1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi ôn tập thi công chức viện kiểm sát môn luật hình sự năm 2023

24 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề thi luật hình sự năm 2023
Trường học Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Đề thi
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi: Phân tích quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015? Khẳng định sau là đúng hay sai: Trong mọi trường hợp, người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ? Tại sao? Nêu rõ căn cứ pháp lý? Đáp án và thang điểm 1. Phân tích quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015 (20 đ): a) Khái niệm và căn cứ pháp lý (02 đ): Khái niệm: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Căn cứ pháp lý: Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 24 BLDS 2015. b) Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân (18 đ): Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (02 đ): Điều kiện cần: là người đã thành niên (Khoản 1 Điều 20 BLDS 2015); Điều kiện đủ: Không thuộc trường hợp một trong các trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Khoản 2 Điều 20 BLDS 2015). Cá nhân có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ (03 đ): Về độ tuổi: từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015). Hệ quả: + Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi (Khoản 3 Điều 21 BLDS 2015). + Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý (Khoản 3 Điều 21 BLDS 2015). Người không có năng lực hành vi dân sự (03 đ): ....

Trang 1

ĐỀ THI LUẬT HÌNH SỰ

Câu 1 Hãy phân tích khái niệm cấu thành tội phạm và đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm.

Đáp án:

a Phân tích khái niệm CTTP (10 điểm)

- Nêu khái niệm (5 điểm):

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng của tộiphạm cụ thể được quy định trong luật hình sự

- Phân tích khái niệm (5 điểm)

Trong luật hình sự, trên cơ sở khái niệm tội phạm, nhà làm luật đã quy định

về các loại tội phạm cụ thể với những dấu hiệu pháp lý đặc trưng Việc xây dựngcác dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng của từng tội phạm giúp cho việc nhận biết,phân biệt giữa các tội phạm với nhau Tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng củatừng tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự gọi là cấu thành tội phạm.Cấu thành tội phạm là phạm trù pháp lý trừu tượng, kết quả của hoạt động nhận thứccủa con người, do nhà làm luật xác định trong quá trình làm luật, trong đó ghi nhậncác dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành

vi bị coi là tội phạm Có thể nói, cấu thành tội phạm là khuôn mẫu pháp lý của từngtội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự

b Đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm (15 điểm)

(1) Các dấu hiệu của CTTP được quy định trong luật hình sự (5 điểm)

Cấu thành tội phạm được tạo nên bởi các dấu hiệu pháp lý đặc trưng được nhàlàm luật xác định trước khi thiết kế cấu trúc từng tội phạm cụ thể trong luật hình sự

Do vậy, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều được quy định trong luật hình sự.Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, ở cảPhần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật Một số dấu hiệu như tuổi, năng lựctrách nhiệm hình sự, lỗi cố ý phạm tội, lỗi vô ý phạm tội, chuẩn bị phạm tội, phạmtội chưa đạt, đồng phạm, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầucủa tình thế cấp thiết được quy định ở Phần chung của BLHS Các dấu hiệu thểhiện những đặc trưng riêng của mỗi tội phạm được quy định ở Phần các tội phạmcủa BLHS Ví dụ, dấu hiệu "dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc cóhành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự đượcnhằm chiếm đoạt tài sản" trong tội Cướp tài sản (Điều 168 BLHS) Việc quy định

rõ ràng, chính xác các dấu hiệu của cấu thành tội phạm trong các điều khoản của Bộ

Trang 2

luật hình sự, nhất là những dấu hiệu đặc trưng của nó, là một trong những bảo đảmquan trọng cho việc áp dụng pháp luật hình sự thống nhất, là cơ sở để giải quyếtđúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự

(2) Tổng hợp các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính đặc trưng riêng (5điểm)

Mỗi cấu thành tội phạm đều được tạo nên bởi các dấu hiệu pháp lý, nếu táchrời thì dấu hiệu pháp lý của tội phạm này có thể giống dấu hiệu pháp lý của tội phạmkhác Ví dụ, cấu thành tội phạm của Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS); Tộitrộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đều có những dấu hiệu: Xâm phạm đến quyền sởhữu hợp pháp; do người đạt độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sựthực hiện; có lỗi cố ý trực tiếp Song, trong sự kết hợp với những dấu hiệu pháp lýđặc trưng riêng, thì tổng hợp các dấu hiệu của từng cấu thành tội phạm đều có tínhđặc trưng, khác biệt với dấu hiệu pháp lý của các cấu thành tội phạm khác Đặcđiểm này có ý nghĩa quan trọng để xác định tội trong từng trường hợp cụ thể, chophép phân biệt hành vi là tội phạm với hành vi không phải là tội phạm, đồng thời có

ý nghĩa để phân biệt tội phạm mà cấu thành tội phạm phản ánh với tội phạm khác

(3) Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm, với mối liên hệ tổng hợp củachúng, có tính bắt buộc (5 điểm)

Cấu thành tội phạm chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tộiphạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Như đã phân tích, trong các cấuthành tội phạm có những dấu hiệu mà ở cấu thành tội phạm nào cũng có, như dấuhiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực tráchnhiệm hình sự và có những dấu hiệu có ở cấu thành tội phạm này nhưng lại không

có ở cấu thành tội phạm khác Như vậy, ngoài những dấu hiệu giống nhau của cáccấu thành tội phạm còn có những dấu hiệu đặc trưng riêng của từng cấu thành tộiphạm Song, đối với từng cấu thành tội phạm, thì tổng hợp các dấu hiệu của từngcấu thành tội phạm, trong đó có những dấu hiệu đặc trưng riêng, tạo nên sự khácbiệt của tội phạm cụ thể với những tội phạm khác và mang tính bắt buộc để xác địnhtội phạm cụ thể

Câu 2 Hãy trình bày việc phân loại cấu thành tội phạm Cho ví dụ ? Đáp án

1 Phân loại cấu thành tội phạm theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

(10 điểm)

Dựa trên mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạmphản ánh, cấu thành tội phạm được phân ra thành cấu thành tội phạm cơ bản, cấuthành tội phạm giảm nhẹ và cấu thành tội phạm tăng nặng

Trang 3

a Cấu thành tội phạm cơ bản (4 điểm)

- Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm mà trong đó chỉ bao gồmnhững dấu hiệu pháp lý đặc trưng có ở mọi trường hợp phạm tội của loại tội nhấtđịnh, phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó, là căn cứ đểphân biệt tội phạm đó với những tội phạm khác

- Lấy ví dụ đúng

b Cấu thành tội phạm tăng nặng (4 điểm)

Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm mà trong đó ngoài nhữngdấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản còn có thêm dấu hiệu khác làm tăng lên mộtcách đáng kể tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợpphạm tội thông thường khác

- Lấy ví dụ đúng

c Cấu thành tội phạm giảm nhẹ (2 điểm)

Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà trong đó ngoài nhữngdấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản còn có thêm dấu hiệu khác làm giảm đi mộtcách đáng kể tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợpphạm tội thông thường khác

a Cấu thành tội phạm vật chất (5 điểm)

- Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm trong đó mặt khách quan củatội phạm có các dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xãhội, quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểmcho xã hội do hành vi ấy gây ra

- Lấy ví dụ đúng

b Cấu thành tội phạm hình thức (5 điểm)

Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu hành vinguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của tội phạm

Trang 4

- Lấy ví dụ đúng.

- Cấu thành tội phạm cắt xén là CTTP chỉ quy định hành vi khách quan giốngnhư CTTP hình thức, nhưng hành vi được mô tả ở đây không phải là các hành vi cụthể mà là các “hoạt động” hướng tới mục đích cụ thể

- Ví dụ Điều 109 BLHS năm 2015

3 Phân loại cấu thành tội phạm theo một số tiêu chí khác (5 điểm)

a Căn cứ vào các giai đoạn thực hiện tội phạm (mức độ thực hiện ý định

phạm tội) có thể chia cấu thành tội phạm ra thành: (2,5 điểm)

- Cấu thành tội phạm của tội phạm hoàn thành (Ví dụ)

- Cấu thành tội phạm của tội phạm chưa hoàn thành (tội phạm ở giai đoạnchuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt) Việc phân loại trên căn cứvào các quy định của luật hình sự về các giai đoạn thực hiện tội phạm và đồng phạm(các điều 14, 15 BLHS) Ví dụ

b (2,5 điểm) Căn cứ vào CTTP của tội phạm do người trực tiếp thực hiện tộiphạm (người thực hành) và CTTP của tội phạm do những người đồng phạm khácthực hiện (người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục), CTTP được chia thành 2loại:

- CTTP thông thường: do người thực hành thực hiện Ví dụ

- CTTP của hành vi đồng phạm: CTTP của hành vi tổ chức, CTTP của hành

vi giúp sức, CTTP của hành vi xúi giục trong vụ án có đồng phạm Ví dụ

Câu 3 Hãy phân tích ý nghĩa của cấu thành tội phạm

Đáp án

1 Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự (10 điểm)

- Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bấtlợi mà người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu trước Nhànước do việc họ đã thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạmpháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật vàmột số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định (2 điểm)

- Điều 2 BLHS 2015 quy định "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luậthình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" Đồng thời khoản 2 Điều 2 quyđịnh, chỉ pháp nhân thương mại nào phạm tội đã được quy định tại Điều 76 BLHSmới phải chịu TNHS (2 điểm)

Trang 5

- Về mặt pháp lý, cá nhân, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS nếu họthực hiện hành vi được quy định trong BLHS Muốn xác định hành vi của họ cóđược quy định trong BLHS hay không phải căn cứ vào CTTP Nếu hành vi của họthoả mãn tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể thì hành vi đó là tộiphạm và họ phải chịu TNHS Do đó, CTTP là cơ sở pháp lý để xác định TNHS của

cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội (6 điểm)

2 CTTP là căn cứ pháp lý để định tội danh (8 điểm)

- Định tội danh là việc xác định hành vi đã thực hiện phạm tội cụ thể nàotrong BLHS Muốn định tội danh, người áp dụng phải căn cứ vào các CTTP đượcquy định trong BLHS xác định hành vi đã thực hiện có thoả mãn đầy đủ các dấuhiệu của CTTP hay không Nếu thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu CTTP của tội phạm

cụ thể nào thì hành vi đã thực hiện phạm vào tội danh của CTTP đó (6 điểm)

- Lấy được ví dụ (2 điểm)

Như vậy CTTP là cơ sở pháp lý để xác định tội danh Chỉ có thể căn cứ vàoCTTP đã được quy định trong BLHS mới có thể xác định được tội danh

3 CTTP là cơ sở pháp lý để định khung hình phạt (7 điểm)

Định khung hình phạt là việc xác định hành vi phạm tội đã thoả mãn CTTP cơbản có thuộc khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ không và thuộc khung nào.Nếu không thoả mãn CTTP tăng nặng hay giảm nhẹ, thì hành vi phạm tội sẽ thuộcCTTP cơ bản Nếu các tình tiết của hành vi phạm tội phù hợp với dấu hiệu địnhkhung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì khung hình phạt được áp dụng làkhung hình phạt có dấu hiệu định khung hình phạt đó (5 điểm)

- Lấy được ví dụ (2 điểm)

Như vậy, CTTP là cơ sở pháp lý để định khung hình phạt

Câu 4 Hãy phân tích khái niệm và ý nghĩa của khách thể của tội phạm Đáp án:

1 Phân tích khái niệm khách thể của tội phạm (15 điểm)

- (5 điểm): Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm những quan

hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Luật hình sự Việt Nam coi các quan hệ xã hộiđược luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại làkhách thể của tội phạm Trong xã hội cũ, giai cấp thống trị để bảo vệ và phát triểncác quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của mình đều xác lập các quy phạm pháp luậthình sự có nội dung ngăn cấm, trừng phạt những hành vi phạm tội xâm phạm đếncác quan hệ xã hội đó Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đại diện cho lợi ích

Trang 6

của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp khác, đại diện cho lợi íchcủa toàn dân tộc, thiết lập các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của nhân dân vàdân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước Để bảo vệ các quan hệ xã hội phùhợp với lợi ích của mình, Nhà nước xác lập các quy phạm pháp luật hình sự nhằmngăn cấm, trừng phạt các hành vi phạm tội xâm phạm các quan hệ xã hội đó Nhữngquan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm nếu bịtội phạm xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hộiđược gọi là khách thể của tội phạm.

- (5 điểm) Khái niệm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luậthình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm và bị tội phạm xâm hại đến

- (5 điểm) Thể hiện trong Điều 8 BLHS: quy định phạm vi khách thể (cácquan hệ xã hội) được luật hình sự bảo vệ bao gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốcphòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp phápkhác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

2 Phân tích ý nghĩa của khách thể của tội phạm: (10 điểm)

- Xác định giới hạn, phạm vi các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là

cơ sở cho việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự Phạm vi cácquan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ không phải là bất biến mà có thể thay đổitheo sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ, đòi hỏi

có sự đánh giá, điều chỉnh các quy định của luật hình sự cho phù hợp Quá trình xácđịnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi bảo vệ của luật hình sự cho phù hợp với thực

tế để coi là khách thể của tội phạm là nhiệm vụ của nhà làm luật trong quá trình xemxét sửa đổi, bổ sung các quy định của luật hình sự (2 điểm)

- Tính chất của các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại là cơ sở cho việc hệthống hóa các quy phạm pháp luật trong phần các tội phạm của BLHS Dựa vào tínhchất giống nhau hoặc gần giống nhau của các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ bị tội phạm xâm phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, nhà làm luật đãphân các tội phạm Phần các tội phạm thành 14 chương (2 điểm)

- Trong thực tiễn, xác định khách thể của tội phạm có ý nghĩa trong việc đánhgiá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi nguy hiểm đáng kể haykhông đáng kể khi xác định hành vi thực tế đã thực hiện có phạm tội hay không (2điểm)

- Xác định đúng khách thể của tội phạm còn có ý nghĩa trong việc phân biệttội phạm này với tội phạm khác để định tội danh được chính xác (2 điểm)

Trang 7

- Ngoài ra, xác định tính chất, tầm quan trọng của khách thể của tội phạm còn

có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội (2 điểm)

Câu 5 Phân tích việc phân loại khách thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự

Đáp án:

Căn cứ vào cách thức quy định của luật hình sự về khách thể của tội phạm,khoa học hình sự phân loại khách thể của tội phạm thành ba loại là khách thể chung,khách thể loại và khách thể trực tiếp

1 Phân tích khách thể chung của tội phạm (8 điểm)

- (2 điểm) Khái niệm: Khách thể chung của tội phạm là tổng thể các quan hệ

xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm Bất kỳ một hành viphạm tội nào cũng xâm hại đến một trong số các quan hệ xã hội được Nhà nước xácđịnh bảo vệ bằng luật hình sự, nghĩa là đều xâm hại đến khách thể chung của tộiphạm Khách thể chung của tội phạm phản ánh phạm vi các quan hệ xã hội đượcNhà nước bảo vệ bằng luật hình sự và chính sách hình sự của Nhà nước trong đấutranh phòng và chống tội phạm

- (3 điểm) Điều 8 Bộ luật hình sự quy định khái quát khách thể chung của tộiphạm Các điều luật về các tội phạm trong bộ luật hình sự là sự cụ thể hóa khách thểcủa tội phạm được xác định trong Điều 8 BLHS Mỗi một tội phạm cụ thể khi xâmhại đến khách thể riêng cũng đều xâm hại đến khách thể chung

- (3 điểm) Xác định khách thể chung của tội phạm cho phép xác định phạm vihiệu lực của luật hình sự, phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác Nếuthiệt hại do hành vi nào đó gây ra cho các quan hệ xã hội không nằm trong hệ thốngcác khách thể chung của tội phạm thì hành vi gây thiệt hại đó không thể bị coi là tráipháp luật hình sự, do vậy không phải chịu trách nhiệm hình sự

2 Khách thể loại của tội phạm (8 điểm)

- Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất đượcnhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạmnhất định (2 điểm)

- Xác định khách thể loại của tội phạm là cơ sở để nhà làm luật phân các tộiphạm thành các chương tương ứng trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự (3điểm)

- Cụ thể như sau: (3 điểm)

Trang 8

+ Chương XIII: các tội xâm phạm an ninh quốc gia (gồm 15 điều, từ điều 108đến điều 122);

+ Chương XIV: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dựcủa con người (gồm 34 điều, từ điều 123 đến điều 156);

+ Chương XV: các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân (gồm 11điều, từ điều 157 đến điều 167)

+ Chương XVI: các tội xâm phạm sở hữu (gồm 13 điều, từ điều 168 đến điều180);

+ Chương XVII: các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình (gồm 7 điều, từđiều 181 đến điều 187)

+ Chương XVIII: các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (gồm 37 điều, từđiều 188 đến điều 234)

+ Chương XIX: các tội phạm về môi trường (gồm 12 điều, từ điều 235 đếnđiều 246)

+ Chương XX: các tội phạm về ma túy (gồm 13 điều, từ điều 247 đến điều259)

+ Chương XXI: các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (gồm

69 điều, từ điều 260 đến điều 329)

+ Chương XXII: các tội phạm trật tự quản lý hành chính (gồm 22 điều, từđiều 330 đến điều 351)

+ Chương XXIII: các tội phạm về chức vụ (gồm 15 điều, từ điều 352 đến điều366)

+ Chương XXIV: các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (gồm 25 điều, từ điều

3 Khách thể trực tiếp của tội phạm (9 điểm)

- Khái niệm: Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể, thểhiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, được luật hình sự bảo vệ

và bị tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại đến (2 điểm)

Trang 9

- Các quan hệ xã hội tồn tại trong mối liên hệ và tác động qua lại nhau Mỗitội phạm có thể xâm hại trực tiếp cho nhiều quan hệ xã hội cụ thể được luật hình sựbảo vệ, nhưng không phải tất cả các quan hệ xã hội bị xâm hại đều là khách thể trựctiếp của tội phạm Khách thể trực tiếp của tội phạm chỉ có thể là quan hệ xã hội thểhiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và bị tội phạm trực tiếpxâm hại Mỗi tội phạm cụ thể đều có khách thể trực tiếp, có thể là một khách thểtrực tiếp hoặc nhiều khách thể trực tiếp (2 điểm)

- Trường hợp tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp là trường hợp tội phạmxâm hại đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà mỗi quan hệ xã hộichỉ thể hiện được một phần bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, kết hợp tất

cả các quan hệ xã hội bị tội phạm trực tiếp xâm hại mới thể hiện được đầy đủ bảnchất của hành vi phạm tội ấy (2 điểm)

- Đối với nhà làm luật, trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung luật hình

sự, xác định quan hệ xã hội nào có thể được coi là khách thể trực tiếp của tội phạmhoặc không coi là khách thể trực tiếp của tội phạm nữa có ý nghĩa quan trọng khixem xét để quy định tội phạm mới hoặc xóa bỏ tội phạm Đối với người áp dụngluật, xác định khách thể trực tiếp của tội phạm có ý nghĩa để định tội Ví dụ: hành viđập phá dẫn đến hư hỏng trạm biến áp điện vừa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu,vừa gây thiệt hại cho an toàn năng lượng, vừa gây thiệt hại cho an toàn trật tự côngcộng Nhưng xét về nhiều mặt thì rõ ràng thiệt hại cho an toàn năng lượng quốc giamới thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Khách thểtrực tiếp của loại hành vi phạm tội này là an toàn năng lượng quốc gia, do vậy phảiđịnh tội đối với hành vi đó là tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về anninh quốc gia (Điều 303 BLHS) (3 điểm)

Câu 6 Phân tích khái niệm, phân loại và ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm.

Đáp án

1 Phân tích khái niệm (5 điểm):

- Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm màkhi tác động tới nó người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan

hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

Cần phân biệt sự gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm với những biến đổi

cụ thể của đối tượng tác động Nhiều trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại choquan hệ xã hội là khách thể của tội phạm nhưng đối tượng tác động của tội phạmkhông bị mất hoặc giảm đi giá trị và giá trị sử dụng so với tình trạng trước khi bị tác

Trang 10

động Ví dụ: Người phạm tội lấy đi một vật là tài sản của người khác, sau đó cất giữ,bảo quản cẩn thận mà không gây ra hư hại gì cho vật đó.

2 Phân loại đối tượng tác động của tội phạm (15 điểm):

- Đối tượng tác động là con người (5 điểm)

Một số tội phạm quy định trong BLHS xâm hại trực tiếp đến thân thể conngười Ví dụ: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác như Tội giếtngười (Điều 123 BLHS), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác (Điều 134 BLHS), đối tượng tác động của tội phạm là con người cụthể Thông qua sự tác động đến con người, người phạm tội xâm phạm đến quyền bấtkhả xâm phạm về thân thể con người, gây chết người (Tội giết người) hoặc gâythương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác)

- Đối tượng tác động của tội phạm là những dạng vật chất cụ thể (5 điểm)

Ví dụ: đối tượng tác động của Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản(Điều 178 BLHS) là tài sản Trong trường hợp này người phạm tội tác động vào tàisản (nhà cửa, kho tàng, xe cộ, các tài sản có giá trị khác) làm tài sản đó mất đi toàn

bộ hoặc một phần giá trị, giá trị sử dụng Trong các tội phạm có tính chất chiếm đoạtnhư Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS),Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS), Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều

172 BLHS), tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đối tượng tác động của tộiphạm cũng là tài sản, nhưng thiệt hại về tài sản không phải là sự biến đổi tình trạngbình thường của giá trị tài sản mà là ở sự biến đổi tình trạng bình thường của tài sảnvới nghĩa là sự chuyển dịch tài sản từ người quản lý tài sản sang người phạm tội)

- Đối tượng tác động của tội phạm là hoạt động bình thường của chủ thể (5điểm)

Ví dụ: Đối tượng tác động của Tội bức tử (Điều 130 BLHS) là hành vi củacon người Người phạm tội tác động đến thái độ xử sự của con người làm biến đổihành vi của người khác, khiến người đó từ chỗ không có ý định tự sát đến chỗ thựchiện hành vi tự sát Đối tượng tác động của Tội bức cung (Điều 374 BLHS) là hành

vi của người bị thẩm vấn Người phạm tội tác động vào hành vi của người bị thẩmvấn làm biến dạng hành vi đó, khiến người đó từ chỗ không khai sai sự thật dẫn đếnđến phải khai sai sự thật Đối tượng tác động của Tội đưa hối lộ (Điều 364 BLHS) làhành vi của người có chức vụ, quyền hạn Người phạm tội (người đưa hối lộ hoặcngười môi giới hối lộ) tác động đến hành vi, nhằm làm biến đổi hành vi của người

có chức vụ, quyền hạn, để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm mộtviệc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ

Trang 11

3 Ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm (5 điểm)

- Là bộ phận của khách thể của tội phạm, xác định đối tượng tác động của tộiphạm có ý nghĩa trong việc định tội Tính chất của đối tượng tác động của tội phạm

là căn cứ phân biệt hành vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội phạm

Ví dụ: Hành vi buôn bán những hàng hóa nhà nước cấm kinh doanh sẽ cấu thànhTội buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)

- Tính chất của đối tượng tác động của tội phạm còn là cơ sở phân biệt giữatội phạm này với tội phạm khác Ví dụ: giữa Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tàisản (Điều 178 BLHS) với Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về anninh quốc gia (Điều 303 BLHS) khác nhau chủ yếu là đối tượng tác động của tộiphạm

- Ngoài ra, xác định đối tượng tác động của tội phạm trong nhiều trường hợpcòn có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt

Câu 7 Phân tích khái niệm, ý nghĩa mặt khách quan của tội phạm

Đáp án:

1 Phân tích khái niệm mặt khách quan của tội phạm (15 điểm)

- Tội phạm là thể thống nhất giữa trạng thái tâm lý bên trong và những biểuhiện ra bên ngoài của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu như cácbiểu hiện lỗi, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội thể hiện trạng thái tâm lý bêntrong của tội phạm thì hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguyhiểm, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện là những biểu hiện bên ngoàicủa tội phạm Tổng hợp những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm được gọi là mặtkhách quan của tội phạm (5 điểm)

- Mỗi tội phạm có những biểu hiện ra bên ngoài khác nhau, song hành vikhách quan nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu được thể hiện trong tất cả tội phạm,còn những dấu hiệu khác như hậu quả nguy hiểm cho xã hội, phương pháp, thủđoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm chỉ thể hiện ở một số các tộiphạm (5 điểm)

- Khái niệm: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạmdiễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan (5 điểm)

2 Phân tích ý nghĩa của mặt khách quan của tội phạm (10 điểm)

- Việc xác định những tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm trước hết

là có ý nghĩa trong việc định tội (xác định hành vi có phải hành vi phạm tội haykhông, nếu có thì phạm tội gì) (4 điểm)

Trang 12

+ Lấy và phân tích ví dụ.

Câu 8 Phân tích khái niệm, đặc điểm và các hình thức biểu hiện của hành vi khách quan của tội phạm

Đáp án:

1 Phân tích khái niệm hành vi khách quan của tội phạm: (5 điểm)

- Tội phạm là hành vi của con người Những gì mới chỉ có trong tư tưởngchưa thể hiện bên ngoài bằng hành vi cụ thể thì không thể là tội phạm Chỉ có bằnghành vi của mình, con người mới có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại chonhững quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ hành vi là những xử sự của conngười ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể (hành độnghoặc không hành động) Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở chỗ hành

vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ (2 điểm)

- Khái niệm: hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người phạm tộithể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây thiệthại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (3 điểm)

2 Đặc điểm hành vi khách quan của tội phạm (10 điểm)

- (4 điểm) Hành vi khách quan của tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hộiđáng kể: Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định là gây thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại đáng kể Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt hành vi phạm tội với nhữnghành vi vi phạm pháp luật khác Khoản 2 Điều 8 BLHS đã quy định: "Những hành

vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng

kể, thì không phải là tội phạm "

- Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự Nói cáchkhác, hành vi khách quan của tội phạm do luật hình sự quy định Một hành vi bị coi

là tội phạm khi hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệu mang tính đặc thù của từng tộiphạm được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS (3 điểm)

Ngày đăng: 05/07/2023, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w