hoá và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hoá
- Mỗi trường sản xuất của vận tải là không gian, luôn di chuyển chứ không
cố định như các ngành khác
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải vì mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng, kích thước của đối tượng lao động
Căn cứ vào môi trường sản xuất, có thể chia vận tải thành các loại (phương thức) sau đây: Vận tải đường biển, vận tải nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ Trong đó thì vận tải đường biển đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển thương mại quốc tế do những ưu điểm nổi trội của nó và nhu cầu vận tải biển ngày một tăng cao xuất phát từ sự phục hồi
Trang 17của các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu Nhưng có thể nói động lực mạnh mẽ nhất đến từ Trung Quốc, một quốc gia khổng lồ ở Châu
Á đang trong thời kỳ bùng nổ kinh tế với khối lượng hàng hoá xuất khẩu bằng đường biển tăng cao
Khái niệm dịch vụ vận tải đường biển:
Dịch vụ vận tải biển là một ngành vận tải mà sản phẩm của nó tạo ra sự di chuyển hàng hoá và khách hàng bằng các đường giao thông trên biển với các phương tiện riêng của ngành như tàu biển, thuyền bè, nhằm thoả mãn nhu cầu con người
Vận tải biển liên quan đến nhiều yếu tố:
Đường vận chuyển trên biển lợi dụng sức đẩy tự nhiên của nước biển, dòng chảy của biển để tại thành các đường mòn trên biển
Phương tiện cơ bản để thực hiện: Thuyền bè, tàu biển các loại…
Có các phương tiện hỗ trợ: Bến cảng, hệ thống sản xuất chế tạo tàu, thuyền
và công cụ đi biển, các công cụ chở hàng…
Lao động: Các thuyền viên, các nhân viên dịch vụ hàng hải…
b Đặc điểm của dịch vụ vận tải đường biển
Theo phương thức cua tổ chức thương mại thế giới, dịch vụ vận tải biển đựoc chia thành các nhóm chính là:
Nhóm 1: Vận tải biển quốc tế (không bao gồm vận tải nội địa) bao gồm vận tải hàng hoá và vận tải hành khách
Nhóm 2: Dịch vụ hỗ trợ hàng hải gồm sáu loại là: xếp dỡ hàng hoá, lưu kho bãi và cho thuê kho bãi, khai hải quan, trạm làm hàng container, đại lý tàu biển và giao nhận hàng hoá
Nhóm 3: Dịch vụ cảng gồm: hoa tiêu, lai dắt, nạp nhiên liệu, thu dọn rác, trợ giúp hành trình, tiện ích, sửa chữa khẩn cấp, neo đậu
So với các phương thức vận tải biển khác dịch vụ vận tải biển có các ưu điểm:
Vận tải đường biển có năng lực vận chuyển rất lớn: phương tiện trong vận tải đường biển các tàu có sức chở rất lớn, lại có thể chạy nhiều tàu trong cùng một thời
Trang 18gian trên cùng một tuyến đường, thời gian tàu nằm chờ ở tại các cảng giảm nhờ sử dụng container và các phương tiện xếp dỡ hiện đại Do vậy khả năng thông quan của một cảng biển rất lớn
Vận tải đường biển thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hoá trong thương mại quốc tế Đặc biệt vận tải đường biển rất thích hợp và hiệu quả trong việc chuyên chở các loại hàng rời có khối lượng lớn và giá trị thấp như than
đá, quặng, ngũ cốc, phốt phát và dầu mỏ
Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: các tuyến đường hàng hải hầu hết là các tuyến đường giao thông tự nhiên không đòi hỏi nhiều vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng, duy trì bảo quản, trừ việc xây dung cảng biển và kênh đào quốc tế
Giá thành vận tải đường biển rất thấp : giá thành vận tải đường biển vào loại thấp nhất trong tất cả các phương thức vận tải do trọng tải tàu biển lớn, cự ly vận chuyển trung bình lớn, biên chế ít nên năng suất lao động trong vận tải đường biển cao Tiêu thụ nhiên liệu trên một tấn trọng tải thấp, chỉ cao hơn đường sông một ít Nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong vận tải và thông tin được áp dụng, nên giá thành vận tải biển có xu hướng ngày càng hạ hơn
Tiêu thụ nhiên liệu trên một tấn trọng tải thấp, chỉ cao hơn đường sông một ít
Tuy nhiên dịch vụ vụ vận tải biển cũng có một số nhược điểm :
Vận tải biển chỉ phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, điều kiện hàng hải Các tàu biển thường gặp nhiều rủi ro hàng hải như: mắc cạn, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm, mất tích…
Tốc độ các loại tàu biển tương đối thấp, chỉ khoảng 14-20 hải lý/giờ; Tốc độ này thấp so với máy bay tàu hoả Về mặt kỹ thuật, người ta có thể đóng các tàu biển
có tốc độ cao hơn nhiều Tuy nhiên,đối với các tàu chở hàng người ta phải duy trì một tốc độ kinh tế nhằm hạ giá thành vận tải
c Vai trò của dịch vụ vận tải biển trong thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Trong các phương thức vận chuyển hàng hoá quốc tế thì vận tải đường biển
là ngành ra đời sớm nhất từ thế kỷ 15 Cho đến thế kỷ 19, đặc biệt là sang thế kỷ 20
Trang 19ngành vận tải đường biển đã đóng một vai trò không thể thiếu trong sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế
Vận tải muốn phát triển phải dựa trên sản xuất và thương mại hàng hoá Trái lại, hoạt động vận tải vận hành tốt sẽ làm giá cước, tạo điều kiện cho thương mại hàng hoá tăng trưởng và mở rộng Ngày nay trong bối cảnh nền sản xuất hàng hoá thế giới luôn đạt mức thặng dư lớn và thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở lý thuyết lợi thế so sánh,thì vận tải biển chính là nhân tố trung gian đáp ứng mối quan
hệ về cung cầu hàng hóa xét trên phạm vi thị trường toàn cầu Vận tải đường biển với những lợi thế hơn hẳn về giá thành, không gian và khối lượng chuyên chở so với phương thức vận tải hàng không đã thực sự chiếm vị trí độc tôn trong khâu logistics Với hơn 3/4 khối lượng hàng hoá trong mậu dịch quốc tế được vận chuyển bằng đường biển và cước vận chuyển chiếm từ 8 - 15% giá thành hàng hoá nhập khẩu, đã cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động vạn tải đường biển đối với hoạt động thương mại quốc tế
Xét trên bình diện quốc gia, dịch vụ vận tải biển cũng đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng của mỗi nước Một nước có ngành dịch vụ vận tải biển phát triển sẽ góp phần mở rộng phạm
vi thị trường địa lý cho hàng hoá xuất khẩu nước mình, chủ động hơn trong việc đưa hàng hoá ra thị trường bên ngoài
2 Thương mại dịch vụ
2.1 Khái niệm
Một trong những vấn đề quan trọng khi nghiên cứu dịch vụ là làm rõ khái niệm thương mại dịch vụ (Trade in services hay service trade) Trước đây người ta cho rằng dịch vụ là các hoạt động bổ trợ cho sản xuất hàng hoá Do vậy, dịch vụ không gắn với thương mại do hoạt động trao đổi buôn bán hàng hoá đã bao trùm tất
cả Trên thực tế dịch vụ ngày càng được trao đổi trên cơ sở thương mại Hay nói cách khác giữa người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ có sự thoả thuận
trước về việc người tiêu dùng dịch vụ phải trả tiền cho người cung cấp dịch vụ khi tiêu dùng dịch vụ Như vây Thương mại dịch vụ dùng để chỉ tất cả các hành vi cung
ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận Trong cách hiểu này
Trang 20cần chú ý rằng chỉ các dịch vụ được đem ra mua bán, trao đổi nhằm thu lợi nhuận thì các hành vi trao đổi đó mới được coi là mang tính chất thương mại và nằm trong khái niệm thương mại dịch vụ
Với cách hiểu này, người ta thường phân biệt thương mại dịch vụ với thương mại hàng hóa Nếu như đối tượng mua bán trong thương mại hàng hoá là hàng hoá - các sản phẩm hữu hình thì trong thương mại dịch vụ, đối tượng mua bán lại là dịch
vụ - các sản phẩm vô hình Chính đặc điểm này đã làm nên sự khác biệt trong cách điều chỉnh của pháp luật quốc gia, pháp luật khu vực và thậm chí là của pháp luật quốc tế về thương mại dịch vụ so với thương mại hàng hóa
Cùng với sự toàn cầu hoá về kinh tế, sự trao đổi dịch vụ ngày càng không chỉ
bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, tức là người cung cấp dịch vụ và người tiêu thụ dịch vụ thuộc cùng một nước mà thương mại dịch vụ đã chuyển sang một sắc thái mới: thương mại dịch vụ quốc tế Thương mại dịch vụ quốc tế là sự trao đổi về dịch
vụ giữa pháp nhân hoặc thể nhân trong nước với pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài vì mục đích thương mại Trong thời gian gần đây các sản phẩm dịch vụ được trao đổi trong thương mại quốc tế chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, vì vậy đưa ra yêu cầu cần phải có một hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Năm 1994, tại vòng đàm phán Uruguay Hiệp định chung về thương mại dịch vụ là một trong những Hiệp định (GATT,GATS, TRIPs, TRIMs) tạo nên nền tảng của GATT/WTO Hiện nay, giá trị của việc mua bán, trao đổi các sản phẩm dịch vụ chiếm hơn 20% trong tổng giá trị mua bán trao đổi của tổ chức thương mại thế giới Theo GATS
(General Agreement Trade on Services) “ Thương mại dịch vụ là việc cung cấp dịch
vụ theo bốn phương thức: giao dịch qua biên giới, tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, cung cấp dịch vụ qua hiện diện thương mại và cung cấp dịch vụ qua hiện diện thể nhân” GATS định nghĩa thương mại dịch vụ thông qua 4 phương thức cung cấp dịch
vụ:
Phương thức 1: Cung ứng qua biên giới - dịch vụ được cung cấp từ một nước sang
một nước khác Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ có bản thân dịch
vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặt tại nước nhận dịch vụ;
Trang 21Phương thức 2: Tiêu dùng ngoài lãnh thổ- người tiêu dùng của một nước (hoặc
tài sản của họ) tiêu dùng dịch vụ tại lãnh thổ của nước khác Ví dụ, người du lịch Việt Nam đi du lịch sang Thái Lan theo tuyến du lịch do công ty Việt Nam đứng ra
tổ chức Hoặc trong trường hợp tàu biển của Việt Nam được đưa ra nước ngoài để sửa chữa thì cũng chính là việc Việt Nam đã nhập khẩu dịch vụ từ nước ngoài
Phương thức 3: Hiện diện thương mại - một công ty nước ngoài thành lập chi
nhánh hoặc công ty con để cung cấp dịch vụ tại một nước thành viên khác Ví dụ như một ngân hàng của Mỹ lập chi nhánh tại Việt Nam Phương thức này liên quan trực tiếp đến việc đầu tư tại thị trường nước khác để thiết lập công việc kinh doanh
Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân một nước thành viên trực tiếp cung cấp
dịch vụ tại nước thành viên khác Ví dụ, ca sỹ của Trung Quốc tới Việt Nam biểu diễn theo các chương trình do các nhà tổ chức Việt Nam thực hiện
Trong khuôn khổ hiệp định thương mại Việt – Mỹ cũng đưa ra khái niệm thương mại dịch vụ tương tự như GATS tại chương 3 hiệp định Như vậy trên thực
tế, với nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta đã thừa nhận khái niệm thương mại dịch vụ phù hợp với thông lệ và qui định pháp lý quốc tế đặc biệt là WTO đã bắt buôc chúng ta phải thừa nhận và điều chỉnh những chuẩn mực pháp lý và qui định kinh doanh phù hợp với sân chơi chung
Đối với Việt Nam theo luật Thương Mại 2005 ra đời, có hiệu lực từ 01/01/2006 thì “cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận” Theo cách nhìn nhận này thì chúng ta đang có một cách nhìn khá gần với nền kinh tế thế giới về thương mại dịch vụ
2.2 Vai trò của thương mại dịch vụ đối với sự phát triển nền kinh tế
2.2.1 Thương mại dịch vụ góp phần vào việc tăng trưởng thương mại quốc tế
Tổng giá trị thương mại dịch vụ của những năm đầu thế kỷ 21 đã tăng gấp 4 lần
so với tổng giá trị thương mại dịch vụ năm 1980 Giá trị thương mại dịch vụ năm 2002 đạt 2.900 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng giá trị thương mại thế giới Tính chung cả giai
Trang 22đoạn 1980-2002, hàng năm thương mại dịch vụ trên thế giới tăng trung bình 9%, cao hơn tốc độ 6% của thương mại hàng hoá1
Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản là những nước có sức mạnh cạnh tranh lớn trong các lĩnh vực dịch vụ như: tài chính, viễn thông, vận tải, và các nước này đang tăng cường vị trí của mình trong thương mại dịch vụ nhiều hơn là trong thương mại hàng hoá
2.2.2 Thương mại dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu tư trên toàn thế giới
Chúng ta đã biết một động cơ của sự di chuyển đồng vốn: đồng vốn luôn biết tìm nơi nào sinh lời nhất Do các ngành dịch vụ ngày càng tăng về tỷ suất lợi nhuận so với các ngành sản xuất khác nên đầu tư trực tiếp đối với các ngành dịch vụ không ngừng tăng lên Nếu như cách đây 10 năm tỷ trọng của đầu tư dịch vụ trong tổng đầu tư thế giới là 50% thì ngày nay con số đó là 60% Rõ ràng là nếu TMDV phát triển, nghĩa là ngày càng có nhiều dịch vụ được đem trao đổi trên thế giới với những điều kiện mua bán thuận lợi hơn thì lượng tiền vốn đổ vào sản xuất và kinh doanh dịch vụ đó sẽ ngày càng nhiều lên Qua đó sẽ giúp hình thành cơ cấu đầu tư phù hợp với đòi hỏi của thị trường Xin lưu ý chúng ta rằng quan hệ giữa TMDV và Đầu tư quốc tế là mối quan hệ hai chiều Nếu TMDV thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu đầu tư thì ngược lại, sự phát triển của thị trường vốn cũng góp phần đẩy mạnh sự phát trển của thị trường dịch vụ thế giới
2.2.3 Thương mại dịch vụ góp phần giải quyết công ăn việc làm
Thương mại dịch vụ phát triển sẽ kéo theo các ngành sản xuất dịch vụ phát triển do tính đặc thù của thương mại dịch vụ luôn gắn liền với quá trình sản xuất Khi sản xuất phát triển thì rõ ràng nhu cầu về lao động trong ngành sản xuất đó cũng tăng lên theo, nhất là đối với ngành dịch vụ thì máy móc không thể thay thế được con người như trong sản xuất hàng hoá Ngành dịch vụ hiện nay thu hút khoản 30% tổng số lao động trên toàn thế giới Tại các nước phát triển thì tỉ lệ lao động trong khu vực này chiếm luôn chiếm tỉ lệ cao như Mỹ chiếm 77,4%, Anh chiếm 71,7%, Nhật xấp xỉ khoảng 60% Tại những quốc gia này thì thương mại dịch vụ luôn phát triển cao
Trang 23
2.3 Các nguyên tắc pháp lý căn bản của GATS đối với thương mại dịch vụ
Để điều chỉnh lĩnh vực thương mại dịch vụ, GATS đưa ra một số nguyên tắc sau:
2.3.1 Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Theo nguyên tắc này, chính phủ của nước thành viên không được phép phân biệt đối xử giữa các dịch vụ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác mà phải dành cho họ sự đối xử không kém phần ưu đãi so với mức mà nước thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho bên thứ ba nào đó
2.3.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và tiếp cận thị trường
Cũng như nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia được xây dựng trên nền tảng của nguyên tắc không phân biệt đối xử Theo quy định của GATS, nguyên tắc MFN được áp dụng ngay lập tức, vô điều kiện và mọi thành viên WTO phải chấp nhận, nhưng có ngoại lệ Còn đối với nguyên tắc đối xử quốc gia thì
đó không phải là nghĩa vụ chung mà là nghĩa vụ có điều kiện và được đàm phán trong quá trình gia nhập Kết quả đàm phán về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia được ghi nhận trong Danh mục cam kết cụ thể Theo đó, những lĩnh vực đã được ghi trong Danh mục cam kết cụ thể, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ nước thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của nước mình Sự đối xử không thoả mãn yêu cầu của nguyên tắc đối
xử quốc gia là sự đối xử làm cho điều kiện cạnh tranh có lợi hơn cho dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ trong nước so với dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ nước ngoài
2.3.3 Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách
Theo GATS việc tự do hoá thương mại dịch vụ sẽ không thể có được nếu các nhà cung cấp dịch vụ thiếu đi các thông tin cần thiết về các quy định mà họ phải tuân thủ khi tham gia vào thị trường của một nước khác Do vậy GATS quy định rất
rõ ràng về nghĩa vụ minh bạch các chính sách của các nước thành viên WTO Điều này được thể hiện như sau:
Trang 24i) Tất cả các quy định, văn bản pháp lý liên quan, các Hiệp định quốc tế có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các nước thành viên tham gia phải được công bố, ấn hành một cách công khai, rộng rãi
ii) Mọi nước thành viên phải có nghĩa vụ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của bất
kỳ nước thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến việc áp dụng các quy định nêu trên
iii) Tất cả các nước thành viên phải có nghĩa vụ thông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ của WTO về việc ban hành hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo Hiệp định này
iv) Các nước thành viên không được phép áp dụng những yêu cầu về chuyên môn, yêu cầu về chất lượng dịch vụ, yêu cầu về giấy phép cũng như các tiêu chuẩn
kỹ thuật quá cao - mà trong chừng mực nào đó, có thể vô hiệu hóa về mặt pháp lý hoặc làm nguy hại đến việc thực hiện các cam kết cụ thể
v) Khi chính phủ nước thành viên đưa ra những quyết định hành chính có nguy
cơ ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ, họ cũng phải thiết lập những công cụ mang tính khách quan để rà soát các quyết định này nhằm đảm bảo chúng không bóp méo quá đáng các điều kiện cạnh tranh công bằng của thị trường dịch vụ nội địa
2.3.4 Công nhận lẫn nhau
Mục đích của nguyên tắc công nhận lẫn nhau là nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên thực tế đối với các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài GATS khuyến khích các thành viên công nhận lẫn nhau trong các thủ tục của nhau liên quan đến giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, cấp giấy phép và các thủ tục khác cần phải có trong việc đáp ứng các yêu cầu, điều kiện cần thiết cho phép nhà cung ứng dịch vụ hoạt động
GATS quy định các nước thành viên phải tạo ra các cơ hội ngang bằng về việc đàm phán gia nhập đối với bất cứ một nước thành viên nào có quan tâm về các thoả thuận hoặc hiệp định công nhận mà nước thành viên đó đã thoả thuận hoặc ký kết với một nước thành viên khác Các thoả thuận này phải mang tính không phân biệt đối xử và không được sử dụng như là công cụ cho bảo hộ trá hình
Trang 252.3.5 Độc quyền và đặc quyền cung cấp dịch vụ
Theo quy định tại Điều 8 của GATS, các nước thành viên có thể cho một số ngành dịch vụ được hưởng độc quyền và đặc quyền Điều này là hoàn toàn hợp pháp và GATS không ngăn cản việc duy trì hình thức độc quyền như vậy nhưng yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo rằng hoạt động của người cung cấp dịch vụ độc quyền phải phù hợp với các nghĩa vụ chung và nghĩa vụ đã cam kết của nước thành viên đó
Tóm lại, thương mại dịch vụ theo quy định của GATS được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao trùm rất nhiều lĩnh vực Trong khi đó khái niệm thương mại dịch vụ ở Việt Nam chưa được hiểu một cách toàn diện, khái niệm dịch vụ thương mại thì còn rất nhỏ hẹp Các loại hình dịch vụ thương mại của Việt Nam chỉ nằm rải rác trong một số phân ngành dịch vụ của GATS Điều này tạo ra sự bất đồng sự không tương thích và tất yếu dẫn đến khó khăn cho Việt Nam trong quá trình gia nhập GATS-WTO nói riêng cũng như việc Hội nhập kinh tế quốc tế nói chung Do vậy, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất là Việt Nam nên bỏ khái niệm dịch vụ thương mại mà thay vào đó đưa ra khái niệm thương mại dịch vụ một cách hoàn chỉnh, toàn diện và đưa
ra các văn bản pháp luật chi tiết, rõ ràng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thương mại dịch vụ
Trang 26II LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Hội nhập kinh tế quốc tế
1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế
Để có thể hiểu khái niệm hội nhập một cách chính xác, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này trong xu hướng chung của thế giới hiện nay đó là xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa Trong bối cảnh đó hội nhập kinh tế được xem là một phương thức chủ yếu để mỗi nước có thể tận dụng các cơ hội phát triển đồng thời bảo vệ lợi ích cho mình
Có rất nhiều cách định nghĩa về toàn cầu hóa Toàn cầu hóa được coi là một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường, thể chế…) giữa các quốc gia Người ta cũng quan niệm rằng toàn cầu hóa là một khái niệm chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Theo quan điểm đó, hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã đưa ra định nghĩa: “ toàn cầu hóa liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và và nguồn lực vượt qua biên giới các quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi thế giới nhằm quản lý các hoạt động kinh tế quốc tế không ngừng tăng lên đó”
Khái niệm khu vực hóa được nghiên cứu và biết đến sau chiến tranh thế giới thứ II với sự nổi lên của xu hướng tập hợp thành nhiều nhóm lĩnh vực khác nhau của các nước Do vậy, khu vực hóa chỉ hiện tượng hay khuynh hướng hợp tác hay liên kết về nhiều mặt giữa các nước trog cùng một khu vực, hình thành nhiều nhóm hoặc tổ chức khu vực hoạt động trên một hay nhiều lĩnh vực khác nhau
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm trên chính là qui mô và phạm vi địa lý Khi quá trình này diễn ra giữa hai hay nhiều nước trong một khu vực địa lý nhất định, nó được gắn với khái niệm khu vực hóa; khi có sự tham gia của nhiều quốc gia ở những khu vực địa lý khác nhau thì quá trình này lại được gọi là toàn cầu hóa Về cơ bản, chúng thống nhất với nhau và có thể xem khu vực hóa là một bộ
Trang 27phận của quá trình toàn cầu hóa, là những bước đi đến toàn cầu hóa Nói cách khác, khu vực hóa là toàn cầu hóa từng bộ phận theo khu vực địa lý
Toàn cầu hóa và khu vực hóa dẫn đến sự gia tăng của các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư , vốn, công nghệ, dịch vụ, nhân công …Quá trình này phát triển dẫn đến các nền kinh tế có sự giao lưu trao đổi với nhau làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia do có sự gia tăng phân công lao động quốc tế Một khi đã có sự phân công lao động quóc tế, mỗi nước sẽ tập trung chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng, dịch vụ mình có lợi thế so sánh để đem ra trao đổi trên thị trường chung đó Quá trình này dẫn đến hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế
Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế được sử dụng phổ biến trong bối cảnh nước ta xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tích cực nỗ lực gia nhập vào các định chế, tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế
Một chuyên gia kinh tế cho rằng “hội nhập kinh tế phải là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở của thị trường trên các cấp đồ đơn phương, song phương, đa phương” Như vậy hội nhập kinh tế chính là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa
Hội nhập kinh tế chính là quá trình các quốc gia bắt tay hợp tác với nhau để tiến tới việc giảm dần, xóa bỏ các rào cản đối với sự di chuyển quốc tế của các dòng sản phẩm, nguồn lực và nguồn vốn
1.2 Nội dung hội nhập kinh tế
Nhìn chung hội nhập kinh tế có nhiều nội dung và cáh thức khác nhau nhưng
có thể nhận thấy được quá trình này qua hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn I là giai đoạn ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, cùng với các thành viên đàm phán xây dựng luật chơi chung cũng như thực hiện các cam kết, quy định đối với các thành viên của định chế và tổ chức
Giai đoạn II là giai đoạn tiến hành các công việc cần thiết trong nước để đảm bảo mục tiêu của hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết quốc tế và hội nhập kinh tế
Những công việc sẽ phải làm ở trong nước sẽ là:
Trang 28Điều chỉnh các chính sách theo hướng tự do hóa và mở cửa, giảm thiểu và xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sự luân chuyển vốn, lao động, khoa học công nghệ giữa các thành viên trở nên thông thoáng hơn Việc điều chỉnh này trước hết làm cho hệ thống luật định của quốc gia và chế độ thương mại ngày càng trở nên hoàn chỉnh và phù hợp với các qui định của các tổ chức quốc tế
Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với quá trình tự do hóa và mở cửa nhằm thích ứng cũng như vận hành có hiệu quả hơn trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế
Cần có những cải cách đối với nền kinh tế, xã hội và đặc biệt là những cải cách đối với hệ thống doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh
Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ quản lý và lực lượng công nhân lành nghề, trình độ cao nhất là trong lĩnh vực dịch vụ
Quá trình hội nhập kinh tế sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cũng như tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia Tham gia vào quá trình hội nhập đồng nghĩa với việc các rào cản thương mại và đầu tư sẽ được dỡ bỏ, hoạt động thương mại giữa các quốc gia sẽ tăng lên đáng kể Người tiêu dùng chính là những người được hưởng lợi từ những sản phẩm dịch vụ chất luợng cao, giá thành hợp lý và có nhiều
sự lựa chọn hơn Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng như nông sản, dệt may…từ đó tạo điều kiện cơ cấu lại sản xuất trong nước Dịch vụ của Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng hơn trên thị trường kh có luật chơi chung, khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử, tạo dựng vị thế trong thương mại quốc tế Bên cạnh đó Hội nhập cũng tạo điều kiện cho cải cách chính sách, thể chế pháp luật và hệ thống chính sách minh bạch, ổn định, dễ dự đoán đồng thời giúp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, hội nhập kinh tế cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia Trước hết là những hậu quả từ việc các nước thành viên của một tổ chức nào đó thay vì được trao đổi với các quốc gia không phải là thành viên của tổ chức nay lại phải chuyển hướng sang những nước thành viên của tổ chức đó trong khi những nước không phải là thành viên lại tỏ ra là nhữn nước có tiềm năng và hiệu quả hơn
Trang 29những nước thành viên Điều này xảy ra khi mà các thành viên của một tổ chức kinh tế khu vực hay quốc tế có mức phát triển không đồng đều Ngoài ra, một hậu quả nữa xảy ra trong quá trình hội nhập kinh tế là sự chảy máu chất xám và lao động có tay nghề và sự mất dần quyền tự do dân chủ cũng là điều mà các nhà chức trách của một nước nên quan tâm khi hội nhập
Ngày nay hội nhập kinh tế đã trở thành một xu thế tất yếu cảu phát triển kinh tế và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Gia nhập WTO là một cột mốc quan trọng trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế, song cũng có những vấn đề cần phải xem xét kĩ lưỡng và có những điều chỉnh kịp thời để bắt kịp nền kinh tế quốc tế mà vẫn giữ vững bản sắc dân tộc
1.3 Nội dung hội nhập kinh tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
Hiện nay, thương mại dịch vụ là nhân tố tăng trưởng nhanh nhất trong thương mại và đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm một phần năm thương mại thế giới (dung lượng thương mại thế giới về dịch vụ năm 1995 là 1200 tỷ USD) và chiếm một phần ba khối lượng đầu tư Mặc dù tăng trưởng nhanh, nhưng thị phần của thương mại dịch vụ vẫn còn nhỏ hơn thị phần của thương mại trong khu vực sản xuất và việc làm Giá trị trao đổi thương mại dịch vụ đã tăng trưởng nhanh hơn thương mại hàng hoá trong những thập kỷ qua Không thể tránh khỏi là các nước phát triển sẽ vận động để tự do hoá thương mại dịch vụ, đưa vào khuôn khổ đa biên của Hiệp định GATS Vì vậy, vấn đề điều chỉnh thương mại dịch vụ giữa các nước
đã được thế giới quan tâm từ lâu và được đề cập đến khi soạn thảo Hiệp định chung năm 1947 nhưng không thành Phải đến khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay kết thúc (1986 - 1993) nỗ lực đó mới mang lại kết quả Hiệp định Chung về Thương mại dịch vụ GATS ra đời GATS là tập hợp đầu tiên các quy định đa phương có hiệu lực thi hành bắt buộc (từ 1/1995), điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc quốc tế Như vậy, gần 50 năm sau khi Hiệp định đầu tiên điểu chỉnh thương mại hàng hoá GATT ra đời, TMDVQT mới có một văn bản điều chỉnh
Tự do hoá thương mại là việc dỡ bỏ những hàng rào do các nước lập nên nhằm làm cho luồng hàng hoá dịch vụ di chuyển từ nước này sang nước khác được thuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Những hàng rào nói trên có thể là
Trang 30thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu kiểm dịch, phương pháp đánh thuế, v.v…
Đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng mà GATS nhằm đến và là một trong những nội dung chính của vòng đàm phán Doha Các vòng đám phán thương mại toàn cầu trước đây chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong mở cửa thị trường dịch vụ Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ đã tạo ra một xung lực riêng biệt cho việc mở cửa thị trường dịch vụ Các dịch vụ trực tuyến không nhất thiết phải được thiết lập ở trong cùng một quốc gia, thậm chí là cùng một châu lục Các thị trường dịch vụ được mở cửa thông qua các hiệp định song phương và khu vực, thông qua các chương trình cải cách từ bên trong từng quốc gia Hiện tại các cuộc đàm phán tự tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Chương trình nghị sự
Đô ha vì sự phát triển của WTO tạo cơ hội cho tât scả các nước ở những trình độ phát triển khác nhau đánh giá lại toàn bộ quá trình phát triển dịch vụ và thực thi mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường dịch vụ Mở cửa lĩnh vực TMDV sẽ đem lại lợi ích cho cả các nước phát triển và đang phát triển Lợi ích có được từ tự do hoá thương mại dịhc vụ là lớn hơn rất nhiều so với lợic ích có được từ tự do hoá thương mại hàng hoá.Thứ nhất là do mức độ bảo hộ của thương mại dịch vụ cao hơn so với các lĩnh vực khác, và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong nền kinh tế Thứ hai, các dịch vụ như viễn thông và vận tải có tầm quan trọng đặc biệt trong việc sản xuất và vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa, do vậy thị trường dịch vụ mở cửa hơn nữa có thể tác động mạnh mẽ đến tổng thể nền kinh tế Ví dụ: nông nghiệp và công nghiệp sẽ hưởng lợi từ việc tăng tính hiệu quả các đầu vào, và điều này chắc chắn sẽ làm giảm bớt những khó khăn mà các lĩnh vực này gặp phải do kết quả của việc mở cửa thị trường của bản thân các lĩnh vực này
2 Năng lực cạnh tranh
2.1 Khái niệm về cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh được sử dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy vậy nói một cách khái quát, cạnh tranh là sự ganh đua của một (họăc một nhóm) người với nhau nhằm nâng cao vị thế cuả mình và làm giảm vị thế của các đối thủ
Trang 31Trong kinh tế, khái niện cạnh tranh (economic competition), hay nói ngắn gọn là competition) được hiểu, định nghĩa khác nhau.ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về vấn đề cạnh tranh,phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp: “cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình” Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng
Trên bình diện toàn nền kinh tế: cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu cũng như hạn chế được các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách có hiệu quả hơn và nâng cao phúc lợi xã hội
Trên bình diện doanh nghiệp: bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu
về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản nếu đứng lại, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn cải tiến, nâng cao công nghệ, phương pháp sản xuất, quản
lý nhằm nâng cao uy tín của mình
Trên bình diện người tiêu dùng: cạnh trnh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm cả người sản xuất lẫn ngươì tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tuỳ tiện Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần hạn chế méo mó giá cả và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội
Trên bình diện quốc tế: chính cạnh tranh đã thúc ép các doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động vốn, lao động công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trên thị trường quốc tế Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiẹp thấy được lợi thế so sánh, cạnh tranh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 32Cạnh tranh cũng như các qui luật, hiện tượng kinh tế - xã hội khác chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định Nên kinh tế thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần kinh tế là tiền đề cơ bản cho cạnh tranh xuất hiện tồn tại và phát triển Tuy nhiên cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường hợp chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước Việc can thiệp thích hợp của nhà nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp
cư chế vận hành thông suốt trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Như vậy, cơ chế cạnh tranh chỉ có thể vận hành một cách hiệu quả trong môi trường kinh tế thị trường và có sự điều tiết hợp lý của Nhà nước
2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngành
Quá trình hội nhập kinh tế hiện nay vừa tạo ra những cơ hội thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn trong cạnh tranh đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, cũng như đối với từng ngành và từng đơn vị sản xuất kinh doanh Cho đến nay khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn còn chưa có một cách hiểu thống nhất Theo Krugman (1994) thì cho rằng khả năng cạnh tranh chỉ ít nhiều phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp , nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì không trước thì sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản Trong khi đó P.Samuelson cho rằng “ khả năng cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp giành được khách hàng hay thị trường khi cạnh tranh với nhau Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002, định nghĩa khả năng cạnh tranh đối với một quốc gia là “ khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng cao được xác định bằng thay đổi về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian” Trong khi đó diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
đã chọn định nghĩa về khả năng cạnh tranh cố gắng kết hợp cả các doanh nghiệp, ngành
và quốc gia : “ Khả năng cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành quốc gia
và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thế được định nghĩa là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thi trường cạnh tranh của các sản
Trang 33phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp Định nghĩa này được xem là nhất quán với mục tiêu
kinh doanh, đồng thời phù hợp với các mục tiêu của chính sách kinh tế hay chính sách thương mại của chính phủ
Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một ngành thì thường tập trung vào ba vấn đề cơ bản là: năng lực cạnh tranh của ngành như thế nào ? Những nhân tố thúc đẩy hay có đóng góp tích cực còn những nhân tố nào hạn chế hay có tác động tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của ngành như thể hiện ở mô hình trên? Và cuối cùng là những vấn
đề cần đặt ra để nâng cao năng lực cạnh tranh được tập trung vào hai yếu tố đó là lợi nhuận và thị phần Sử dụng hai chỉ tiêu này sẽ cho biết ngành đó khả năng đứng vững trên thị trường cạnh tranh hay bị loại ra khỏi thị trường
Trước đây, mô hình cạnh tranh hoàn hảo giả thiết rằng tỷ suất lợi nhuận và mức
độ rủi ro là cân bằng giữa các doanh nghiệp và giữa các ngành trong nền kinh tế Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ ngành của nền kinh tế nào cũng đều có tỷ suất lợi nhuận tiềm năng và mức độ rủi ro như nhau do cơ chế tự điều tiết của cạnh tranh Các doanh nghiệp trong môi trường có mức lợi nhuận thấp và độ rủi ro cao sẽ có xu hướng rút lui và tìm đến ngành có tiềm năng lợi nhuận cao hơn và ít rủi ro hơn Tuy nhiên, nhiều mô hình nghiên cứu gần đây lại khẳng định các ngành kinh doanh khác nhau có khả năng sinh lợi khác nhau, sự khác biệt này có nguyên nhân từ các đặc tính cấu trúc của ngành Ví dụ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông
có tỷ suất lợi nhuận khác với các công ty xây dựng hay các công ty chế biến thực phẩm
Micheal Porter đã cung cấp một mô hình phân tích cạnh tranh trong một ngành
kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi năm lực lượng cơ bản và được gọi là mô hình năm lực
lượng cạnh tranh Theo Porter, các điều kiện cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau Trong số các yếu tố này, ngoài các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong nội bộ ngành, còn các nhân tố khác như khách hàng, hệ thống cung cấp, các sản phẩm thay thế hay các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Các nhà quản trị chiến lược mong muốn phát triển lợi thế nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng công cụ này để phân tích các đặc tính và phạm vi của ngành ở đó hoạt động kinh doanh của mình đang được diễn ra hoặc sẽ nhắm tới
2.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của dịch vụ:
Trang 34Năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ là khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của lĩnh vực dịch vụ, đồng thời có nhiều phân ngành dịch vụ có khả năng thích ứng linh hoạt khi điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế thay đổi
2.4 Các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ
Một số chỉ tiêu thường dùng để đành giá năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ chi phí
bỏ ra để sản xuất Nó là một chỉ tiêu tổng hợp, không chỉ phản ánh tiềm năng cạnh tranh của ngành mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của ngành ấy Nếu chỉ tiêu của ngành này thấp thì chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường ngành là rất thấp và ngược lại, nếu chỉ tiêu cao thì ngành đang kinh doanh rất có lãi
Đó là phần thị trường mà ngành chiếm lĩnh được Thị phần càng lớn, năng lực cạnh tranh càng mạnh và ngược lại Để tồn tại và có sức cạnh tranh, ngành phải chiếm giữ được một phần thị trường, trong đó có được những khách hàng chiến lược và lâu dài
về doanh thu vì vị trí kinh doanh của họ trên thị trường sẽ ảnh hưởng đáng kể đến uy tín của ngành kinh doanh
Đó là giá trị tăng thêm đối với sản phẩm là hàng hoá hay dịch vụ do cơ sở sản xuất hàng hoá, dịch vụ mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng lên Nếu giá trị gia tăng càng cao chứng tỏ được khả năng cạnh tranh càng lớn thì hiện nay ngành dịch vụ tài chính ngân hàng là ngành có giá trị gia tăng cao, cần được thúc đẩy páht triển
Giá cả một mặt là kết quả của sự phân tích và đánh giá các yếu tố ràng buộc bên ngoài và yếu tố bên trong doanh nghiệp Mặt khác, giá cả là cơ sở trực tiếp để tính toán các chỉ tiêu giá trị của doanh nghiệp như doanh thu, lợi nhuận Vì vậy, mức giá ảnh hưởng trực tiếp tới tính chính xác của các chỉ tiêu định lượng của doanh nghiệp Mức giá sản phẩm của doanh nghiệp trong mối liên hệ với giá sản phẩm cạnh tranh là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu, lợi thế cạnh
Trang 35tranh Cạnh tranh qua giá và sử dụng giá cả là một công cụ cạnh tranh trong hoạt động marketing là một trong những vần đề trọng yếu mà doanh nghiệp cần thường xuyên quan tâm xem xét
Không ai có thể phủ nhận rằng dịch vụ luôn rất khó để đánh giá và giám sát
so với các quy trình sản xuất nhưng trên cương vị một nhà quản trị, bạn có thể kiểm soát chúng theo nhiều cách khác nhau nhằm khơi dậy hiệu suất dịch vụ nếu chúng được đánh giá theo những nguyên tắc nghiêm ngặt nhất Phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày một gay gắt, những yêu cầu từ phía khách hàng gia tăng, chi phí nhân công cao, và tại một số thị trường còn là tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp, các công ty dịch vụ trên toàn thế giới đang nỗ lực hết sức để đẩy mạnh hiệu suất kinh doanh của mình Chính vì thế chất lượng dịch vụ luôn là một yếu tố quan trọng mang lại sức cạnh tranh cao cho doanh nghiệp nói riêng và cho toàn ngành nói chung
Trang 36CHƯƠNG 2: NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VÀ NGÀNH DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP KINH TẾ KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI
I THỰC TRẠNG NGÀNH DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM
1 Thực trạng các doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm Việt Nam trước khi hội nhập nền kinh tế thế giới
Trước năm 1975, trên thị trường miền Nam Việt Nam đã có một số công ty
bảo hiểm Tại miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là
Bảo Việt) được thành lập và trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ cung cấp các sản phẩm bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm vận tải biển Sau năm 1975, Bảo Việt đã mở rộng phạm vi hoạt động vào miền Nam và dần dần trên phạm vi toàn quốc, trở thành công ty bảo hiểm lớn nhất Việt Nam và thống lĩnh toàn bộ thị trường bảo hiểm Việt Nam
Cho đến tháng 12 năm 1993, với sự ra đời của Nghị định 100/CP ngày 18 tháng 12 năm 1993 quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có một bước chuyển biến lớn Có thể nói đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của ngành bảo hiểm Việt Nam Đặc biệt, năm
1999 được coi là năm phát triển nhất của thị trường bảo hiểm với sự thành lập của 5 công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài Từ năm 2003 đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam liên tục có những biến động lớn với sự sắp xếp và chuyển đổi của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước:
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được tổ chức lại theo mô hình tập đoàn kinh doanh với các đơn vị thành viên hạch toán độc lập: Bảo hiểm Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Một số doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần
Một số các công ty cổ phần bảo hiểm và môi giới bảo hiểm được thành lập
Trang 37Ngày 18/12/1993, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định
100/1993/NĐ-CP về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, cho phép các thành phần kinh tế và các nhà đầu tư nước ngoài được phép kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, đặt dấu mốc quan trọng cho sự hình thành thị trường bảo hiểm ở Việt Nam với sự đa dạng hoá
về lĩnh vực hoạt động và sở hữu Từ năm 1995, sự ra đời của một loạt các công ty bảo hiểm mới đã thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển một cách mạnh mẽ với sự góp mặt đông đảo của các công ty bảo hiểm nước ngoài
Bảng 1: Cơ cấu doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm Việt Nam năm
2005
Loại hình doanh nghiệp Nhà
nước Cổ phần
Liên doanh
100%
vốn nước ngoài
Tổng
Tổng cộng 5 10 5 11 31
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Trong tổng số các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang chiếm hơn một nửa các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm trên thị trường Việt nam (18/31 doanh nghiệp)
1.1 Bảo hiểm nhân thọ
Trang 38trung bình về tỉ lệ doanh thu trên GDP, và đứng thứ 3 từ dưới lên về chi tiêu bảo hiểm đầu người ở Châu Á
Biểu 2: Tỉ lệ doanh thu phí bảo hiểm trên GDP và chi tiêu bảo hiểm đầu người
tại thị trường các nước Châu Á năm 2004
Nguồn: Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam
là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Đến hết năm 2005, thị phần của các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thị trường như sau (chỉ tính trên 6 công ty bảo hiểm nhân thọ đã hoạt động):
Biểu 3: Thị phần các công ty bảo hiểm nhân thọ
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
1.1.3 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Trang 39Trong số các loại sản phẩm bảo hiểm được cung cấp trên thị trường, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là loại sản phẩm được người tiêu dùng cá nhân quan tâm nhiều nhất So với các công ty bảo hiểm nhân thọ trong nước, các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài với lợi thế về vốn, kỹ thuật thiết kế và tính phí sản phẩm đã tạo
ra các sản phẩm bảo hiểm đa dạng cả về mục đích bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, chi phí bảo hiểm,… nhằm đáp ứng tối đa mọi nhu cầu khác nhau của người sử dụng Đây cũng chính là một trong những lý do làm tăng thị phần của các công ty nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Trong giai đoạn 5 năm từ 2001 – 2005, ba năm đầu của giai đoạn này là thời
kỳ phát triển mạnh nhất của thị trường bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là năm 2003 Đây là thời điểm các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài mới vào Việt Nam và tập trung đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm mới, thu hút nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng Do đó, số lượng các hợp đồng mới trong giai đoạn này có xu hướng gia tăng Đồng thời, trong giai đoạn này đã có sự thay đổi lớn trong xu hướng sử dụng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ: người tiêu dùng đã sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ Từ năm 2004, số lượng các hợp đồng khai thác mới đã giảm nhiều do nguyên nhân từ sự bão hoà thị trường Tuy nhiên, sản phẩm bổ trợ vẫn chiếm tỷ lệ nhiều hơn trong tổng cơ cấu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Bảng 4: Số lượng các hợp đồng bảo hiểm khai thác mới 2001 - 2005
Sản phẩm bảo hiểm chính Sản phẩm bảo hiểm bổ trợ
Trang 40Tăng trưởng so với năm
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
Trong cơ cấu doanh thu phí của sản phẩm này, loại bảo hiểm hỗn hợp vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, các nghiệp vụ khác như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm trả tiền định kỳ chỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể Tuy nhiên,
từ năm 2004, số lượng các hợp đồng mới, tổng số tiền bảo hiểm cũng như doanh thu phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm đang suy giảm rõ rệt Đây là dấu hiệu của một thị trường dần đi vào ổn định sau giai đoạn phát triển
Bảng 5: Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm khai thác mới năm
2004 - 2005 theo nghiệp vụ
Nghiệp vụ bảo hiểm Phí bảo hiểm (%) Số tiền bảo hiểm (%)
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2004 Năm 2005
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
1.2 Bảo hiểm phi nhân thọ
Sau khi Nghị định 100/1993 được ban hành, một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã được thành lập Các công ty bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường Việt Nam từ năm 1996 Tuy nhiên, cả tỉ lệ phí doanh thu bảo hiểm trên GDP
và chi tiêu bảo hiểm đầu người trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đều ở mức thấp nhất so với các nước khác trong khu vực Thêm vào đó, tỉ lệ này còn thấp hơn tỉ lệ trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, đây cũng là xu hướng chung của các nước đang phát triển Tại các quốc gia này, do GDP đầu người thấp, một mặt, người dân chưa đủ khả năng tài chính để chi trả bảo hiểm cho