1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người - Phân tích từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang

126 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người - Phân tích từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh
Người hướng dẫn GS.TS. Phạm Hồng Thái
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu lực áp dụng pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư các dự án phát triển thủy điện cho ph

Trang 1

NGUYỄN THỊ HOÀI LINH

Phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con ng-ời Phân tích từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang

Chuyờn ngành: Phỏp luật về quyền con người

Mó số: Chuyờn ngành đào tạo thớ điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 2

tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hoài Linh

Trang 3

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục biểu đồ, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN 6

1.1 Nhận thức về quyền con người 6

1.1.1 Khái niệm quyền con người 6

1.1.2 Đặc trưng và các thế hệ quyền con người 7

1.2 Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ảnh hưởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người 9

1.2.1 Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 9

1.2.2 Sự ảnh hưởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người 12

1.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội 27

1.3.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay 27

1.3.2 Cách tiếp cận dựa trên quyền: sự gắn kết giữa quyền và phát triển 30

1.4 Những yêu cầu cơ bản về bảo đảm quyền con người trong phát triển thủy điện 32

1.4.1 Bồi thường một cách thích đáng và công bằng 32

1.4.2 Bảo đảm sự tham vấn thực sự hay minh bạch khi thực hiện cưỡng chế di dời giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án thủy điện 39 1.4.3 Giải quyết hài hòa lợi ích của các bên khi thực hiện cưỡng chế di dời

Trang 4

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền con người thông qua việc thực hiện

các quy định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước di dời dân để thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang 49

2.2.1 Công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch di dân tái định cư dự án

thủy điện Tuyên Quang 49 2.2.2 Việc thực hiện bồi thường và hỗ trợ cho các hộ dân phải di chuyển để

thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang 51 2.2.3 Việc tổ chức tái định cư cho các hộ dân phải di chuyển để thực hiện

dự án thủy điện Tuyên Quang 60 2.2.4 Tình hình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các

hộ di dân, tái định cư 74

2.3 Bảo đảm quyền con người thông qua việc thực hiện các quy định

về tham vấn hay minh bạch khi nhà nước cưỡng chế di dời dân để thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang 78

2.3.1 Tham vấn khi có quyết định thu hồi đất 78 2.3.2 Tham vấn khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 80

2.4 Bảo đảm quyền con người bằng việc giải quyết khiếu nại khi nhà

nước cưỡng chế di dời dân để thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang 83

2.4.1 Tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại dự án công trình thủy

điện Tuyên Quang 83 2.4.2 Đánh giá tác động của việc giải quyết khiếu nại đối với yêu cầu bảo

đảm quyền con người khi nhà nước cưỡng chế di dời dân để thực hiện các dự án thủy điện từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang 85

Trang 5

3.1.2 Hình thành cơ chế pháp lý về chia sẻ lợi ích cho các hộ dân phải di dời

để thực hiện các dự án thủy điện 92 3.1.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo đảm sự tham gia của người

dân vào quá trình thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án phát triển thủy điện 96 3.1.4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về đào tạo, chuyển đổi nghề

nghiệp và tạo việc làm cho các hộ dân phải di dời để thực hiện các dự án thủy điện 98 3.1.5 Hình thành cơ chế pháp lý bảo đảm quyền về văn hóa cho các hộ dân

phải di dời để thực hiện các dự án thủy điện 99 3.1.6 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát độc lập công tác bồi

thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án phát triển thủy điện 101

3.2 Các giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật 101

3.2.1 Tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá

trình thực thi pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 101 3.2.2 Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước và nhận thức của

nhân dân về pháp luật liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án phát triển thủy điện 103 3.2.3 Bảo đảm sự tham vấn thực sự trong quá trình thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tổ chức di chuyển dân để thực hiện dự

án thủy điện 104 3.2.4 Tổ chức đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề, phát triển sản xuất cho

hộ tái định cư 105 3.2.5 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các hộ tái

Trang 7

Development Programme)

Declaration of Human Rights)

ICCPR Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

(International Covenant on Civil and Political Rights)

ICESCR Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

(International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)

Trang 8

Bảng 2.2: So sánh đơn giá bồi thường đất nông nghiệp được áp dụng

Bảng 2.4: Tổng hợp nhận xét của các hộ bị thu hồi đất về giá bồi

Bảng 2.10: Tổng hợp đất được giao nơi tái đi ̣nh cư hộ điều tra 70

Bảng 2.12: So sánh cách bố trí công trình ở nơi ở cũ và nơi tái định cư 72 Bảng 2.14: Đánh giá mức độ hài lòng về xây dựng khu tái định cư (90 hộ) 74

Bảng 2.15: Đánh giá về việc phổ biến thông tin về chính sách bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư đến người bị thu hồi đất (90 hộ) 79

Bảng 2.16: Đánh giá mức độ tiếp nhận ý kiến của người bị thu hồi đất

về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (90 hộ) 80

Bảng 2.17: Tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

liên quan đến dự án thủy điện Tuyên Quang giai đoạn

Bảng 2.18: Nội dung các vấn đề khiếu nại, kiến nghị, đề nghị, phản

ánh liên quan đến dự án thủy điện Tuyên Quang giai đoạn

Trang 9

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu về trình độ học vấn, chuyên môn của hộ điều tra 67

Biểu đồ 2.4: Mức độ tham gia của người dân vào việc lựa chọn nơi

Sơ đồ 2.1: Quy trình thực hiện đền bù thiệt hại ban hành kèm theo

Quyết định số 65/2003/QĐ-UB ngày 23/5/2003

Sơ đồ 3.1: Giải pháp chuyển đổi nghề sang phi nông nghiệp 105

Trang 10

trình, địa điểm xây dựng các nhà máy thủy điện đều nằm tại địa bàn miền núi nên đối tượng tái định cư chủ yếu là các nhóm dân tộc thiểu số, dễ bị tổn thương do tập quán sản xuất lạc hậu, tâm lý sống gắn bó với môi trường rừng

Tuy nhiên, chính sách đền bù và tái định cư hiện nay ở Việt Nam mới chỉ đề cập đến đền bù đất và các tài sản bị thiệt hại, các thiệt hại vô hình khác về môi trường, văn hóa cộng đồng… chưa được tính đến đầy đủ Các yếu tố tự nhiên, kinh

tế xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được khảo sát kỹ và tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khi đưa ra các phương án tái định cư đặc biệt là những khu dân cư phải chuyển đổi phương thức canh tác, các nhóm dân tộc ít người, trình độ phát triển còn thấp Tất cả những điều này ảnh hưởng tới quyền con người

Công trình thủy điện Tuyên Quang cũng không nằm ngoài những nhận định đó Bên cạnh những lợi ích to lớn đối với cả nước, công trình cũng gây thiệt hại lớn về đất đai, tài sản và buộc tỉnh Tuyên Quang phải tổ chức di dời và tái định cư (TĐC) cho 4.139 hộ với 20.138 nhân khẩu thuộc vùng lòng hồ và mặt bằng công trường

Nhận thức sâu sắc ảnh hưởng của việc thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang đối với các hộ dân thuộc vùng lòng hồ phải di chuyển, Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có những quy định cụ thể về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực cũng như giải quyết vấn đề sinh kế sau này cho các hộ phải di chuyển, tái định cư Tuy nhiên, những chính sách này đang bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại trong việc bảo đảm quyền của các hộ phải di chuyển tái định cư và thực tế áp dụng đã gây ra nhiều bức xúc trong đời sống xã hội Dưới góc độ khoa học pháp lý, vấn đề quyền con người trong các dự án phát triển thủy điện cần phải được quan tâm nghiên cứu dưới cả phương diện lý luận và thực tiễn để ngày càng hoàn thiện Với những lý

Trang 11

- Phân tích làm rõ khuôn khổ pháp lý liên quan đến thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ di dân, tái định cư và thực tiễn áp dụng tại dự án công trình thủy điện Tuyên Quang, so sánh với các nguyên tắc, tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế có liên quan, từ

đó chỉ ra những bất cập, hạn chế cần khắc phục

- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu lực

áp dụng pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư các dự án phát triển thủy điện cho phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩn của Luật Nhân quyền quốc tế và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế hiện nay ở tỉnh Tuyên Quang

- Kiến nghị một số giải pháp về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và biện pháp

tổ chức thực hiện khi thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư các dự án phát triển thủy điện nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền con người

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn góp phần bổ sung cho các nghiên cứu về chính sách di dân, tái định

cư trong các dự án phát triển thủy điện ở Việt Nam Cách tiếp cận, nghiên cứu chính sách di dân, tái định cư trong việc phát triển các dự án thủy điện dưới lăng kính của luật nhân quyền quốc tế là một hướng nghiên cứu mới Các kết quả của đề tài sẽ góp phần bổ sung cho nhận thức và hiểu biết về việc đảm bảo các quyền con người đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với các hộ dân tái định cư các

dự án phát triển thủy điện thông qua việc phân tích các nguyên tắc, tiêu chuẩn của

Trang 12

liên quan đến di dân, tái định cư để phát triển thủy điện, đặc biệt là những giải pháp đảm bảo quyền có mức sống thích đáng, quyền có việc làm và quyền về văn hóa đối với các hộ dân tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến việc bảo đảm quyền con người trong phát triển các dự án thủy điện Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Về đối tượng nghiên cứu

- Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư công trình thủy điện Tuyên Quang, bao gồm: thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và thực tiễn áp dụng pháp luật kể trên tại dự án công trình thủy điện Tuyên Quang

- Tính tương thích của khuôn khổ pháp lý nói trên và thực tiễn áp dụng chúng với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người

Trang 13

- Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi, Đặng Nguyên Anh, Nxb Thế giới, Hà Nội.2006

- Tái định cư trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn, Phạm

Mộng Hoa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2000

Hay các báo cáo hội thảo như:

- Xem xét chính sách tái định cư các công trình thủy điện ở Việt Nam từ góc

độ nghiên cứu xã hội Đặng Nguyên Anh, tham luận trình bày tại Hội thảo về cơ

chế quản lý và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các công trình thủy điện, thủy lợi Hà Nội, ngày 15/11/2006

- Chính sách và cơ chế tài chính giải quyết vấn đề công ăn việc làm sau khi tái định cư, Đỗ Văn Hòa, Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định

cư - Thực trạng và giải pháp Hà Nội, ngày 31/8/2006

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho đồng bào dân tộc thiểu

số tại các công trình thủy điện ở nước ta, Nguyễn Lâm Thành, Tài liệu hội thảo

Hà Nội 2006

Những công trình nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin khá lớn

về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng như những ảnh hưởng của nó đối với người dân phải di chuyển Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu tiếp cận

ở góc độ xã hội học, chưa có công trình nào phân tích những vấn đề này dưới lăng kính nhân quyền về bảo đảm quyền con người trong phát triển thủy điện

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu

Trang 15

1.1 Nhận thức về quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Trong lời nói đầu của Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948 có nhấn

mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [12]

Thông qua lời nói đầu của tuyên ngôn, quyền con người được mặc nhiên hiểu đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của các cá nhân Tuyên ngôn không đưa ra định nghĩa về quyền con người mà đi thẳng vào nội hàm của quyền con người trong đó nêu ra những quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc

Đối với các nhà nghiên cứu, có một định nghĩa không chính thức nhưng được thừa nhận khá rộng rãi đó là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc

về quyền con người Theo đó, quyền con người được hiểu là: “những bảo đảm pháp

lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do

cơ bản của con người” [13, tr.37]

Theo một số giáo trình của Việt Nam, quyền con người được tiếp cận dưới

góc độ là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13, tr 38]

Như vậy, cả định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con người và định nghĩa của một số nhà nghiên cứu Việt Nam thì quyền con người đều được tiếp cận dưới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền con người là những chuẩn mực được cộng đồng

Trang 16

1.1.2 Đặc trưng và các thế hệ quyền con người

1.1.2.1 Đặc trưng của quyền con người

Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng, quyền con người có những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì

bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì Tuy

nhiên, cần chú ý là sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà

là bình đẳng về tư cách chủ thể và cơ hội hưởng thụ các quyền

- Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Thể hiện ở chỗ các quyền con

người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể

cả bởi nhà nước Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác

- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con

người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi

là có giá trị hơn quyền nào, bởi lẽ việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated): Thể hiện ở chỗ việc bảo

đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc

và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

Trang 17

cá nhân Nó bao gồm các quyền và tự do cá nhân về phương diện dân sự và chính trị; tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được xét xử công bằng Thế hệ quyền này gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến Những văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền

con người, 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966

Thế hệ thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: Thế hệ quyền con người

này hướng vào việc tạo lập những điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội Chúng được đề xướng và vận động từ cuối thế kỷ XIX,

và bắt đầu được quan tâm bởi một số chính phủ kể từ sau Chiến tranh thế giới I Các quyền tiêu biểu thuộc về thế hệ quyền này bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở Sự ra đời của nhà nước

xã hội chủ nghĩa đầu tiên (nước Nga Xô viết) vào năm 1917 và sau đó là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình pháp điển hóa thế hệ quyền này trong pháp luật quốc gia và quốc tế Văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu nhất đề cập đến thế hệ quyền này là

Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966

Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng, việc hiện thực hóa các quyền dân sự, chính trị là mang tính tức thời (immediate) Bởi vì, trong thực tế việc bảo đảm các quyền này không đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều nguồn lực vật chất, do đó bất cứ quốc gia nào, giàu hay nghèo, đều có thể tiến hành được ngay

Trong khi đó, việc hiện thực hóa các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có

thể dần dần, từng bước (progress realization) tương ứng với nguồn lực sẵn có

của quốc gia Điều này là bởi trong thực tế việc thực thi các quyền trong nhóm

Trang 18

hạn nào cho việc này Nó đơn thuần chỉ là cho phép các quốc gia thực hiện các quyền này ở mức độ tương ứng với nguồn lực thực tế của nước mình

Thế hệ thứ ba, các quyền tập thể: Thế hệ quyền này bao gồm các quyền tập

thể, tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, quyền được sống trong hòa bình, quyền được sống trong môi trường trong lành Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và các quyền về thông tin; quyền được thụ hưởng các giá trị văn hóa Những văn kiện

pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa, 1960; hai công ước cơ bản

về nhân quyền năm 1966 là ICCPR và ICESCR; Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hòa bình, 1984; Tuyên bố về quyền phát triển, 1986

Ngoại trừ một số quyền như quyền tự quyết dân tộc, nhiều quyền trong thế

hệ thứ ba chưa được pháp điển hóa bằng các điều ước quốc tế, mà chủ yếu mới chỉ

được đề cập trong các tuyên bố, tuyên ngôn (các văn kiện luật mềm - soft law) Vì

vậy, tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các quyền trong thế hệ này vẫn đang

là chủ đề gây tranh cãi

1.2 Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ảnh hưởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người

1.2.1 Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng là yếu tố đầu vào quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào Vì vậy, đảm bảo an ninh năng lượng là rất cần thiết và cấp bách, được thực hiện thông qua việc tìm

kiếm và đa dạng các nguồn phát năng lượng trong đó có năng lượng thủy điện

Trang 19

Na Uy sản xuất toàn bộ lượng điện của mình bằng sức nước, trong khi Iceland sản xuất tới 83% nhu cầu của họ (2004), Áo sản xuất 67% số điện quốc gia bằng sức nước (hơn 70% nhu cầu của họ) Canada là nước sản xuất điện từ năng lượng nước lớn nhất thế giới và lượng điện này chiếm hơn 70% tổng lượng sản xuất của họ [48]

Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế được giá thành nhiên liệu Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá và không cần phải nhập nhiên liệu Các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện, một số nhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay đã được xây dựng từ 50 đến 100 năm trước Chi phí nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường

Các nhà máy thuỷ điện hồ chứa bằng bơm hiện là công cụ đáng chú ý nhất

để tích trữ năng lượng về tính hữu dụng, cho phép phát điện ở mức thấp vào giờ thấp điểm (điều này xảy ra bởi vì các nhà máy nhiệt điện không thể dừng lại hoàn toàn hàng ngày) để tích nước sau đó cho chảy ra để phát điện vào giờ cao điểm hàng ngày Các đập thủy điện đa chức năng được xây dựng để tưới tiêu, kiểm soát

lũ, hay giải trí

Ở Việt Nam, theo Quy hoạch phát triển nguồn điện (Quyết định số 1208/QĐ

- TTg ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030) thì thủy điện được ưu tiên phát triển với mục tiêu đưa tổng công suất các nguồn thủy điện lên 17.400 MW vào năm 2020

Bởi vậy, trong những năm qua, nhiều công trình thủy điện quốc gia đã và

Trang 20

Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2002 Vị trí của tuyến công trình được chọn nằm tại thị trấn Na Hang và xã Vĩnh Yên huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang với mực nước dâng bình thường 120m so với mực nước biển Đây là công trình cấp I quốc gia, có công suất lắp máy 342 MW, tổng dung tích hồ chứa là 2,245

tỷ m3, tổng diện tích lưu vực là 14.972 km2, mực nước dâng bình thường là 120m, tổng diện tích mặt hồ là 8.149 ha

Nhiệm vụ chính của Dự án là cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với điện lượng bình quân hàng năm 1,296 tỷ KWh Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho vùng hạ du; lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang với dung tích 2,245 tỷ m3

Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện

Trang 21

tình trạng tái định cư bắt buộc với số lượng đông dân cư Trong nhiều trường hợp không một khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự gắn bó của họ về tổ tiên và văn hóa gắn liền với địa điểm đó vì chúng có giá trị tinh thần đối với họ

Theo thống kê, để phục vụ công trình thuỷ điện Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang phải di chuyển tái định cư cho 4.139 hộ, 20.138 người

ở 88 thôn, bản của 16 xã thuộc huyện Na Hang, chiếm 29,5% số thôn, bản của huyện Na Hang, trong đó có 79 thôn, bản phải di chuyển toàn

bộ Dân số phải di chuyển có 89,9% là người dân tộc thiểu số và 92% là

hộ sản xuất nông nghiệp [17, tr.2]

Bởi vậy có thể thấy rằng ảnh hưởng của các dự án thủy điện rất lớn, không đơn thuần là tác động lên môi trường tự nhiên mà trong nhiều trường hợp đã tác động trực tiếp đến con người, làm ảnh hưởng đến điều kiện sống, điều kiện sản xuất, buộc con người vào tình huống phải chuyển cư Và trong trường hợp này thì đây không còn là vấn đề môi trường mà là vấn đề kinh tế xã hội vô cùng phức tạp

1.2.2 Sự ảnh hưởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người

Việc thực hiện các dự án thủy điện luôn gắn liền với việc thu hồi đất, tổ chức tái định cư cho các hộ dân phải di chuyển để thực hiện dự án Sự chuyển cư bắt buộc như các nhà nghiên cứu của ngân hàng thế giới mô tả:

Đó là một quá trình đau khổ và hỗn loạn, phá vỡ hệ thống sản xuất và cộng đồng xã hội cùng mối quan hệ đã được thiết lập; hủy hoại các loại bất động sản, gây nên hậu quả môi trường nghiêm trọng Tái định cư bắt buộc còn gây nên tâm lý căng thẳng, làm tăng tỷ lệ bệnh tật

và chết chóc [46]

Việc thu hồi đất và tổ chức di chuyển cho các hộ dân thuộc khu vực lòng hồ

Trang 22

cho các hộ dân để thực hiện dự án thủy điện luôn có yếu tố cưỡng chế

Trên bình diện quốc tế, các văn kiện pháp lý có đề cập đến một khái niệm có

liên quan đến vấn đề này đó là cưỡng bức di dời (forced evictiong) Theo định nghĩa của Ủy ban giám sát ICESCR nêu tại Bình luận chung số 7 năm 1997: “Cưỡng bức di dời là sự di dời một cách vĩnh viễn hoặc tạm thời các cá nhân, gia đình và/hoặc cộng đồng ra khỏi nhà đất mà họ đang chiếm giữ trái với nguyện vọng của họ và không có các hình thức bảo vệ pháp lý hoặc các hình thức bảo vệ thích hợp khác với họ” [10]

Về nguyên tắc chung, việc di dời cưỡng bức khỏi nơi ở là một sự vi phạm

các quyền con người, không phù hợp với những quy định của ICESCR Tuy vậy,

Ủy ban cũng cho rằng trong một số trường hợp và phụ thuộc vào những điều kiện

cụ thể, việc cưỡng bức di dời khỏi nhà đất có thể phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quyền con người Trong Khuyến nghị chung số 4 năm 1991, Ủy ban các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội cho rằng:

Trong một số trường hợp nhất định, việc cưỡng bức di dời khỏi đất và nhà ở được cho là đương nhiên hoặc là cái giá cần thiết cho sự phát triển hoặc vì lợi ích công, nhưng cũng chỉ có thể được thừa nhận trong những trường hợp ngoại lệ nhất và phù hợp với những nguyên tắc liên quan của luật quốc tế [11]

Trường hợp ngoại lệ nêu ở trên nhằm để chỉ những đối tượng không tích cực thực hiện hoặc có vi phạm nghĩa vụ pháp lý đối với chủ sở hữu đất đai, nhà ở hoặc

đe dọa quyền lợi của chủ thể khác Theo cách nhìn này, người bị cưỡng bức di dời

là người vi phạm và chủ sở hữu đất đai, nhà ở là nạn nhân Ngay cả trong những trường hợp ngoại lệ như vậy, cưỡng bức di dời cũng phải đúng thẩm quyền, phù hợp quy định pháp luật nhân quyền quốc tế và chỉ thực hiện với mục đích thúc đẩy

Trang 23

Như đã phân tích, một trong những tính chất của quyền con người là tính liên

hệ và phụ thuộc lẫn nhau Thuộc tính này thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ và tác động lẫn nhau Sự

vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến viêc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác Việc nhà nước thu hồi đất để phát triển các dự án thủy điện cũng sẽ tác động đến rất nhiều quyền con người, trong đó có những quyền bị tác động trực tiếp, có quyền bị tác động gián tiếp Bởi những tác động tiêu cực của các dự án thủy điện mà tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã

thông qua Nghị quyết số 62/2013/QH13 ngày 27/11/2013 về tăng cường công tác quản lý, quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện trong

đó đã quyết định “đưa ra khỏi quy hoạch 424 dự án thủy điện, tạm dừng có thời hạn 136 dự án thủy điện, không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng, tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án thủy điện” [24] Như vậy, có thể nói việc thực

hiện các dự án thủy điện đã gây ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm các quyền con người cơ bản của các hộ dân phải di chuyển, tái định cư để thực hiện dự án

Trong phần này, tác giả chỉ tập trung phân tích sự tác động trực tiếp và rõ ràng nhất một số quyền

1.2.2.1 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với quyền sở hữu tài sản

Quyền sở hữu tài sản cho phép cá nhân có được sở hữu tài sản tư nhân, bảo vệ

cá nhân khỏi nhà nước Điều 17 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người khẳng định:

1 Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài sản sở hữu chung với người khác

2 Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tùy tiện [12, Điều 17]

Trang 24

bằng xã hội thực sự thông qua các quyền tài sản Tuyên bố về sự tiến bộ và phát triển xã hội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 11 tháng 9 năm 1969

khẳng định rằng: “Tiến bộ và sự phát triển của xã hội đòi hỏi phải thiết lập các loại hình sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất phù hợp với nhân quyền và tự do cơ bản với nguyên tắc công lý và chức năng xã hội của tài sản ” [12]

Bởi những lý do và cơ sở như vậy, Hiến pháp và luật cơ bản của hầu hết các nền dân chủ trên thế giới đều đảm bảo lâu dài quyền đối với tài sản, thừa nhận quyền sở hữu tài sản là quyền con người, quyền công dân Nội hàm của nó bao gồm

cả việc tự do định đoạt tài sản của một cá nhân với tư cách là ý chí của chủ sở hữu, không ai bị tước đoạt tài sản một cách tùy tiện Nhà nước, với vai trò là chủ thể gánh vác nghĩa vụ, phải tôn trọng quyền sở hữu của cá nhân bằng cách kiềm chế không thực hiện những hành vi xâm hại quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu Nhưng với quyết định hành chính áp đặt, nhà nước khiến cho những người bị thu hồi đất, di dời khỏi nơi ở khi thực hiện các dự án thủy điện không chỉ mất nhà cửa và môi trường sinh sống mà ở đó họ đã đầu tư một phần thu nhập đáng

kể trong rất nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ, mà còn bị buộc từ bỏ những tài sản trên đất mà họ sở hữu trước khi cơ quan nhà nước tháo dỡ, phá hủy nơi định cư của

họ để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Rõ ràng người bị thu hồi đất và phải di chuyển để thực hiện các dự án thủy điện không được tự do định đoạt tài sản theo ý chí và nguyện vọng của họ

Ở một khía cạnh khác, theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Điều 164 quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở

hữu theo quy định của pháp luật Mặc dù pháp luật Việt Nam không công nhận tư

Trang 25

Tuy nhiên, trong những điều kiện do pháp luật quy định nhà nước có thể thu hồi đất của cá nhân, tổ chức, cơ quan để phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng, công trình quân sự, an ninh quốc gia, hay để phát triển kinh tế - xã hội chung của cộng đồng

1.2.2.2 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với quyền được làm việc

Quyền được làm việc là một trong những quyền cơ bản, nền tảng để thực hiện các quyền con người khác và tạo nên một phần quan trọng, không thể tách rời

và tự nhiên của nhân phẩm Quyền này được thể chế trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền, trong đó tiêu biểu là Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966 (ICESCR) Các quy định này là những tiêu chuẩn pháp lý quốc tế đánh giá thực hiện quyền được làm việc Theo đó, Điều 23 (1) của UDHR quy định mọi người có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và chống lại nạn thất nghiệp

Như vậy, quyền được làm việc được quy định trong Công ước không đơn thuần là quyền có việc làm mà được nhìn nhận như quyền được tạo điều kiện làm việc để sống có nhân phẩm Nội dung quy phạm của quyền được làm việc trao cho cá nhân quyền được tự do lựa chọn việc làm, trong đó bao gồm cả quyền không bị tước bỏ công việc một cách không công bằng và trao cho Nhà nước nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện cần thiết để cá nhân có thể thực thi quyền lựa chọn việc làm Nghĩa

vụ này nhấn mạnh đến thực tế là việc tôn trọng cá nhân và nhân phẩm của một người thông qua việc cá nhân đó có quyền tự do lựa chọn việc làm để phát triển bản thân và được thừa nhận trong cộng đồng [12]

Trang 26

bằng sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất, buộc phải chuyển sang làm nghề khác nếu như nhà nước không bố trí được đất nông nghiệp khác thay thế Cho dù có bố trí được thì điều kiện canh tác cũng không đồng nhất với nơi cũ do họ lựa chọn Rất nhiều trường hợp người nông dân đã quá tuổi để được tuyển dụng vào các doanh nghiệp, kỹ năng lao động không thích nghi với hoàn cảnh mới và cũng không có điều kiện để đi học thêm nghề mới, trong khi nghề chính của họ là làm ruộng nhưng không còn đất sản xuất Do vậy, việc phải di dời tái định cư để thực hiện các dự án thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp

1.2.2.3 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với quyền có nhà ở thích đáng

Nhà ở là nhu cầu thiết yếu và là một quyền con người Xuất phát từ tầm quan trọng của nó, có nhiều văn kiện quốc tế nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của quyền được có nhà ở Trong đó, Công ước ICESCR là nguồn luật chủ chốt về quyền nhà ở của luật pháp quốc tế về quyền con người Theo quy định tại Điều 11 (1) của

ICESCR, các quốc gia thành viên Công ước “thừa nhận mọi người đều có quyền được có mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình, bao gồm cả quyền có đủ lương thực, quần áo và nhà ở thích đáng và quyền không ngừng được cải thiện điều kiện sống” [14, Điều 11, khoản 1] Quyền con người có nhà ở thích đáng bắt nguồn

từ quyền có mức sống thích đáng - một quyền được coi là có vị trí quan trọng đặc biệt đối với việc thụ hưởng tất cả các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Theo quan

điểm của Ủy ban các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, “quyền có nhà ở không nên được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc đồng nhất nó với việc chỉ có một mái che trên đầu hoặc đơn thuần như một thứ hàng hóa” [10] Thay vào đó, chúng ta cần phải hiểu

đó là quyền được sống ở nơi thanh bình, an toàn và xứng đáng với nhân phẩm con người Tại Bình luận chung số 4 năm 1991, Ủy ban các quyền kinh tế, xã hội và văn

Trang 27

hóa đã xác định các yếu tố cấu thành của quyền này, theo đó mọi hành vi tác động theo chiều hướng tiêu cực đến một hoặc tất cả các yếu tố đó đều dẫn đến vi phạm

quyền có nơi ở thích đáng Các yếu tố này bao gồm: Thứ nhất, phải có sự an ninh pháp lý về quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản Thứ hai, tính sẵn sàng của dịch vụ,

nguyên liệu, cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng Thứ ba là có thể chấp nhận được về

mặt chi phí Thứ tư, có thể cư ngụ được Thứ năm, có thể tiếp cận được Thứ sáu, về

vị trí, nhà ở phải nằm ở vị trí cho phép có sự lựa chọn nơi làm việc, các dịch vụ chăm sóc y tế, trường học và những dịch vụ xã hội khác, tránh nơi ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe người ở

Trong Nghị quyết 1993/77, Ủy ban quyền con người Liên Hợp Quốc khẳng

định:“Hành động cưỡng bức di dời nơi ở là một sự vi phạm thô bạo về quyền con người, đặc biệt là quyền có nhà ở thích đáng” [11] Chúng ta đều biết, nhà ở luôn

gắn liền với đất đai, không bao giờ tách khỏi đất đai Hiển nhiên rằng, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án thủy điện gắn với quá trình di dời sẽ tác động đến các yếu tố cấu thành quyền có nhà ở thích đáng Dưới góc độ quyền con người, vấn đề càng tồi tệ hơn nếu người bị thu hồi đất thổ cư mà không được bồi thường thích đáng, không có chỗ tái định cư hoặc nơi tái định không đảm bảo điều kiện sống

Trước hết, việc thu hồi đất bằng quyết định hành chính vô hiệu hóa sự an ninh

pháp lý về quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản- một trong những cấu thành quan trọng của quyền có nhà ở thích đáng Với bản chất có tính mệnh lệnh đơn phương, hoạt động thu hồi đất biểu hiện ý chí của một bên nhân danh nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước, người sử dụng đất thực tế không có quyền quyết định số phận pháp lý của thửa đất và những tài sản trên đất mà họ đã tạo lập Họ buộc phải rời

bỏ đất đai, nhà cửa mà không có sự thỏa thuận khi nhà nước thu hồi đất Người bị thu hồi đất luôn yếu thế, bị động trong khi nhà nước chủ động và dễ dàng quyết định lúc nào thì buộc họ phải rời khỏi đất đai, nhà cửa của mình Các cá nhân và gia đình sống trong một trạng thái của sự không chắc chắn về tương lai của họ, về

việc khi nào họ có thể bị thu hồi đất và di dời khỏi nơi ở Mặt khác, quá trình di

dời nơi ở và tổ chức lại cuộc sống làm phát sinh quá nhiều chi phí, có những loại

Trang 28

hồi đất, người bị thu hồi đất phải mất một thời gian khá dài, trong khi họ bị mất thu nhập do phải tiêu tốn thời gian vào việc di dời nơi ở Tình trạng này dẫn đến một hệ quả là để bảo đảm nơi ở thích đáng thì người bị thu hồi đất phải cắt giảm chi phí cho những nhu cầu khác, thậm chí hi sinh một số nhu cầu căn bản Điều đó

đi ngược lại một trong những yêu cầu của quyền có nhà ở thích đáng là chi phí cho nhu cầu nhà ở không được ảnh hưởng đến chi phí cho các nhu cầu tối thiểu khác Bên cạnh đó, không phải nơi tái định cư nào cũng bảo đảm sự sẵn có của dịch vụ, nguyên liệu tự nhiên, cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng phù hợp với kỹ năng sống đã hình thành từ bao đời nay tại nơi ở truyền thống của các hộ dân phải

di dời, tái định cư Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn, nghèo về vật chất, nhưng điều kiện của nơi cư trú truyền thống phù hợp với tập quán sinh sống và đảm bảo khả năng sinh tồn, phát triển cho người dân và của cả cộng đồng dân cư Vì vậy, nơi ở mới sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự do lựa chọn việc làm, ảnh hưởng đến khả năng thiết lập và duy trì những mạng lưới, tổ chức xã hội, niềm tin và tín ngưỡng bền vững Một nơi ở như vậy không được xem là nơi ở thích đáng theo tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về nhân quyền

Năm 1988, Chiến lược toàn cầu về nơi ở do Đại hội đồng Liên Hợp quốc

thông qua theo Nghị quyết 43/181 ghi nhận: “nghĩa vụ cơ bản của các chính phủ

là bảo vệ và cải thiện tình hình nhà ở và môi trường xung quanh hơn là làm tổn hại hoặc phá hủy chúng” [11] Rõ ràng với việc thu hồi đất, buộc người dân phải

rời bỏ nơi ở truyền thống của họ không phải là cách Chính phủ thực hiện nghĩa vụ bảo vệ và cải thiện tình hình nhà ở Quyền có nhà ở thích đáng không chỉ đòi hỏi

phải có nghĩa vụ tích cực từ phía Nhà nước mà còn bao gồm một nghĩa vụ "tiêu cực" của Nhà nước là không cưỡng bức di dời vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế về

nhân quyền Một nhà nước yếu kém khi biện minh cho sự coi thường quyền nhà ở thích đáng bằng cách đề cập đến việc cung cấp các dịch vụ khác hoặc chỉ ra trên thực tế một số nhóm người nào đó đang được bảo đảm đầy đủ các quyền của họ, trong khi yêu cầu của luật quốc tế về nhân quyền là đảm bảo mức tối thiểu, thích

đáng cho tất cả mọi người

Trang 29

1.2.2.4 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với quyền về giáo dục

Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 26, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, sau đó được cụ thể hóa trong các Điều 13, 14 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966 Điều 13 ICESCR đề cập đến quyền được giáo dục nói chung, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được học tập

Điều 13 (3) ICESCR thừa nhận quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những người giám hộ hợp pháp (nếu có) trong việc lựa chọn trường cho con cái họ cũng như trong việc bảo đảm giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện riêng của họ

Liên quan đến Điều 13 ICESCR, Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

đã giải thích một cách khá toàn diện và chi tiết về quyền này trong Bình luận chung

số 13 (năm 1999) Theo văn kiện này, để có thể đạt được mục tiêu được xác định tại Điều 13 (1) ICESCR, mỗi quốc gia cần bảo đảm giáo dục dưới mọi hình thức và ở

tất cả các cấp

Liên quan đến Điều 14, ICESCR, Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

đã giải thích thêm trong Bình luận chung số 11 (năm 1999) Theo Ủy ban, yêu cầu bắt buộc nêu trong nội dung của quyền này hàm ý không một bậc phụ huynh, người

giám hộ pháp lý hoặc quốc gia nào có thể chối bỏ trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em

có thể tiếp cận giáo dục ở bậc cơ sở Yêu cầu miễn phí hàm ý giáo dục cơ sở phải

luôn rộng mở cho mọi trẻ em và không được yêu cầu trẻ em hay các bậc phụ huynh, người giám hộ pháp lý phải đóng bất kỳ một khoản học phí nào Việc quy định một

số khoản phí gián tiếp (ví dụ như thu lệ phí xây dựng mà được ngụy trang dưới hình thức tình nguyện đóng góp, hoặc quy định mua và mặc đồng phục có giá cao của nhà trường…) là vi phạm yêu cầu này Chỉ có một số khoản phí gián tiếp có thể được chấp nhận tùy từng trường hợp cụ thể

Những hộ dân phải di chuyển để thực hiện dự án, từ khi nhận được thông tin

về khả năng xây dựng công trình thủy điện, đặc biệt từ khi công trình được triển khai xây dựng thì họ bắt đầu phấp phỏng chờ đợi, lo âu Tiếp đó là quá trình chuyển

Trang 30

cư đầy gian nan, vất vả Trên vùng quê mới, người dân bắt đầu tạo lập lại cuộc sống

từ đầu Trong suốt thời gian dài và đầy biến động như vậy, việc học của con em các

hộ dân phải di chuyển tái định cư đều bị gián đoạn Đến nơi tái định cư nhiều em phải bỏ học do điều kiện ăn ở chưa ổn định, do chưa làm kịp thủ tục nhập học, hoặc

do nơi ở mới chưa có trường lớp

Hơn nữa, đa số các công trình thủy điện đều được xây dựng ở miền núi, nơi

cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số ít người Điển hình như công trình thủy điện

Tuyên Quang, “trong tổng số 20.138 người ở 88 thôn, bản của 16 xã thuộc huyện

Na Hang phải di chuyển tái định cư thì có đến 89,9% là người dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc Tày, Dao và H’Mông” [17, tr.2] Do điều kiện kinh tế khó khăn, nên

ngay cả ở nơi đi các hộ cũng đã không chú trọng đến việc học của con em mình, phần lớn các em trong độ tuổi đi học chỉ học hết bậc trung học cơ sở Chuyển đến nơi tái định cư, nhiều em được tạo điều kiện tiếp tục học tập thì thường không theo kịp chương trình và phương pháp giảng dạy đặc biệt là những em tái định cư tại những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn nơi ở cũ dẫn đến tâm lý mặc cảm, chán nản và bỏ học Một bộ phận các em muốn được tiếp tục học nhưng trường học nơi tái định cư dù cơ sở vật chất khang trang hơn nơi ở cũ nhưng các khoản phí như lệ phí xây dựng, tiền mua đồng phục… dù dưới dạng tự nguyện nhưng với các hộ tái định cư mà thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp thì khả năng đóng được các khoản phí gián tiếp đó là không thể và kết quả là các em phải bỏ học giữa chừng hoặc đi làm công nhân để phụ giúp thêm bố mẹ hoặc lấy chồng rồi sinh con và luẩn quẩn mãi trong vòng nghèo đói và thất học

Một khía cạnh nữa, một số hộ dân do không quen với cách sản xuất ở nơi tái định cư hoặc do thiếu đất sản xuất nên họ lại quay trở về nơi ở cũ, dựng lều lán sống tạm bợ qua ngày Không có trường lớp, nơi ở hoàn toàn bị cô lập ở vùng lòng

hồ, cha mẹ mải lo kiếm sống qua ngày cũng không màng quan tâm đến việc học của con em mình Vì vậy hầu hết con em đang trong độ tuổi đi học không có điều kiện đến trường, phải bỏ dở việc học tập dù rất muốn tiếp tục đi học

Trang 31

1.2.2.5 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với quyền về văn hóa

Do sự thay đổi về điều kiện sống, sự thay đổi của không gian sống, sự thay đổi về môi trường, thay đổi về khí hậu, thay đổi điều kiện sản xuất nên có những tác động không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất của nhân dân Điều đó góp phần làm thay đổi rất nhiều đến văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc

Một trong những thay đổi rõ nét nhất về không gian sống của người dân khi chuyển đến nơi tái định cư mới là phần lớn bản mới của họ không còn nguồn nước

tự nhiên theo kiểu xưa kia, như: sông, suối, mỏ nước Những khu rừng đầu nguồn của các dòng nước tự nhiên cũng không còn Nguồn nước chính cho sinh hoạt hàng ngày là nguồn nước sạch do dự án nước sạch của nhà nước xây dựng, và người dân khi sử dụng phải trả tiền không thể bắt cá, bắt cua, bơi lội, hay thoải mái tắm giặt,

sử dụng nguồn nước vô tận như tại nơi ở cũ

Đồng bào vùng lòng hồ thuỷ điện cơ bản, sinh sống bằng nghề nông Qua nhiều thế hệ người dân nơi đây đã tích tụ, lưu truyền được vốn tri thức quý báu về môi trường tự nhiên và chinh phục nó phục vụ đời sống, sản xuất; cũng chính nơi đây đã hình thành nền văn hoá đặc trưng của các dân tộc đó là văn hoá lúa nước kết hợp với sản xuất trên cạn để trồng lúa nương, trồng ngô và một số cây trồng trên nương khác Nhưng qua thực tế tái định cư những năm qua cho thấy, sau khi tái định cư đến nơi ở mới diện tích đất nông nghiệp của các hộ dân giảm đi so với trước kia, các hộ dân vẫn được nhận một diện tích đất nông nghiệp đủ để đảm bảo

an ninh lương thực và thu nhập cho người dân tái định cư Nhưng không có thêm đất mầu vườn, đất đồi rừng để người dân tăng gia, sản xuất theo phong tục tập quán vốn có Điều đó có tác động lớn, gây ra thay đổi tập quán canh tác của người dân vùng lòng hồ một lẽ đương nhiên là thói quen sản xuất của đồng bào tái định cư không thể giữ nguyên mà phải thay đổi cho phù hợp thực tế Điều này sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản về bản sắc văn hoá của người dân

Mặt khác, những vùng tái định cư mặc dù vẫn lấy nông, lâm nghiệp làm nền tảng trong những năm đầu, song nền sản xuất sẽ được chuyển dần sang sản xuất hàng hoá Đây là xu hướng tiến bộ, hợp quy luật, song đi liền với nó là sự thay đổi

Trang 32

về phong tục, tập quán, những giá trị văn hoá gắn với nền kinh tế truyền thống cũng

sẽ thay đổi theo

Do quỹ đất tại nơi tái định cư theo quy định như trên là hạn hẹp hơn so với nơi ở cũ nên phần lớn nhà sàn của nhân dân, ngôi nhà truyền thống phù hợp điều kiện tự nhiên, yếu tố xã hội, nơi diễn ra các nghi thức tín ngưỡng cũng như các sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng bắt buộc có những thay đổi về kiểu dáng

và kết cấu Hoặc là tối giản bớt bằng cách bỏ bớt đi một số hàng hiên, một số gian hoặc trái, hoặc lắp dựng vách quây cả phía gầm sàn để sử dụng như nhà 2 tầng, thậm chí có trường hợp chuyển đổi thành nhà trệt cho phù hợp điều kiện tại nơi tái định cư, nên đã mất đi dáng vẻ và công năng truyền thống

Một số tục lệ theo nét truyền thống tại bản cũ đã không còn Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự mai một đó là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do về nơi ở mới xuất hiện thêm nhiều nỗi lo mưu toan cuộc sống, đặc biệt tại một số bản mới tình đoàn kết hàng xóm láng giềng trong bản không còn thân thiết, lối

sống đô thị phần nào đã tác động đến cuộc sống người dân, quan điểm “đèn nhà ai nhà nấy rạng” đã bắt đầu nhen nhóm trong một bộ phận nhất định, họ không còn

tự nguyện giúp đỡ, hỗ trợ nhau, coi như việc của mình mỗi khi một gia đình trong bản có việc lớn

Ngoài những yếu tố tạo nên sự thay đổi văn hoá truyền thống của người dân mang tính nội tại đã nêu trên, thì văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số vùng tái định cư thuỷ điện còn chịu ảnh hưởng và sự tác động không nhỏ từ các yếu tố khách quan bên ngoài, đó là: một số khu tái định cư được quy hoạch ở ven đô thị, ở các khu vực đồng bằng, những nơi có mặt bằng dân trí cao hơn, nên sự tiếp cận của người dân với thói quen sinh hoạt, cách sống cũng như phương thức sản xuất hiện đại trở lên dễ dàng, đã làm thay đổi rất nhanh những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của người dân Y phục truyền thống cũng có xu hướng hiện đại hoá, thay vào đó

là hàng dệt may công nghiệp ngày càng nhiều lên

Các công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển, vật dụng sinh hoạt truyền thống cũng nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các vật dụng hiện đại mang lại hiệu

Trang 33

quả và năng suất cao hơn Máy tuốt lúa thay thế máng đập bằng gỗ, máy xay xát thay thế chiếc cối tre, máy cày bừa thay thế chiếc cày truyền thống, xe công nông thay thế cho xe trâu, xe quệt các loại công cụ hiện đại đã nhanh chóng chiến thắng

mà hầu như không vấp phải sự bảo thủ gì của người dân

Ngôn ngữ của đồng bào thiểu số tại khu tái định cư cũng dần ít được sử dụng, đặc biệt là trong giới trẻ, thanh thiếu niên và học sinh hầu hết không thích nói tiếng mẹ đẻ vì trong học tập, lao động và sinh hoạt tại trường học cũng như môi trường lao động tại nơi ở mới đều sử dụng tiếng phổ thông

Kho tàng văn học dân gian gồm truyện kể, truyện thơ, múa, hát, tạo hình, ca dao, tục ngữ, câu đố dân gian của các dân tộc thiểu số rất phong phú, đa dạng nhưng cũng đang bị mai một và biến đổi, bởi lớp trẻ hiện nay không biết múa, hát, không biết các câu truyện kể, câu đố, tục ngữ, không biết cái hay của điệu dân ca, dân vũ, chỉ lớp già am hiểu cội nguồn, phong tục tập quán là nắm giữ nhiều vốn văn học, song do quy luật sinh học khắc nghiệt, lớp người này đang mất dần mang theo những giá trị văn hoá mà họ chưa kịp trao lại cho gới trẻ, đúng hơn là giới trẻ chưa sẵn sàng đón nhận, họ chỉ đặc biệt quan tâm đến các thể loại văn hoá, văn nghệ hiện đại thông qua các phương tiện thông tin tiên tiến như ti vi, băng, đĩa hình cũng như các hoạt động văn hoá, văn nghệ sôi động diễn ra thường xuyên ngoài thực tế

Các lễ hội dân gian của các dân tộc được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài với các mục đích tốt đẹp và có giá trị văn hoá cao, có tính kết nối cộng đồng, bồi đắp giá trị văn hoá, nhưng tại nhiều nơi đã mai một dần, chỉ còn lác đác một số vùng giữ được lễ hội truyền thống cơ bản nhất của dân tộc mình, nhưng các phần lễ thường đã bị đơn giản hoá, chủ yếu chỉ còn phần hội, và trong phần hội thì các trò chơi dân gian cũng dần nhường chỗ cho các hoạt động văn hoá, thể thao hiện đại như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, biểu diễn văn nghệ bằng tiếng phổ thông, đặc biệt là người dự lễ hội ít ai mặc trang phục truyền thống

Từ thực tế trên có thể thấy rằng việc di chuyển tái định cư đã khiến văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc đang có sự thay đổi theo hướng mất dần đi những truyền thống, những tiêu chí làm nên bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc

Trang 34

1.2.2.6 Ảnh hưởng của phát triển thủy điện đối với việc thụ hưởng quyền của các nhóm dễ bị tổn thương

Mặc dù khái niệm các nhóm người dễ bị tổn thương được sử dụng phổ biến

trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong các hoạt động nghiên cứu, thực tiễn về quyền con người trên thế giới nhưng hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về

khái niệm này Đôi khi người ta sử dụng các cụm từ thay thế nhau như “nhóm dễ bị tổn thương” (vulnerable groups), “nhóm yếu thế” (disadvantaged groups) hay

“nhóm bị gạt ra bên lề” (marginalized groups) Trong một số Bình luận chung và

Hướng dẫn báo cáo thực thi ICESCR, Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có liệt kê một số nhóm điển hình trong từng hoàn cảnh cụ thể Nhưng tất cả các nhóm đã được liệt kê này không được coi là danh sách đầy đủ các nhóm cần quan

tâm, thay vào đó, Ủy ban “yêu cầu Nhà nước thành viên tự xác định các nhóm yếu thế hoặc nhóm cần có biện pháp đặc biệt tạm thời để khắc phục bất bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền” theo ICESCR [14]

Như phân tích ở trên, việc phải di dời dân để thực hiện các dự án thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thụ hưởng các quyền con người cơ bản của tất cả mọi người Tuy vậy, so với phần còn lại của xã hội, những nhóm người dễ bị tổn thương hay nhóm yếu thế gánh chịu hậu quả nặng nề hơn Đa số các công trình thủy điện được xây dựng trên các vùng cao nguyên hoặc trung du miền núi bởi những lý

do như: địa hình cho phép xây dựng được nhà máy thủy điện, mật độ dân cư thưa có thể làm giảm đáng kể thiệt hại trong vùng hồ chứa Như vậy, có thể thấy rằng, đối tượng chịu thiệt hại chủ yếu trong các vùng hồ thủy điện là đồng bào các dân tộc vùng cao, hoặc những người miền xuôi tình nguyện lên xây dựng vùng kinh tế mới

Cả hai đối tượng chịu thiệt hại đều là đối tượng chính sách của bất cứ quốc gia nào Bên cạnh đó, phụ nữ (nhất là phụ nữ đơn thân, làm chủ hộ), trẻ em, người già, người khuyết tật, người nghèo cũng là những đối tượng bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong hoàn cảnh bị thu hồi đất, di dời nơi ở để thực hiện các dự án thủy điện Trong thu hồi đất, di dời nơi ở thì những nhu cầu và vấn đề của phụ nữ bị ảnh hưởng không giống như nam giới, đặc biệt về trợ giúp xã hội, dịch vụ, việc làm và các

Trang 35

phương tiện sinh tồn Do tình trạng yếu thế, họ dễ đối mặt với hành vi vũ lực hoặc

là đối tượng của sự lạm dụng, họ cũng sẽ gặp khó khăn hơn nam giới trong việc tái lập, khôi phục thu nhập Đối với trẻ em, việc di chuyển đến các nơi tái định cư có thể rất tồi tệ đe dọa sự ổn định và các thói quen hàng ngày cần cho sự phát triển của trẻ và có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng về tâm lý và phát triển do hành vi cưỡng bức di dời Đây là nhóm xã hội có nhu cầu đặc biệt và có quyền hưởng sự chăm sóc, bảo vệ một cách đặc biệt Nhưng khi gia đình chúng rơi vào hoàn cảnh khó khăn do thu hồi đất và di dời nơi ở thì các quyền của chúng cũng không có khả năng để bảo đảm Chúng có thể bị buộc phải bỏ học và phải lao động sớm do những khó khăn kinh tế gia đình Quyền của người già, người khuyết tật cũng sẽ bị ảnh hưởng xuất phát từ những hạn chế về thể chất và tinh thần của họ Đối với người nghèo, sự thách thức đối với họ khi bị thu hồi đất, di dời nơi ở là việc xác định các phương án tạo thu nhập và sinh sống bền vững mà họ có thể thực hiện được Người nghèo rất có thể không có tài sản đáng giá để được bồi thường hoặc không có thu nhập để được khôi phục khi thu hồi đất Do vậy, họ dễ bị đẩy xuống tận cùng của sự nghèo hèn do bị mất đất Đối với người thiểu số và người bản địa, việc mất đất có thể dẫn đến không nắm bắt được các cơ hội phát triển thuộc xu hướng chung do không thích nghi được môi trường sống mới mà ở đó tập quán sản xuất, sử dụng đất đai không phù hợp với truyền thống lâu đời của họ

Tóm lại, việc thực hiện các dự án thủy điện tác động đến rất nhiều quyền con người, trong đó có những quyền bị tác động trực tiếp, có quyền bị tác động gián tiếp Mặc dù quyền có nơi ở thích đáng, quyền được làm việc, quyền sở hữu có lẽ là những quyền con người bị ảnh hưởng rõ ràng nhất, nhưng một số quyền khác cũng

bị ảnh hưởng Các quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú của một người đã được công nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và nhiều hiến pháp quốc gia

sẽ bị vi phạm khi có hành động thu hồi đất, cưỡng chế di dời nơi ở Quyền an ninh

cá nhân và quyền không bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở - những quyền được thừa nhận rộng rãi sẽ không có ý nghĩa trong bối cảnh bị đe dọa, bị cưỡng chế di dời Khi trẻ em không được đến

Trang 36

trường do hành động cưỡng bức di dời nơi ở, tức là lúc đó quyền giáo dục của các

em bị tước bỏ v.v Thu hồi đất, buộc di dời nơi ở để thực hiện các dự án thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người Vậy, cần phải thực hiện những nội dung, biện pháp gì khi thực hiện các dự án thủy điện nhằm bảo đảm quyền con người của người?

1.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội

1.3.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng

xã hội ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay xu hướng tiến bộ trên thế giới là phát triển kinh tế, xã hội và môi trường theo hướng bền vững Ở Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì chúng ta cũng đang hàng ngày phải đối diện với những vấn đề xã hội nhức nhối,

mà nếu không có hướng giải quyết triệt để thì những vấn đề này sẽ là bước cản lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững

Theo Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ,

công bằng xã hội nằm trong nhóm các mối quan hệ lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến

sự phát triển của đất nước Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là đòi hỏi vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong công cuộc đổi mới, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế như hiện nay

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là mối quan hệ

có sự tác động qua lại, biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau Chính sách phát triển chỉ nhằm tăng trưởng nhanh có thể phải trả giá đắt nếu tình trạng bất bình đẳng về thu nhập, về cơ hội học hành, tiếp cận dịch vụ xã hội và nghèo đói gia tăng, thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn, gây căng thẳng xã hội Nhưng ngược lại, những chính sách chỉ thiên về mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội

có thể làm triệt tiêu các động lực kích thích tăng trưởng kinh tế

Vì vậy, vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực

Trang 37

hiện tiến bộ, công bằng xã hội được Đảng ta đặc biệt chú trọng Đại hội VII của

Đảng (1991) xác định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường” [5] Đại hội VIII của Đảng (1996) nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái” [6] Đại hội

IX của Đảng (2001) khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ

và công bằng xã hội trong từng bước phát triển” [7] Văn kiện Đại hội X của Đảng (2006) nhấn mạnh “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội” [8] Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán: “Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [9]

Như vậy, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội được thể hiện rõ ngay trong từng bước hoàn chỉnh đường lối chiến lược và từng chính sách phát triển của Đảng

Cùng với hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong thực tiễn, trong những năm qua Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Về kinh tế, vị thế của Việt Nam được cải thiện rõ rệt cả ở khu vực và trên thế giới Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cơ bản được cải thiện Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội của con người được nâng lên đáng

kể Xóa đói giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, được thế giới đánh giá cao

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta vẫn còn những hạn chế Những thách thức mới đặt ra vô cùng lớn: nền kinh tế phát triển chưa hợp

lý khiến tăng trưởng kinh tế chỉ ở bề rộng mà thiếu chiều sâu và tính bền vững, tình trạng phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích xã hội gia tăng, tham nhũng và đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng , tiềm ẩn nguy cơ bất ổn trong phát triển xã hội

Về xã hội, nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp

Trang 38

và thiếu việc làm ở nông thôn, những nơi đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng Bên cạnh đó, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra khá nghiêm trọng giữa các tầng lớp dân cư, khoảng cách về thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất đang có xu hướng tăng Trong lĩnh vực giáo dục, y tế còn nhiều hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, vi phạm công bằng xã hội

Theo Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố ngày 09/11/2011 cho thấy: tiến bộ chung về phát triển con người ở Việt Nam chủ yếu vẫn do tăng trưởng thu nhập, còn những tiến bộ về xã hội, bao gồm y tế và giáo dục thì diễn ra còn rất chậm và đóng góp ít vào chỉ số này

Theo nhận định của Báo cáo này thì “do bất bình đẳng mà Việt Nam không thể hiện thực hóa toàn bộ tiềm năng phát triển con người của mình” [16]

Trở lại vấn đề Phát triển thủy điện với việc bảo đảm các quyền con người

Như đã phân tích ở trên, có thể thấy: Phát triển thủy điện là nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước góp phần vào tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua Tuy nhiên, phát triển thủy điện đồng nghĩa với việc phải tiến hành thu hồi đất và thực hiện tái định cư cho các hộ dân sống trong vùng bị ảnh hưởng bởi công trình thủy điện Với tính chất và đặc điểm của các công trình thủy điện là được xây dựng chủ yếu ở khu vực thuộc địa bàn khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống theo cộng đồng và có phong tục tập quan canh tác, văn hóa truyền thống đa dạng Chính vì vậy, đối tượng di dân, tái định cư công trình thủy điện đại đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Bởi vậy giải quyết bài toán giữa phát triển thủy điện với việc bảo đảm các quyền con người cơ bản cho người dân phải di chuyển khỏi vùng lòng hồ nhằm bảo đảm cho người dân

bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất bằng trước lúc chuyển cư, ngăn ngừa những hậu quả xấu về kinh tế, xã hội và môi trường mà quá trình tái định cư có thể đưa lại chính là giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh

tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội

Trang 39

1.3.2 Cách tiếp cận dựa trên quyền: sự gắn kết giữa quyền và phát triển

Báo cáo liên quan đến việc cải tổ tổ chức Liên hợp quốc năm 1997 đã đề cập tới việc đưa quan điểm quyền con người vào nội dung công việc của các bộ phận cấu thành Liên hợp quốc Liên quan đến điều này, lĩnh vực hợp tác phát triển còn

nhấn mạnh thông qua việc đưa ra Cách tiếp cận dựa trên quyền cho phát triển (rights – based approad to development: RBA) “Cách tiếp cận dựa trên quyền là quan điểm nhằm vận dụng tiêu chuẩn và nguyên tắc của tư tưởng nhân quyền vào mọi khâu của quá trình phát triển, quan điểm nhằm đưa việc thực hiện Quyền con người - chứ không chỉ là Phát triển kinh tế - vào mục đích phát triển” [1]

Năm 1945, cùng với Hòa bình và Dân chủ, Quyền con người và Phát triển đã được tổ chức Liên Hợp quốc giương cao như là 4 trụ cột chính của tổ chức này Không chỉ trong Hiến chương Liên Hợp quốc, quyền con người còn được chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (1948) Bị ám ảnh bởi mục tiêu thoát nghèo, trước đây Phát triển hầu như được đồng nhất với tăng trưởng kinh

tế theo nghĩa yếu tố này được xem là chìa khóa của quá trình phát triển và sự thiên lệch về mục tiêu tăng trưởng chi phối đáng kể tư duy phát triển, vì vậy con người bị xem nhẹ, thậm chí như một nhân tố sản xuất góp phần thúc đẩy tăng trưởng, còn bất bình đẳng, nghèo khó của một bộ phận dân cư được coi như cái giá phải trả Đây cũng chính là hạn chế lớn nhất mà khi nhận ra người ta buộc phải thay đổi lại nhận thức trong nội hàm Phát triển và Quyền con người

Năm 1966, Liên hợp quốc thông qua hai công ước về quyền con người là Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị và Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa Các công ước quốc tế này là cơ sở tạo ra những bộ tiêu chuẩn pháp lý đầy đủ với sự đồng thuận của quốc tế, thúc đẩy công bằng bình đẳng, sự tham gia và trách nhiệm Việc ghi nhận và thực thi những tiêu chuẩn này

là một công việc khó khăn hơn nhiều so với việc phê chuẩn các công ước về quyền con người Nhưng nhiều thực tế cho thấy sự tôn trọng thực thi quyền con người và dân chủ có tác dụng tăng cường phát triển con người, tăng cường cho phát triển bền vững

Trang 40

Năm 1986, Liên hợp quốc thông qua bản tuyên bố về Quyền phát triển Tuyên bố này đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa các Quyền Dân sự, Quyền Kinh tế và Phát triển cho dù nó không mang tính ràng buộc và không nhận được sự ủng hộ của các nước giàu có Âu Mỹ Sau đó, Hội nghị Viên về Quyền con người (1993), đã khẳng định tính chất bất phân chia giữa quyền con người và phát triển thông qua Tuyên bố về Quyền phát triển Cuối cùng, vào khoảng thời gian bắt đầu bước vào thiên niên kỷ mới, tất cả những thay đổi này đã được tổng hợp lại một

cách khá ấn tượng trong hai công trình nổi tiếng Phát triển là quyền tự do (1999) của Amartya Sen và Báo cáo phát triển con người 2000 của UNDP về Phát triển con người và Quyền con người (Joachim Theis, 2006), thêm vào đó là Các Mục tiêu Thiên niên kỷ (2000) được đề ra với đòi hỏi về “quyền tự do lớn hơn” cho phát triển

Mary Robinson (nguyên Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền và Giám đốc điều

hành Tổ chức “Thực hiện các quyền: Sáng kiến toàn cầu có đạo đức”) khi đề cập

đến sự kết hợp giữa quyền và phát triển đã nói:

Tôi muốn nói với các nhà kinh tế và những người không phải là luật sư ở đây rằng tôi không tin nhân quyền đem lại tất cả những lời giải đáp cho những thách thức về phát triển hôm nay Nhưng những gì mà nội dung này mang lại là những quyền được yêu cầu về mặt đạo đức và những nghĩa vụ luật pháp đã được quốc tế thông qua phải được các nhà kinh tế và những người hoạt động trong lĩnh vực phát triển nhìn nhận tích cực hơn để chèo lái lộ trình toàn cầu hóa theo cách có trách nhiệm hơn, có nhiều người tham dự hơn và có lợi hơn cho nhiều người Tại sao? Tại vì điều đó sẽ giúp chuyển trọng tâm chú ý tới những người túng quẫn và ở ngoài lề nhất, nhất là sự túng quẫn do phân biệt đối xử gây ra những người lập kế hoạch chỉ nhìn đến những thành quả ở tầm vĩ

mô và không tính đến những hậu quả cho các cộng đồng hoặc nhóm người cụ thể Khả năng của nhân quyền buộc sự chú ý hướng tới những người bị thiệt thòi là đóng góp cụ thể của hoạt động nhân quyền cho việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển [47]

Ngày đăng: 05/07/2023, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Minh Chi (2009), “Cách tiếp cận dựa trên quyền: Sự gắn kết giữa quyền và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, (2) (41) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận dựa trên quyền: Sự gắn kết giữa quyền và phát triển
Tác giả: Vũ Minh Chi
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Con người
Năm: 2009
2. Chính phủ (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc giao, lợi ích công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc giao, lợi ích công cộng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
3. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
4. Trang Hiếu Dũng (1995), Những giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu để ổn định và phát triển sản xuất, đời sống cho nhân dân di chuyển ra khỏi vùng hồ Yaly tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu để ổn định và phát triển sản xuất, đời sống cho nhân dân di chuyển ra khỏi vùng hồ Yaly tỉnh Gia Lai - Kon Tum
Tác giả: Trang Hiếu Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 1995
5. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (1991), Văn kiê ̣n Đại hội Đảng VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng VII
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1991
6. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (1996), Văn kiê ̣n Đại hội Đảng VIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng VIII
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
7. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (2001), Văn kiê ̣n Đại hội Đảng IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng IX
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
8. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (2006), Văn kiê ̣n Đại hội Đảng X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng X
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
9. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (2011), Văn kiê ̣n Đại hội Đảng XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng XI
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
10. Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người - Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của các Ủy ban công ước Liên Hợp quốc, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người - Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của các Ủy ban công ước Liên Hợp quốc
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
11. Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (2010), Tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc về quyền con người, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
12. Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (2010), Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948: Mục tiêu chung của nhân loại, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948: Mục tiêu chung của nhân loại
Tác giả: Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2010
13. Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
14. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966), NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966)
Tác giả: Khoa Luật
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
15. Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội (2012), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về quyền con người
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
16. Liên hợp quốc (2011), Báo cáo phát triển con người chương trình phát triển LHQ (UNDP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người chương trình phát triển LHQ (UNDP)
Tác giả: Liên hợp quốc
Năm: 2011
17. Lê Thanh Nam (2011), Bảo tồn giá trị văn hóa vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang, tr.2, Luận văn tốt nghiệp Cao cấp Lý luận chính trị - Hành chính, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn giá trị văn hóa vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang
Tác giả: Lê Thanh Nam
Nhà XB: Luận văn tốt nghiệp Cao cấp Lý luận chính trị - Hành chính
Năm: 2011
18. Ngân hàng phát triển Châu Á (1995), Cẩm nang về tái định cư - hướng dẫn thực hành, www.org/documents/ handbook-resettlment-guide-good-practice-vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang về tái định cư - hướng dẫn thực hành
Tác giả: Ngân hàng phát triển Châu Á
Năm: 1995
19. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2011), Báo cáo nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
20. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2011), Báo cáo đề xuất về hoàn thiện chính sách nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề xuất về hoàn thiện chính sách nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam
Nhà XB: Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w