Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các dòng ngô nổ.. Tình hình sản xuất n
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Lộc
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Lộc
HÀ NỘI - 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm –
Hà Nội” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi
Những phần có trích dẫn và sử dụng tới nguồn tài liệu tham khảo đã được nêu rõ ràng và đầy đủ ở trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong bài khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và kỉ luật của học viện đề ra
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Long Tuyên
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của nhiều tập thể, cá nhân Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô trong Khoa Nông học- Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam và đặc biệt các thầy cô trong bộ môn Cây lương thực đã tạo điều kiện giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi xây dựng và hoàn thành bài khóa luận này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Lộc- Giảng viên
Bộ môn Cây lương thực- Khoa Nông Học- Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, người đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên của bộ môn Cây lương thực đã giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm quý báu tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Long Tuyên
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP x
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu chung về ngô nổ 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.2 Vai trò và giá trị của ngô nổ 4
2.2.1 Vai trò 4
2.2.2 Giá trị của ngô nổ 5
2.2.3 Nhu cầu và thị hiếu ngô nổ tại Việt Nam 7
2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới 7
2.3.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 7
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô nổ trên thế giới 10
2.4 Tình hình sản xuất, nghiên cứu ngô và ngô nổ tại Việt Nam 14
2.4.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 14
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngô nổ ở Việt Nam 18
Phần III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 6iv
3.1 Địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu 21
3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.3.2 Phương pháp theo dõi thí nghiệm 24
3.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá độ nổ và cảm quan 29
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng ngô nổ tại Gia Lâm- Hà Nội (vụ Xuân 2021) 30
4.1.1 Tỷ lệ mọc mầm 30
4.1.2 Giai đoạn từ gieo đến mọc 32
4.1.3 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ 32
4.1.4 Giai đoạn từ gieo tới tung phấn - phun râu 32
4.1.5 Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý 34
4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng ngô nổ thí nghiệm 34
4.3 Động thái tăng trưởng số lá của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 38
4.4 Đặc điểm hình thái của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 41
4.4.1 Chiều cao cây cuối cùng 41
4.4.2 Chiều cao đóng bắp 41
Trang 7v
4.4.3 Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây 43
4.4.4 Số lá cuối cùng 43
4.4.5 Màu sắc thân, đường kính gốc và một số đặc trưng khác 44
4.4.6 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng ngô nổ 45
4.4.7 Chỉ số SPAD của các dòng ngô nổ 47
4.4.8 Khối lượng khô và tốc độ tích lũy chất khô của các dòng ngô nổ 49
4.5 Đặc điểm hình thái bông cờ và bắp của 23 dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 51
4.5.1 Đặc điểm hình thái bông cờ 52
4.5.2 Đặc điểm hình thái bắp 53
4.6 Khả năng chống chịu sâu bệnh hại và đặc tính chống đổ gãy của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 55
4.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 58
4.7.1 Số hàng/bắp 58
4.7.2 Số hạt/hàng 60
4.7.3 Khối lượng 1000 hạt 60
4.7.4 Năng suất lý thuyết 60
4.7.5 Năng suất thực thu 61
4.8 Độ nổ của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 61
4.8.1 Thời gian hạt đầu tiên nổ 61
4.8.2 Thời gian hạt nổ xong hết 61
Trang 8vi
4.8.3 Tỷ lệ nổ 63
4.8.4 Đánh giá cảm quan 63
Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 65
PHỤ LỤC 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại ngô nổ 3
Bảng 2.2: Bảng giá trị dinh dưỡng trong 100g bắp rang bơ (không ướp muối) 5
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên toàn thế giới giai đoạn 2012 - 2019 8
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2019 9
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất ngô của một số nước đứng đầu trên thế giới 10
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của Việt Nam 16
Bảng 2.7: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của các vùng trên cả nước năm 2017 18
Bảng 3.1: Nguồn gốc của 23 dòng vật liệu ngô nổ 21
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngô nổ vụ Xuân 2021 22
Bảng 3.3: Thang chấm điểm đánh giá chất lượng thử nếm ngô nổ 29
Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng của các dòng ngô nổ trồng vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 31
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 35
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 37
Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng số lá của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 39
Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng số lá của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 40
Bảng 4.6: Chiều cao cây cuối cùng và chiều cao đóng bắp của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 42
Trang 10viii
Bảng 4.7: Các đặc điểm hình thái của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 44Bảng 4.8: Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng ngô nổ trồng trong vụ
Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 46Bảng 4.9: Chỉ số SPAD của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại
Gia Lâm, Hà Nội 48Bảng 4.10: Khối lượng khô và tốc độ tích lũy chất khô của các dòng ngô nổ trồng
trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 50Bảng 4.11: Chỉ tiêu bông cờ của 23 dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021
tại Gia Lâm, Hà Nội 51Bảng 4.12: Chỉ tiêu hình thái bắp của 23 dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 53Bảng 4.13: Khả năng chống chịu sâu bệnh hại và đặc tính chống đổ gãy của các
dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 56Bảng 4.14: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng ngô nổ trồng
trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 59Bảng 4.15: Một số chỉ tiêu độ nổ của 23 dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân năm
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 62
Trang 11ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ASI Chênh lệch tung phấn đến phun râu
CCCCC Chiều cao cây cuối cùng
Trang 12x
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thí nghiệm đánh giá trên 23 dòng ngô nổ (S2) được bố trí tuần tự không nhắc lại, tiến hành trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm - Hà Nội Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các dòng ngô nổ Kết quả nghiên cứu cho thấy, các dòng ngô nổ trong thí nghiệm có thời gian sinh trưởng
từ 96- 121 ngày; chiều cao cây cuối cùng đạt 103,7- 200,6 cm; số lá cuối cùng đạt 12,92- 18,13 lá; số bắp hữu hiệu đạt 0,3- 1,3 bắp; chiều dài bắp 9,6- 20 cm; đường kính bắp từ 2,3- 4,2 cm; số hàng hạt/ bắp dao động trong khoảng 7,33- 13,6 hàng;
số hạt/ hàng 6,2- 31,9 hạt Năng suất lý thuyết của các dòng đa số còn chưa cao (2,13 – 64,58 tạ/ha) nhưng trong đó dòng NO-11 có năng suất đạt mức cao nhất 64,58 tạ/ha Các dòng ngô nổ khá đa dạng về màu sắc hạt như: trắng, vàng, đen, hồng, trắng vàng, trắng hồng Các dòng có khả năng nổ tốt lên tới 100% và có hương vị rất thơm ngon điển hình là: NO-12, NO-14, NO-22
Trang 13
1
Phần I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tàiCây ngô (Zea mays L.) được coi là một trong ba cây lương thực quan trọng
trong nền kinh tế toàn cầu Ngô có nguồn gốc từ Mexico thuộc Trung Mỹ Sau một thời gian ngô được trồng và phát triển rộng khắp thế giới đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho nhiều quốc gia Giai đoạn 1995- 1997, sản lượng ngô cung cấp cho nhu cầu sản xuất lương thực chiếm 17%, ngành thức ăn chăn nuôi chiếm một lượng lớn lên tới 66% trong tổng sản lượng ngô của thế giới, nguyên liệu cho ngành công nghiệp 5% Ở Việt Nam, ngô là một cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa gạo và được trồng rộng rãi ở 8 vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước Theo FAOSTAT (2021), năm 2019 diện tích sản xuất ngô cả nước lên tới 991 nghìn ha
Ngô nổ (Zea mays Everta Sturt) thuộc loài Zea mays, chi Zea, họ Poaceae (Gramineae) Theo Varela (2001), ngô nổ là loại ngô đặc biệt thuộc nhóm ngô đá
ở thời nguyên thủy có dạng hạt nhỏ, cứng Loại ngô này được người bản địa châu
Mỹ phát hiện ra và hiện nay vẫn còn được tìm thấy trong một loạt các địa điểm khảo cổ cách đây 1000 năm Theo Eldredge & Thomas (1959), hạt ngô nổ là loại ngô thực phẩm, khi gặp nhiệt độ cao thích hợp trong khoảng 350- 500°F (tương đương 177- 260°C) thì nổ phồng rất to, được gọi là bỏng Bỏng ngô nổ xốp và giòn (snack) được sử dụng làm đồ ăn nhanh hoặc làm một số loại bánh ngô hấp dẫn
Theo Nguyễn Văn Cương & Nguyễn Văn Lộc (2010), trước đây Việt Nam
đã có một số giống ngô nổ địa phương như: ngô nổ Hồng (Đăk Lăk), ngô nổ Tây Nguyên, ngô nổ Dài, ngô nổ Tím (Cao Bằng), Nhưng đối mặt với thực trạng hiện nay nhu cầu sử dụng mặt hàng ngô nổ này ở nước ta rất cao và được coi làmón ăn vặt khoái khẩu, một thực phẩm lành mạnh, nhận được sự yêu thích của đông đảo giới trẻ, thậm chí là cả người già và trẻ em Đây là món ăn vặt ưa chuộng được bày bán tại rạp chiếu phim, cổng trường học hoặc tự làm bắp rang bơ handmade tại nhà Nhưng thật đáng buồn, hiện nay ngô nổ ít thấy trồng trên đồng
Trang 142
ruộng ở Việt Nam, thậm chí có nguy cơ biến mất và chưa thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng rất lớn đó Lượng ngô nổ tiêu thụ trên thị trường phần lớn vẫn phải nhập khẩu từ Mỹ và các nước khu vực Nam Mỹ như: Argentina, Brazil, với giá hạt rất cao (80.000 đồng/kg) nhưng vẫn được khách hàng tiêu thụ mạnh Trong khi đó, những nghiên cứu và đánh giá về các dòng giống ngô nổ vẫn chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng
Xuất phát từ những thực tiễn trên, để góp phần duy trì bảo tồn dòng giống ngô nổ và tìm ra các dòng giống ngô nổ có năng suất cao, phẩm chất tốt Hơn hết
là phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nước ta để đưa vào công tác chọn lọc ra các
giống lai ngô nổ trong thời gian tới Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội” để nghiên cứu trực tiếp và đánh giá khả năng sinh trưởng
cũng như năng suất của 23 dòng ngô nổ này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tiến hành đánh giá sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của 23 dòng ngô nổ
Từ đó, chọn lọc ra các dòng ngô nổ ưu tú, có triển vọng để phục vụ công tác chọn tạo giốnggóp phần tạo ra các giống ngô nổ ưu thế lai
Trang 153
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu chung về ngô nổ
2.1.1 Nguồn gốc
Ngô nổ (Zea mays subsp.everta Sturt) thuộc loài Zea mays, chi Zea, họ
Poaceae (Gramineae) Là loại ngô đặc biệt thuộc nhóm ngô đá, có dạng hạt nhỏ,
cứng Phần bỏng ngô lâu đời nhất được phát hiện ở New Mexico khoảng 5000 năm tuổi Theo Varela (2001), những năm gần đây các nhà khảo cổ học còn tìm thấy nhiều dòng ngô, giống với một loài ngô nổ hạt nhỏ hiện nay tại một loạt các địa điểm khảo cổ.Căn cứ vào màu sắc hạt và màu sắc lõi ngô để phân thành các thứ như sau:
Bảng 2.1: Phân loại ngô nổ
Ngô nổ trắng Trắng Var.oryziodes Korn
Gạo vàng Trắng Var.xanthomis Korn
Trang 164
một số loại bánh ngô hấp dẫn Hiện nay, ngô nổ được trồng khá nhiều ở Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc và các quốc gia khác Ở Việt Nam trước đây có một số giống địa phương như: ngô nổ Hồng (Đăk Lăk), ngô nổ Dài, ngô nổ Tây Nguyên, ngô nổ Tím (Cao Bằng),
2.2 Vai trò và giá trị của ngô nổ
2.2.1 Vai trò
Ngô nổ là loại ngô được sử dụng làm thực phẩm là chủ yếu Hạt ngô nổ khác với các giống ngô khác ở chỗ hạt có vỏ cứng, nội nhũ hầu như hoàn toàn là nội nhũ sừng, chứa rất ít tinh bột mềm Khi bị làm nóng ở mức nhiệt độ cao thích hợp, các hạt tinh bột ở trong hạt ngô giữ độ ẩm cho đến khi đủ và áp suất hơi nước tạo ra gây áp lực lên thành vỏ tạo ra hiện tượng nổ Hạt nổ ra với thể tích lớn, hạt
bị nổ là do lớp sừng bên ngoài hạt có chất keo dai và đàn hồi, chứa lượng protein cao Khi nhiệt độ còn ở trong giới hạn hạt chịu đựng được thì hạt có thể chống chịu được áp suất hơi nước Khi vượt quá giới hạn chịu đựng đó thì hạt đột nhiên trương to rồi nổ làm nội nhũ bật ra thành một cụm bột tơi và nhanh chóng khô lại Thể tích có thể tăng 15- 30 lần so với thể tích ban đầu của hạt Hạt ngô khi nổ và phồng to lên như vậy được gọi là bỏng ngô
Hạt ngô nổ dạng nhỏ hơn các loại hạt ngô khác, ngô nổ có nhiều màu sắc, hình dạng khác nhau như: trắng, vàng, đen, tím, hồng, trắng vàng, trắng có sọc đỏ,… Nhưng ở ngoài thị trường giống ngô nổ có màu trắng hoặc vàng là chủ yếu Ngoài ra còn có dạng ngô nổ Jargon cũng là loại hạt khi nổ có bỏng ngô trắng sáng như tuyết được ưa chuộng trên thị trường Loại ngô nổ "nấm" khi nổ ra hạt
có bỏng hình tròn như cây nấm, sáng, vỏ mỏng, ăn giòn
Để nổ ngô tạo bỏng có nhiều phương pháp như: máy nổ ngô, dùng lò vi sóng, rang hạt trong chảo dầu hoặc bơ nóng, Trên thị trường hiện nay người ta thường dùng máy nổ ngô để làm ra bỏng ngô với số lượng nhiều và thực chất khi
nổ bằng máy chất lượng hạt ngô nổ đỡ bị gãy vụ hơn các cách khác Khi nổ ngô
có thể cho thêm bơ, đường để tạo vị ngọt và mùi vị riêng biệt cho bỏng ngô Ngô sau khi thu hoạch về cần phơi nắng hoặc sấy cho ngô khô Độ ẩm để bảo quản nổ
Trang 175
ngô thường là 12 - 14%, lúc đó đem đi nổ là đạt chất lượng tốt nhất Nếu mang hạt ngô đi nổ ngay sau khi thu hoạch sẽ không tốt vì độ ẩm hạt còn cao sẽ nổ kém Nếu phơi sấy làm cho ngô khô quá thì tỷ lệ nổ sẽ giảm dẫn đến chất lượng hạt nổ
bị giảm đi Hạt không nổ do không đủ độ ẩm để tạo áp suất nổ hoặc là do vỏ hạt
có tổn thương cơ học
2.2.2 Giá trị của ngô nổ
Theo Wikipedia, giá trị dinh dưỡng trong 100g bắp rang bơ (không ướp muối) được thể hiện ở bảng 2.2 dưới đây:
Bảng 2.2: Bảng giá trị dinh dưỡng trong 100g bắp rang bơ (không ướp muối)
Giá trị dinh dưỡng trong 100g (3,5 oz)
Trang 186
Bỏng ngô giàu carbohydrate, chất xơ, có ít chất đạm và chất béo; không chứa natri và đường tự do Bỏng ngô nổ được bán trực tiếp hoặc được chế biến thành bánh ngọt dùng làm thực phẩm ăn vặt phổ biến Ở các nước trên thế giới có nhiều cách để chế biến ngô nổ thành các món khác nhau Ở nước Anh, người ta chế biến bỏng ngô nổ thành Toffee bán rất được giá và ăn khách Ở Bắc Mỹ, người dân lại có truyền thống làm ngô Caramel
Theo Ziegler (1994), ngô nổ có mùi vị rất hấp dẫn, kích thích được cả vị giác và khứu giác của con người Trong ngô nổ có chứa các hợp chất như: 6-acetyl- 2, 3, 4, 5- tetrahydropyridine, 2- acetyl- 1- pyroline là các hợp chất tạo mùi thơm và hương vị cho các món nướng như bánh mì trắng, bỏng ngô Ngoài
ra, ngô nổ cũng làm chất dẫn dụ, bẫy côn trùng và động vật gây hại Trong ngành công nghiệp, bỏng ngô có thể sản xuất thành nilon tự phân hủy hoặc phục vụ cho sản xuất ngành công nghiệp điện
Nghiên cứu của các nhà khoa học trường Đại học Scranton (Hoa Kỳ) đã phát hiện ra trong ngô nổ có chứa polyphenol và hàm lượng chất xơ cao, là các chất chống oxy hóa giúp tăng cường sức khỏe cho con người Hàm lượng polyphenol có ở trong ngô nổ nhiều hơn hẳn lượng polyphenol trong rau quả, trái cây mà chúng ta ăn hàng ngày Trong 100g ngô nổ có năng lượng 382 kcal; 15g chất xơ và rất nhiều các vitamin, khoáng chất khác Do đó, ngô nổ trở thành món ăn vặt quen thuộc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể
Theo Grosbach (2008), trong hạt ngô có rất nhiều chất folate, là chất giúp phụ nữ trong thời kỳ mang thai giảm thiểu nguy cơ bị sẩy thai và thai nhi bị dị tật Chính vì vậy, việc có thói quen ăn ngô thường xuyên sẽ không cần phải bổ sung các viên folate, nó sẽ giúp cơ thể người mẹ và thai nhi tự tổng hợp tế bào mới khỏe mạnh hơn
Bắp ngô cũng rất giàu vitamin B1 (thiamine) giúp thúc đẩy sự thủy phân acetylcholine - một chất quan trọng truyền đi xung động của thần kinh Nếu thiếu vitamin B1 sẽ gây ra tình trạng đầu óc mệt mỏi, rối loạn chức năng thần kinh và suy giảm thị lực Việc ăn một bắp ngô có thể đáp ứng được khoảng
Trang 197
24% lượng thiamin mà cơ thể chúng ta cần nạp vào mỗi ngày
2.2.3 Nhu cầu và thị hiếu ngô nổ tại Việt Nam
Ngô nổ là loại ngô thực phẩm hiện nay rất được ưa chuộng ở thị trường châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước ở châu Á như: Singapore, Hàn Quốc, Việt Nam, Ngô nổ ở Việt Nam chủ yếu chỉ có dạng nổ hình bướm, trong khi các nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, châu Âu, Singapore, lại ưa chuộng dùng loại ngô nổ hình dạng nấm (mushroom) Ngổ nổ hình nấm được ưa chuộng do nó
có nhiều hương vị để lựa chọn, khi muốn thêm gia vị rang bơ thì nó có khả năng thấm hút gia vị cao và đồng đều Ngô nổ dạng hình bướm khi nổ hạt ngô
sẽ bung xòe hình con bướm vì vậy gia vị không được ngấm đều mà có thể bị gãy vụn Từ đó dẫn tới việc gia vị bị vón cục ở vài điểm làm ngô nổ hình bướm không được ngon bằng ngô nổ hình nấm Ngô nổ ở Việt Nam có hai mùi vị chính là vị ngọt và vị mặn nên ít có sự lựa chọn cho người tiêu dùng
Hiện nay, ở thị trường Việt Nam đã có nhiều công ty, doanh nghiệp phân phối sản phẩm ngô nổ dạng nấm như: Công ty Cổ phần Funny Group, Công ty TNHH Nhà hạt (Nut house), Ngô nổ dạng hình nấm khi nổ không nổ tung ra như ngô nổ hình bướm mà nó bung đều và có hình cầu đẹp mắt giống như một cây nấm Vậy nên nó thường được dùng để bọc thêm lớp áo ngoài như: caramen, phô mai, socola hoặc vị cafe, Bên cạnh đó, Panther Popcorn được đựng trong các túi zip đảm bảo hạt ngô nổ luôn thơm ngon, giữ được độ giòn
và nguyên mùi vị, nếu dùng không hết có thể zip lại không sợ ngô nổ bị mềm,
ẩm
2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới
2.3.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Sản xuất ngô trên thế giới liên tục tăng từ đầu thế kỉ XX đến nay, đặc biệt phát triển mạnh trong giai đoạn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc
độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Theo
dự báo của tổ chức IGC, tiêu thụ ngô tăng 3%/ năm Sự gia tăng này xuất phát
từ 2 yếu tố: thứ nhất, là do nhu cầu về thức ăn chăn nuôi tại các nước có nền
Trang 208
chăn nuôi phát triển như Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi tăng lên mạnh
mẽ Thứ hai là do nhu cầu tăng của các nhà máy sản suất ethanol và siro ngô
có hàm lượng fructose cao ở các nước có nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Bắc Mỹ
Dựa vào bảng số liệu 2.3 ta thấy, trong 8 năm (từ 2012 - 2019) các chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng một cách nhanh chóng Năm
2012, diện tích trên toàn thế giới là 180,3 triệu ha; năng suất trung bình đạt 48,5 tạ/ha; sản lượng là 875,5 triệu tấn Sang đến năm 2019, diện tích trên toàn thế giới là 197,2 triệu ha tăng 9,3%; năng suất trung bình đạt 58,2 tạ/ha tăng 20%; sản lượng là 1148,5 triệu tấn tăng 31,18%
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên toàn thế giới giai đoạn
2012 - 2019
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
vụ bội thu, năng suất cao, sản lượng tốt có rất nhiều yếu tố như các biện pháp
kỹ thuật canh tác về: phân bón, mật độ khoảng cách trồng, phòng trừ sâu bệnh hại và cỏ dại, nâng cao chỉ số diện tích lá,… Nhờ những nghiên cứu chọn tạo giống và phương pháp chăm sóc thì tới nay cây ngô đã trở thành một trong ba
Trang 21Sản lượng (triệu tấn)
Qua bảng trên ta thấy, Trung Quốc với diện tích trồng ngô là 41,30 (triệu ha) cao nhất thế giới, chiếm khoảng 20,94% diện tích trồng ngô trên toàn thế giới nhưng năng suất chỉ đạt 6,31 (tấn/ha) thấp hơn so với Argentina và Mỹ Mỹ là quốc gia đứng thứ hai với diện tích 32,95 (triệu ha) chỉ chiếm khoảng 16,7% tổng diện tích canh tác trên thế giới nhưng năng suất đạt rất cao 10,53 (tấn/ha), tức là cao gấp khoảng 1,8 lần so với năng suất trung bình trên toàn thế giới Để đạt được hiệu quả đó họ đã áp dụng khoa học công nghệ và máy móc hiện đại vào trong sản xuất
Trang 2210
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất ngô của một số nước đứng đầu trên thế giới
Quốc gia Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô nổ trên thế giới
Dựa vào cấu trúc nội nhũ bên trong của hạt, ngô được phân thành các loài
phụ bao gồm: ngô bọc (podcorn tunicata), ngô nổ (popcorn everta), ngô bột (flour
corn amylacea), ngô đường (sweet corn), ngô răng ngựa (dent corn indentata),
ngô tẻ, ngô nếp, ngô bán răng ngựa, ngô bột đường Ngô nổ có dạng hạt nhỏ, tròn hoặc nhọn đầu, có màu hạt trắng, vàng, tím, tím đỏ Hiện nay trên thị trường xuất hiện rất nhiều loại ngô nổ từ quốc gia khác nhau: Mỹ, Agrentina, Brazil,
Theo Willier & cs (1923), khi nghiên cứu về chất lượng nổ của ngô đã cho rằng độ nổ của ngô nổ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: gen di truyền của từng giống, nhiệt độ nổ, chất lượng của hạt, phương pháp nổ Nhưng để cho hạt ngô có độ nổ tốt thì bắp ngô phải đạt độ ẩm khoảng 12% là tối ưu nhất Những giống ít tinh bột mềm có khả năng nổ lớn hơn, thường ở giống hạt kích thước nhỏ
độ nổ cao hơn các dạng lớn khác Nghiên cứu này đã giúp cho quá trình chọn lọc hạt có chất lượng tốt và duy trì chất lượng hạt giống của mỗi dòng
Theo Eldredge & Thomas (1959), ngô nổ có những đặc điểm, tính chất khác biệt so với các giống ngô khác (ngô tẻ, ngô nếp, ngô đường) là giống ngô duy nhất
có thể nổ bung rất nhanh khi đem rang trong điều kiện nhiệt độ thích hợp 177- 260°C tùy vào từng giống Năng suất ngô nổ thấp hơn so với các dòng ngô thông thường khác nhưng ngô nổ lại có ưu điểm là chất lượng dinh dưỡng cao, thường
Trang 2311
được chế biến thành bắp rang bơ, làm bỏng hoặc bột dinh dưỡng Ngoài ra, chất lượng của các giống ngô nổ cũng rất được quan tâm, do đó việc cần phải cải thiện các đặc tính chất lượng của ngô nổ được coi là mục tiêu quan trọng nhất trong chương trình nhân giống ngô nổ
Theo Nguyen Von & cs (2012), bỏng ngô có tác động mạnh đến cảm giác
no trong thời gian ngắn, cùng với lượng kalo tương đối thấp Bỏng ngô nguyên hạt chính là một sự lựa chọn cho những người muốn giảm cảm giác đói trong khi muốn kiểm soát năng lượng nạp vào cơ thể
Theo Hernández (2009), ngô nổ ngoài chức năng làm thực phẩm ăn vặt như: bỏng ngô, bánh ngọt có giá trị dinh dưỡng cao và đang rất được ưa chuộng thì các nghiên cứu gần đây cũng cho rằng: trong thành phần ngô nổ chứa chủ yếu
là không khí và tinh bột, cả 2 đầu là chất cách điện nên khả năng dẫn nhiệt thấp khiến nó trở nên hoàn hảo để sử dụng làm vật liệu cách nhiệt sáng tạo trong xây dựng Kết hợp với các chất liên kết gần tự nhiên khác, bỏng ngô có thể được sử dụng để tạo ra vật liệu tổng hợp vật dạng ván đủ bền dựa trên bắp rang bơ để sử dụng làm tấm cách nhiệt trong lắp đặt vách thạch cao
Theo Sweley & cs (2011), khi nghiên cứu về đánh giá thành phần và cảm
dạng hình vảy bướm khác nhau được tạo ra từ một loại bỏng ngô lai đơn lẻ ảnh hưởng đến cảm quan hương vị và thành phần bên trong hạt ngô
Theo Prodhan & Rai (1997), khi nghiên cứu sự liên quan giữa các tính trạng trên 154 dạng ngô nổ đã cho thấy ngô nổ có sự liên quan giữa khối lượng và năng suất hạt nổ Năng suất hạt có liên kết rất chặt chẽ với trọng lượng của hạt
Theo Melchiorre (1998), khi nghiên cứu về các đặc điểm và các dạng ngô
nổ được thực hiện đánh giá trên 39 tính trạng về màu sắc, hình thái, nở hoa của ngô nổ tại Italy Phương sai của mỗi tính trạng cho thấy, chúng có thể được sử dụng cho đánh giá các mục tiêu chọn giống Phương sai của chỉ số mật độ cờ và chiều dài nhánh cờ là hình dạng ngô ở thời nguyên thủy
Theo Júnior & cs (2021),tại bang Santa Catarina (FWSC) ở miền Nam
Trang 2412
Brazil đã nghiên cứu trên các giống bỏng ngô địa phương được trồng ở những khu vực nhỏ Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm đa dạng của 41 quần thể địa phương từ khu vực đó, dựa trên các đặc điểm hình thái học và hình thái của thực vật Kết quả về màu sắc, 20 quần thể có hạt trắng, 9 đen, 9 vàng, đỏ và 1 cam Về chu kỳ, tất cả các giống hạt tròn và vàng đều được coi là siêu sớm/sớm
và các giống hạt trắng trung bình/muộn Chiều cao trung bình của cây dao động
từ 1,8- 3,2m; trong khi khối lượng của 1000 hạt dao động từ 80,9- 200,4g Kết quả này là thông tin quan trọng cho các chiến lược nhân giống bắp rang bơ
Theo XiaoLi & cs (2001), Trường đại học Nông nghiệp Henan, Zhengzhou, Trung Quốc khi nghiên cứu khả năng kết hợp của quần thể ngô nổ với các dòng thuần ngô thường thuộc các nhóm di truyền khác nhau đã từng sử dụng mô hình NC II Tổng có 6 dòng ngô nổ lai với 10 dòng và có 9 tính trạng được phân tích Kết quả, đa số là khối lượng hạt/bắp của 60 tổ hợp ngô nổ X
“lai” với ngô thường đều cho ra kết quả cao hơn nhiều so với đối chứng nhưng khối lượng bỏng nổ của chúng lại thấp Do vậy, ngô nổ X với ngô thường không
có giá trị sử dụng trực tiếp Có 6 dòng ngô nổ được sắp xếp làm 4 nhóm di truyền với N04, N05 và N14 cùng nhóm, 3 dòng còn lại thuộc 3 nhóm khác nhau
Theo Hadi (2005), nghiên cứu ảnh hưởng của các dòng ngô nổ trên dãy núi Ander đến sự phát triển của các nguồn gen lấy hạt ở Trung Âu cho biết, các dòng ngô nổ sớm, nhiều hàng, ngô đá hạt cứng có hạt màu nâu ở Trung Âu và một số dòng ngô răng ngựa ở vùng Chutucuno Chico và Chutucuno Grande chịu lạnh, cảm quang với ánh sáng ngày dài, bắp nhỏ, nhiều hàng/bắp, nhiều hạt/hàng, giống ngô nổ hạt cứng, dòng có màu hạt đỏ nâu được giới thiệu ở Hungary và Italy Nguồn gen này rất có ý nghĩa cho các nước châu Âu trong công tác chọn tạo giống
Theo Fang & cs (2009), trường đại học Nông nghiệp Thượng Hải (Trung Quốc) đã nghiên cứu để phân loại 8 giống ngô thuộc 3 nhóm, sử dụng cách phân tích tính trạng số lượng để phân loại Sử dụng số liệu chiều cao cây, khối lượng
Trang 2513
1000 hạt, năng suất hạt, tỷ lệ hạt nổ, thời gian nổ và mức độ nổ Trong 3 nhóm phân tích, các giống Quảng Đông 1, Quảng Đông 2 và Quảng Đông 3, giống Guangxiban được đề nghị làm nguồn gen vật liệu phục vụ công tác cho chọn giống
Theo Akintunde & cs (2019), khi nghiên cứu đánh giá các dòng bỏng ngô
về năng suất, tiềm năng nông học, phẩm chất ngô nổ trong rừng và các hệ sinh thái nông nghiệp thảo nguyên có nguồn gốc từ Nigeria Các vật liệu di truyền được đánh giá dưới sự tưới tiêu lặp lại ba lần trong thiết kế khối hoàn chỉnh ngẫu nhiên (RCBD) với một giống thương mại được kiểm tra Hai hạt được gieo trên mỗi lỗ bằng cách sử dụng các ô hai hàng dài 5m với khoảng cách giữa các hàng
và hàng là 0,75m x 0,5m tại hai địa điểm: Ibadan và Ikenne đại diện cho các khu sinh thái nông nghiệp và thảo nguyên của Nigeria Kiểu gen (G) khác biệt đáng
kể (ρ ≤ 0,01) đối với hầu hết các ký tự được đo ngoại trừ khía cạnh tai Vị trí (L) cũng như các hiệu ứng tương tác G x L cũng được rõ ràng trên tất cả các đặc điểm nông học được đo ngoại trừ số ngày để bạc và tai trên mỗi cây Bỏng ngô 33-1-
Y, hình viên ngọc trai lớn, Popcorn 40-Y và Popcorn 34-Y cho năng suất cao với tiềm năng trên 2,0 tấn ha-1 Những vật liệu này được phát hiện là có khả năng chống chịu khá tốt đối với các bệnh trên lá chính của các vùng sinh thái nhiệt đới
ẩm
Theo Viana & Matta (2008), đã nghiên cứu phân tích khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng của quần thể ngô nổ, bao gồm đời bố mẹ tự phối Cho kết quả phân tích hiệu quả của khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng trong phân tích lai Diallel của quần thể giao phấn, có cả bố mẹ tự thụ phấn cho thấy, việc phân tích sự thay đổi giá trị của quần thể do tự phối còn cho phép đánh giá trực tiếp tính trội, sự sai lệch đặc tính trội và sự thay đổi gen di truyền trong mỗi quần thể bố mẹ Phương pháp này được sử dụng để chọn lọc quần thể ngô nổ trong chương trình chọn tạo giống quần thể và sản xuất hạt lai được Đại học Liên bang Vicosa, Minas, Brazil phát triển Qua kết quả phân tích đã có 2 quần thể ngô nổ hạt ngọc được chọn và đưa vào ứng dụng trong sản xuất
Trang 2614
Theo Camacho & cs (2015), nghiên cứu đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bắp rang bơ và các giống lai có các tính trạng thuận lợi cho sản xuất ngô non, sử dụng các dòng chiết xuất từ các kiểu gen chính của mầm Brazil Từ 9 dòng bỏng ngô có nguồn gốc từ các kiểu gen: Zaelia, CMS 42, CMS 43, UEM M2, Zaeli và IAC 112; 36 phép lai đơn chéo không có tương hỗ Trong các phép lai Diallel một phần, 25 con lai chéo đơn đã thu được, bắt nguồn từ các phép lai của 5 dòng Zaeli (nhóm I) với 5 dòng từ IAC 112 (nhóm II) Qua đánh giá khuyến khích nên sử dụng các dòng có nguồn gốc từ Zaeli và CMS 42 trong các chương trình lai tạo để có năng suất cao hơn
Theo Grosbach (2008), nghiên cứu về cách xác định mật độ gieo trồng có làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của cây ngô nổ cho rằng mật độ trồng ngô nổ dày, khoảng cách hàng cách hàng hẹp có tiềm năng cho năng suất cao hơn là hàng rộng và trồng tại ruộng có mật độ thưa Hàng cách hàng hẹp còn có tác dụng làm hạn chế sự phát sinh, phát triển của cỏ dại giúp cho cây ngô hấp thu được tối đa chất dinh dưỡng, hạn chế sâu bệnh hại trú ngụ dưới đất
2.4 Tình hình sản xuất, nghiên cứu ngô và ngô nổ tại Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Theo Đinh Thế Lộc & cs (1997), cây ngô được trồng ở nước ta cách đây hơn 300 năm, khoảng sau năm 1662, vào cuối thế kỷ XVII, được trồng và sản xuất ở nhiều vùng có điều kiện sinh thái khác nhau trên cả nước, từ vùng trung du đến đồng bằng, đa dạng về phương thức canh tác và thời vụ trồng Theo Ngô Hữu Tình (1997), ngô đã trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ 2 sau lúa nước nhưng lại là cây màu số một về sản lượng và năng suất Tuy nhiên trước đây năng suất ngô nước ta thấp hơn rất nhiều so với năng suất trung bình trên thế giới Theo Trần Hồng Uy (2001), nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp do các yếu tố như: kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, thủ công và sử dụng chủ yếu là các giống ngô địa phương Bên cạnh đó một phần là do truyền thống trồng lúa nước lâu đời nên những năm trước đây cây ngô vẫn chưa được chú trọng phát triển ở công tác
Trang 271990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô ở nước ta có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng đưa các giống ngô lai vào sản xuất rộng rãi và đại trà, đồng thời không ngừng học hỏi, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác mới nhằm phát huy hết tiềm năng, năng suất của các giống mới Nhờ việc sản xuất giống dễ dàng, giá thành rẻ, con lai có năng suất cao và thích ứng rộng, các giống ngô lai không quy ước đã giúp người nông dân nhanh chóng chấp nhận và mở rộng diện tích gieo trồng
Nhờ thành công của các chương trình ngô trước đó ở Việt Nam, nhiều cơ quan, tổ chức tham gia nghiên cứu chọn tạo giống ngô gồm các Viện nghiên cứu Ngô, Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam, Trung tâm nghiên cứu Học viện Nông nghiệp Việt Nam Nhiều công ty như: Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương, Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Bắc, Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam, Chúng ta đã tạo ra nhiều giống dài ngày (LVN8, LVN10, HQ2000), các giống trung ngày (LVN4, LVN12, LVN17), các giống ngắn ngày (LVN9, LVN99, VN98-1, LVN885) Một số giống ngô lai quy ước đạt năng suất cao, chất lượng không thua kém các giống lai nhập nội như LVN4, LVN5, LVN12, LVN35, DP-5, SC16161,… Tuy nhiên, đối với các giống ngô lai ngắn ngày canh tác trong vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng vẫn còn gặp nhiều hạn chế Theo Tổng Cục Thống Kê (2005), năm 1991 diện tích trồng ngô lai trên cả nước chưa đến 1% trong khoảng hơn 400 nghìn ha trồng ngô Năm 2004, diện tích trồng ngô của cả nước đạt hơn 990 nghìn ha năng suất đạt 34,9 tạ/ha và sản lượng là
Trang 28từ năm 1961- 2019 được trình bày dưới bảng sau
Qua bảng 2.6 ta thấy, từ năm 1961- 1991 diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam đều tăng nhưng ở mức rất chậm Sau 30 năm, diện tích đạt 0,45 (triệu ha) chỉ tăng được 0,19 (triệu ha); năng suất đạt 15,5 (tạ/ha) tăng 0,28 (tạ/ha)
Kể từ sau giai đoạn 1991- 2001 nước ta đã có những bước tiến đáng kể và đặc biệt giai đoạn từ năm 2001- 2011 là giai đoạn đất nước đang trong thời kỳ chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên ở giai đoạn này có sự chuyển mình rất lớn trong nền nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt ngô nói riêng Về diện tích đã đạt 1,12 (triệu ha) tăng 0,36 (triệu ha); năng suất đạt 43,1 (tạ/ha) tăng 13,5 (tạ/ha), thực tế diện tích, năng suất và sản lượng ngô gần như đã gấp đôi giai đoạn trước đó Giai đoạn từ năm 2011- 2015 nhìn chung tất cả các chỉ tiêu diện tích, năng suất và sản lượng ngô đã ổn định và tăng nhẹ qua từng năm Từ năm 2015- 2019, diện tích trồng ngô có xu hướng giảm dần nhưng năng suất vẫn tăng nhờ áp dụng đổi mới kỹ thuật, chăm sóc, biện pháp chọn tạo giống
so với năng suất trung bình chung của thế giới Sang tới năm 2019, năng suất ngô nước ta đạt 82,46% (47,99/ 58,2 tạ/ha) trung bình năng suất của thế giới
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của Việt Nam
giai đoạn 1961- 2019
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 29ra nhiều nhiệm vụ quan trọng và cấp bách cho các cơ quan, tổ chức nghiên cứu
và chọn tạo giống phải cho ra các giống ngô mới có năng suất cao, chống chịu tốt đồng thời đáp ứng được cả nhu cầu về chất lượng
Chính vì vậy, nhà nước ta có những chính sách hết sức quan tâm và đầu tư cho việc mở rộng nghiên cứu và phát triển cây ngô Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ giống, khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia quá trình nghiên cứu, sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất và chất lượng tốt để đưa vào trong quy trình sản xuất, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, làm chủ quy trình và chuyển giao tới người nông dân
Trang 30Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
ra thì yếu tố địa hình và thời tiết khí hậu cũng làm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất
và chất lượng của cây trồng Ngược lại, đồng bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất cả nước và chỉ có 30,7 (nghìn ha) nhưng năng suất lại cao gần nhất đạt 57,9 (tạ/ha) chỉ đứng sau Tây Nguyên 58,3 (tạ/ha) và Đông Nam Bộ 66,3 (tạ/ha) Tây Nguyên được coi là vùng sản xuất ngô trọng điểm trên cả nước với diện tích 209,3 (nghìn ha) chỉ đứng sau vùng trung du và miền núi phía Bắc; năng suất đạt 58,3 (tạ/ha) đứng thứ hai sau Đông Nam Bộ Do Tây Nguyên là vùng có diện tích canh tác và năng suất khá cao nên sản lượng ngô trong năm 2019 thu
được là 1219,4 (nghìn tấn) và đứng ở vị trí thứ hai trong cả nước
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngô nổ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngô nổ đã được đưa vào trồng từ những năm 1990 được trồng chủ yếu ở vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Hạt ngô có dạng hạt nhỏ, màu
Trang 3119
sắc đa dạng, giòn xốp và có mùi vị thơm ngon Nhưng cho tới thời điểm hiện tại, chúng ta có thể thấy ngô nổ được trồng rất ít trên đồng ruộng ở Việt Nam Các nghiên cứu, đánh giá về ngô nổ còn rất hạn chế, có năm tài liệu nghiên cứu chính thức về ngô nổ được đăng trên tạp chí: tạp chí Nông nghiệp và PTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010); tạp chí Hoạt động khoa học của Bộ KHCN (2012) Hai bài luận văn được NXB Đại Học Nông Nghiệp đăng và có một bài đăng trên hội thảo “Công nghệ sinh học toàn quốc 2013” Một số tài liệu về phân loại ngô
có đề cập đến ngô nổ là một trong các loài phụ song chưa có các kết quả về nghiên cứu ngô nổ Hiện nay, những mẫu giống vẫn còn được bảo tồn và lưu giữ tại Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Viện nghiên cứu ngô và một số cơ quan khác nhưng
số lượng hạt giống còn lại là rất ít Trong khi nguồn giống ngô nổ trong nước đang
bị mất dần, nguồn gen bị xói mòn thì hạt ngô nổ trên thị trường chủ yếu được nhập dưới dạng thực phẩm
Các công trình nghiên cứu gần nhất về ngô nổ là của tác giả Nguyễn Văn Hưng (2016), nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng kết hợp của một số dòng ngô nổ mới chọn tạo tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quả cho thấy các dòng ngô nổ vụ Xuân 2015 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín trung đến dài ngày (98- 119 ngày) NSTT biến động từ 8,11- 24,82 tạ/ha, dòng N17(2) đạt năng suất cao nhất 24,82 tạ/ha Dòng N3A(1) có tỷ lệ nổ cao nhất là 90,5%, thông qua đánh giá chọn 10 dòng ưu tú đưa vào lai đỉnh với 02 dòng thử để đánh giá khả năng kết hợp chung
Kết quả đánh giá THL ngô nổ vụ Thu- Đông 2015: thời gian sinh trưởng của các THL từ 95- 112 ngày thuộc nhóm chín trung bình Chiều cao cây cuối cùng biến động từ 151,53- 179,23 cm, tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây từ 36,05% - 55,21% Số lá cuối cùng dao động từ 14,60- 16,87 lá/cây THL 9 có diện tích lá và chỉ số diện tích lá giai đoạn chín sữa cao nhất, tương ứng là 0,48 m2 lá
và 3,2 m2 lá/ m2 đất Năng suất thực thu của các THL dao động từ 23,36- 36,01 tạ/ha THL có năng suất đạt cao nhất là THL 7 (36,01 tạ/ha) Đánh giá các tổ hợp lai đỉnh trong thí nghiệm đồng ruộng khi phân tích khả năng kết hợp đã xác định
Trang 32Theo Nguyễn Văn Cương & Nguyễn Văn Lộc (2013), nghiên cứu về sự đa dạng di truyền của 40 dòng ngô nổ được phân tích bằng 28 mồi RAPD Phân tích sản phẩm PCR của các mồi ngẫu nhiên này cho ra được kết quả có 8 mồi cho kết quả đa hình di truyền với 157 băng/mồi Trong khi, mồi OPB- 7 cho số băng là
255 băng đạt mức cao nhất và mồi cho số băng thấp nhất chỉ (79 băng/mẫu) là OPC- 11 Mồi OPC- 11 có tỷ lệ số băng đa hình thấp nhất chỉ đạt 50% còn ở mồi OPM- 02 cho tỷ lệ số băng đa hình là 100% Qua kết quả phân tích bằng phần mềm NTSYS 2.0 cho thấy mức tương đồng di truyền của các dòng ngô nổ này dao động trong khoảng 0,69 đến 0,94
Trang 3321
Phần III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: thí nghiệm được bố trí tại khu thí nghiệm của bộ môn Cây lương thực, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân năm 2021 (từ tháng 3 - tháng 6)
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu ở trong nghiên cứu này bao gồm 23 dòng ngô nổ được kí hiệu
NO-1 đến NO-23 có nguồn gốc từ Argentina, được nhập nội năm 20NO-19 (bảng 3.NO-1) Đời tự thụ của các dòng là đời S2, cách tạo dòng thuần bằng phương pháp tự thụ phấn
Bảng 3.1: Nguồn gốc của 23 dòng vật liệu ngô nổ
Trang 3422
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng sinh trưởng và phát triển của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm- Hà Nội
Đánh giá đặc điểm hình thái của các dòng ngô nổ trồng trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm- Hà Nội
Đánh giá khả chống chịu sâu bệnh hại và đổ gãy của các dòng ngô nổ trong
vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm- Hà Nội
Đánh giá năng suất và chất lượng của các dòng ngô nổ trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm- Hà Nội
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí tuần tự theo phương pháp bố trí thí nghiệm đánh giá tập đoàn dòng, mỗi công thức gieo 3 hàng; mỗi hàng dài 2,3m; tại khu thí nghiệm đồng ruộng bộ môn Cây lương thực, khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Khoảng cách gieo: hàng cách hàng 60cm; cây cách cây 25cm; rãnh để 25- 30cm
- Mật độ 6,15 vạn cây/ha
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngô nổ vụ Xuân 2021
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Trang 3523
Kỹ thuật chăm sóc: do chưa có giống ngô nổ nào được công nhận chính
thức nên ta áp dụng Quy trình kỹ thuật (mật độ và chăm sóc) để đánh giá các chỉ tiêu cơ bản theo quy chuẩn của Bộ NN&PTNN (2011) bao gồm: QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác
và sử dụng của giống ngô và QCVN 01- 66: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của
giống ngô
- Trồng hàng bảo vệ xung quanh
- Kỹ thuật chăm sóc (theo kỹ thuật đang được sử dụng tại Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam):
Gồm các biện pháp: làm đất, gieo hạt, làm cỏ, trồng dặm, tưới nước, vun gốc, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh,…
Làm đất tơi xốp, sạch cỏ dại,…
Gieo mỗi hốc 2 - 3 hạt; sâu từ 2 – 3cm
Trồng dặm bổ sung cho những cây bị chết hoặc không phát triển được và tỉa cây để mỗi hốc 1 cây phát triền tốt
Đợt 1: khi cây được 3- 5 lá với lượng bón 20% N + 20% K2O
Đợt 2: khi cây được 7- 9 lá bón lượng 40% N + 40% K2O
Đợt 3: trước trỗ cờ 15 ngày giai đoạn xoắn nõn với lượng phân còn lại
Trang 36o Tỉa lá, cây: khoảng 4 – 6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải dặm lại những cây chết hoặc không mọc được Mỗi hốc chỉ giữ lại 1 cây những cây con
to khỏe Tỉa những lá bị sâu bệnh, héo để tránh gây sâu hại bệnh cho cây
o Theo dõi phát hiện sâu bệnh kịp thời để có biện pháp xử lý Một số loại sâu bệnh có thể xuất hiện như:
Sâu hại: sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, sâu cắn lá, cắn nõn ngô, sâu xanh, sâu róm, sâu khoang, sùng đất, dế chũi, dế mèn, châu chấu, cào cào, rệp cờ, rầy
Bệnh hại: bệnh khô vằn, bệnh bạch tạng, đốm lá, bệnh phấn đen, khảm sọc lá ngô, gỉ sắt, thối rễ
3.3.2 Phương pháp theo dõi thí nghiệm
Áp dụng theo QCVN 01- 56: 2011/BNNPTNT và QCVN 01- 66: 2011/BNNPTNT
Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển:
- Ngày gieo hạt
- Ngày mọc: từ khi gieo hạt đến khi có 50% cây nhú lên khỏi mặt đất (mũi chông), đo 1 ngày 1 lần
- Trỗ cờ: khi có ≥ 50% số cây có bông cờ thoát khỏi bẹ lá trên cùng
- Ngày tung phấn: ngày có ≥ 50% số cây có hoa nở được 1/3 trục chính
Trang 3725
- Đặc biệt chú ý: độ chênh lệch giai đoạn trỗ cờ đến tung phấn, số ngày từ tung phấn đến phun râu: khi có 70% cây tung phấn đến phun râu
- Ngày phun râu: khi có ≥ 50% khi số cây có râu nhú dài 2cm
- Ngày chín sinh lý: khi có ≥ 75% cây có lá bị khô hoặc chân hạt có điểm đen
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển:
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): cách đo, vuốt lá và đo từ mặt đất tới đỉnh lá cao nhất, 7 ngày đo 1 lần
- Chiều cao cây cuối cùng (cm): cách đo, đo từ gốc sát mặt đất đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên, đo vào giai đoạn chín sữa
- Chiều cao đóng bắp (cm): cách đo, đo từ mặt đất tới đốt đóng bắp trên cùng (bắp thứ nhất) giai đoạn chín sữa
- Số lá: bôi sơn để đánh dấu lá thứ 5 và thứ 10
- Động thái tăng trưởng số lá: tính từ lá thật đầu tiên đến lá dưới cờ và đánh dấu
lá thứ 5, lá thứ 10; 7 ngày đếm 1 lần
Một số chỉ tiêu đặc điểm hình thái:
- Số lá cuối cùng: được xác định vào thời kỳ sau trỗ 15 ngày
- Màu sắc thân
- Chỉ số SPAD (chỉ số diệp lục của lá) đo bằng máy cầm tay: đo từ giai đoạn 7-
9 lá đến chín sáp Đo 15 ngày/ lần, cách đo 5 cây/ CT, mỗi cây đo 3 điểm trên
1 lá (đầu lá, giữa lá và điểm gần cuống lá)
- Diện tích lá (LA) (đơn vị: m2) được tính theo CT của Montgomery (1911):
LA = L tb * R tb * K * ∑ số lá “còn xanh”
Trang 38
26
Trong đó: Ltb: Chiều dài trung bình (cm)
Rtb: Chiều rộng trung bình (cm)
K = 0,7: Hệ số hiệu chỉnh
∑ số lá: Số lá còn xanh trên cây
- Chiều dài, chiều rộng lá được đo với tất cả các lá xanh trên cây, đo mỗi CT 10 cây
- Chỉ số diện tích lá (đơn vị: m2 lá/m2 đất)
LAI = Diện tích lá * số cây/m 2
- Tốc độ tích lũy chất khô (CGR) (đơn vị: g/m2 đất/ngày)
CGR = (P 2 - P 1 ) * (số cây/m 2 ) / T
Trong đó: P1,P2: Khối lượng chất khô của cây tại thời điểm lấy mẫu (g)
T: Thời gian giữa 2 lần lấy mẫu (ngày)
- Chiều dài bông cờ (cm): đo từ điểm phân nhánh cờ đầu tiên đến đỉnh cờ
- Số nhánh cờ cấp 1 (nhánh)
- Lượng hạt phấn: rung cho hạt phấn rơi xuống khay rồi lấy kính lúp quan sát
- Chiều dài bắp (cm): đo khoảng cách giữa hai đầu mút của hàng hạt dài nhất
- Chiều dài đuôi chuột (cm): chiều dài phần đầu bắp không có hạt
- Đường kính bắp (cm): đo ở giữa bắp
Trang 3927
Các yếu tố cấu thành năng suất:
- Số bắp hữu hiệu: tổng số bắp trong ô/ tổng số cây trong ô Đếm số bắp và số cây trong ô giai đoạn thu hoạch
- Số hàng hạt/bắp: một hàng được tính khi có 50% số hạt so với hàng dài nhất
- Số hạt/hàng: được đếm theo hàng hạt ở bắp có chiều dài trung bình
- Khối lượng 1000 hạt (gram) ở ẩm độ 14%
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) được tính theo công thức:
NSLT = 𝐑𝐄 ∗ 𝐊𝐑 ∗ 𝐄𝐏 ∗ 𝐏𝟏𝟎𝟎𝟎∗ 𝐃
𝟏𝟎𝟎𝟎𝟎 Trong đó: RE: là số hàng hạt/bắp
KR: là số hạt/hàng
EP: là số bắp/cây
D: là mật độ cây/ha
P1000 : là khối lượng 1000 hạt (gram) ở độ ẩm 14%
- Năng suất thực thu (tạ/ha) ở ẩm độ 14%:
NSTT = 𝐏
𝐒
× 10000 ×
𝐦𝟏𝐦𝟐
×
𝟏𝟎𝟎−𝐀°𝟏𝟎𝟎−𝟏𝟒
Trong đó: P: Khối lượng bắp tươi của ô thí nghiệm khi thu hoạch (kg)
S: Diện tích đất thu hoạch bắp (m²)
m1: Khối lượng hạt tươi của 1 bắp (m1, m2 phải cùng 1 đơn vị)
m2: Khối lượng tươi của 1 bắp (m1, m2 phải cùng 1 đơn vị)
A°: Ẩm độ lúc thu hoạch
14: Độ ẩm tiêu chuẩn khi khô
Trang 4028
Khả năng chống chịu trên đồng ruộng:
- Sâu xám, sâu đục thân và sâu đục bắp: được đánh giá cho điểm từ 1 – 5 theo tỷ
lệ sâu phá hoại trên đồng ruộng:
Điểm 1: < 5% số cây bị gây hại
Điểm 2: 5 – 15% số cây bị gây hại
Điểm 3: 15 – 25% số cây bị gây hại
Điểm 4: 25 – 35% số cây bị gây hại
Điểm 5: 35 – 50% số cây bị gây hại
- Bệnh khô vằn: cho điểm từ 1– 5:
Điểm 1: không có vết bệnh
Điểm 2: có vết bệnh ở sát gốc
Điểm 3: vết bệnh lan đến những đốt sát gốc
Điểm 4: vết bệnh lan đến bắp (lá bi)
Điểm 5: vết bệnh lan toàn cây
- Bệnh đốm lá: cho điểm từ 1- 5 tương tự như với bệnh khô vằn
- Đổ rễ (%): đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30° so với chiều thẳng đứng của cây
- Đổ gãy thân: đếm các cây bị gãy ở đoạn thân phía dưới gốc trước khi thu hoạch:
Điểm 1: Tốt: < 5% cây gãy
Điểm 2: Khá: 5 – 15% cây gãy
Điểm 3: Trung bình: 15 - 30% cây gãy
Điểm 4: Kém: 30 - 50% cây gãy