Bốn mươi mốt dòng ngô ngọt ký hiệu từ N1-N41 tự phối đời S8-S10 được đánh giá về các đặc điểm nông học, khả năng chống chịu, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng ăn tư
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng 41 dòng ngô ngọt, được ký hiệu từ N1 đến N41, thuộc thế hệ tự phối từ đời thứ 8 đến 10 Các dòng ngô này được phát triển bởi Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ các giống ngô địa phương thụ phấn tự do trong nước và các giống ngô ngọt lai nhập nội từ Thái Lan và Trung Quốc Đối chứng trong nghiên cứu là dòng thuần ngô ngọt SW1, được phát triển từ giống Sugar 75.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại khu thí nghiệm đồng ruộng, Viện
Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian: vụ Xuân 2021 (từ tháng 1/2021 đến 7/2021)
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội, bao gồm các đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh và đỗ gãy.
- Đánh giá yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
- Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
- Phân tích đa dạng di truyền cúa các dòng thuần ngô ngọt trong vụ Xuân
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội dựa trên kiểu hình
- Chọn lọc cỏc dũng ngụ ngọt ưu tỳ mỏng vỏ ≤ 60àm, o Brix ≥ 16, năng suất hạt ≥ 0,5 tấn/ha phục vụ chọn tạo giống ngô trái cây.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đánh giá các dòng ngô ngọt được thực hiện ngoài đồng ruộng theo phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội, trên diện tích ô thí nghiệm là 14m².
Bảng 3.1 Tên và nguồn gốc các dòng ngô trong thí nghiệm
TT Tên dòng Kí hiệu Đời tự phối Nguồn gốc Màu sắc hạt
1 L2 (64211.1) N01 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
2 4522.1 N02 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
3 6211.2 N03 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
4 7211.1 N04 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
5 2711.4 N05 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
6 33213.1 N06 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
7 822.4 N07 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
8 T40312.2 N08 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
9 D84 N09 8 Trung Quốc Trắng, nhăn nheo
10 T40313.3 N10 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
11 431DT.3 N11 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
12 33121.4 N12 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
13 T40313.5 N13 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
14 UV11142761 N14 8 Trung Quốc Tím, nhăn nheo
15 821.2 N15 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
16 2211.1 N16 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
17 1521.3 N17 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
18 3712.2 N18 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
19 L1.4 N19 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
20 522.4 N20 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
21 4912.2 N21 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
22 3032 N22 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
23 6212.1 N23 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
24 6212.3 N24 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
25 87CE N25 8 Thái Lan Trắng, nhăn nheo
26 2321.3 N26 8 Trung Quốc Tím, nhăn nheo
27 3312 N27 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
28 2932.2 N28 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
29 1611.1 N29 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
30 1111.2 N30 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
31 511.1 N31 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
32 1632.3 N32 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
33 2322.6 N33 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
34 5612.8 N34 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
35 5612.10 N35 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
36 5612.2 N36 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
37 7012.1 N37 8 Thái Lan Vàng, nhăn nheo
38 7012.4 N38 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
39 L1.2 N39 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
40 5812.5 N40 8 Trung Quốc Vàng, nhăn nheo
41 UV N41 10 Việt Nam Tím, nhăn nheo
42 SW1 (đối chứng) SW1 10 Việt Nam Vàng, nhăn nheo
3.4.2 Biện pháp kỹ thuật áp dụng
Ngô ngọt có thể trồng trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất thoát nước với pH từ 5,5 đến 7,0 và có khả năng chịu mặn trung bình Đất cần được cày sâu từ 25-30 cm và bừa nhỏ để đảm bảo độ tơi xốp, bằng phẳng và sạch cỏ dại, với luống rộng 1,2m Khoảng cách trồng lý tưởng là 60cm × 25cm, tương đương với mật độ 67.000 cây/ha Hạt nên được gieo sâu 3-4 cm, mỗi hốc gieo 2-3 hạt, và khi tỉa, chỉ để lại 1 cây cho mỗi hốc.
* Bón phân: Lượng phân bón: 100kg N + 90 P2O5 + 60 K2O
+ Bón lót bằng phân lân và NPK tổng hợp, lượng bón toàn bộ phân lân
Bón thúc cho cây ngô cần chia thành 3 đợt với phân đạm và phân kali Đợt 1, bón 1/3 N và 1/3 K2O khi ngô có 3-5 lá Đợt 2, tiếp tục bón 1/3 N và 1/3 K2O khi ngô đạt 7-9 lá Cuối cùng, đợt 3, bón toàn bộ lượng phân còn lại trong giai đoạn xoắn nõn, khoảng 10-15 ngày trước khi trỗ cờ.
Tưới tiêu nước kịp thời là rất quan trọng để duy trì độ ẩm tối ưu cho cây trồng, với mức độ ẩm khoảng 70-80% trên đồng ruộng Đặc biệt, trong giai đoạn cây ngô phát triển từ 6-7 lá đến khi cây xoắn nõn và chín sữa, cần cung cấp đủ nước để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của cây.
* Chăm sóc: Theo dõi quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô để có biện pháp xử lý kịp thời
+ Giai đoạn cây con tiến hành xới xáo, phá váng, dặm cây
Khi cây được 4-5 lá : làm cỏ, xới xáo kết hợp bón thúc lần 1
Khi cây có 7-9 lá : làm cỏ, bón thúc lần 2, xới xáo vun gốc
Khi ngô xoắn nõn: làm cỏ, bón phân đợt 3, kết hợp vun gốc cao
Để phòng trừ sâu bệnh hiệu quả, việc làm sạch cỏ dại là rất quan trọng nhằm hạn chế sự phát triển của các loại sâu bệnh Cần chú ý đến một số loài sâu bệnh chủ yếu như sâu xám, sâu đục thân, rệp sáp và bệnh khô vằn.
Để đánh giá chất lượng, bắp tươi nên được thu hoạch từ 18-22 ngày sau khi thụ phấn Bắp khô được thu hoạch khi chân hạt xuất hiện vết đen hoặc khi 75% cây có lá bi khô Cần thu hoạch riêng từng cây và phơi riêng bắp cùng lá bi.
3.4.3 Phương pháp theo dõi thí nghiệm ngoài đồng ruộng
Theo Quy chuẩn Việt Nam VCU QCVN01:56-2011/BNNPTNT, việc theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây ngô là rất quan trọng Các chỉ tiêu này bao gồm mức độ nhiễm sâu bệnh hại, tỉ lệ đỗ gãy, chỉ tiêu chất lượng ngô, cũng như các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cuối cùng.
(1) Các giai đoạn sinh trưởng
Ngày gieo, ngày mọc, ngày trổ cờ, tung phấn, ngày phun râu, chênh lệch giữa tung phấn và phun râu, cùng với ngày thu bắp tươi và ngày chín sinh lý là những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển của cây trồng.
(2) Đă ̣c điểm sinh trưởng và phát triển
Chiều cao cây cuối cùng (cm): đo từ gốc sát mă ̣t đất đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên, đo vào giai đoa ̣n chín sữa
Chiều cao đóng bắp (cm): đo từ gốc sát mă ̣t đất đến đốt đóng bắp trên cùng (bắp thứ nhất) vào giai đoa ̣n chín sữa
- Số lá cuối cùng: được xác đi ̣nh vào thời kỳ sau trỗ 15 ngày
- Diê ̣n tích lá và chỉ số diê ̣n tích lá (LAI) thời kỳ chín sữa
Diê ̣n tích lá (m 2 ) đươ ̣c tính theo công thức: S = Ltb x Rtb x 0,7 x Σ số lá
Trong đó: Ltb : Chiều dài trung bình của lá trên cây
Rtb : Chiều rộng trung bình của lá trên cây
0,7 : Hê ̣ số diê ̣n tích lá
Chỉ số diê ̣n tích lá: LAI = Diện tích lá / Diê ̣n tích đất
- Chiều dài bông cờ (cm): đo từ điểm phân nhánh cờ đầu tiên đến đỉnh cờ
- Đường kính gốc (cm)
- Đô ̣ kín lá bi: cho điểm từ 1 đến 5 trong đó:
1 – Rất kín: Lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp
2 – Kín: Lá bi bao kín đầu bắp
3 – Hơi hở: Lá bi không chă ̣t đầu bắp
4 – Hở : Lá bi không che kín đầu bắp, làm hở đầu bắp
5 – Rất hở : Lá bi bao bắp kém, hở đầu bắp nhiều
Độ mở rộng lá bi (husk extension) là phần lá bi mở rộng ở cuối bắp, được đánh giá bằng phương pháp cho điểm Đánh giá này được thực hiện trực quan cho mỗi năm cây trên mỗi dòng sau ba tuần thụ phấn, sử dụng thang điểm từ 1 đến 9 theo Ji & Yamakawa.
1 – không nhìn thấy lá bi mở rộng (dưới 1 cm),
(3) Khả năng chống chi ̣u trên đồng ruô ̣ng
Sâu đục thân (Chilo partellus) và sâu cắn lá được đánh giá thông qua tỷ lệ phần trăm cây bị sâu phá hoại trên tổng số cây trong ô thí nghiệm Việc đánh giá này tuân theo quy chuẩn Việt Nam VCU QCVN01:56-2011/BNNPTNT.
1: 75%) được xác định qua việc đếm số cây bị nghiêng từ 30 độ trở lên so với chiều thẳng đứng Đối với tình trạng đổ gãy thân, điểm số được chấm từ 1 đến 5.
3 – Trung bình : 15 – 30% cây gãy
(4) Cá c yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Sau khi thu hoạch, cần tách bỏ lá bi và phân loại theo từng công thức Mỗi công thức sẽ lấy 10 bắp, bao gồm 3 bắp tốt, 3 bắp xấu và 4 bắp trung bình.
- Số bắp hữu hiê ̣u trên cây: Tổng số bắp trong ô/ Tổng số cây trong ô Đếm số bắp và số cây trong ô lúc thu hoa ̣ch.
- Chiều dài bắp (cm): Không kể lá bi, đo từ đáy bắp đến mút bắp, đo 10 bắp/ô
- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp
- Chiều dài hàng ha ̣t: Đo hàng trung bình nhất của bắp
- Số hàng ha ̣t/bắp: mô ̣t hàng được tính khi có 50% số ha ̣t so với hàng dài nhất
- Số ha ̣t/hàng: Đếm số hạt của hàng có chiều dài trung bình của bắp
- Khối lươ ̣ng 1000 ha ̣t (g) ở đô ̣ ẩm 14%
- Đô ̣ ẩm ha ̣t đo bằng máy đo độ ẩm GMT PM – 400
- Năng suất bắp tươi (NSBT tấn/ha): Thu và cân bắp giai đoạn chín thu hoạch, cân cả lá bi
- Năng suất lý thuyết (NSLT tấn/ha ): năng suất lý thuyết ở độ ẩm 14% trên ô được tính theo công thức :
NSLT =HHB × HH × P1000 × BC × MD
100.000 Trong đó : HHB : Số hàng hạt/ bắp
HH : Số hạt/ hàng P1000 hạt (g): Khối lượng 1000 hạt ở ẩm độ 14%
BC: Số bắp/ cây MD: Mật độ cây/ha (67000 cây/ha)
(5) Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng
+ Chỉ số đại diện độ ngọt o Brix: Đo theo phương pháp của Bumgarner và Kleinhenz (2012) bằng khúc xạ kế đo độ ngọt điện tử ATAGO PAL-1 (Model
3810, Atago co.,Ltd, Nhật Bản)
Độ dày vỏ hạt được đánh giá bằng vi trắc kế tại ba vị trí: mặt trước hạt, mặt sau hạt và đỉnh hạt theo phương pháp của Wolf & cs (1969) Nghiên cứu của Eunsoo Choe (2010) về ngô đã chỉ ra rằng độ dày vỏ hạt phù hợp cho tiêu dùng ăn tươi nằm trong khoảng từ 35μm đến 60μm.
- Hạt được ngâm trong nước 3 – 4 giờ tại nhiệt độ phòng
- Phần đầu hạt và chân hạt cắt bỏ đi, vỏ hạt bị bóc chia thành 3 phần: mặt trước hạt, mặt sau hạt và đỉnh hạt
- Mảnh vỏ hạt cắt được đặt trong dung dịch nước: glycerol tỷ lệ 1:3 trong
24 giờ ở nhiệt độ phòng Mảnh vỏ đưa ra khỏi dung dịch thấm khô, đặt trong môi trường 25 o C, độ ẩm 50% trong 24 giờ
- Độ dày vỏ đo bằng vi trắc kế (Model Ames No 240) máy so độ dày No
416 chỉ số đồng hồ ngược, đường kính ống 1,66mm cho 1g khối lượng
Bảng 3.3 Xác định các tính trạng vỏ hạt và cấu trúc hạt
Tính trạng Ký hiệu Phương pháp đo và tính
Mặt trước hạt MT Đo vỏ ở mặt bờn hạt cú phụi lừm àm
Mặt sau hạt MS Đo vỏ ở mặt bờn hạt khụng cú phụi àm Đỉnh hạt ĐH Đo vỏ phần đỉnh hạt
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được tổng hợp và tính giá trị trung bình bằng phần mềm Microsoft Excel Phân tích phương sai (ANOVA) và tính toán CV%, LSD0,05 được thực hiện bằng phần mềm Statistix ver 10 Đồ thị được tạo ra bằng gói “ggplot2” trên phần mềm R 4.1.0 (R Core Team, 2021).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng ngô trái cây trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội, việc áp dụng giống cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn đang trở thành giải pháp quan trọng trong nền nông nghiệp thâm canh cao, khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Thời gian sinh trưởng, từ khi gieo hạt đến khi chín sinh lý hoàn toàn (khoảng 94-107 ngày), là chỉ tiêu quan trọng trong chọn giống cây trồng, đặc biệt là giống ngô Thời gian sinh trưởng được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ gieo đến trỗ cờ) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực (từ trỗ cờ đến chín hoàn toàn) Độ dài của mỗi giai đoạn phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc Nghiên cứu thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn có ý nghĩa lớn trong khoa học và sản xuất, giúp giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ điều kiện bất thuận đến sự phát triển của cây ngô.
Thời gian sinh trưởng là yếu tố quan trọng để phân loại các giống ngô thành nhóm chín sớm, chín trung bình và chín muộn Điều này giúp chúng ta bố trí giống ngô vào các cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phù hợp với thời vụ và điều kiện ngoại cảnh của từng vùng Qua việc theo dõi và đánh giá sinh trưởng, phát triển của các giống ngô trong vụ Xuân 2021 tại Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, chúng tôi đã thu được kết quả đáng chú ý như được trình bày trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Dòng Gieo – Tung phấn (ngày)
Gieo – Thu bắp tươi (ngày)
Thời gian sinh trưởng (ngày) ASI (ngày)
4.1.1 Giai đoạn từ gieo đến tung phấn Đây là giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, cây phát triển mạnh mẽ có thời gian sinh trưởng dài nhất quyết định chủ yếu đến TGST của cây ngô Giai đoạn này nếu dòng ngô nào bị nhiễm sâu bệnh thì khả năng sinh trưởng sẽ chậm hơn so với các dòng bình thường Giai đoạn này quyết định việc tích luỹ chất dinh dưỡng trên thân lá, đây cũng là giai đoạn trong cây ngô diễn ra quá trình phân hoá bông cờ và bắp, nên ảnh hưởng lớn đến năng suất ngô
Thời gian ngô tung phấn kéo dài từ 7 đến 10 ngày, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây ngô Hiểu rõ thời gian này cho phép chúng ta điều chỉnh thời vụ trồng hợp lý, đảm bảo quá trình thụ phấn và thụ tinh diễn ra thuận lợi, từ đó nâng cao năng suất thu hoạch ngô.
Theo bảng 4.1, thời gian từ khi gieo đến khi tung phấn của các dòng dao động từ 61 đến 77 ngày Dòng đối chứng (SW1) có thời gian ngắn nhất là 61 ngày, trong khi hai dòng N01 và N03 mất 62 ngày Hai dòng N24 và N25 tung phấn muộn hơn dòng đối chứng 16 ngày, với thời gian lần lượt là 75 và 77 ngày.
4.1.2 Giai đoạn từ gieo phun râu
Giai đoạn chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực của cây ngô đánh dấu sự ổn định về số lá và chiều cao Mặc dù chiều cao cây tăng chậm dần, nhưng bộ rễ, đặc biệt là rễ chân kiềng, vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ Sự xuất hiện nhiều rễ chân kiềng cắm sâu xuống đất giúp cây tăng cường khả năng hút nước và chống đổ.
Trong giai đoạn này, hạt phấn rất nhạy cảm với điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và sâu bệnh Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể dẫn đến cái chết của hạt phấn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thụ phấn và thụ tinh Do đó, cần bón thúc dinh dưỡng, đảm bảo cung cấp đủ nước và ánh sáng, cũng như phòng trừ sâu bệnh Đặc biệt, việc vun gốc là cần thiết để tăng cường khả năng chống đổ cho cây ngô.
Giai đoạn từ khi gieo cho tới lúc phun râu của các dòng dao động từ 64 –
Trong 77 ngày, dòng N01, N03 và dòng đối chức (SW1) có thời điểm phun râu là 64 ngày, trong khi các dòng N09, N14, N23, N24, N25 lại phun râu muộn hơn SW1 13 ngày.
4.1.3 Chênh lệch giữa tung phấn, phun râu
Sự chênh lệch thời gian giữa tung phấn và phun râu của giống ngô ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thụ phấn, chất lượng phấn và năng suất hạt Những giống ngô có thời gian chênh lệch ngắn sẽ có lượng phấn tham gia thụ phấn nhiều hơn, dẫn đến khả năng kết hạt cao hơn, số hàng hạt và số hạt trên hàng lớn hơn, từ đó nâng cao năng suất Ngược lại, sự chênh lệch thời gian dài sẽ làm giảm khả năng nhận phấn, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và năng suất của giống ngô.
Theo bảng 4.1, các dòng có sự chênh lệch thời gian tung phấn và phun râu dao động từ 1-5 ngày Đặc biệt, hầu hết các dòng có sự chênh lệch 3 ngày, tương đương với dòng đối chứng (SW1), bao gồm các dòng N04, N05, N15, N18, N19, N21, N27, N32, N33, N35, N36, N37 Dòng N02 ghi nhận sự chênh lệch lớn nhất với 5 ngày, trong khi các dòng N16 và N20 có sự chênh lệch 4 ngày Các dòng còn lại có sự chênh lệch từ 1-2 ngày, với dòng N14 là duy nhất có thời điểm tung phấn và phun râu cùng ngày.
4.1.4 Giai đoạn từ gieo đến thu bắp tươi
Sau khi thụ phấn, hạt ngô hình thành và bắt đầu tích lũy chất dinh dưỡng từ thân, rễ, và lá Cây ngô chuyển toàn bộ dinh dưỡng vào bắp, với phần lớn sản phẩm quang hợp được cung cấp trực tiếp cho hạt Các dòng ngô có lá màu xanh hoặc xanh đậm có khả năng quang hợp cao hơn, dẫn đến năng suất hạt tăng Việc đánh giá thời gian thu hoạch bắp tươi là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng cao, giá bán tốt và thu hoạch thuận lợi.
Theo bảng số liệu, thời gian sinh trưởng của các dòng từ khi gieo đến lúc thu bắp tươi dao động từ 82 đến 95 ngày Cụ thể, dòng N01 và N03 có thời gian sinh trưởng tương đương với dòng đối chứng SW1 là 82 ngày, trong khi các dòng N09, N14, N23, N24 và N25 có thời gian sinh trưởng dài hơn, đạt 95 ngày.
4.1.5 Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý Ở thời kỳ này tất cả các chất dinh dưỡng từ thân lá và các bộ phận khác đều được vận chuyển về để nuôi bắp, cung cấp cho bắp chất dinh dưỡng Khi hạt ngô tích lũy chất khô đến khối lượng tối đa thì hạt cứng lại, chân hạt có vết đen, thân lá bắt đầu ngả màu và khô dần Giai đoạn từ phun râu đến chín sinh lý phụ thuộc rất nhiều vào bản chất di truyền của giống
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01 -56: 2011/BNNPTNT, ngô được phân nhóm theo thời gian sinh trưởng tại miền Bắc Việt Nam: nhóm chín sớm có thời gian sinh trưởng dưới 105 ngày, nhóm chín trung bình từ 105 đến 120 ngày, và nhóm chín muộn trên 120 ngày Thời gian sinh trưởng của cây ngô không chỉ phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng kiểu gen mà còn bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố ngoại cảnh.
Các dòng ngô thí nghiệm thuộc nhóm ngô chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 94 đến 107 ngày Trong đó, dòng N01, N03 và SW1 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 94 ngày, trong khi các dòng N09, N14, N23, N24 và N25 có thời gian sinh trưởng lâu nhất là 107 ngày.
Một số đặc điểm nông học của các dòng ngô ngọt vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Mỗi giống ngô có những đặc điểm hình thái riêng biệt, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất thu hoạch Đặc điểm hình thái của các giống ngô trong thí nghiệm được đánh giá qua một số chỉ tiêu cụ thể.
Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, diện tích lá và độ che kín bắp là những tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và khả năng chống chịu của cây ngô Đặc điểm hình thái của các dòng ngô giúp các nhà chọn giống dự đoán chính xác đặc điểm hình thái của con lai và đánh giá độ thuần của các dòng trên đồng ruộng Việc này cho phép loại bỏ những dòng không đạt yêu cầu, từ đó giảm chi phí trong công tác chọn tạo dòng thuần Đồng thời, thông qua đặc điểm hình thái, có thể lựa chọn các dòng ngô triển vọng với khả năng sinh trưởng mạnh và tiềm năng năng suất cao.
4.2.1 Chiều cao cây cuối cùng
Chiều cao cây được đo từ mặt đất đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên, là tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống ngô, phản ánh khả năng sinh trưởng và phát triển của giống Giống cao cây có khả năng nhận ánh sáng mặt trời tốt hơn so với giống thấp cây, tuy nhiên, kiểu lá cũng ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ánh sáng Những giống có lá mọc đứng thường hấp thụ nhiều ánh sáng hơn so với giống có lá xoè rộng Chiều cao cây cũng liên quan đến tính chống đổ; giống cao nhưng thân yếu dễ bị đổ khi gặp bão hơn giống thấp nhưng thân khỏe Điều này ảnh hưởng đến số lá trên cây và hiệu quả thu hoạch, từ đó quyết định mật độ và chế độ trồng xen với các loại cây trồng khác để tăng hiệu quả kinh tế.
Bảng 4.2 Một số đặc điểm nông sinh học của các dòng ngô ngọt vụ Xuân
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Dòng Chiều cao cây (cm)
Chiều cao đóng bắp (cm)
Theo bảng 4.2, sự chênh lệch chiều cao cây cuối cùng của các dòng ngô thí nghiệm dao động từ 61,4 đến 103,2 cm Các dòng N41 (61,4 cm), N14 (66,7 cm), và N28 (68,0 cm) có chiều cao thấp hơn dòng đối chứng SW1 (72,3 cm) Ngược lại, dòng N02 và N03 là hai dòng cao nhất, lần lượt đạt 102,3 cm và 101,9 cm, vượt trội so với dòng đối chứng Tất cả các dòng ngô thí nghiệm và đối chứng đều thuộc nhóm cây thấp, với chiều cao cuối cùng dưới 150 cm (theo TCN 2006) Trong việc chọn giống ngô, kiểu hình cây thấp được ưu tiên do khả năng chống đổ và khả năng chịu thâm canh tốt.
Chiều cao đóng bắp, tính từ mặt đất đến đốt mang bắp hữu hiệu đầu tiên, là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chống đổ, nhận phấn và thu hoạch cơ giới của ngô Việc theo dõi và đánh giá chiều cao đóng bắp là cần thiết để xác định chất lượng giống ngô Chiều cao này phụ thuộc vào tính di truyền, trình độ thâm canh, và điều kiện khí hậu; trong điều kiện nhiệt độ cao và dinh dưỡng đầy đủ, cây ngô thường có chiều cao đóng bắp cao hơn Những cây ngô sinh trưởng mạnh thường có vị trí đóng bắp cao hơn so với những cây sinh trưởng kém.
Vị trí đóng bắp ngô có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng chống đổ và khả năng nhận phấn Đóng bắp ở vị trí cao giúp giảm khoảng cách giữa bắp và cờ, từ đó tăng khả năng nhận phấn Tuy nhiên, nếu chiều cao đóng bắp quá cao, cây ngô sẽ dễ bị đổ Ngược lại, nếu đóng bắp quá thấp, cây có khả năng chống đổ tốt hơn nhưng lại dễ bị sâu bệnh và chuột phá hoại Theo các nhà khoa học, vị trí đóng bắp lý tưởng nhất là ở khoảng giữa thân cây.
Vị trí đóng bắp của cây ảnh hưởng đến khả năng chống đổ, với bắp thấp có thể tăng cường sức chống đổ Tuy nhiên, nếu bắp đóng quá thấp, cây sẽ dễ bị sâu bệnh và chuột phá hoại Các nhà khoa học khuyến nghị rằng vị trí đóng bắp lý tưởng nhất là ở khoảng giữa thân cây.
Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy chiều cao đóng bắp của các dòng dao động từ 16,7 đến 48,2 cm Trong khi dòng đối chứng có chiều cao trung bình là 26,7 cm, một số dòng như N11 (19,1 cm), N21 (20,3 cm), và N28 (16,7 cm) có chiều cao thấp Ngược lại, các dòng N03 (48,2 cm), N30 (37,2 cm), N38 (38,3 cm), và N39 (39,7 cm) thể hiện chiều cao nổi bật.
4.2.3 Tỉ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây Để có khả năng chống đổ tốt nhất khả năng nhận phấn tối ưu và thu hoạch cơ giới thuận lợi thì theo tính toán người ta cho rằng chiều cao đóng bắp của một cõy nờn bằng ẵ chiều cao thõn của cõy đú là hợp lý, tương đương với tỉ lệ chiều cao đóng bắp trên cao cây đạt giá trị khoảng 40 - 50% (Vũ Văn Liết & Đồng Huy Giới, 2006; Zhang & cs., 2006)
Chiều cao đóng bắp của cây ngô ảnh hưởng lớn đến khả năng thụ tinh và năng suất Chiều cao hợp lý giúp bắp ngô dễ nhận phấn, từ đó tăng cường quá trình thụ tinh và tích lũy chất dinh dưỡng, nâng cao năng suất Tuy nhiên, nếu chiều cao quá cao, cây dễ bị đổ gãy mặc dù khả năng nhận phấn tốt Ngược lại, chiều cao quá thấp sẽ làm giảm khả năng nhận phấn nhưng lại ít bị đổ hơn.
Các dòng có tỉ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây nhỏ hơn 50% như N05 (21,9%), N11 (23,4%), N21 (21,2%), N28 (24,5%) dễ bị sâu bệnh phá hoại hơn so với dòng đối chứng SW1 (36,9%) Ngược lại, các dòng N03 (47,3%), N31 (41,1%), N38 (45,5%), N39 (43,5%), N41 (43,6%) có chiều cao đóng bắp thích hợp, giúp chúng có khả năng chống đổ tốt hơn và ít bị chuột, sâu xâm nhập.
Chiều dài bông cờ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng hạt phấn và khả năng thụ phấn Theo bảng 4.2, hầu hết các dòng có chiều dài bông cờ cao hơn đối chứng SW1 (18,2 cm), với một số dòng nổi bật như N4 (36,5 cm), N19 (30,7 cm) và N24 (30,0 cm) Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số dòng có chiều dài bông cờ ngắn như N08 (18,0 cm), N23 (16,0 cm) và N37 (17,2 cm).
Theo bảng 4.2, số nhánh cờ cấp 1 của các dòng có sự chênh lệch lớn, dao động từ 4,7 đến 19,7 nhánh Dòng đối chứng SW1 có số nhánh cờ trung bình là 11,5 nhánh, trong khi một số dòng như N31 (19,7 nhánh), N19 (16,7 nhánh), N41, N39, và N12 đều có số nhánh cờ cấp 1 cao (15,3 nhánh) Ngược lại, một số dòng như N11 (4,7 nhánh), N15 (5,7 nhánh), và N20 (6,7 nhánh) lại có số nhánh cờ cấp 1 rất thấp.
Các giống ngô có kiểu hình lá đứng (góc lá thẳng) giúp tối ưu hóa khả năng thu nhận ánh sáng cho quang hợp, từ đó nâng cao năng suất hạt Góc và hướng lá thẳng không chỉ cải thiện hiệu quả thu nhận ánh sáng mà còn tạo điều kiện cho sự lưu thông không khí trong điều kiện mật độ cao Lá đứng cho phép ánh sáng xuyên sâu hơn vào tán cây, đồng thời có khả năng tiếp nhận ánh sáng ở cường độ thấp hơn so với lá rủ Theo bảng 4.2, góc lá của các dòng ngô thí nghiệm dao động từ 25,3° đến 61,3° Một số dòng như N08, N18, N21 và N36 có góc lá tương đương với dòng đối chứng SW1, trong khi các dòng N11, N37, N38 và N40 có góc lá lớn hơn Ngược lại, một số dòng như N07, N10 và N26 có góc lá nhỏ hơn.
Một số đặc điểm hình thái của các dòng ngô ngọt vụ trong Xuân 2021 tại
Số lá cuối cùng trên cây ngô là một đặc trưng quan trọng của mỗi dòng, giống, và ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường Tổng số lá này là cơ sở để xác định các biện pháp kỹ thuật và mật độ trồng phù hợp, nhằm tối ưu hóa khả năng nhận ánh sáng và quang hợp cho cây.
Theo bảng 4.3, tổng số lá trên cây của các dòng thí nghiệm dao động từ 8 đến 11,3 lá Ngoại trừ dòng N32 và N40 có tổng số lá bằng 8, tương đương với dòng đối chứng (SW1), các dòng thí nghiệm khác đều có số lá cao hơn Một số dòng nổi bật với số lá cao như N01, N02, N04, N19, N22, N30, N35, N36, N38, N39 đều có 10 lá; N03, N31, N37 có tổng số lá là 10,7; và N29 đạt tổng số lá 11,3.
Chiều dài lá của các dòng ngô thí nghiệm dao động từ 39,1 đến 79,4 cm Các dòng N06 (57,9 cm), N15 và N28 (58,0 cm) có chiều dài lá tương đương với dòng đối chứng (57,3 cm) Một số dòng như N20 (47,9 cm) và N21 có chiều dài lá trung bình ngắn hơn so với dòng ngô đối chứng.
(39,1cm), N23 (43,5cm) các dòng N12 (78,4cm), N13 (76,6cm), N19 (76,9cm) có chiều dài lá lớn hơn dòng đối chứng
Chiều rộng của lá dao động từ 4,5 đến 9 cm, với một số dòng như N02 và N14 có chiều rộng tương đương dòng đối chứng (7,5 cm) Một số dòng có chiều rộng lớn hơn bao gồm N27 (9,0 cm), N33 (8,6 cm) và N36 (8,4 cm) Ngược lại, các dòng N21 (4,7 cm), N24 (4,5 cm) và N26 (4,7 cm) có chiều rộng nhỏ hơn so với dòng đối chứng.
Bảng 4.3 Một số đặc điểm hình thái của các dòng ngô trái cây vụ Xuân
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội Dòng Tổng số lá Chiều dài lá (cm) Chiều rộng lá (cm) Chỉ số diện tích lá
4.3.4 Chỉ số diện tích lá (LAI)
Chỉ số diện tích lá (LAI) của các dòng nghiên cứu nằm trong khoảng từ 1,2 đến 3,6, với dòng đối chứng có LAI là 2,3 Các dòng có chỉ số diện tích lá cao bao gồm N02, N13, N14 (3,1); N16, N33 (3,0); N17, N39 (3,2); N12, N31, N38 (3,3); N19 (3,5); và N36 (3,6) Ngược lại, một số dòng có chỉ số diện tích lá thấp như N10 (1,8), N20 (1,5), N21 (1,2), N22 (1,7), N23 và N26 (1,6), N4 (1,4).
Mức độ sâu bệnh hại tự nhiên của các dòng ngô ngọt vụ trong Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Ngô, giống như các loại cây trồng khác, thường xuyên phải đối mặt với nhiều dịch hại trong quá trình sinh trưởng, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt Theo nghiên cứu, dịch hại có thể gây tổn thất khoảng 38% năng suất ngô hàng năm Trong từng giai đoạn phát triển, ngô bị tấn công bởi nhiều loại sâu bệnh, đặc biệt là trong giai đoạn từ khi mọc đến 5-6 lá, khi sâu xám và sâu cắn nõn gây hại mạnh Các bệnh như đốm lá nhỏ và bệnh khô vằn cũng xuất hiện từ giai đoạn 7-9 lá, làm giảm hiệu suất quang hợp và ảnh hưởng đến năng suất Mức độ sâu bệnh phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa vụ và đặc tính di truyền của giống ngô Do đó, việc đánh giá khả năng chống chịu của giống ngô đối với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh là rất quan trọng để chọn ra những giống có năng suất cao và phù hợp với khí hậu địa phương.
Đặc tính chống chịu sâu bệnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của các dòng ngô Việc không theo dõi tình trạng sâu bệnh có thể dẫn đến giảm năng suất và chất lượng, thậm chí một số bệnh có thể gây mất hoàn toàn năng suất Do đó, đánh giá khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện bất thuận là cần thiết để tìm ra những dòng ngô có khả năng chống chịu tốt.
Qua theo dõi ta thấy, trong thí nghiệm với các dòng và đối chứng vụ Xuân
Năm 2021, trên đồng ruộng không xảy ra tình trạng đổ rễ và gãy thân, tuy nhiên, một số loại sâu bệnh như sâu đục thân và bệnh gỉ sắt đã xuất hiện, với mức độ gây hại được trình bày cụ thể trong bảng 4.4.
Sâu đục thân (Chilo partellus) là một trong những loại sâu hại chính trên cây ngô, gây thiệt hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng và trên mọi bộ phận của cây như lá, thân, bắp và bông cờ Sự tấn công của chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng ngô.
Kết quả theo dõi cho thấy tỷ lệ sâu đục thân trên các THL dao động từ 5 đến 15%, tương ứng với thang điểm 1 – 2 Sâu đục thân là loài sâu hại nghiêm trọng trên cây ngô, ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn sinh trưởng và các bộ phận như lá, thân, bắp, và bông cờ, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng ngô Qua thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy sâu đục thân bắt đầu phát sinh khi cây ngô ở giai đoạn 4-6 lá và tiếp tục gây hại cho đến khi thu hoạch bắp.
Bảng 4.4 Mức độ sâu bệnh hại tự nhiên của các dòng ngô ngọt vụ Xuân
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Theo bảng số liệu, tỉ lệ sâu đục bắp trên đồng ruộng ở mức nhẹ và vừa, với các dòng nhiễm đạt mức 1-2 Trong số đó, các dòng N3, N6, N7, N10, N18, N22, N32, NN33, N35, N37, N40 và đối chứng (SW1) bị nhiễm ở mức 2, trong khi các dòng còn lại chỉ nhiễm bệnh ở mức 1.
Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia maydis là một bệnh nấm phổ biến trên cây ngô, chủ yếu ảnh hưởng đến lá và thân Vết bệnh có màu vàng sẫm và chứa khối bột màu nâu đỏ, khi phát triển mạnh sẽ làm lá khô rụi, ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp và giảm năng suất ngô Theo dõi cho thấy tất cả các dòng đều có mức nhiễm bệnh nhẹ (mức 1).
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani Kuhn gây hại nghiêm trọng cho cây ngô trong các vụ đông, xuân và hè thu Đặc biệt, trong vụ ngô xuân, bệnh thường phát sinh mạnh vào giai đoạn 6 - 7 lá, làm tăng tỉ lệ bệnh đến thời kỳ ra bắp và thu hoạch, dẫn đến cây non bị khô chết hoặc bắp ngô bị thối hỏng Bệnh xuất hiện trên các bộ phận như phiến lá, bẹ lá, thân và bắp ngô, tạo ra các vết lớn màu xám tro với hình dạng bất định Theo quan sát, tỉ lệ cây mắc bệnh khô vằn ở các dòng ngô thí nghiệm chỉ đạt 5%, với một số dòng như N05, N07, N09, N16, N20, N25, N28 có triệu chứng bệnh, trong khi các dòng khác không bị ảnh hưởng.
Cấu trúc bắp của các dòng ngô ngọt vụ trong Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Chiều dài và đường kính bắp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất ngô, phụ thuộc vào di truyền của từng kiểu gen và tác động từ môi trường Bài viết đánh giá cấu trúc bắp của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân.
2021 tại Gia Lâm, Hà Nội được trình bày qua bảng 4.5
Bảng 4.5 Cấu trúc bắp của các dòng ngô ngọt vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm,
Hà Nội Dòng Chiều dài bắp (cm) Đường kính bắp (cm) Độ che kín bắp
(điểm 1-5) Độ mở rộng lá bi
Chiều dài của bắp dao động từ 7,6 đến 15,8 cm, với dòng đối chứng SW1 có chiều dài trung bình là 9,6 cm Một số dòng có chiều dài bắp ngắn hơn như N06 (8,6 cm), N23 (8,0 cm), N40 (7,6 cm), trong khi các dòng N04 (15,2 cm), N05 (14,0 cm), và N20 (15,8 cm) lại có chiều dài bắp vượt trội Các dòng N11 (9,4 cm), N12 (9,2 cm), N19 (9,7 cm), và N37 (9,9 cm) có chiều dài bắp tương đương với dòng đối chứng.
4.5.2 Đường kính bắp Đường kính bắp liên quan đến số hàng hạt trên bắp, còn chiều dài bắp liên quan đến số hạt trên cùng một hàng và đều ảnh hưởng đến năng suất ngô lúc thu hoạch Bảng 4.5 chi ra rằng đường kính bắp nằm trong khoảng từ 2,5-4,4 cm Trong thí nghiệm thu được một số dòng có đường kính bắp nhỏ hơn dòng đối chúng (3,4 cm): N07 (2,7 cm), N23 (2,5 cm), N37 (2,7 cm) Trong đó thì vẫn có những dòng có đường kính lớn hơn dòng đối chứng: N29 (4,1 cm), N33 (4,3 cm), N39 (4,4 cm)
Các dòng ngô thí nghiệm đều có độ che kín bắp ở điểm 1 rất kín, lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp
4.5.4 Độ mở rộng lá bi Độ mở rộng lá bi được xem là cơ chế vật lý kháng sâu đục bắp (Moore & Tracy, 2021) Tuy nhiên hiện có nhiều nghiên cứu đối lập nhau về cả tác động tiêu cực và tích cực của độ mở rộng lá bi tới mẫu mã và chất lượng bắp
Kết quả đánh giá theo thang điểm của Ji & Yamagata (2009) cho thấy các dòng ngô ngọt có độ đa dạng cao về độ mở rộng lá bi Các dòng có độ mở rộng lá bi lớn, đạt điểm 4 trở lên, bao gồm N18, N20, N25, N27, N29, N32 và N41.
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Dòng Số hàng hạt/bắp
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Năng suất thực thu (tấn/ha)
Số hàng hạt trên bắp chủ yếu phụ thuộc vào đường kính bắp và kích thước hạt Đây là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của các dòng ngô, được quy định bởi yếu tố di truyền và ít bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh.
Theo bảng 4.6, số hàng hạt trên mỗi bắp dao động từ 6,7 đến 14 hàng Ngoài dòng đối chứng, các dòng N07, N09, N11, N14, N16, N17, N33, N34, N35, N37, và N39 đều có số hàng hạt bằng nhau là 12 hàng Một số dòng như N27 và N22 có số hàng thấp (9,3 hàng), trong khi dòng N18 chỉ có 8,7 hàng Ngược lại, các dòng N15, N28, và N30 có số hàng cao nhất với 14 hàng, và N26, N38, N41 đạt 13,3 hàng.
Số hạt trên hàng là yếu tố quan trọng thể hiện khả năng kết hạt của các tổ hợp lai, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng tung phấn, khả năng nhận phấn của râu, điều kiện khí hậu, và các giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu, cũng như chiều dài bắp của từng giống.
Theo bảng 4.6, số hạt trên mỗi hàng dao động từ 12 đến 30,7 hạt/hàng Trong khi dòng đối chứng có 21,0 hạt/hàng, một số dòng như N06 (14,3 hạt/hàng), N17 (12 hạt/hàng) và N23 (13,3 hạt/hàng) có số hạt thấp hơn Ngược lại, các dòng N31 (29 hạt/hàng), N32 (30,7 hạt/hàng) và N33 (29,3 hạt/hàng) lại cho thấy số hạt khá cao.
4.6.3 Khối lượng 1000 hạt (gam) (P1000 hạt)
Khối lượng 1000 hạt chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng dòng ngô, cũng như chế độ dinh dưỡng và nước tưới Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc chọn giống và đánh giá giống, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất Năng suất hạt của giống ngô thường bị tác động bởi P 1000 hạt, mà P 1000 hạt lại phụ thuộc chủ yếu vào di truyền và tích lũy dinh dưỡng của các dòng ngô ngọt Thêm vào đó, mật độ và kỹ thuật canh tác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng hạt.
Theo bảng số liệu 4.6, khối lượng 1000 hạt của các dòng ngô dao động từ 55,1 đến 114,6 g Dòng đối chứng có khối lượng trung bình là 84,1 g, trong khi dòng N23 đạt khối lượng cao nhất là 114,6 g, tiếp theo là dòng N02 với 105,4 g Ngược lại, một số dòng như N37 và N29 có khối lượng 1000 hạt thấp, chỉ đạt 55,1 g và 55,2 g.
4.6.4 Năng suất lý thuyết (NSLT)
Năng suất lý thuyết (NSLT) là một chỉ tiêu quan trọng trong việc chọn tạo giống ngô, được xác định bởi nhiều yếu tố cấu thành như số bắp trên cây, số hàng hạt trên bắp, số hạt trên hàng và khối lượng 1000 hạt Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng đến năng suất tổng thể của giống ngô.
Năng suất lý thuyết của các dòng dao động từ 0,65 đến 2,06 tấn/ha Trong đó, các dòng N15 (2,00 tấn/ha), N33 (2,06 tấn/ha) và N34 (2,02 tấn/ha) có năng suất lý thuyết cao hơn dòng đối chứng là 1,42 tấn/ha Ngược lại, một số dòng như N06 (0,65 tấn/ha), N22 (0,66 tấn/ha) và N17 (0,67 tấn/ha) lại có năng suất lý thuyết thấp hơn so với dòng đối chứng.
4.6.5 Năng suất thực thu (NSTT)
Năng suất được xem là mục tiêu tối thượng mà các nhà chọn tạo giống hướng tới, vì vậy, nó đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá thành công của các giống cây trồng.
Năng suất của giống ngô phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm số hàng hạt trên mỗi bắp, số hạt trong mỗi hàng và trọng lượng 1000 hạt Những yếu tố này quyết định chất lượng của giống ngô, giúp xác định liệu đó có phải là giống tốt hay xấu.
Năng suất của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào tính di truyền của giống mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, đất đai và kỹ thuật chăm sóc Đặc biệt, đối với dòng ngô phục vụ cho việc chọn tạo giống ngô trái cây, năng suất bắp tươi là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá giống mới trước khi đưa vào sản xuất.
Hình 4.1 Năng suất thực thu của các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại
Trong quá trình theo dõi và đánh giá, năng suất thực thu trung bình (NSTT) của các dòng ngô trong thí nghiệm dao động từ 0,40 đến 1,36 tấn/ha, như thể hiện trong Bảng 4.6 và Hình 4.1.
Các dòng có NSTT cao hơn đối chứng với mức ý nghĩa thống kê P < 0,05 bao gồm N15 (1,35 tấn/ha), N33 (1,26 tấn/ha) và N34 (1,36 tấn/ha) Ngược lại, các dòng thấp hơn đối chứng SW1 với mức ý nghĩa thống kê P < 0,05 bao gồm N06 (0,40 tấn/ha), N17 và N22 (0,41 tấn/ha).
Một số dòng có NSTT tương đương đối chứng với ý nghĩa thống kê P < 0,05 bao gồm: dòng N01 và N19 đạt năng suất 0,90 tấn/ha, dòng N04 đạt 0,85 tấn/ha, dòng N09 đạt 0,80 tấn/ha, dòng N21 đạt 0,89 tấn/ha, và dòng N29 đạt 0,85 tấn/ha.
4.7 Các chỉ tiêu chất lượng của các dòng ngô vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm,
4.7.1 o Brix Độ brix của các dòng ngô ngọt cho biết hàm lượng chất hòa tan trong hạt ngô, chủ yếu là hàm lượng đường và hàm lượng axit hòa tan Các dòng ngô thí nghiệm trên đều là các dòng ngô có độ ngọt cao Độ Brix đo được của các dòng ngô thí nghiệm dao động từ 13,4 – 19,6%
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu chất lượng các dòng ngô ngọt vụ Xuân 2021 tại Gia
Dòng o Brix Dày vỏ hạt - Đỉnh (àm) Dày vỏ hạt -
Mặt trước (àm) Dày vỏ hạt -
Mặt sau (àm) Dày vỏ hạt -
Trong đó có các dòng độ Brix cao nổi bật hơn so với dòng ngô đối chứng(16,5%): N04 (18,0%), N05 (19,6%), N09 (18,6%), và có một số dòng độ Brix chỉ đạt ở mức 13,4 % (N08), 13,6% (N11, N34), 13,7% (N15, N18)
Hình 4.2 O Brix và độ dày vỏ hạt trung bình (DVH) của các dòng ngô ngọt nghiên cứu trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội
Tương quan giữa các tính trạng nông học các dòng ngô ngọt trong vụ Xuân
Trong nghiên cứu chọn giống cây trồng, sự thay đổi của một thuộc tính có thể dẫn đến sự thay đổi của thuộc tính khác, được gọi là sự tương quan giữa hai biến Ví dụ, có thể thấy sự tương quan giữa mức bón đạm và năng suất của giống lúa lai Mối quan hệ giữa các cặp giá trị quan sát (xi, yi) được xác định thông qua hệ số tương quan Pearson, ký hiệu là r, giúp đo lường mức độ liên kết giữa hai biến.
65 kê kiểm tra đo lường mối quan hệ thống kê hoặc liên kết giữa các biến phụ thuộc với các biến liên tục
Hình 4.3 Biểu đồ nhiệt biểu thị sự tương quan giữa các tính trạng theo dõi
Biểu đồ nhiệt thể hiện sự tương quan giữa các tính trạng của dòng ngô ngọt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội Chỉ số diện tích lá (LAI) có mối tương quan thuận và chặt với chiều dài lá (r = 0,82***) và chiều rộng lá (r = 0,73***) ở mức ý nghĩa thống kê p