1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quy luật giá áp dụng vào kinh tế thị trường

35 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật giá áp dụng vào kinh tế thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 149,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cắt nghĩa vì sao khi trình bày quy luật kinh tế chi phốihoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá người ta chỉ trình bày quy luật giá trị, mộtquy luật bao quát cả bản chất và

Trang 1

TIỂU LUẬN:

Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá, và

sự vận dụng quy luật này trong xây dựng kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 2

Lời mở đầu

Đối với mỗi quốc gia thì sản xuất hàng hoá luôn luôn giữ vị trí quan trọng, đây làmột trong những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của quốc gia Sảnxuất hàng hoá thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động, phát triển chuyên mônhoá, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, tạo điềukiện cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ sản suất, mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩysản xuất phát triển Ngoài ra, sản xuất hàng hoá còn làm cho quá trình giao lưu kinh tếvăn hoá giữa các địa phương, các vùng, các nước ngày càng phát triển, đời sống tinhthần được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho sự phát triển tự do độc lậpcủa cá nhân Trong sản xuất hàng hoá, có một quy luật rất quan trọng đó là quy luật giátrị Đây là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá Theo quy luật này, sản xuất và traođổi hàng hoá được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết Thông qua sự vậnđộng của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị giá cả thịtrường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luậtgiá trị Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung - cầu,sức mua của đồng tiền Điều này cắt nghĩa vì sao khi trình bày quy luật kinh tế chi phốihoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá người ta chỉ trình bày quy luật giá trị, mộtquy luật bao quát cả bản chất và các nhân tố cấu thành cơ chế tác động của nó

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, phải đối mặt với rất nhiều thách thức vàkhó khăn nhất là trong phát triển kinh tế, do đó đòi hỏi chúng ta phải áp dụng những

Trang 3

biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và có hiệu quả Chính vì vậy,việc vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là rất quan trọng.

Trước tầm quan trọng của quy luật giá trị, em đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Quy

luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá, và sự vận dụng quy luật này trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.” Quy luật này nhằm khẳng định lại

một lần nữa vai trò quan trọng của quy luật giá trị, và nêu nên sự vận dụng quy luật nàyđối với nước ta

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ: Trần Thị Tố Linh đã giúp đỡ em rất nhiều trongquá trình nghiên cứu đề tài này Và em rất mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy côgiáo để cho đề tài này hoàn thiện hơn nữa

Trang 4

Chương I: Những vấn đề cơ bản về quy luật giá trị

1/ Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hoá

Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuất hiện và hoạt động củaquy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hànghoá đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này Tuân theo yêu cầu của quy luậtgiá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phásản

Quy luật gia trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hànghoá Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá tuân theo mệnh lệnh của giá cả thịtrường Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quyluật giá trị Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chếtác động của quy luật giá trị Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị trường thông quacạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền Điều này cắt nghĩa vì sao khi trình bàyquy luật kinh tế chi phối hoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá người ta chỉtrình bày quy luật giá trị, một quy luật bao quát cả bản chất và các nhân tố cấu thành cơchế tác động của nó

Do tầm quan trọng của cơ chế tác động và để tăng ý nghĩa thực tiễn của quy luật giátrị, những năm gần đây, các nhà kinh tế học thấy cần phải nhấn mạnh các nhân tố cạnh

Trang 5

tranh, lượng tiền cấn thiết cho lưu thông cung – cầu đối với sự biến động của giá cả thịtrường và trình bày chúng thành các quy luật: cạnh tranh, cung - cầu và lưu thông tiền

tệ Mặc dù được trình bày thành những quy luật kinh tế riêng, song, về nhận thức lýluận, chúng ta cũng chỉ nên coi chúng là những quy luật kinh tế phát sinh từ quy luật giátrị, hiểu theo nghĩa đầy đủ của quy luật này

2/ Các quy luật có liên quan và mối quan hệ của chúng với quy luật giá trị.

2.1/ Quy luật lưu thông tiền tệ.

Còn sản xuất hàng hoá thì còn lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ Quy luật lưuthông tiền tệ xuất hiện và tồn tại là một tất yếu khách quan

Nội dung của quy luật này thể hiện ở mối quan hệ giữa lượng tiền phát hành với cácnhân tố có liên quan C.Mác trình bày nội dung của quy luật này qua công thức kháiquát và công thức ở dạng cụ thể của nó:

- ở dạng khái quát, nội dung của quy luật này là:

M = P * Error!

Trang 6

Trong đó:

M là lượng tiền phát hành cần thiết cho lưu thông

P là mức giá cả hàng hoá, dịch vụ

Q là khối lượng hàng hoá , dịch vụ đem ra lưu thông

V là vòng quay trung bình của đồng tiền cùng loại

- ở dạng cụ thể, khi C.Mác xem xét công thức khái quát gắn với các chức năng thanh toán, gắn với tín dụng, công thức biểu diễn nội dung quy luật này là:

M = (1) - (2) – (3) – Error!

Trong đó:

(1) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ đem bán

(2) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ bán chịu

(3) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ khấu trừ cho nhau

(4) tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ đến kỳ thanh toán

Trang 7

(5) là vòng quay trung bình của tiền tệ cùng tên gọi.

Từ công thức trên có thể thấy những nhân tố có quan hệ đến lượng tiền phát hànhđến lượng tiền phát hành, trong đó: M tỷ lệ thuận với (1) và (4) và tỷ lệ nghịch với (2),(3) và (5)

Cần ý thức rằng quy luật lưu thông tiền tệ như đã phân tích ở trên là quy luật lưuthông của tiền (vàng) Khi vận dụng quy luật này trong điều kiện tiền giấy thì tình hình

có sự khác đi nhất định Vì tiền giấy không có tác dụng tự điều chỉnh qua hai kênh lưuthông và tích luỹ như tiền (vàng) Bởi vậy, để quy luật này có hiệu lực trong điều kiệntiền giấy phải rất coi trọng khi điều khiển và khống chế lượng tiền giấy phát hành cholưu thông

2.2 / Quy luật cung cầu hàng hoá, dịch vụ

lý luận và thực tiễn đều khẳng định: ở nơi nào có nhu cầu thì ở nơi đó cũng xuấthiện luồng cung ứng hàng hoá, dịch vụ để hình thành mối quan hệ cung cầu

Mối quan hệ nhân quả giữa cung và cầu liên tục tiếp diễn trên thị trường, tồn tại mộtcách khách quan, độc lập với ý thức của con người được gọi là quy luật cung cầu

Sự hoạt động của quy luật này thể hiện ở cơ chế vận động giữa giá cả thị trường vàgiá trị hàng hoá thông qua các trường hợp: cung bằng cầu, cung lớn hơn cầu và cungnhỏ hơn cầu:

- Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá trong sản xuất

Trang 8

- Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất

- Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất

Vai trò của quy luật cung cầu:

Quy luật cung cầu giải thích rõ nhất, chính xác nhất vì sao giữa giá trị và giá cả thịtrường lại không ăn khớp với nhau, tạo điều kiện cho quy luật giá trị có cơ chế hoạtđộng Tuy cung cầu không trực tiếp quyết định sự hình thành giá trị hàng hoá, nhưng nócũng ảnh hưởng gián tiếp đến chu kỳ sản xuất sau đối với sự hình thành giá trị hànghóa, thông qua tác động của thị trường làm thay đổi điều kiện sản xuất và thay đổi năngsuất lao động, giúp các giám đốc có những quyết định năng động, linh hoạt trong sảnxuất, kinh doanh và trong ký kết các hợp đồng kinh tế

2.3 / Quy luật cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau,giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, nhằm dành được nhữngđiều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để thu được nhiều lợi ích nhấtcho mình

Những người sản xuất, tiêu thụ có điều kiện khác nhau về trình độ trang bị kỹ thuật,chuyên môn, không gian, môi trường sản xuất, điều kiện nguyên vật liệu nên chi phílao động cá biệt khác nhau Kết quả có người lãi nhiều, có người lãi ít, có người phásản Để dành lấy các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc họ

Trang 9

Quy luật giá trị

Quy luật lưu

thông tiền tệ Quy luật cạnh tranh Quy luật cung cầu

phải cạnh tranh Cạnh tranh có hai loại: canh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lànhmạnh Cạnh tranh lành mạnh là dùng tài năng của mình về kinh tế và quản lý để tăngnăng suất, chất lượng, và hiệu quả, vừa có lợi cho nhà kinh doanh, vừa có lợi cho xã hội.Cạnh tranh không lành mạnh là dùng những thủ đoạn phi đạo đức, vi phạm phápluật( trốn thuế, nâng giá ) có hại cho xã hội và người tiêu dùng

Quy luật cạnh tranh có tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến bộ để thúcđẩy xã hội phát triển

Tóm lại: nghiên cứu các quy luật giá trị, lưu thông tiền tệ và cung cầu không chỉ đểnhận thức lực lượng khách quan chi phối thị trường , mà còn có ý nghĩa đối với việcthực hiện chức năng quản lý ở hai tầng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước và quản lý vi

mô của các doanh nghiệp

Có thể khái quát mối quan hệ giữa các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trườngqua sơ đồ sau:

Trang 10

Từ sơ đồ trên cho thấy không thể làm chủ kinh tế thị trường và cơ chế vận hành của

nó nếu không nắm bắt và vận dụng một cách tổng hợp các quy luật kinh tế nói trêntrong kinh tế và quản lý kinh tế Cũng từ sơ đồ trên cho thấy các quy luật cạnh tranh,quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu chỉ là những quy luật phát sinh từ quy luậtgiá trị Nó có tác dụng bổ sung và thông qua bổ sung tạo ra vẻ đẹp cho sự hoạt động haytạo ra cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Từ đó cần phê phán những quan điểmkhông đúng khi họ cường điệu quá đáng, thậm chí thừa nhận quy luật cung cầu màkhông thừa nhận quy luật giá trị với tư cách là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất vàtrao đổi hàng hoá đã được các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển và C.Mác phát hiện vàhoàn thiện quy luật này

Trang 11

Chương II: Quy luật giá trị trong sản xuất hàng hoá

1/ Khái niệm sản xuất hàng hoá.

Sản xuất hàng hoá: Là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó nhưng người sản xuất ra sản phẩm không phải để tiêu dùng cho mình mà để bán trên thị trường

Trang 12

2/ Đặc trưng của sản xuất hàng hoá.

Sản xuất hàng hoá không phải để mình dùng, mà là để bán Nhu cầu lớn và khôngngừng tăng lên là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá.Người tiêu dùng được tự do lựa chọn hàng hoá phù hợp với nhu cầu có khả năng thanhtoán và thị hiếu của mình

Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của phân công lao động và lại thúc đẩy sự pháttriển của phân công lao động, phát triển chuyên môn hoá, tạo điều kiện phát huy lợi thế

so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật, nâng caotrình độ kỹ thuật, mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển

Sản xuất hàng hoá trong môi trường cạnh tranh gay gắt, trong điều kiện quy mô sảnxuất lớn, các nguồn lực tự nhiên ngày càng khan hiếm, buộc người sản xuất phải khôngngừng cải tiến, đổi mới kỹ thuật, công nghệ nâng cao năng suất, chât lượng, hiệu quảsản xuất và sử dụng tiết kiệm các yếu tố sản xuất

Trong sản xuất hàng hoá, với sự phát triển của sản xuất, với vai trò của động lực củanhu cầu, với sự phát triển của giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, các nước mà đờisống tinh thần đều được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho sự phát triển

tự do, độc lập cuả cá nhân Tính chất “mở” là đặc trưng của các quan hệ hàng hoá - tiền

tệ, mở trong quan hệ giữa các doanh nghiệp, giữa các địa phương, các vùng và với nướcngoài

3/ Hàng hoá.

Trang 13

Hàng hoá: là sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người thôngqua trao đổi mua - bán với nhau Hàng hóa là một phạm trù lịch sử Sản phẩm lao độngmang hình thái của hàng hoá khi nó là đối tượng mua - bán trên thị trường Hàng hoá cóthể ở dạng vật thể (hữu hình) hay ở dạng phi vật thể.

3.1 / Hai thuộc tính cuả hàng hoá

Hàng hoá có hai thuộc tính:

a/ Giá trị sử dụng:

Giá trị sử dụng là công cụ của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của conngười, hoặc là nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân như lương thực, thực phẩm hoặc là nhucầu cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu; là nhu cầu vật chất hay nhu cầutinh thần Chính công cụ của vật phẩm làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng hay cómột giá trị sử dụng Bất cứ một số vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định.Giá trị sử dụng được phát hiện dần trong quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật vàlực lượng sản xuất Xã hội càng tiến bộ, khoa học, kỹ thuật và phân công lao động ngàycàng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng càng nhiều, chủng loại càng phong phú, đadạng, chất lượng cao

Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những hàng hoá vật thể hữu hình còn có những dịch

vụ mà người ta mua và bán trên thị trường Nhiều nhà kinh tế học gọi đó là hàng hoáphi vật thể hay hàng hoá - dịch vụ

Trang 14

b/ Giá trị

Giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hoá trong sản xuất hàng hoá

Các hàng hoá khác nhau về giá trị sử dụng nên không thể lấy giá trị sử dụng để đolường các hàng hóa Các hàng hoá khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm chochúng có thể so sánh với nhau trong khi trao đổi, đó là các hàng hoá đều là sản phẩmcủa lao động Cơ sở cho hai hàng hoá trao đổi với nhau là lao động xã hội hao phí vàoviệc sản xuất ra những hàng hóa đó Thực chất của trao đổi hàng hoá là trao đổi laođộng ẩn giấu trong hàng hoá đó

Lao động hao phí để tạo ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là cơ sở chung của traođổi, được gọi là giá trị hàng hoá Giá trị hàng hoá là lao động của người sản xuất hànghoá kết tinh trong hàng hoá Giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ giữa những người sảnxuất hàng hoá Nó là một phạm trù lịch sử - có sản xuất hàng hoá và hàng hoá thì mới

có giá trị hàng hoá Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nộidung, là cơ sở của giá trị trao đổi Như vậy, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng

và giá trị Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất với nhau

ở một hàng hoá Người sản xuất làm ra hàng hoá để bán, nên mục đích của họ là giá trịchứ không phải giá trị sử dụng; trong tay họ có giá trị sử dụng, nhưng cái mà họ quantâm là giá trị hàng hoá Họ chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để đạt mục đích giátrị Ngược lại, người mua cần giá trị sử dụng, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trảgiá trị cho người sản xuất ra nó, tức là phải thực hiện được giá trị hàng hoá thì mới chiphối được giá trị sử dụng

Trang 15

3.2 / Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộc tính đó của hànghoá do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định C.Mác là người đầutiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá: lao động cụ thể vàlao động trìu tượng

a/ Lao động cụ thể: Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề

nghiệp chuyên môn nhất định Thí dụ, lao động cụ thể của người thợ may, thợ dệt, thợ

cơ khí Mỗi lao động cụ thể có đối tượng lao động, mục đích, phương pháp lao động,kết quả sản xuất riêng Chính cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau

Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định Trong xã hội, có vô số giátrị sử dụng muôn hình, muôn vẻ do vô số lao động cụ thể cũng muôn hình muôn vẻ tạora

Lao động cụ thể tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái sản xuất xã hội, khôngphụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào; nhưng hình thức của lao động cụ thểphụ thuộc vào sự phát triển của kỹ thuật, của lực lượng sản suất và phân công lao động

xã hội Khoa học, kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức laođộng cụ thể càng phong phú và đa dạng

b/ Lao động trìu tượng: Là lao động của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thức

biểu hiện cụ thể của nó để quy về một cái chung đồng nhất Đó là sự tiêu phí sức laođộng, tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh của con người

Trang 16

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá vừa là lao động cụ thể, vừa là laođộng trìu tượng có quan hệ với tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sảnxuất hàng hoá Tính tự chủ làm cho lao động của những người sản xuất hàng hoá trởthành việc riêng của họ Mỗi người sản xuất hàng hoá tự lựa chọn mặt hàng mà họ nhậnthấy thích hợp Nhưng mặt khác, phân công xã hội làm nảy sinh rất nhiều mối liên hệgiữa người sản xuất, người này làm việc vì người kia, lao động của mỗi người trở thànhmột bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội Sựphân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hànghoá thông qua trao đổi Việc trao đổi hàng hoá không thể căn cứ vào lao động cụ thể màphải quy về lao động chung nhất, lao động trìu tượng.

3.3 / Lượng giá trị hàng hóa

Giá trị hàng hóa là do lao động trìu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinhtrong hàng hoá Vậy, lượng giá trị hàng hoá do lao động tiêu hao để làm ra hàng hoáquyết định Lượng lao động tiêu hao ấy được tính theo thời gian lao động

Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhưng điều kiện sảnxuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó thời gian lao động để sảnxuất ra hàng hoá là không giống nhau, tức là hao phí lao động cá biệt khác nhau Thếnhưng lượng giá trị hàng hoá không phải tính bằng thời gian lao động cá biệt, mà tínhbằng thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gianlao động cần thiết để sản xuất ra một một hàng hoá nào đó trong những điều kiện sản

Trang 17

xuất bình thường của xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độlao động trung bình trong xã hội.

Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá thườngtrùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loạihàng hoá đó trên thị trường Cần chú ý rằng, trình độ thành thạo trung bình, cường độlao động trung bình, điều kiện lao động bình thường của xã hội ở mỗi nước, mỗi ngành

là khác nhau và thay đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất Thời gian lao động

xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá thay đổi thì lượng giá trị hàng hoá sẽ thay đổi.Điều đó phụ thuộc vào nhiều nhân tố, vào năng suất lao động, vào mức độ giản đơn hayphức tạp của lao động

4/ Tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá

Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có những tác động sau đây:

Thứ nhất: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

Trong nền sản xuất hàng hoá thường xảy ra tình hình: người sản xuất bỏ ngành này

đổ xô vào ngành khác; quy mô sản xuất của ngành này bị thu hẹp, trong khi ngành kháclại mở rộng, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được phân bố lại giữa các ngành.Hiện tượng này được gọi là sự điều tiết sản xuất Sự điều tiết này được hình thành mộtcách tự phát, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường Có thể hiểu vai trò điềutiết này thông qua những trường hợp biến động quan hệ cung - cầu xảy ra trên thịtrường:

Ngày đăng: 06/07/2023, 01:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế học chính trị Mác-LêninNXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2004 Khác
2. Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt NamTác giả: Phan Thanh Phố Khác
3. Giáo trình Kinh tế quốc tếHọc viện tài chính Hà Nội Khác
4. Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tếHọc viện hành chính quốc gia Hà Nội Khác
5. Giáo trình kinh tế chính trị (chương trình cao cấp)Tập một: Chủ nghĩa tư bản Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w