Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội .... Ảnh hưởng của vi sinh vật và aci
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
Giống đậu xanh ĐXVN7, được phát triển bởi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, nổi bật với thời gian sinh trưởng ngắn từ 65-68 ngày trong vụ Hè Giống này có khả năng chống đổ tốt và chỉ bị nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu, với năng suất thực thu dao động từ 1.420 đến 1.883 kg/ha.
- Các chất: Salicylic Axit (SA), H2O, chế phẩm vi sinh Trichoderma, vi sinh vật EM-1
Acid salicylic (SA) là một loại acid phenolic và acid beta hydroxy (BHA), có nguồn gốc từ cây liễu (salix) Là một hormone thực vật, SA đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết quá trình chuyển hóa ở thực vật Nó giúp cây trồng chống lại các stress phi sinh học như nhiệt độ cao, độ mặn, hạn hán và lạnh.
Chế phẩm vi sinh vật (VSV) là các chủng vi sinh có hoạt tính sinh học cao, được phân lập từ tự nhiên Những chế phẩm này có khả năng sinh ra các chất điều tiết sinh trưởng, được cung cấp bởi Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Khoa Công nghệ Sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Phân bón N, P2O5, K2O: đạm ure (46% N); Supe lân Lâm Thao (16% P2O5), Kaliclorua (60% K2O),
- Dụng cụ, hóa chất trong phòng thí nghiệm và khu thí nghiệm nhà lưới của
Bộ môn Sinh lý thực vật, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khu thí nghiệm nhà lưới của Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông Học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
- Thời gian: từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021
Nội dung nghiên cứu
Ảnh hưởng của vi sinh vật và salicylic đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic (SA) đến sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu xanh được thực hiện với 7 công thức thí nghiệm, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (RCD) và có 3 lần lặp lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m² (2m x 5m), với tổng diện tích thí nghiệm lên đến 180m², không tính diện tích bảo vệ Mật độ gieo trồng được thiết lập với khoảng cách hàng là 30cm và khoảng cách cây là 7cm.
Các công thức thí nghiệm như sau :
CT1: H2O là công thức đối chứng (Không sử dụng vi sinh vật và SA)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Dải bảo vệ Lần 3 Lần 2 Lần 1
CT4 CT2 CT6 CT5 CT1 CT3
CT5 CT3 CT1 CT4 CT6 CT2
CT1 CT5 CT3 CT2 CT4 CT6
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salycilic đến sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu xanh ĐXVN7 được đánh giá qua ba giai đoạn: thời kỳ 3 lá thật, thời kỳ ra hoa và thời kỳ quả non Đối chứng trong nghiên cứu là việc tưới nước đầy đủ trong suốt quá trình trồng.
Xử lí bằng hỗn hợp vi sinh vật và SA phun vào 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Cây có từ 3-5 lá thật với lượng 350 lít/ha
- Giai đoạn 2: Cây bắt đầu ra hoa được 10% với lượng 490 lít/ha
- Giai đoạn 3: Bắt đầu hình thành quả non (sau tắt hoa khoảng 10 ngày) với lượng 560 lít/ha
Sau phun 7 ngày tiến hành lấy mẫu phân tích
3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu xanh, cùng với các yếu tố cấu thành năng suất, khả năng chống đổ ngã và chống chịu sâu bệnh hại, cần tuân thủ Qui chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống đậu xanh (QCVN 01-62:2011/BNNPTNT).
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Thời gian từ gieo đến mọc (ngày): Khoảng 50% số cây/ô mọc 2 lá mầm
Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày): Khoảng 50% số cây/ô có ít nhất một hoa nở
Thời gian sinh trưởng (ngày): Tính từ ngày gieo đến ngày thu hoạch đợt cuối
Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây được theo dõi qua chiều cao và số lượng lá Để đo chiều cao cây, mỗi lần theo dõi 6 cây từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính, bắt đầu từ lần đo đầu tiên sau 35 ngày, sau đó đo mỗi 10 ngày cho đến khi chiều cao không thay đổi Đối với số lượng lá, cũng theo dõi 6 cây và đếm số lá thật trên mỗi cây.
Các chỉ tiêu sinh lý
Chỉ số SPAD: Đo bằng máy SPAD, đo ở lá thật hoàn chỉnh trên thân chính Đo ở lá thật thứ 2 từ trên xuống, đo cả 3 lá chét tính trung bình
Hiệu suất huỳnh quang diệp lục được xác định bằng máy đo hiệu suất huỳnh quang diệp lục (Chlorophyll fluorescence metter OS30p+, Opti-Sciences)
Khối lượng chất tươi tích lũy (g/cây): Mỗi ô thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 3 cây, rửa sạch, sau đó đem cân xác định khối lượng tươi
Khả năng hình thành nốt sần: Xác định số lượng nốt sần 3 cây/ô
Khối lượng chất khô tích lũy (g/cây) được xác định bằng cách lấy ngẫu nhiên 3 cây từ mỗi ô thí nghiệm, rửa sạch và sấy ở nhiệt độ 105 °C cho đến khi đạt khối lượng không đổi Sau đó, tiến hành cân để xác định khối lượng khô của cây.
Diện tích lá (dm 2 lá/cây) = (Y/X)/3 Cách làm: Cân 1 dm 2 lá được X (gam), sau đó cân toàn bộ lá 3 cây được Y(gam)
Chỉ số diện tích lá: LAI (m 2 lá/ m 2 đất)= ( diện tích lá/cây x mật độ)/ 1m 2 đất Hiệu suất quang hợp: (gam chất khô/m 2 lá/ngày đêm)
Trong đó : P1, P2 : Khối lượng chất khô ở lần theo dõi thứ 1 và 2 (g)
L1, L2 : Diện tích lá ở lần theo dõi thứ 1 và 2 (m 2 lá/cây)
T : Khoảng thời gian giữa 2 lần lấy mẫu (ngày)
Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại
Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh (QCVN 01-62:2011/BNNPTNT)
Bệnh héo xanh cây con, do nấm Rhizoctonia solani gây ra, thường xuất hiện từ giai đoạn cây con cho đến cuối thời kỳ sinh trưởng Để đánh giá mức độ thiệt hại, cần đếm số cây chết do bệnh héo và tính toán phần trăm cây bị chết trong từng nghiệm thức.
Cấp 2: 1-3% cây chết, hơi kháng
Cấp 3: 4-8% cây chết, hơi nhiễm
Cấp 5: >20% cây chết, rất nhiễm
Bệnh đốm lá do nấm Cercospora canescens gây ra được đánh giá thông qua việc xác định tỷ lệ trung bình của tổng diện tích lá bị bệnh so với tổng diện tích lá của 10 cây Việc đánh giá này được thực hiện ở 3 lần lặp lại trong giai đoạn 50-60 ngày sau khi gieo (NSKG).
Cấp 1: Không có vết bệnh, rất kháng
Cấp 2: Lá có vết bệnh nhỏ rải rác một vài lá đến 1/4 diện tích lá, kháng Cấp 3: Lá có vết bệnh chiếm 1/4-1/2 diện tích lá, hơi kháng
Cấp 4: Lá có bệnh nhiễm 1/2-3/4 diện tích lá, nhiễm vừa
Cấp 5: Trên 3/4 diện tích lá bị hại, rất nhiễm
+ Đánh giá tính kháng đổ ngã Tính kháng đổ ngã được đánh giá lúc thu hoạch theo 5 cấp:
Cấp 1: không đổ ngã, bình thường
Cấp 2: hơi nghiêng hoặc ít cây ngã
Cấp 3: tất cả nghiêng 300 hoặc 25-50% số cây ngã
Cấp 4: tất cả nghiêng 450 hoặc 51-75% số cây ngã
Cấp 5: tất cả đều ngã
- Mức độ nhiễm một số loại sâu hại tính theo tỉ lệ và phân cấp hại Các đối tượng hại chính: sâu xám, sâu hại lá, sâu hại quả
Các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất
Số quả/cây (quả): đếm số quả/cây của các cây trong 3 lần lặp lại Tính giá trị trung bình
Số hạt/quả (hạt) : Đếm tổng số hạt trên quả của 6 cây mẫu/ô ; tính trung bình
Khối lượng 1000 hạt (gam) : Cân 3 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm hạt 12%, lấy 1 chữ số sau dấu phẩy
Năng suất cá thể (g/cây) : khối lượng hạt trung bình của 6 cây mẫu
Năng suất cá thể = Khối lượng hạt 6 cây/6
Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x mật độ x 10000m 2
Năng suất thực thu (tạ/ha) = (Năng suất 1 ô/10m 2 ) x 10000m 2
Các biện pháp kỹ thuật áp dụng
Xử lý hạt giống: Hạt giống ĐXVN7 được ngâm ủ Chọn những hạt giống có kích thước đồng đều, ngâm trong nước ấm 4h thì đem gieo
Để chuẩn bị đất trồng, cần làm sạch cỏ, cày và bừa cho đất nhuyễn, sau đó lên luống Đất cần được phơi trong 7 ngày để tiêu diệt mầm bệnh còn sót lại Cuối cùng, bón lót phân lân và vôi trứng để cung cấp dưỡng chất cho cây.
Chăm sóc cây đậu sau khi gieo hạt là rất quan trọng, bao gồm việc cung cấp đủ nước cho cây trong giai đoạn đầu và thoát nước để tránh ngập úng khi có mưa Cần dặm lại các lỗ hạt không nảy mầm khi các cây khác đã mọc lên đều Sau 2-3 tuần gieo hạt, nên làm cỏ và vun gốc để cây phát triển tốt hơn.
Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu thí nghiệm và các chỉ số theo dõi được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai Tình trung bình được tính toán bằng Excel 2010, trong khi phân tích ANOVA được thực hiện bằng phần mềm Irristat phiên bản 5.0.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Cây đậu xanh, giống như các loại cây khác, trải qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển để hoàn thành chu kỳ sống Mỗi giai đoạn này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như điều kiện môi trường và di truyền Kết quả nghiên cứu về tác động của vi sinh vật và acid salicylic đến thời gian sinh trưởng của giống đậu xanh ĐXVN7 trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2021 được trình bày trong bảng 4.1.
Bảng 4 1 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐXVN7
Thời gian từ gieo đến … (ngày)
Công thức Mọc mầm Ra hoa Thu hoạch
Thời gian từ gieo đến mọc
Thời gian mọc mầm của đậu xanh phụ thuộc vào điều kiện môi trường và đặc tính giống Thời gian này được tính từ khi gieo hạt đến khi hạt hút nước và mầm phôi bắt đầu phát triển, sau đó nhô lên khỏi mặt đất và xòe lá Trong giai đoạn này, sự phát triển của đậu xanh chủ yếu dựa vào chất dinh dưỡng từ hai lá mầm Nghiên cứu cho thấy thời gian từ gieo đến mọc mầm của các công thức không có sự chênh lệch đáng kể.
Thời gian từ gieo đến mọc mầm của các công thức 5 (VSV1 + SA) và 6 (VSV2 + SA) kéo dài tối đa là 4 ngày, trong khi các công thức còn lại chỉ mất 3,7 ngày Sự lệch dao động trong khoảng từ 3,7 đến 4,0 ngày cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong thời gian mọc mầm giữa các công thức.
Thời gian từ gieo đến ra hoa
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây đậu xanh rất quan trọng, ảnh hưởng đến kích thước, số lượng lá, số đốt, số hoa, và quá trình phân hóa mầm hoa Các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm có tác động lớn đến sự phát triển của cây Nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi, sự sinh trưởng sẽ bị hạn chế, trong khi điều kiện mát mẻ và độ ẩm đảm bảo sẽ thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng suất Giai đoạn này kéo dài từ khi cây mọc 50% đến khi nở hoa 50%, với giống ĐXVN7 có thời gian ra hoa dao động từ 33,3 đến 37,0 ngày Trong đó, CT4 có thời gian từ gieo đến ra hoa dài nhất (37,0 ngày), còn CT2 có thời gian ngắn nhất (33,3 ngày) Các công thức khác có thời gian ra hoa ngắn hơn CT1.
Thời gian sinh trưởng (TGST) của đậu xanh, tính từ ngày gieo đến ngày thu hoạch cuối, phản ánh tính ưu việt của giống Thông thường, giống có TGST dài ngày có tiềm năng năng suất cao hơn Việc xác định TGST giúp phân loại giống chín sớm hay muộn, từ đó bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý và xây dựng công thức luân canh phù hợp với từng vùng sinh thái Kết quả nghiên cứu cho thấy, TGST của giống ĐXVN7 dao động từ 67,0 – 72,0 ngày Trong thí nghiệm, CT4 có TGST dài nhất là 72,0 ngày, dài hơn CT1 (Đ/C) 3 ngày, trong khi CT3 có TGST 69,3 ngày, dài hơn CT1 (Đ/C) 0,3 ngày CT2 có TGST ngắn nhất là 67,0 ngày, ngắn hơn so với công thức đối.
27 chứng 2 ngày Các công thức còn lại đều có thời gian sinh trưởng ngắn hơn so với công thức đối chứng.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Động thái tăng trưởng chiều cao của giống đậu xanh ĐXVN7 phản ánh sức sống và điều kiện tự nhiên nơi trồng, cũng như chế độ dinh dưỡng Chiều cao thân chính ảnh hưởng đến tốc độ ra lá, khả năng phân cành, số đốt hữu hiệu và phân hóa hoa, từ đó tác động đến số quả trên mỗi cây Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá mạnh hoặc quá yếu có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và năng suất Ngoài ra, chiều cao cây cũng liên quan đến khả năng chống đổ, với cây thấp thường ít bị đổ hơn cây cao.
Bảng 4 2.Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống đậu xanh ĐXVN7
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến sự tăng trưởng chiều cao thân chính của giống ĐXVN7 được trình bày trong bảng 4.2 Nhìn chung, chiều cao thân chính của giống ĐXVN7 có sự gia tăng đáng kể trong quá trình phát triển.
Công thức 28NSG 38NSG 48NSG 58NSG
Sau khoảng 28-58 ngày gieo, cây đậu xanh trải qua giai đoạn sinh trưởng mạnh mẽ và bắt đầu ra hoa Ở 28 ngày sau gieo, chiều cao cây dao động từ 5,3-6,4 cm, trong đó CT6 (VSV2+SA) đạt chiều cao cao nhất 6,4 cm, còn CT1 (Đ/C) thấp nhất 5,3 cm Đến 38 ngày, chiều cao cây tăng lên 15,8-18,2 cm, với CT6 (VSV2+SA) vẫn giữ vị trí cao nhất (18,2 cm) và CT1 thấp nhất (15,8 cm) Ở giai đoạn 48 ngày, chiều cao cây tiếp tục tăng lên 37,8-43,7 cm, trong đó CT5 (VSV1+SA) đạt 43,7 cm, cao hơn so với CT1 Cuối cùng, ở 58 ngày sau gieo, chiều cao cây dao động từ 51,9-61,9 cm, với CT5 đạt chiều cao cao nhất 61,9 cm, trong khi CT1 thấp nhất 51,9 cm Các công thức khác đều có chiều cao cao hơn CT1 nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Công thức xử lý vi sinh vật và acid salicylic đã chứng minh có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng chiều cao của cây.
29 Đồ thị 4 1.Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng trưởng số lá/cây của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Bảng 4 3 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng trưởng số lá/cây của giống đậu xanh ĐXVN7 Động thái tăng trưởng số lá
Công thức 28NSG 38NSG 48NSG 58NSG
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
CT6- VSV2+SA Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm)
Lá là bộ phận quan trọng của cây, đóng vai trò chính trong việc tổng hợp và tích lũy chất dinh dưỡng Hình thức bên ngoài của lá phản ánh sức sinh trưởng và nhu cầu dinh dưỡng của cây Hệ thống diệp lục dưới bề mặt lá chuyển đổi quang năng từ ánh sáng mặt trời thành hóa năng, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Số lượng lá càng nhiều, khả năng tích lũy chất dinh dưỡng càng cao.
Số lượng lá trên cây phụ thuộc vào di truyền, tốc độ sinh trưởng và điều kiện môi trường Cây đậu xanh có lá mọc chét và mọc cách, với các lá chét có hình dạng đa dạng như ovan, thuôn tròn và thuôn dài Một lá hoàn chỉnh bao gồm lá kèm, cuống lá và phiến lá Sau 1-2 ngày, lá sẽ xòe ra và sau 7-8 ngày sẽ hình thành lá thật Số lượng, kích thước và hình dạng lá thay đổi theo giống, thời vụ và độ màu mỡ của đất.
Theo quan sát, cây đậu xanh ĐXVN7 có số lượng lá khác nhau trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Giai đoạn cao nhất là vào ngày 58 sau khi gieo, với trung bình mỗi cây có từ 7 đến 8 lá.
Ở giai đoạn 28 ngày sau gieo, số lá giữa các công thức ít biến động, dao động từ 3,2 – 3,8 lá, trong đó CT2 và CT5 có số lá cao nhất (3,8 lá) và CT1 là công thức có số lá thấp nhất (3,2 lá) Đến giai đoạn 38 ngày, số lá của các giống dao động từ 5,5 – 6,1 lá, với CT1 có số lá thấp nhất (5,5 lá) và CT2 cao nhất (6,1 lá), có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng Ở giai đoạn 48 ngày, số lá dao động từ 6,8 – 7,4 lá, CT2 và CT5 đạt số lá cao nhất (7,4 lá), trong khi CT1 có số lá thấp nhất (6,8 lá), còn CT3, CT4 và CT6 đều cao hơn giống đối chứng nhưng không đáng kể.
Sau 58 ngày gieo, số lá của các công thức dao động từ 7,8 đến 8,7 lá CT4 và CT6 đạt số lá cao nhất là 8,7 lá, trong khi CT1 (Đ/C) có số lá thấp nhất là 7,8 lá Các công thức còn lại đều có số lá cao hơn hoặc tương đương với công thức đối chứng Đồ thị 4.2 thể hiện ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến động thái tăng trưởng.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến diện tích lá (LA) và chỉ số diện tích lá (LAI) của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
4.4.1 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến diện tích lá (LA) của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây Sự thay đổi của chỉ số diện tích lá hay diện tích lá (LA) có tác động trực tiếp đến khả năng tích luỹ vật chất và năng suất của đậu xanh Chỉ tiêu này có sự biến đổi tùy thuộc vào giống cây, chế độ dinh dưỡng và mật độ gieo trồng.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
CT6- VSV2+SA Động thái tăng trưởng số lá
Có 32 loại khác nhau với diện tích lá (LA) thích hợp để đạt năng suất cao Khi LA được tác động bởi các yếu tố kỹ thuật canh tác phù hợp, lá sẽ xanh lâu, quang hợp tốt và tích lũy nhiều chất khô, tạo tiềm năng cho năng suất cao Cần điều chỉnh các yếu tố hợp lý để chỉ số diện tích lá đạt trị số tối ưu trong các giai đoạn sinh trưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và hình thành các chất hữu cơ Kết quả theo dõi ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến diện tích lá của giống đậu xanh ĐXVN7 được trình bày trong bảng 4.4.
Bảng 4.4 trình bày ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến diện tích lá (LA) của giống đậu xanh ĐXVN7, với các số liệu về diện tích lá tại các giai đoạn khác nhau (dm² lá/cây).
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Diện tích lá của giống ĐXVN7 tăng dần từ thời kỳ 3 lá thật đến thời kỳ quả chắc, với các công thức dao động từ 1,68 – 2,52 dm² lá/cây Công thức đối chứng CT1 có diện tích lá thấp nhất (1,68 dm² lá/cây), trong khi CT5 đạt diện tích cao nhất (2,52 dm² lá/cây), có sự khác biệt có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Các công thức khác cũng có diện tích lá cao hơn CT1 nhưng không đáng kể Ở thời kỳ ra hoa, diện tích lá dao động từ 3,07 – 3,55 dm² lá/cây, với CT6 đạt diện tích cao nhất (3,55 dm² lá/cây).
Trong nghiên cứu về diện tích lá của giống đậu xanh ĐXVN7, công thức CT5 đạt diện tích lá cao nhất với 3,52 dm² lá/cây, vượt trội hơn so với công thức đối chứng ở mức ý nghĩa LSD0,05 Các công thức CT2 và CT3 cũng có diện tích lá cao hơn công thức đối chứng, lần lượt là 3,20 dm² và 3,12 dm² lá/cây Ở giai đoạn quả chắc, diện tích lá dao động từ 5,42 đến 8,34 dm² lá/cây, trong đó CT4 có diện tích lá thấp nhất (5,42 dm² lá/cây) và CT6 có diện tích lá cao nhất (8,34 dm² lá/cây) Các công thức CT3 (6,39 dm² lá/cây) và CT5 (7,23 dm² lá/cây) cũng cho kết quả cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05, trong khi CT2 (5,86 dm² lá/cây) cao hơn công thức đối chứng nhưng không đáng kể.
4.4.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Lá là bộ phận quan trọng của cây, nơi diễn ra quá trình quang hợp để tổng hợp các chất hữu cơ Quá trình này cung cấp năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, giúp cây tích lũy chất dinh dưỡng vào các bộ phận như hạt, củ, và quả.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
Diện tích lá ở các thời kì (dm 2 lá/cây)
3-5 lá thật Qủa chắc Ra hoa
Lá đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng hạt Chỉ số diện tích lá là một tiêu chí thiết yếu để đánh giá khả năng quang hợp của quần thể cây trồng, đặc biệt là cây đậu xanh.
Chỉ số diện tích lá (LAI) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Để tăng diện tích lá, cần chú ý đến việc lựa chọn giống, điều chỉnh mật độ, phòng trừ sâu bệnh và sử dụng phân bón hợp lý Kết quả nghiên cứu về tác động của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số LAI của giống đậu xanh ĐXVN7 được thể hiện trong bảng 4.5.
Bảng 4 5 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số diện tích lá
(LAI) của giống đậu xanh ĐXVN7 Chỉ số diện tích lá (m 2 lá/m 2 đất)
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Diện tích lá của giống ĐXVN7 tăng dần qua các thời kỳ, với chỉ số diện tích lá trong giai đoạn 3-5 lá thật dao động từ 0,80 đến 1,20 m² lá/m² đất Công thức CT5 đạt chỉ số diện tích lá cao nhất là 1,20 m² lá/m² đất, trong khi công thức đối chứng CT1 có chỉ số thấp nhất là 0,80 m² lá/m² đất.
Các công thức có chỉ số diện tích lá cao hơn đối chứng nhưng không đáng kể Trong giai đoạn ra hoa, chỉ số diện tích lá dao động từ 1,46 – 1,69 m² lá/m² đất, với CT4 có chỉ số thấp nhất (1,46 m² lá/m² đất) và CT6 có chỉ số cao nhất (1,69 m² lá/m² đất), có ý nghĩa ở mức LSD 0,05 CT2 (1,52 m² lá/m² đất), CT3 (1,49 m² lá/m² đất), và CT5 (1,68 m² lá/m² đất) cao hơn so với đối chứng nhưng không có ý nghĩa Trong giai đoạn quả chắc, chỉ số diện tích lá dao động từ 2,58 – 3,97 m² lá/m² đất, với CT4 (2,58 m² lá/m² đất) thấp hơn đối chứng và CT6 (3,97 m² lá/m² đất) cao nhất CT2 (2,79 m² lá/m² đất) cao hơn đối chứng nhưng không đáng kể, trong khi các công thức còn lại có chỉ số cao hơn đối chứng có ý nghĩa ở mức LSD 0,05.
(LAI) của giống đậu xanh ĐXVN7
CT1- H2O CT2-VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
Chỉ số diện tích lá (m 2 lá/ m 2 đất)
3-5 lá thật Ra hoa Qủa chắc
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất tươi và khối lượng chất khô tích lũy của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
4.5.1 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất tươi của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Bảng 4 6 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất tươi của giống đậu xanh ĐXVN7 Khối lượng chất tươi tại các thời kì (g/cây)
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất tươi của giống đậu xanh ĐXVN7 cho thấy khối lượng chất tươi ở thời kỳ 3-5 lá thật dao động từ 5,72 – 8,79 g/cây Công thức CT1 (Đ/C) có khối lượng chất tươi thấp nhất là 5,72 g/cây, trong khi CT6 đạt 8,79 g/cây, cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Mặc dù CT4 có khối lượng chất tươi là 5,83 g/cây, nhưng sự khác biệt so với công thức đối chứng không đáng kể Tất cả các công thức còn lại đều có khối lượng chất tươi cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa ở mức LSD0,05 Ở thời kỳ ra hoa, khối lượng chất tươi của các công thức dao động từ 13,35 – 18,16 g/cây, trong đó CT6 đạt 18,16 g/cây, là cao nhất.
Công thức đối chứng CT1 có khối lượng chất tươi thấp nhất (13,35 g/cây), trong khi các công thức khác đều cho khối lượng chất tươi cao hơn và có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Ở giai đoạn quả chắc, khối lượng chất tươi của giống đậu xanh ĐXVN7 tăng dần, dao động từ 25,50 đến 32,79 g/cây Công thức CT6 đạt khối lượng chất tươi cao nhất (32,79 g/cây), trong khi CT1 (Đ/C) có khối lượng thấp nhất (25,50 g/cây) Công thức CT4 (26,68 g/cây) cũng cao hơn công thức đối chứng nhưng không có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Các công thức còn lại đều có khối lượng chất tươi cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê.
4.5.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất khô tích lũy của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Chất khô trong cây xanh chủ yếu được tạo ra từ quá trình quang hợp, chiếm từ 80-90%, trong khi phần còn lại được cây hấp thụ từ đất Trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, một phần chất khô được tích lũy trong thân và lá, trong khi phần còn lại được sử dụng cho các hoạt động sống khác của cây.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
Khối lượng chất tươi tại các thời kì (g/cây)
3-5 lá thật Ra hoa Qủa chắc
Khả năng tích lũy chất khô của cây đậu xanh, chủ yếu ở quả và hạt, là yếu tố quyết định năng suất Việc vận chuyển các chất hữu cơ từ cơ quan sinh dưỡng đến cơ quan sinh sản cũng ảnh hưởng đến năng suất hạt Do đó, khả năng tích lũy chất khô càng cao thì tiềm năng năng suất càng lớn Quá trình này phụ thuộc vào giống cây, điều kiện và kỹ thuật canh tác Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất khô tích lũy ở lá, thân và rễ của cây đậu xanh, với kết quả được trình bày trong bảng 4.7.
Bảng 4.7 trình bày ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khối lượng chất khô tích lũy của giống đậu xanh ĐXVN7 Khối lượng chất khô tích lũy được đo tại các thời kỳ khác nhau (g/cây).
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Từ bảng 4.7 cho ta thấy trong điều kiện khí hậu thổ nhưỡng vùng Gia Lâm –
Nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy vi sinh vật và acid salicylic ảnh hưởng đến khối lượng chất khô tích lũy của giống ĐXVN7 Khối lượng chất khô tích lũy trong giai đoạn 3-5 lá thật dao động từ 1,42 – 2,59 g/cây, với CT6 đạt khối lượng cao nhất là 2,59 g/cây, trong khi CT1 (Đ/C) có khối lượng thấp nhất là 1,42 g/cây Các công thức CT3 (1,78 g/cây) và CT5 (2,28 g/cây) cho thấy khối lượng chất khô cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Các công thức còn lại cũng có khối lượng chất khô tích lũy cao hơn công thức đối chứng nhưng không đáng kể.
Trong thời kỳ ra hoa, khối lượng chất khô tích lũy của cây thấp hơn so với thời kỳ quả chắc, dao động từ 2,68 – 4,50 g/cây Công thức CT6 đạt khối lượng chất khô cao nhất (4,50 g/cây), vượt trội so với giống đối chứng với ý nghĩa ở mức LSD0,05, trong khi CT1 (đối chứng) có khối lượng thấp nhất (2,68 g/cây) CT2 (2,85 g/cây) cao hơn đối chứng nhưng không đáng kể Ở thời kỳ quả chắc, khối lượng chất khô tăng lên, dao động từ 4,51 – 7,56 g/cây, với CT6 lại là công thức cao nhất (7,56 g/cây) và có ý nghĩa so với đối chứng CT1 (4,51 g/cây) là công thức thấp nhất, trong khi CT3 (5,47 g/cây), CT4 (5,05 g/cây), và CT5 (6,70 g/cây) đều có khối lượng chất khô cao hơn đối chứng với ý nghĩa ở mức LSD0,05 CT2 (4,59 g/cây) cũng cao hơn đối chứng nhưng không có ý nghĩa thống kê.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
Khối lượng chất khô tích lũy tại các thời kì (g/cây)
3-5 lá thật Ra hoa Qủa chắc
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khả năng hình thành nốt sần của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Nốt sần là đặc trưng của cây họ đậu, giúp cố định đạm và cung cấp dinh dưỡng cho cây, đồng thời cải tạo đất canh tác Số lượng và khối lượng nốt sần rất quan trọng trong nghiên cứu nhằm tăng cường hoạt động của vi khuẩn Rhizobium vigna, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng quả Số lượng nốt sần phụ thuộc vào giống cây, điều kiện đất đai và quá trình sinh trưởng.
Bảng 4 8 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khả năng hình thành nốt sần của giống đậu xanh ĐXVN7
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Theo bảng 4.8, trong giai đoạn 3-5 lá thật, số lượng nốt sần dao động từ 18,78 đến 31,67 nốt sần Công thức đối chứng CT1 có số lượng nốt sần thấp nhất với 18,78 nốt sần, trong khi công thức CT6 đạt số lượng cao nhất là 31,67 nốt sần Các công thức khác đều có số lượng nốt sần cao hơn công thức đối chứng và có ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Đặc biệt, trong giai đoạn ra hoa, số lượng nốt sần của các công thức tăng lên đáng kể.
Trong nghiên cứu về số lượng nốt sần, công thức CT6 đạt 91,67 nốt sần, cao nhất trong số các công thức, trong khi CT1 (Đ/C) chỉ có 63,89 nốt sần, thấp nhất Các công thức CT2 (69,00 nốt sần) và CT4 (67,22 nốt sần) có số lượng nốt sần cao hơn công thức đối chứng nhưng không đáng kể Các công thức khác đều có số lượng nốt sần vượt trội so với công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Trong giai đoạn quả chắc, số lượng nốt sần giảm dần, dao động từ 51,11 đến 67,78 nốt sần CT2 (59,11 nốt sần), CT3 (59,33 nốt sần) và CT5 (66,00 nốt sần) đều có số lượng nốt sần cao hơn công thức đối chứng nhưng không có ý nghĩa ở mức LSD0,05 CT1 (Đ/C) có số lượng nốt sần thấp nhất là 51,11, trong khi CT6 với 67,78 nốt sần là công thức có số lượng nốt sần cao nhất có ý nghĩa ở mức LSD0,05.
Việc sử dụng vi sinh vật và acid salicylic cho giống đậu xanh ĐXVN7 đã cho thấy ảnh hưởng tích cực đến số lượng nốt sần Trong cùng một điều kiện đất, khí hậu và chăm sóc, các công thức có vi sinh vật và acid salicylic đều cho kết quả cao hơn so với công thức đối chứng.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
3-5 lá thật Ra hoa Qủa chắc
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số SPAD của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Chỉ số SPAD đánh giá hàm lượng chlorophyll trong lá, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp của cây Nghiên cứu năm 2021 về cây đậu xanh ĐXVN7 cho thấy tác động của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số SPAD trong giai đoạn cây con, ra hoa và quả chắc.
Bảng 4 9 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số SPAD của giống đậu xanh ĐXVN7 Chỉ số diệp lục SPAD tại các thời kì
Công thức 3-5 lá thật Ra hoa Quả chắc
Bảng 4.9 cho thấy chỉ số SPAD trong giai đoạn 3-5 lá thật của các công thức dao động từ 37,6 đến 43,5, với công thức CT6 đạt chỉ số cao nhất là 43,5, vượt trội hơn công thức đối chứng (Đ/C) 37,6 ở mức ý nghĩa LSD0,05 Trong giai đoạn ra hoa, chỉ số SPAD dao động từ 40,8 đến 46,2, với công thức CT4 đạt chỉ số cao nhất 46,2, có ý nghĩa ở mức LSD0,05, trong khi công thức Đ/C có chỉ số thấp nhất là 40,8 Các công thức còn lại đều có chỉ số SPAD cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê.
Trong giai đoạn quả chắc, chỉ số SPAD của cây đậu xanh đạt mức cao nhất trong chu kỳ sinh trưởng, dao động từ 47,2 đến 48,5 Công thức CT6 ghi nhận chỉ số SPAD cao nhất là 48,5, trong khi CT3 có chỉ số thấp nhất là 47,2, thấp hơn cả công thức đối chứng CT1 (48,2) Các công thức CT2 (47,7) và CT4 (47,9) cũng có chỉ số SPAD thấp hơn công thức đối chứng nhưng không có ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Đáng chú ý, CT5 với chỉ số SPAD 48,3 cao hơn công thức đối chứng.
Trong ba thời kỳ nghiên cứu, công thức CT6 (VSV2+SA) luôn đạt chỉ số cao nhất, cho thấy ý nghĩa vượt trội so với các công thức khác Đồ thị 4.8 minh họa ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến chỉ số SPAD của giống đậu xanh ĐXVN7.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất huỳnh quang diệp lục (FV/Fm) của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Hiệu suất huỳnh quang diệp lục là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sinh lý cây trồng, đặc biệt trong điều kiện mặn và bất lợi.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
3-5 lá thật Ra hoa Qủa chắc
Phương pháp phân tích huỳnh quang diệp lục cho phép xác định nhanh tính chống chịu của thực vật trong điều kiện bất lợi mà không gây tổn thương cho cây Việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại mang lại kết quả quan trọng, giúp hiểu sâu về cơ chế của hiện tượng huỳnh quang Nghiên cứu cho thấy thiếu nước nghiêm trọng ảnh hưởng tiêu cực đến hàm lượng diệp lục, làm hư hại protein của quang hệ II và biến đổi tham số huỳnh quang diệp lục Bảng 4.10 trình bày kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất huỳnh quang diệp lục của cây đậu xanh ĐXVN7 trong vụ Xuân năm 2021.
Bảng 4.10 trình bày ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất huỳnh quang diệp lục (FV/Fm) của giống đậu xanh ĐXVN7 trong giai đoạn phát triển Hiệu suất huỳnh quang diệp lục (FV/Fm) được đo lường tại thời điểm này cho thấy sự thay đổi rõ rệt dưới tác động của các yếu tố trên.
Công thức Ra hoa Quả non Quả chắc
Chỉ số hiệu suất huỳnh quang diệp lục giảm dần từ thời kỳ ra hoa đến thời kỳ quả chắc, với giá trị dao động từ 0,841 đến 0,958 trong giai đoạn ra hoa Công thức CT6 đạt chỉ số hiệu suất quang hợp cao nhất là 0,958, vượt trội hơn so với công thức đối chứng.
Trong nghiên cứu, chỉ số hiệu suất quang hợp của CT1 (0,841) thấp nhất và có ý nghĩa ở mức LSD0,05, trong khi CT5 (0,913) cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa tương tự Các công thức khác có chỉ số hiệu suất huỳnh quang diệp lục tương đương với công thức đối chứng Ở giai đoạn quả non, chỉ số này dao động từ 0,762 đến 0,813, với CT2 (0,762) là thấp nhất và CT3 (0,813) cao nhất, vượt qua công thức đối chứng Các công thức còn lại đều có chỉ số cao hơn công thức đối chứng nhưng không đáng kể Trong giai đoạn quả chắc, chỉ số huỳnh quang diệp lục dao động từ 0,729 đến 0,776, với CT3 (0,776) là cao nhất và CT2 (0,729) là thấp nhất, thấp hơn công thức đối chứng Các công thức CT4 (0,740), CT5 (0,755), và CT6 (0,761) có chỉ số tương đương với công thức đối chứng.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất quang hợp của giống đậu
Quang hợp là quá trình sử dụng năng lượng ánh sáng để tổng hợp các hợp chất carbohydrates từ CO2, đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của cây trồng và hình thành năng suất (Takai et al., 2009) Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự (2006), quang hợp tạo ra các hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ đơn giản như CO2.
Dưới tác động của năng lượng ánh sáng mặt trời và sự tham gia của sắc tố diệp lục, nước (H2O) tạo ra sản phẩm quan trọng nhất của quá trình quang hợp, đó là đường glucose.
Quang hợp là quá trình sinh lý quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, và khả năng quang hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cường độ và thời gian chiếu sáng, cũng như hàm lượng nước trong lá (Nguyễn Như Khanh và Cao Phi Bằng, 2012).
Cường độ quang hợp là chỉ số quan trọng phản ánh khả năng hoạt động quang hợp của cây trồng, và nó thay đổi tùy thuộc vào giống, giai đoạn sinh trưởng, điều kiện ngoại cảnh và chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất quang hợp của giống ĐXVN7 trong giai đoạn từ ra hoa đến khi quả chắc, với kết quả được trình bày chi tiết trong bảng 4.11.
Bảng 4.11 trình bày ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến hiệu suất quang hợp của giống đậu xanh ĐXVN7 Hiệu suất quang hợp được đo lường theo đơn vị g/m²/ngày đêm tại các thời kỳ khác nhau.
Công thức Cây con – ra hoa Ra hoa – quả chắc
Trong thời kỳ ra hoa – quả non, giống ĐXVN7 cho thấy hiệu suất quang hợp dao động từ 3,78 đến 4,68 g/m²/ngày đêm Công thức CT6 đạt hiệu suất quang hợp cao nhất với 4,68 g/m²/ngày đêm, vượt trội hơn so với công thức đối chứng CT1 (3,78 g/m²/ngày đêm) có hiệu suất thấp nhất Các công thức CT3 (4,42 g/m²/ngày đêm) và CT5 (4,23 g/m²/ngày đêm) cũng có hiệu suất cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Trong khi đó, CT2 (3,98 g/m²/ngày đêm) và CT4 (3,86 g/m²/ngày đêm) có hiệu suất tương đương với công thức đối chứng Ở giai đoạn quả non – quả chắc, hiệu suất quang hợp dao động từ 3,20 đến 4,30 g/m²/ngày đêm.
Công thức CT6 đạt hiệu suất quang hợp cao nhất với 4,30 g/m²/ngày đêm, trong khi CT2 có hiệu suất thấp nhất là 3,20 g/m²/ngày đêm, thấp hơn so với công thức đối chứng CT1 (3,53 g/m²/ngày đêm) Công thức CT3 (3,62 g/m²/ngày đêm) có hiệu suất quang hợp tương đương với công thức đối chứng.
CT4 (4,01 g/m 2 / ngày đêm) và CT5 (4,06 g/m 2 / ngày đêm) cao hơn so với công thức đối chứng có ý nghĩa ở mức LSD0,05.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
chịu sâu bệnh hại cảu giống đậu xanh ĐXVN7
Sâu hại Bệnh hại Đỗ gãy
Bệnh héo xanh cây con (Điểm 1-5) Đỗ gãy thân
Sâu bệnh hại ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng, đặc biệt là cây đậu xanh, vốn có hàm lượng đạm cao trong thân lá, thu hút nhiều loại sâu bệnh Do đó, việc đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh trên cây đậu xanh là cần thiết để áp dụng các biện pháp phòng chống hiệu quả.
Vụ xuân là thời điểm lý tưởng cho sự phát triển của sâu bệnh hại, do thời tiết ẩm ướt và sương muối Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Đậu xanh là một trong những loại cây trồng dễ bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh hại trong vụ xuân Việc phát hiện và phòng ngừa kịp thời là rất quan trọng để bảo vệ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, tránh thiệt hại về năng suất Kết quả theo dõi sâu bệnh hại giống đậu xanh ĐXVN7 đã được ghi nhận và thể hiện qua bảng.
4.12 tình hình sâu bệnh hại chính chủ yếu là sâu đục quả, sâu cuốn lá, bệnh hại có nhưng không đáng kể
Sâu xanh là loại sâu đa thực gây hại cho cây trồng thuộc họ đậu và họ bầu bí Sâu non ăn lá, để lại biểu bì, trong khi sâu tuổi lớn tạo ra lỗ thủng trên lá, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Theo số liệu, tỷ lệ sâu xanh trên các giống đậu xanh khi trồng ngoài ruộng chiếm từ 5-15% tổng số quả.
Sâu cuốn lá: Qua bảng 4.12 chúng ta thấy được các công thức trong thí nghiệm tỷ lệ sâu cuốn lá là rất ít
Sâu đục quả là loại sâu hại thường tấn công nụ, hoa và trái của cây đậu Trong giai đoạn nụ, sâu nhả tơ cuốn chùm nụ và gây hại bên trong Khi cây đậu có trái, sâu sẽ đục vào trong trái, làm giảm năng suất từ 20-30% Theo số liệu, tỷ lệ sâu quả hại các giống đậu xanh khi trồng ngoài ruộng chiếm từ 5-15% tổng số quả trên ruộng.
Bệnh gỉ sắt thường xuất hiện trong giai đoạn cây ra hoa và đậu quả, bắt đầu với những chấm nhỏ màu vàng dưới mặt lá, sau đó chuyển sang màu vàng cam Cuối cùng, các vết bệnh lan rộng ra toàn bộ lá, khiến lá bị vàng, cháy khô và rụng.
Bệnh gỉ sắt gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đậu trái, làm cho hạt nhỏ và giảm năng suất Theo bảng 4.12, các công thức trong thí nghiệm hầu như không bị ảnh hưởng bởi bệnh gỉ sắt.
Bệnh héo xanh cây con (lở cổ rễ): Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra
Bệnh thường tấn công cây trong giai đoạn còn nhỏ, từ khi mọc cho đến 1 tháng tuổi Nấm bệnh xâm nhập vào phần gốc, gây khô teo và làm cây đậu héo chết Bệnh này có khả năng lây lan nhanh chóng.
Giống đậu xanh ĐXVN7 cho thấy khả năng chống đổ rất tốt trong các thí nghiệm, với tỷ lệ bệnh trên ruộng rất thấp, góp phần giảm mật độ cây trồng.
Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
4.11.1 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Bảng 4 13 Ảnh hưởng của vị sinh vật và acid salicylic đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7
Công thức Tổng số quả/cây Số hạt /quả P1000 (g)
Năng suất của giống đậu xanh được xác định bởi tổng số quả trên cây, số hạt mỗi quả và khối lượng 1000 hạt Những chỉ tiêu này quyết định tiềm năng năng suất; nếu đạt giá trị cao, năng suất sẽ tăng, ngược lại, nếu thấp, năng suất sẽ giảm.
Kết quả theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 thí nghiệm bày tại bảng 4.13
Tổng số quả trên mỗi cây của giống đậu xanh ĐXVN7 dao động từ 9,39 đến 13,72 quả/cây Trong đó, công thức CT6 đạt tổng số quả cao nhất với 13,72 quả/cây, trong khi công thức CT1 (đối chứng) có tổng số quả thấp nhất là 9,39 quả/cây Các công thức CT3 (10,83 quả/cây) và CT5 (12,1 quả/cây) cho thấy tổng số quả cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Các công thức còn lại có tổng số quả tương đương với công thức đối chứng.
Số hạt/quả giữa các công thức dao động từ 9,24 đến 11,08 hạt/quả, không có sự chênh lệch lớn CT1 (Đ/C) có số hạt/quả thấp nhất là 9,24, trong khi CT6 đạt 11,08 hạt/quả, cao nhất với ý nghĩa ở mức LSD0,05 CT4 với 10,43 hạt/quả cũng có số hạt/quả cao hơn công thức đối chứng, có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Các công thức còn lại đều có số hạt/quả cao hơn công thức đối chứng nhưng không đáng kể.
Khối lượng 1000 hạt của giống đậu xanh ĐXVN7 dao động từ 45,82 đến 53,32 g Trong đó, công thức CT1 (Đ/C) có khối lượng thấp nhất là 45,82 g, trong khi CT6 đạt khối lượng cao nhất là 53,32 g, với sự khác biệt có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Các công thức còn lại đều có khối lượng 1000 hạt cao hơn công thức đối chứng, tuy nhiên sự chênh lệch không đáng kể.
4.11.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội
Năng suất là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất, đặc biệt là trong đánh giá giống cây trồng Năng suất cây trồng không chỉ phản ánh bản chất di truyền của giống mà còn cho thấy khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và khả năng thâm canh Việc xác định năng suất cùng các yếu tố cấu thành của nó là mục tiêu chính để đánh giá chất lượng giống đậu xanh, từ đó quyết định hiệu quả kinh tế Giống có năng suất cao thường được coi là tốt, vì vậy các nhà chọn giống đậu xanh luôn đặt năng suất lên hàng đầu, coi đây là tiêu chí quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu và phát triển giống.
Kết quả theo dõiảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 thí nghiệm bày tại bảng 4.14
Bảng 4 14 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến năng suất của giống đậu xanh ĐXVN7 STT
Công thức NSCT (g) NSLT(tạ/ha) NSTT(tạ/ha)
Năng suất cá thể của giống đậu xanh ĐXVN7 dao động từ 7,14 đến 8,16 g/cây Công thức CT6 đạt năng suất cao nhất với 8,16 g/cây, trong khi công thức đối chứng CT1 có năng suất thấp nhất là 7,14 g/cây Các công thức khác đều cho năng suất cá thể cao hơn so với công thức đối chứng.
Năng suất lý thuyết của giống đậu xanh ĐXVN7 dao động từ 34,02 đến 38,87 tạ/ha Công thức CT1 (Đ/C) có năng suất lý thuyết thấp nhất là 34,02 tạ/ha, trong khi CT6 đạt 38,87 tạ/ha, cao hơn công thức đối chứng với ý nghĩa thống kê ở mức LSD0,05 Các công thức khác đều có năng suất cao hơn công thức đối chứng, nhưng sự khác biệt không đáng kể.
Năng suất thực thu: Năng suất thực thu giữa các công thức dao động từ 18,78
Công thức CT6 đạt năng suất cao nhất với 21,06 tạ/ha, trong khi công thức CT1 (Đ/C) có năng suất thấp nhất là 18,78 tạ/ha Công thức CT5 cũng có năng suất cao, đạt 21,03 tạ/ha, chỉ thấp hơn CT6 một chút.
Các kết quả cho thấy 52 thức đối chứng có ý nghĩa ở mức LSD0,05, trong khi các công thức còn lại đều có giá trị cao hơn công thức đối chứng không có ý nghĩa ở mức LSD0,05 Đồ thị 4.9 minh họa ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến năng suất cá thể của giống đậu xanh ĐXVN7, trong khi Đồ thị 4.10 thể hiện ảnh hưởng của các yếu tố này đến năng suất lý thuyết của giống đậu xanh ĐXVN7.
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
CT1- H2O CT2- VSV1 CT3-VSV2 CT4- SA CT5-
Năng suất lý thuyết (tạ/ha)
53 Đồ thị 4 11 Ảnh hưởng của vi sinh vật và acid salicylic đến năng suất