Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự như khái niệm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở và nội dung củ
Trang 2NGUYỄN PHƯƠNG HẠNH
QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM NĂM 2004
Chuyên ngành : Luật dân sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình
Hµ néi - 2010
Trang 31.1 Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của quyền tự định đoạt của
đương sự trong tố tụng dân sự
Trang 41.4.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005 24
Chương 2: Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng năm 2004 về
quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
2.1.2 Quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập có liên quan
tới vụ án mà Tòa án đang giải quyết
35
2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu
41
2.3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thỏa thuận giải
quyết vụ việc dân sự
47
2.4 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo,
khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án
50
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến Nghị
58
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng
dân sự
58
3.1.1 Tình hình thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự
58
3.1.2 Nguyên nhân của hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự
trong tố tụng dân sự Việt Nam
66
3.1.2.1 Về hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự liên quan 66
Trang 5sâu rộng trong nhân dân
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện các quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của
đương sự trong tố tụng dân sự
73
3.2.1 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự về quyền tự định đoạt của đương sự
73
3.2.2 Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật tố tụng dân
sự nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân
83
3.2.3 Khắc phục những hạn chế, thiếu sót từ phía ngành Tòa án
nhằm nâng cao chất lượng xét xử và đảm bảo cho đương sự
thực hiện tốt quyền tự định đoạt của mình
84
Trang 61 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, Nhà nước ta
đã và đang có những hoạt động tích cực trong công cuộc cải cách tư pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân Hiện nay, trong xu hướng hội nhập toàn cầu thì vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia các quan hệ trong xã hội ngày càng được quan tâm, Nhà nước với tư cách là một chủ thể đặc biệt có chức năng quản lý xã hội đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật đảm bảo cho các cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội bảo
vệ một cách tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 15/6/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 quy định khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng dân sự như các nguyên tắc của tố tụng dân sự, chứng cứ và chứng minh, thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự là một công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế và lao động được nhanh chóng, kịp thời, công bằng, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và
xã hội Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện Bộ luật này cho thấy còn có nhiều vướng mắc và bất cập trong đó có cả các quy định về quyền tự định đoạt của đương sự Do đó, việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự, các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về vấn đề này và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án của Việt Nam là cần
Trang 7đảm việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004"
làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý được công bố có đề cập đến quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Cụ thể là một số công trình sau đây:
- Công trình nghiên cứu cấp Bộ: "Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự", do Tòa án nhân dân tối
cao thực hiện năm 1996;
- Luận án tiến sĩ luật học: "Xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn", do nghiên cứu sinh Phan Hữu Thư thực hiện năm 2001;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Quyền tự định đoạt của đương sự trong
tố tụng dân sự", do học viên Nguyễn Tiến Trung thực hiện năm 1997
- Các sách chuyên ngành đã xuất bản: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
của Học viện Tư pháp, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2007;
Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2009; Pháp luật tố tụng dân sự
và thực tiễn xét xử của tác giả Tưởng Duy Lượng, do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia xuất bản năm 2009
- Các bài viết đăng trên các tạp chí có bài "Nguyên tắc quyền tự định
Trang 8định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam"
của tác giảNguyễn Ngọc Khánh, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
5/2005; "Việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm" của tác giả Bùi Thị Huyền, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2007; "Sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự" của
tác giả Bùi Thị Huyền, đăng trên Tạp chí Luật học, số 8/2007…
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Ngay cả luận văn thạc sĩ luật học "Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự" của học viên Nguyễn Tiến Trung là công trình nghiên cứu có đề
cập trực tiếp đến vấn đề này nhưng do công trình này được nghiên cứu trước khi Nhà nước ta ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nên cũng chỉ phân tích một số vấn đề có liên quan đến chúng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định này tại Tòa án Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng được tiến hành đối với các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan để so sánh, tham khảo
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một vấn đề lớn, có nhiều nội dung khác nhau Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, việcnghiên cứu đề tàichỉ giới hạn ở phạm vi quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ việcdân sự, hôn nhân và gia đình,
Trang 9yêu cầu, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự, khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, làm rõ nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự và đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định này tại Tòa án
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự như khái niệm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở và nội dung của quyền tự định đoạt của đương sự, phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và khảo sát thực tiễn việc thực hiện các quy định này tại các Tòa án từ đó đánh giá, nhận diện được những bất cập của chúng và tìm ra các giải pháp khắc phục
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đường lối của Đảng, Nhà nước ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật
Quá trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic… để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trang 10những vấn đề liên quan đến quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nên có những điểm mới khoa học sau:
- Hoàn thiện khái niệm, làm rõ bản chất, ý nghĩa và cơ sở của quyền
tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự;
- Xác định nội dung quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Đánh giá đúng thực trạng và thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự tại các Tòa án
- Đề xuất được một số kiến nghị về việc hoàn thiện và thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự trong bối cảnh thực hiện chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và thực hiện chúng tại các Tòa án Ngoài ra, luận văn còn
là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập về pháp luật tố tụng dân sự ở các cơ sở đào tạo Luật học tại Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự
trong tố tụng dân sự
Trang 11Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2004 về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị
Trang 12CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội thì quyền tự định đoạt của đương sự là:
Quyền tố tụng dân sự của đương sự tự quyết định việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án… Trong tố tụng dân
sự đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu khi khởi kiện; hòa giải với đương sự phía bên kia [33, tr 224]
Theo TS Nguyễn Công Bình thì "quyền tự định đoạt của đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó" [34, tr 49]
TS Nguyễn Ngọc Khánh cho rằng quyền tự định đoạt của đương sự trong tố
tụng dân sự "… thể hiện ở khả năng của những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân sự của mình và các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại" [6, tr 57]
Xét về lợi ích thì chính các đương sự trong tố tụng dân sự là chủ thể
có quyền, lợi ích trong vụ việc dân sự cần giải quyết nên đương sự hoàn toàn
có quyền tự do quyết định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
Trang 13có thỏa thuận giải quyết việc kiện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các đương sự; điều này đã thể hiện đương sự hoàn toàn có quyền chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chấp hoặc các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ Tòa án nhân dân là cơ quan xét
xử của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ thụ lý để giải quyết vụ việc dân sự khi đương sự có đơn yêu cầu nhằm bảo đảm cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật
Như vậy, về lý luận thì các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Tuy vậy, theo các quan niệm này và theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự thể hiện:
Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết
vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân
sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội [16]
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền tự quyết định về phương diện tố tụng trước Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và quyền tự định đoạt này được thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nên nó có mối liên hệ trực tiếp đến hoạt động của Tòa án và ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng, bị chi phối bởi những quyết định của Tòa án Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để bảo vệ
Trang 14của Nhà nước và xã hội
Có thể thấy rằng, quyền tự định đoạt của đương sự là quyền năng đặc thù của các đương sự được thừa nhận trong pháp luật tố tụng của nhiều nước trên thế giới Quyền năng này có nguồn gốc từ quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận trong các quan hệ dân sự Ở nước ta, quyền tự định đoạt của đương sự được coi là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, là nền tảng
để xây dựng các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân
sự
Quyền tự định đoạt của đương sự phản ánh bản chất của các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Đó là các quan hệ xã hội được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động là hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng Vì vậy, quyền tự định đoạt của các bên trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này cũng được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế Theo đó, để phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung về các quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động pháp luật phải ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Thực tế, khi nói đến khái niệm "quyền" thì nội hàm của nó đã bao hàm cả tính "tự định đoạt" của chủ thể có quyền, nhưng không phải trong mọi trường hợp thuộc tính "tự định đoạt" cũng được phản ánh đầy đủ trong phạm
vi quyền Điều này còn phụ thuộc vào quyền năng đó của chủ thể được thực hiện trong lĩnh vực quan hệ pháp luật nào như: quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, quan hệ pháp luật hành chính hay quan hệ pháp luật hình sự… Chỉ trong các quan hệ dân sự, hôn nhân
Trang 15các quan hệ được thiết lập trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mặt khác, khi nói đến quyền tự định đoạt của đương sự trong
tố tụng dân sự là muốn nhấn mạnh tới quyền của đương sự trong việc tự quyết định việc tham gia tố tụng và thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án trong suốt quá trình của tố tụng dân sự Tuy nhiên, quyền tự định đoạt còn thể hiện ở chỗ các đương sự cũng có thể
ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các đương sự
Nói đến quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự thì không thể không đề cập đến phạm vi của quyền này, theo đó các đương sự chỉ
có quyền định đoạt những vấn đề thuộc phạm vi đã được pháp luật ghi nhận
và bảo vệ Mặc dù quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là sự thể hiện tự do ý chí của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp, nhưng đương sự không được thể hiện ý chí tự định đoạt một cách tùy tiện mà phải thực hiện trong một khuôn khổ nhất định do pháp luật quy định Có nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự không phải là vô hạn định mà phải được giới hạn bởi pháp luật, không xâm phạm đến quyền lợi của các chủ thể khác Quyền tự định đoạt này phải đặt trong mối tương quan với nghĩa vụ của đương sự với các chủ thể khác và phải được đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm của công dân đối với Nhà nước và xã hội
Qua việc nghiên cứu cho thấy quyền tự định đoạt của đương sự trong
tố tụng dân sự có những đặc trưng sau:
- Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền về hình thức được thực hiện trong tố tụng dân sự, được quyết định bởi các quyền nội
Trang 16trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để thực hiện quyền tự định đoạt của mình thì quyền định đoạt này sẽ được thực hiện thông qua hành vi tố tụng của các chủ thể đại diện được pháp luật cho phép.
- Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự được thể hiện thông qua một hệ thống các quyền tố tụng dân sự mà theo đó trong suốt quá trình tố tụng các đương sự có thể quyết định sử dụng để định đoạt về quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong việc giải quyết vụ việc dân sự
- Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự có mối quan
hệ biện chứng với quyền công dân và chỉ thực sự được bảo đảm thực hiện khi được quy phạm pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận và bảo vệ
- Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền chủ quan được thực hiện theo ý chí của đương sự có quyền đồng thời cũng là một quyền khách quan được pháp luật quy định và chủ thể có quyền phải thực hiện quyền của mình theo khuôn khổ mà pháp luật cho phép Do vậy, việc đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình không được xâm hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, quyền lợi của Nhà nước và xã hội
- Trong tố tụng dân sự thì hoạt động của Tòa án có vai trò quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân sự Việc thực hiện được quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự một phần được quyết định thông qua các hoạt động tố tụng của Tòa án Vì vậy, pháp luật cần quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự định đoạt của đương
sự
Trang 17lựa chọn quyết định các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
1.1.2 Bản chất quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì bản chất là phạm trù chỉ
sự tổng hợp tất cả các mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật Bản chất quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự thể hiện ở những mặt sau đây:
- Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là các quyền được quy định trong các quy phạm pháp luật hình thức, có nguồn gốc từ các quyền về dân sự (theo nghĩa rộng) do pháp luật nội dung quy định Do đó, nội dung của quyền dân sự quyết định quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Nếu các quyền dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự không được xác lập hoặc không được pháp luật nội dung thừa nhận thì các quyền tố tụng của đương sự cũng sẽ không tồn tại trên thực tế Các quyền tố tụng chỉ phản ánh các quyền trong pháp luật nội dung Điều này phù hợp với
lý luận của phép duy vật biện chứng đó là nội dung quyết định hình thức và hình thức là sự phản ánh nội dung, phù hợp với nội dung
- Quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự thể hiện tính chất các quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội nói chung Mà bản chất của các hành vi đó được xác lập trên cơ sở tự do, ý chí, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận và bình đẳng Trong xã hội có giai cấp, khi sở hữu được xác lập thì quyền tự định đoạt của cá nhân được sử dụng như một giá trị phổ biến trong đời sống dân sự hàng ngày, được pháp luật ghi nhận đó là hình thức của quyền sở hữu và theo đó quyền sở hữu là quyền sử dụng và định
Trang 18Cá nhân, cơ quan, tổ chức tự bày tỏ ý chí, tự lựa chọn và quyết định thực hiện quyền (và nghĩa vụ) theo động cơ, mục đích của mình trong khuôn khổ của pháp luật Trường hợp có tranh chấp, các đương sự tự do lựa chọn phương thức giải quyết như tự thỏa thuận với nhau hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc, các đương sự vẫn có quyền tự mình quyết định về nội dung tranh chấp và được Tòa án tôn trọng Sự tham gia của đương sự trong quá trình tố tụng để giải quyết tranh chấp trên cơ sở ý chí, tự nguyện là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của quyền tự định đoạt
- Quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng dân sự Khi tiến hành giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự phải được bảo đảm tự do định đoạt các quyền về dân sự (theo nghĩa rộng) cũng như thực hiện các quyền tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trước Tòa án Quyền
tự định đoạt của đương sự chi phối hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Vì vậy, phạm vi giải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc một phần rất lớn vào quyền tự định đoạt của đương sự
1.1.3 Ý nghĩa quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự, nội dung mang tính xuyên suốt toàn
bộ quá trình tố tụng nhằm bảo đảm cho các đương sự có điều kiện, bằng hành
vi của mình, tự mình thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, trên cơ
sở đó mà các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ và tôn trọng Không chỉ với ý nghĩa là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự,
Trang 191.1.3.1 Ý nghĩa về mặt xã hội
Quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự là sự phản ánh của quyền tự định đoạt của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, các chủ thể có toàn quyền quyết định tham gia hay không tham gia vào các quan hệ, quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như phương thức để thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đó trên cơ sở thể hiện sự tự do ý chí, cam kết thỏa thuận giữa các chủ thể
và khi có tranh chấp hoặc vi phạm xảy ra thì họ cũng hoàn toàn có quyền quyết định việc bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp hoặc quyết định việc có khởi kiện hay không khởi kiện ra trước Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự vẫn có quyền tự mình quyết định về nội dung tranh chấp và được Tòa án tôn trọng thông qua hành vi rút yêu cầu khởi kiện hoặc tự thương lượng, thỏa thuận để giải quyết tranh chấp Với việc pháp luật tố tụng ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đã tạo điều kiện cho đương sự quyết định việc giải quyết tranh chấp Vì vậy, đối với những trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện, thỏa thuận với nhau việc giải quyết tranh chấp sẽ không làm mất đi những quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa các đương sự
1.1.3.2 Ý nghĩa về mặt pháp lý
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền được phản ánh và quy định bởi các quyền nội dung trong các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) và các quan hệ này diễn ra trong đời sống hàng ngày Theo đó, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có quyền tự do, tự quyết định trong việc thiết lập các giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của mình dựa
Trang 20qua các cơ quan tài phán như Tòa án, trọng tài Khi vụ việc đến Tòa án giải quyết đương sự vẫn có quyền thương lượng, thỏa thuận giải quyết Với việc quy định quyền tự quyết định của đương sự trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền lợi của mình, quyền có thể hòa giải khi đã đưa vụ việc kiện ra Tòa án giải quyết về phương diện pháp lý đã tạo điều kiện cho đương sự có thể tìm cho mình một phương thức để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
1.1.3.3 Ý nghĩa về mặt kinh tế
Quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp là một quyền đặc trưng của tố tụng dân sự, nó thể hiện ở khả năng các chủ thể tham gia tố tụng có quyền tự do định đoạt các quyền dân sự của mình nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước các vi phạm bằng việc khởi kiện hoặc rút đơn khởi kiện không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa hoặc các bên tự thỏa thuận, thương lượng với nhau về việc giải quyết tranh chấp Bằng việc pháp luật tố tụng ghi nhận và bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ dân sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình đã góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyết các tranh chấp của Toà án, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí và thời gian của Tòa án cũng như của đương sự bởi lẽ nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và tự hòa giải thì quy trình tố tụng sẽ chấm dứt và Tòa án cũng không phải tiếp tục giải quyết các tranh chấp theo yêu cầu của đương sự nữa
1.2 CƠ SỞ CỦA QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Trang 21Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật là công cụ chủ yếu để Nhà nước quản lý và duy trì trật tự xã hội Để đảm bảo trật tự xã hội được ổn định, bảo đảm các tranh chấp, mâu thuẫn dân sự được giải quyết nhanh chóng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp củacá nhân, cơ quan, tổ chức thì Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội dựa trên cơ sở tôn trọng quyền của công dân, trong đó có pháp luật nội dung và pháp luật về tố tụng Pháp luật nội dung quy định các quy tắc ứng xử, ghi nhận và bảo hộ các quyền về dân sự của các chủ thể Pháp luật tố tụng dân sự quy định các phương thức bảo vệ các quyền dân sự của các chủ thể tai Tòa án để góp phần cho các quyền đó được tôn trọng, thực hiện trên thực tế
Với ý nghĩa như vậy nên trong lịch sử lập pháp, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự để quy định cách thức, trình tự tố tụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từquan hệ pháp luật về nội dung để bảo vệ quyền về dân sự mà pháp luật nội dung đã quy định Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự luôn gắn liền với quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Do đó
cơ sở để pháp luật tố tụng dân sự quy định đương sự trong tố tụng dân sự được thực hiện quyền tự định đoạt của mình chính là các quyền lợi đã được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo hộ
Pháp luật nội dung về dân sự bao gồm pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong các quan hệ pháp luật về dân
sự, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Pháp luật nội dung quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia
Trang 22quan hệ dân sự cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan hệ đó
Trong các quan hệ dân sự thì chính các chủ thể là người có quyền, lợi ích cho nên họ được tùy ý lựa chọn cách ứng xử của mình, có thể tự mình làm hoặc giao cho người khác thực hiện, có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thanh toán mọi chi phí, bồi thường thiệt hại Các quy phạm pháp luật nội dung
về dân sự đã mở ra những khả năng nhất định để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và khi tham gia vào các quan hệ này thì các chủ thể
có quyền tự định đoạt quyền, lợi ích của họ Xuất phát từ tính chất của các quan hệ dân sự chủ yếu là các quan hệ về tài sản giữa các chủ thể, chính các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự là chủ thể có quyền, lợi ích cho nên khi có tranh chấp thì các đương sự trong tố tụng dân sự có thể tự mình quyết định việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình, tự thương lượng với chủ thể có tranh chấp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện, nếu không có năng lực hành vi tố tụng thì việc định đoạt sẽ được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp được pháp luật quy định
Quyền tự đoạt của đương sự chỉ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nội dung cho phép Quyền tự đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự luôn phải gắn với các quyền, lợi ích được pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ Trong tố tụng dân sự thì các đương sự chỉ có thể định đoạt trong phạm vi những quyền, lợi ích hợp pháp đã được pháp luật nội dung ghi nhận và không thể định đoạt những quyền lợi mà mình không có Do vậy, việc định đoạt trong từng vụ việc cụ thể phải trong giới hạn của quan hệ pháp luật nội dung
mà Tòa án đang giải quyết Ngoài ra, như trên đã phân tích thì việc định đoạt của các đương sự phải phù hợp với pháp luật và không được xâm phạm tới quyền lợi của người thứ ba hoặc quyền lợi của Nhà nước và xã hội
Trang 23Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự xuất phát và gắn liền với quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự do pháp luật tố tụng dân sự quy định nhưng bị giới hạn bởi quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của quyền tự định đoạt của đương sự trong
tố tụng dân sự
Ngày nay trong đời sống xã hội hiện đại các quan hệ dân sự diễn ra ngày càng nhiều và cùng với sự phát triển của nó thì những mâu thuẫn cũng phát sinh đòi hỏi cần được giải quyết ngày một nhiều Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp khi các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau là thông qua việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Đây cũng chính là yêu cầu bắt nguồn từ đời sống thực tiễn đòi hỏi pháp luật phải có những quy định cụ thể về thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án để các đương sự thực hiện trong đó có các yêu cầu về bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự
Pháp luật dân sự đã có những quy định về quyền tự quyết định của các chủ thể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trong đó có ghi nhận
về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho các đương sự thực hiện các quyền do pháp luật nội dung quy định
Trong thực tiễn, khi các tranh chấp dân sự nảy sinh thì nhiều trường hợp do quyền lợi có tranh chấp là nhỏ nhặt, không đáng kể nên bên có quyền lợi bị xâm phạm cũng không muốn mất thời gian để đi kiện tại Tòa án Ngoài
ra, có thể do không có đủ chứng cứ, tài liệu để chứng minh hoặc do những
Trang 24mối quan hệ đặc biệt nên đương sự chấp nhận thiệt thòi mà không khởi kiện
ra Tòa án để không mất đi những quan hệ tốt đẹp về tình cảm gia đình, dòng
họ hay bè bạn, hàng xóm, láng giềng Do vậy, trong những trường hợp này pháp luật không thể bắt buộc đương sự có quyền lợi bị xâm hại phải khởi kiện trước Tòa án hoặc nếu họ khởi kiện rồi sau đó lại rút đơn hay hòa giải thì pháp luật và Tòa án cũng cần phải tôn trọng quyền tự quyết định của họ
Mặt khác, trong đời sống xã hội số lượng các tranh chấp xảy ra rất lớn nhưng nếu như mọi tranh chấp đều phải được Tòa án xét xử thì sẽ dẫn đến nhiều bất hợp lý Giả sử nếu đương sự không yêu cầu Tòa án xét xử hoặc đã rút đơn khởi kiện nhưng Tòa án vẫn tiến hành xét xử thì việc xét xử của Tòa
án sẽ là tốn công, vô ích vì đương sự sẽ không yêu cầu thi hành án Nếu như không ghi nhận và đảm bảo quyền tự định đoạt trong việc rút đơn khởi kiện của đương sự thì có lẽ số vụ việc mà ngành Tòa án phải đảm nhận hàng năm
sẽ rất nhiều và ngành Tòa án sẽ luôn quá tải về công việc Ngoài ra, nếu Tòa
án vẫn cứ tiến hành xét xử khi mà đương sự đã rút đơn yêu cầu hay thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết những vấn đề có tranh chấp hoặc xét xử vượt quá những vấn đề mà đương sự yêu cầu thì quyền tự do định đoạt, tự do,
tự nguyện cam kết, thỏa thuận đã được pháp luật dân sự ghi nhận sẽ không được tôn trọng và sẽ khó tránh khỏi việc khiếu kiện kéo dài hoặc nảy sinh những vấn đề phức tạp trong thi hành án dân sự
Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động nên đương sự có quyền tự quyết định việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng việc khởi kiện hoặc không khởi kiện tại Tòa án hoặc rút đơn khởi kiện không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc các đương sự đã tự thỏa thuận được việc giải quyết tranh chấp thì quy trình tố tụng dân sự phải chấm dứt và Tòa án sẽ không giải quyết những vấn đề mà đương sự trước đây
đã yêu cầu nữa Nếu không cho phép đương sự rút đơn khởi kiện hoặc thỏa
Trang 25thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp mà vẫn tiến hành xét xử khi họ rút đơn khởi kiện hoặc thỏa thuận được với nhau việc giải quyết tranh chấp thì có nghĩa là Tòa án đã ra bản án trái với nguyện vọng của đương sự, không phản ánh đúng ý chí tự nguyện của đương sự
Pháp luật về dân sự đảm bảo quyền tự do cam kết, thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự Trong giao lưu dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện và mọi cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và nếu như các quyền cơ bản này không được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự thì ý chí tự nguyện đích thực của các đương sự đã không được đảm bảo thực hiện Ngoài ra, nếu các bên thỏa thuận được mà Tòa án không công nhận mà vẫn xét xử thì con đường ngắn nhất, ít tốn kém nhất và đơn giản nhất để giải quyết tranh chấp đã không được thực hiện và hệ quả tất yếu là gây lãng phí thời gian, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của đương sự Vì vậy, việc pháp luật
tố tụng dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự là xuất phát từ thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án
1.3 NỘI DUNG QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ
Quyền tự định đoạt của các đương sự có nguồn gốc từ tính chất của các quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp mà Tòa án cần xem xét giải quyết Trong các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thì các chủ thể có toàn quyền quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ, quyết định nội dung của quan hệ (các quyền và nghĩa vụ của các bên), quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ và một khi các bên đã có quyền tự do trong việc xác lập giao dịch dân sự, xác lập hợp đồng thì nếu có tranh chấp hoặc vi phạm xảy ra họ cũng hoàn toàn có quyền tự mình thương lượng hoặc qua trung gian hòa giải hoặc
Trang 26đưa vụ tranh chấp ra Tòa án giải quyết Do đó, quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự là sự phản ánh của quyền tự định đoạt của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa luật tố tụng và luật nội dung Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy sự khác nhau giữa quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, inh doanh thương mại, lao động và quyền tự định đoạt của các đương sự trong quan hệ tố tụng dân sự: Quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thể hiện
sự tự do ý chí, cam kết thỏa thuận giữa các chủ thể còn sự tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự được thực hiện thông qua Tòa án Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự một mặt ghi nhận quyền tự định đoạt của các đương sự nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động của họ trong việc giải quyết tranh chấp, nhưng mặt khác cũng đặt ra trách nhiệm của Tòa án trong việc đảm bảo cho các đương sự thực sự thực hiện được quyền tự định đoạt của mình
Do vậy, nội dung quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện trước hết
ở quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Để đảm bảo việc giải quyết đúng yêu cầu của đương sự đòi hỏi nội dung đơn khởi kiện phải thể hiện đầy đủ, rõ ràng nội dung vụ việc và những yêu cầu cụ thể của người khởi kiện Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu đối với nguyên đơn và bị đơn thì việc yêu cầu của họ cũng phải rõ ràng như việc khởi kiện của nguyên đơn
Nội dung thứ hai của quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đó là quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu, rút đơn khởi kiện: Việc rút đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay không là do các đương sự tự
Trang 27quyết định, điều này thể hiện ý chí của đương sự là không mong muốn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nữa và việc đương sự rút đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập sẽ làm chấm dứt việc giải quyết yêu cầu đó
Đối với thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện cũng là quyền của đương
sự Đương sự có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu cả trước khi mở phiên tòa
và tại phiên tòa Ngoài việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đương sự còn có quyền rút yêu cầu Đối với việc rút yêu cầu của đương sự là tự nguyện thì sẽ được chấp nhận và Tòa án đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút
Nội dung thứ ba của quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền của các đương sự tự thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp: Mặc dù đã khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng ở mọi giai đoạn tố tụng các bên vẫn có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp Quyền thương lượng, thỏa thuận của các đương sự gắn liền với trách nhiệm của Tòa án trong việc tổ chức hòa giải và tạo mọi điều kiện cần thiết để các bên đương sự thương lượng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp Tuy nhiên Tòa án không được ép buộc các bên trong quá trình hòa giải mà phải tôn trọng sự tự nguyện, sự tự do
ý chí của các bên
Nội dung thứ tư của quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền của các đương sự trong việc kháng cáo hoặc khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án Nếu sau khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ việc, đương sự đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì việc giải quyết vụ việc chấm dứt Ngược lại, nếu không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại Như vậy, việc đương sự thực hiện quyền định đoạt này có thể sẽ làm phát sinh quy trình giải quyết vụ việc tại Tòa án cấp phúc thẩm
Trang 28Tóm lại, nội dung quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự bao gồm: Quyền của các đương sự được tự quyết định việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án; quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hoặc thỏa thuận với nhau giải quyết vụ việc, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án Tuy nhiên, để thực hiện được quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự trên thực tế còn phải phụ thuộc vào đương sự, Tòa án và những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
1.4 SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới trong đó có nhiều văn bản chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự như Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho giữ tạm các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc, nếu những quy định trong luật lệ cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án có nêu Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện về dân sự và thương sự, về động sản, về bất động sản, những việc kiện có quan hệ đến thân phận hay căn cước của người hoặc vấn đề tế tự Điều 9
của Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định: "Khi nhận được đơn kiện về dân sự hay thương sự, ông thẩm phán sơ cấp phải đòi hỏi hai bên đến để thử làm hòa giải Biên bản hòa giải có hiệu lực công chứng thư" [18] Điều 3 Sắc
lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán
quy định: "Ban Tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và
Trang 29thương sự, và nếu hòa giải thành sẽ lập biên bản hòa giải, có các ủy viên và những người đương sự ký" [18] Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định: " Tòa án nhân dân huyện họp thành hội đồng hòa giải để thử hòa giải tất cả các vụ kiện về dân sự và thương sự, kể cả việc xin ly dị, trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình" [18] Điều 10 Sắc lệnh số 85/SL cũng
quy định:
Biên bản hòa giải là một công chứng chứng thư, có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong, nếu Biện lý xét biên bản ấy phạm đến trật tự chung, thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi lại hoặc bác bỏ những điều mà hai bên đã thỏa thuận Hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày phòng biện lý nhận được biên bản hòa giải thành
án nhân dân huyện hay thị xã sẽ chính thức công nhận sự ly hôn" [18]
Như vậy, tuy các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự giai đoạn này còn mang tính tản mạn, chưa có văn bản nào quy định và hướng dẫn cụ thể về thủ tục tố tụng dân sự và quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Nhưng đây là những quy định mang tính nguyên tắc đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trong đó có
cả quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Trang 30Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã ban hành một loạt những văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình mới đó là Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Tòa án nhân dân tối cao cũng đã cùng với Bộ Tư pháp ban hành một loạt các văn bản pháp luật tố tụng dân sự Xét về hình thức văn bản thì đây cũng là điểm khác biệt so với hệ thống văn bản tố tụng được ban hành trước năm 1960 Ở giai đoạn trước năm
1960, hoạt động tố tụng giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được dựa trên các sắc lệnh do Chủ tịch nước ban hành Từ năm 1960 trở đi, các văn bản là cơ sở cho hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án là Luật tổ chức Tòa án nhân dân và đặc biệt là các thông tư do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Các văn bản đáng chú ý ở giai đoạn này là Thông tư số 39/NCPL ngày 21/01/1972; Thông tư số 614/DS ngày 24/4/1963; Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của Tòa án nhân dân tối cao… Theo Thông tư số 39/NCPL ngày 21/1/1972 của Tòa án nhân dân tối cao:
Nguyên đơn có đủ tư cách để đi kiện phải là người có năng lực hành vi và có quyền lợi bị xâm phạm Nguyên đơn có thể
ủy quyền cho một người có năng lực hành vi thay mặt cho mình trong việc kiện: Giấy ủy quyền phải có chứng nhận của Ủy ban hành chính xã, khu phố hoặc của cơ quan nơi người đi kiện công tác [19]
Theo Thông tư số 614/DS ngày 24/4/1963 của Tòa án nhân dân tối cao:
"Đương sự cũng có quyền thay đổi yêu cầu trước khi Tòa án quyết định" [19]
Theo Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của Tòa án nhân dân tối cao thì:
Việc hòa giải của Tòa án nhân dân nhằm giúp đỡ các đương sự tự thỏa thuận với nhau giải quyết việc kiện trên tinh thần đoàn kết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, do đó,
Trang 31phải bảo đảm những yêu cầu sau đây: Phải có sự tự nguyện của các đương sự, nội dung thỏa thuận của các đương sự phải đúng pháp luật, chính sách [19]
Với những quy định trên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam dần dần được hoàn thiện trên cơ sở xác định rõ thẩm quyền xét xử về dân sự, thủ tục điều tra, hòa giải cũng như đã có những quy định thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự khi giải quyết các vụ án dân sự
Năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 96/NCPL ngày 8/2/1977 hướng dẫn về trình tự xét xử sơ
thẩm về dân sự, trong đó có quy định: " các đương sự có quyền tự định đoạt
Do đó, nói chung Tòa án nhân dân chỉ thụ lý khi nguyên đơn khởi tố, trừ trường hợp luật pháp có quy định quyền khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân, của công dân, hợp tác xã hoặc đoàn thể nhân dân để bảo vệ lợi ích chung "
[20] Ngày 24/7/1981 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 81/TATC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp thừa kế Nội dung thông tư này có quy định quyền tự định đoạt của người lập di chúc để trên cơ sở đó người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được hưởng thừa kế đối với phần di sản mà người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật
1.4.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005
Có thể nói rằng, đây là giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và điểm mới có tính căn bản trong thời kỳ này là việc Nhà nước ta ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/1990 Đây là một văn bản pháp luật đầu tiên pháp điển hóa những quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, thủ tục chuẩn bị xét xử và thủ tục hòa giải vụ án dân sự, thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Thời điểm trước
Trang 32khi ban hành pháp lệnh thì quyết định hòa giải thành có hiệu lực như một bản
án sơ thẩm và hòa giải được xác định là một giai đoạn tố tụng, nhưng cho đến khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành thì hòa giải được thực hiện bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, trừ một số trường hợp pháp luật quy định không được tiến hành hòa giải Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay, các đương sự không
có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu phát hiện quyết định này có sai lầm thì sẽ kháng nghị và xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm theo quy định của pháp luật [4, tr 32-33] Tại Điều 2 của Pháp lệnh này đã quy định cụ thể
quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đó là: "Người khởi kiện
vụ án dân sự có quyền rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện Các đương sự có quyền tự hòa giải với nhau"
Sau khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 hướng dẫn
áp dụng một số quy định của Pháp lệnh này trong đó có nêu:
Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án, thì Thẩm phán lập biên bản hòa giả thành, trong đó phải nêu rõ nội dung việc tranh chấp và những điều mà các đương sự đã thỏa thuận Bản sao biên bản này được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, cho tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung Nếu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến hoặc Viện kiểm sát, tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung phản đối sự thỏa thuận đó thì Tòa án đưa ra xét xử, nếu trong thời hạn đó không có sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự [22]
Trang 33Ngoài ra, tại Công văn số 310/NCPL ngày 24/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự có hướng dẫn:
Trong trường hợp nguyên đơn kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử vắng mặt nguyên đơn khi nguyên đơn có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt họ, còn trường hợp Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà nguyên đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm và trong trường hợp này bản
án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật [23]
Một vấn đề có tính thay đổi phạm vi điều chỉnh của luật tố tụng dân sự giai đoạn này là việc ban hành các pháp lệnh như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 Từ thời điểm này, luật tố tụng dân sự quy định thủ tục giải quyết các loại việc về dân sự và các loại việc về hôn nhân và gia đình Các vụ
án kinh tế được giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế Các tranh chấp lao động được giải quyết theo thủ tục tố tụng lao động [4, tr 34-35]
Mặc dù phạm vi điều chỉnh các loại việc dân sự (theo nghĩa rộng) được quy định trong ba pháp lệnh đó là: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, nhưng với việc ban hành các pháp lệnh này đã đánh dấu bước phát triển mới của luật tố tụng dân sự Cùng với việc quy định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản trong thủ tục giải quyết các vụ án, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động đều đã quy định về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Với các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể thực hiện quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
1.4.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Trang 34Sự phát triển có tính bước ngoặt của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được đánh dấu bằng việc ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2005 Trước khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành, việc giải quyết những loại việc thuộc phạm vi điều chỉnh của
Bộ luật này được quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động và các văn bản pháp luật khác Tuy nhiên, các văn bản pháp luật này mới chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc trong việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế và lao động Mặt khác, do sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập nên nhiều quy định của các văn bản pháp luật này không còn phù hợp, thiếu đồng bộ so với các văn bản pháp luật mới được hành như Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự, Luật thương mại dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật vào việc giải quyết các vụ việc dân sự làm cho hiệu quả, chất lượng xét xử của Tòa án không cao Đó chính là các cơ sở cho sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây tạo điều kiện thuận lợi và cần thiết cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân sự, bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa
án góp phần thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành đã làm thay đổi quy trình
tố tụng dân sự tại Tòa án theo hướng công khai, minh bạch, các đương sự có vai trò chủ động, quyết định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án và đã ghi nhận một cách cụ thể và đầy đủ quyền tự định đoạt của đương sự Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ra nhiều nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật này, trong đó có nhiều hướng dẫn về quyền tự định đoạt
Trang 35của đương sự như Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006…
Nghiên cứu sự phát triển của các quy định về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự cho thấy quyền tự định đoạt được quy định khá sớm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và ngày càng được quy định cụ thể, mở rộng hơn Đặc biệt từ năm 1989 đến nay Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tố tụng dân sự có giá trị pháp lý cao đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động và tiếp đến là
Bộ luật tố tụng dân sự Với các quy định của các văn bản này, các quy định về quyền tự định đoạt của đương sự ngày càng đầy đủ góp phần đảm bảo cho các đương sự bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một quyền tố tụng cơ bản của đương sự được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự và là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự Theo đó, đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; có quyền tự thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ việc dân sự
Việc pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của đương
sự trong tố tụng dân sự xuất phát từ các yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp theo hướng tôn trọng quyền tự do, tự nguyện, thoả thuận của các đương sự trong việc quyết định về các quyền lợi của mình trong các quan hệ dân sự và
Trang 36đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp diễn ra theo trình tự nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Trong quá trình phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền tự định đoạt của đương sự ngày càng hoàn thiện Từ việc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự chỉ được quy định sơ sài trong các thông tư của Tòa án nhân dân tối cao là chủ yếu đến việc quy định rải rác trong các văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn do Nhà nước ban hành như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động v.v Ngày nay, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ và cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trang 37Chương 2
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG NĂM 2004 VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT
CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1 QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VIỆC ĐƯA RA YÊU CẦU
2.1.1 Quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự
Tại Điều 50 của Hiến Pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" [13] Trong các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận thì quyền
dân sự của công dân có một ý nghĩa rất quan trọng Công dân được phép xử
sự theo một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình Chính vì vậy, Bộ luật dân sự
đã ghi nhận quyền dân sự và cho phép các chủ thể khác được chủ động thực hiện biện pháp để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình trong trường hợp bị xâm phạm bằng nhiều biện pháp, cách thức bảo vệ khác nhau như bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, bảo vệ bằng biện pháp hành chính và bảo vệ bằng biện pháp dân sự Trong đó bảo vệ bằng biện pháp dân sự được thực hiện thông qua phương thức khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án theo trình tự tố tụng dân sự Theo đó, các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật, bồi thường thiệt hại hoặc phải chịu chế tài phạt vi phạm
Trang 38v.v Trong các biện pháp bảo vệ các quyền dân sự của các chủ thể thì khởi kiện vụ án dân sự là một trong các biện pháp bảo vệ hữu hiệu có tính khả thi cao
Tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: "Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình" [16] Với quy
định này, Nhà nước chính thức ghi nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, theo quy định này thì quyền khởi kiện vụ án thuộc
về các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi bị xâm phạm hay tranh chấp Các chủ thể này có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện hoặc thực hiện quyền này thông qua người đại diện hợp pháp của mình Trên thực tế thì thông thường các cá nhân có quyền lợi bị xâm hại có năng lực hành vi tố tụng dân sự sẽ tự mình khởi kiện hoặc ủy quyền cho người đại diện thực hiện việc khởi kiện nếu xét thấy cần thiết Trong trường hợp họ không có năng lực hành
vi tố tụng dân sự thì việc khởi kiện sẽ do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện Đối với các chủ thể là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì việc khởi kiện sẽ do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện
Theo quy định tại Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì:
Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ
án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình
Trang 39có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách [16]
Như vậy, quyền khởi kiện là quyền của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Căn cứ vào các quy định trên có thể thấy rằng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định hai loại chủ thể có quyền khởi kiện đó là những chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp cần bảo vệ và những chủ thể khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Đó là người đại diện hợp pháp, cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở và cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Có thể thấy rằng, xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong xã hội, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với cá nhân con người nên Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã
có quy định một số chủ thể là cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân
sự vì lợi ích chung [4, tr 238] Tuy nhiên, để thực hiện trách nhiệm của xã hội nhưng không làm xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đương sự, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng chỉ quy định một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định thì một số chủ thể đặc biệt mới có quyền khởi kiện vụ án dân sự Quyền khởi kiện này cũng chỉ giới hạn trong một phạm vi rất hạn chế đối với một số vụ việc về hôn nhân và gia đình, lao động và đối với một số chủ thể đặc biệt cần phải được bảo vệ
Theo quy định tại Tiểu mục 2.1 Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của Bộ luật tố tụng dân sự thì cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công
Trang 40cộng, lợi ích của Nhà nước quy định tại khoản 3 Điều 162 Bộ luật tố tụng dân
sự khi có đầy đủ các điều kiện sau: Cơ quan, tổ chức đó có những nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định; lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cần yêu cầu Tòa án bảo vệ phải thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách Từ những quy định trên cho thấy quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền chủ yếu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm còn các chủ thể khởi kiện vì lợi ích của người khác chỉ được khởi kiện khi có đủ số điều kiện nhất định Đây là trường hợp ngoại lệ trong việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Thông thường khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đương sự có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền dân sự đó của mình như khởi kiện đòi lại tài sản hoặc khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật Trong những trường hợp đặc biệt nêu trên nếu quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm là quyền, lợi ích của chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng thì phải có cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khởi kiện để bảo vệ những quyền, lợi ích này
Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể này là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện thì cũng không có quá trình tố tụng dân
sự Theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự thể hiện cả ở quyền khởi kiện
vụ án dân sự và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự Các tranh chấp gồm tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh và thương mại, tranh chấp lao động Đối với những tranh chấp này đương sự được quyền khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong một số trường hợp nhất định mặc dù các đương sự không có tranh chấp với nhau về quyền và lợi ích thì theo quy định của pháp