1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi ôn thi công chức môn luật hình sự + đáp án

14 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn thi công chức môn luật hình sự + đáp án
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Tài liệu ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi ôn thi công chức môn luật hình sự + đáp án Phân tích khái niệm và các đặc điểm của tội phạm trong luật hình sự việt nam? Phân tích khái niệm cấu thành tội phạm và đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm? Phân tích khái niệm và các đặc điểm của trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Việt Nam?

Trang 1

A 3 câu hỏi luật hình sự:

Câu 1: Phân tích khái niệm và các đặc điểm của tội phạm trong luật hình sự việt nam

Trả lời:

* Khái niệm

- Tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của

Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự.”

Khái niệm tội phạm thể hiện quan điểm của nhà nước ta về tội phạm, là cơ

sở để xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm cụ thể trong BLHS, cả trong xây dựng luật và áp dụng luật hình sự; đồng thời là cơ sở để phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự

* Các dấu hiệu (đặc điểm) của tội phạm

Hành vi bị coi là tội phạm có dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt

- Tính nguy hiểm cho xã hội:

+ Hành vi của con người phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, thì không có tính nguy hiểm cho xã hội và không phải là tội phạm

+ Theo quy định của luật hình sự Việt Nam, tội phạm phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội

Trang 2

+ Nguy hiểm đáng kể cho xã hội cho xã hội nghĩa là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

+ Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, nghĩa là tính nguy hiểm tồn tại độc lập, khách quan, không phụ thuộc vào sự áp đặt chủ quan của con người

+ Để đánh giá hành vi nào đó có nguy hiểm cho xã hội đến mức coi là tội phạm hay không cần căn cứ vào các yếu tố như tính chất, tầm quan trọng của các quan hệ xã hội bị hành vi xâm hại; tính chất, mức độ thực hiện hành vi; thiệt hại do hành vi gây ra hoặc đe dọa gây ra; phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện hành vi; tính chất và mức độ lỗi; động cơ, mục đích thực hiện hành vi; nhân thân người thực hiện hành vi; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm của người thực hiện hành vi

+ Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không chỉ là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi vi phạm pháp luật khác, mà còn là

cơ sở để nhà làm luật phân hóa trách nhiệm hình sự, làm cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm hình sự khi áp dụng

- Tính có lỗi:

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

vô ý Như vậy, dấu hiệu tính có lỗi là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Hành vi nguy hiểm cho xã hội do người không có lỗi thực hiện không thể bị coi là tội phạm

+ Việc thừa nhận nguyên tắc trách nhiệm do lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự xuất phát từ việc coi lỗi là thái độ phủ định chủ quan của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trước các yêu cầu và đòi hỏi của

xã hội và coi mục đích của trách nhiệm hình sự, của hình phạt là nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội

- Tính trái pháp luật hình sự:

Trang 3

+ Tính trái pháp luật hình sự của tội phạm được thể hiện tại Điều 2, khoản 1 Điều 8 và các điều luật cụ thể phần các tội phạm của BLHS Điều 2 BLHS quy

định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự"; khoản 1 Điều 8 BLHS quy định: " Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự"

+ Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện nội dung có tính chính trị - xã hội của tội phạm, còn tính trái pháp luật hình sự là thể hiện về mặt hình thức pháp lý của tội phạm Trong mối quan hệ hai mặt đó, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính bên trong của tội phạm quy định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm

+ Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cụ thể, nhà làm luật mới phản ánh hành vi đó vào luật hình sự để quy định đó là tội phạm và hành vi đó mang tính trái pháp luật hình sự

- Tính phải chịu hình phạt:

+ Tội phạm luôn chứa đựng khả năng bị đe dọa áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt Do vậy, có thể nói tội phạm mang tính phải chịu hình phạt

+ Tính phải chịu hình phạt của tội phạm tuy không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm nhưng là hệ quả của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và trái pháp luật hình sự và bị coi là tội phạm Không có tội phạm thì không có hình phạt

+ Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình

sự coi là tội phạm Tội phạm thì có thể không phải chịu hình phạt nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt

Câu 2 Phân tích khái niệm cấu thành tội phạm và đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm.

Trả lời:

Trang 4

* Khái niệm CTTP:

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng của tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự

- Phân tích khái niệm:

+ Trong luật hình sự, trên cơ sở khái niệm tội phạm, nhà làm luật đã quy định về các loại tội phạm cụ thể với những dấu hiệu pháp lý đặc trưng Việc xây dựng các dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng của từng tội phạm giúp cho việc nhận biết, phân biệt giữa các tội phạm với nhau

+ Tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của từng tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự gọi là cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm do nhà làm luật xác định trong quá trình làm luật, trong đó ghi nhận các dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị coi là tội phạm

* Đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm:

- Các dấu hiệu của CTTP được quy định trong luật hình sự

+ Cấu thành tội phạm được tạo nên bởi các dấu hiệu pháp lý đặc trưng được nhà làm luật xác định trước khi thiết kế cấu trúc từng tội phạm cụ thể trong luật hình sự

+ Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều được quy định trong luật hình sự

ở cả Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật

+ Một số dấu hiệu như tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi cố ý phạm tội, lỗi vô ý phạm tội, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết được quy định

ở Phần chung của BLHS

+ Các dấu hiệu thể hiện những đặc trưng riêng của mỗi tội phạm được quy định ở Phần các tội phạm của BLHS Ví dụ, dấu hiệu "dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình

Trang 5

trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản" trong tội Cướp tài sản (Điều 168 BLHS)

- Tổng hợp các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính đặc trưng riêng: + Mỗi cấu thành tội phạm đều được tạo nên bởi các dấu hiệu pháp lý, nếu tách rời thì dấu hiệu pháp lý của tội phạm này có thể giống dấu hiệu pháp lý của tội phạm khác

+ Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để xác định tội trong từng trường hợp

cụ thể, cho phép phân biệt hành vi là tội phạm với hành vi không phải là tội phạm, đồng thời có ý nghĩa để phân biệt tội phạm mà cấu thành tội phạm phản ánh với tội phạm khác

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm, với mối liên hệ tổng hợp của chúng, có tính bắt buộc:

+ Cấu thành tội phạm chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự

+ Trong các cấu thành tội phạm có những dấu hiệu mà ở cấu thành tội phạm nào cũng có, như dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự và có những dấu hiệu có ở cấu thành tội phạm này nhưng lại không có ở cấu thành tội phạm khác

+ Đối với từng cấu thành tội phạm có những dấu hiệu đặc trưng riêng, tạo nên sự khác biệt của tội phạm cụ thể với những tội phạm khác và mang tính bắt buộc để xác định tội phạm cụ thể

Câu 3 Phân tích khái niệm và các đặc điểm của trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Việt Nam

Trả lời:

* Khái niệm trách nhiệm hình sự

- Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội

Trang 6

phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

- Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước trong tình trạng bị cưỡng chế do việc người đó đã thực hiện tội phạm

- Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội Từ khi đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự

- Người phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể được miễn trách nhiệm hình sự

- Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta, trước khi bị kết tội, một người có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn như, tuy nhiên các biện pháp ngăn chặn không phải là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự mà chỉ là các biện pháp cưỡng chế có tính chất tố tụng hình sự

để ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hiệu quả của việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hình sự sau này (bảo đảm thi hành án)

- Trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự

- Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp cưỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt)

* Đặc điểm của trách nhiệm hình sự

- Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực

hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm

+ Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự

Trang 7

+ Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được

Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm và mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Nếu không được quy định trong Bộ luật hình sự thì một hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu cũng không thể bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi không thể phải chịu trách nhiệm hình sự

- Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người

phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội

+ Trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách nhiệm của cá nhân người, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm do người phạm tội thực hiện

+ Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự nghĩa là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm khi đáp ứng các yêu cầu về chủ thể của tội phạm

- Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của

Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

+ Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người

+ Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận

người phạm tội chính thức "bị coi là có tội" Đó chính là hậu quả pháp lý thể hiện

một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước

+ Đa số các trường hợp bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội đi kèm với việc Tòa án quyết định hình phạt đối với người đó Trong một số trường hợp bản án kết tội của Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không gắn với việc Tòa án quyết định hình phạt mà gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối với người đó

+ Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm Từ khi đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt

Trang 8

động tố tụng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình

sự quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

+ Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý chính thức xác nhận người phạm tội bị coi là có tội Cùng với bản án kết tội, Tòa án có thể quyết định hình phạt hoặc quyết định miễn hình phạt đối với người phạm tội

- Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết

quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định

+ Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có thẩm quyền trong

tố tụng hình sự Song trách nhiệm hình sự chỉ có thể do Tòa án, nhân danh Nhà nước, áp dụng đối với người phạm tội

+ Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự, người phạm tội chính thức phải chịu trách

nhiệm hình sự trước Nhà nước, chính thức "bị coi là có tội" Nếu không có những

lý do đặc biệt, người phạm tội sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội (có thể do hết thời hiệu thi hành bản án, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù )

+ Bản án kết tội là hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự, song việc người bị kết án chấp hành xong bản án chưa phải là sự kiện kết thúc việc thực hiện trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự của một người chỉ kết thúc khi

án tích đối với người ấy được xóa

Trang 9

B 3 câu hỏi tố tụng hình sự:

Câu 1: Phân tích các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng hình sự và mối quan hệ giữa các thuộc tính đó

Đáp án:

* Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án

* Nguồn chứng cứ

- Vật chứng;

- Lời khai, lời trình bày;

- Dữ liệu điện tử;

- Kết luận giám định, định giá tài sản;

- Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

- Các tài liệu, đồ vật khác

- Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự

* Các thuộc tính của chứng cứ:

- Tính khách quan của chứng cứ:

+ Tính khách quan là một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người

Trang 10

+ Chứng cứ tồn tại khách quan nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng sự thật khách quan, không được áp đặt ý chí chủ quan, khi thu thập chứng cứ phải bảo đảm đúng sự thật của sự việc Những thông tin, tư liệu dù tồn tại trên thực

tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan Vì vậy, những thông tin, tư liệu đó không thể là chứng cứ

của vụ án.

+ Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, việc xác định đúng đắn tính khách quan của chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong chứng minh tội phạm Việc sử dụng các thông tin, tư liệu bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị làm giả để chứng minh cũng như kiểm tra, đánh giá chứng cứ phụ thuộc vào suy luận chủ quan của nguồn chứng cứ (của người cung cấp lời khai, người báo cáo …) sẽ làm cho việc chúng

minh thiếu chính xác, sự thật khách quan không được xác định.

- Tính liên quan của chứng cứ:

+ Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các

thông tin, tư liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định.

+ Mối quan hệ này thể hiện ở hai mức độ khác nhau:

Thứ nhất (mức độ trực tiếp), mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng

chứng minh Đây là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu Thể hiện mối quan hệ này, chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất vụ án (chứng cứ xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt, việc áp dụng các biện pháp tư pháp…)

Thứ hai (mức độ gián tiếp), có những thông tin, tư liệu không được dùng

làm căn cứ trực tiếp để giải quyết thực chất vụ án, nhưng lại được dùng để xác

định các tình tiết khác có ý nghĩa đối với giải quyết vụ án.

- Tính hợp pháp của chứng cứ:

+ Tính hợp pháp của chứng cứ là sự phù hợp của nó với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện trong các mặt sau

Ngày đăng: 05/07/2023, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w