1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế: Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

112 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Thị Kiều Hạnh
Người hướng dẫn TS. Hồ Ngọc Hiển
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật (15)
  • 1.1.3 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (0)
  • 1.2 Căn cứ xác lập thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của (0)
  • 1.3 Nghĩa vụ của người đại diện pháp luật của doanh nghiệp (25)
  • 1.4 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (28)
  • 1.5 Trách nhiệm pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp . 24 (29)
  • 1.6 Chấm dứt thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật (30)
  • CHƯƠNG 2................................................................................................................... 28 (33)
    • 2.1 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (33)
      • 2.1.1 Xác lập thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật (0)
      • 2.1.2 Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật (42)
      • 2.1.3 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (46)
      • 2.1.4 Trách nhiệm pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 48 (53)
      • 2.1.5 Chấm dứt thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật (54)
    • 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh (58)
  • CHƯƠNG 3................................................................................................................... 66 (71)
    • 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật (71)
    • 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh (72)

Nội dung

Bên cạnh đó, LDN 2014 còn dành cho doanh nghiệp quyền tự quyết về số lượng, quyền và nghĩa vụ của từng NĐDTPL quy định trong điều lệ doanh nghiệp… Tuy nhiên, những quy định mới về NĐDTPL

Trang 3

Tác giả

Trần Thị Kiều Hạnh

Trang 4

Đặc điểm người đại diện theo pháp luật 10 1.1.3 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 15

doanh nghiệp 18

CHƯƠNG 2 28 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28

2.1.1 Xác lập thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật 28

2.1.2 Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật 37

2.1.3 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 41

2.1.4 Trách nhiệm pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 48

2.1.5 Chấm dứt thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật 49

nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh 53

CHƯƠNG 3 66 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 66

người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh 67

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 5

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

Trang 6

nghiệp Một đất nước có những quy định tiến bộ về kinh doanh sẽ thúc đẩy, đưa một nền kinh tế phát triển Một doanh nghiệp am hiểu pháp luật, bám sát hành lang pháp lý

sẽ tồn tại và phát triển lâu dài Ngược lại, một hành lang pháp lý không vững vàng, doanh nghiệp thiếu hiểu biết, thiếu sự tuân thủ pháp luật sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi cơ bản tính chất của các quan hệ trong kinh doanh Điều này cũng đưa đến yêu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong nội dung của pháp luật kinh doanh cho phù hợp với thực tế khách quan Sau sự đột phá của

“Luật Doanh nghiệp năm1999”, thì “Luật Doanh nghiệp năm 2014” được coi là cuộc đột phá lần hai, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh

Trong đó, cơ chế pháp lý về vai trò Người đại diện theo pháp luật chiếm vai trò cực kỳ quan trọng đối với LDN 2014 nói riêng và đối với pháp luật doanh nghiệp nói chung cũng đã có một số sự thay đổi nổi bật LDN 2014 ghi nhận một số loại hình doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật Bên cạnh đó, LDN 2014 còn dành cho doanh nghiệp quyền tự quyết về số lượng, quyền và nghĩa vụ của từng NĐDTPL quy định trong điều lệ doanh nghiệp…

Tuy nhiên, những quy định mới về NĐDTPL cũng bộc lộ một số điểm hạn chế, một số điểm yếu trước đây của LDN 2014 đối với chế định NĐDTPL vẫn chưa được khắc phục như: khái niệm NĐDTPL, thời điểm có thẩm quyền của NĐDTPL tại thời điểm được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hay tại thời điểm được ghi nhận trong điều lệ có hiệu lực, phạm vi đại diện của NĐDTPL đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL, những bất cập từ thực tiễn giải quyết

Trang 7

trệ, một số tranh chấp kéo dài, tiền của tiêu tốn, doanh thu giảm sút, hoạt động kinh doanh yếu kém hơn

Vì các lý do nêu trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Đại diện theo pháp luật của

doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”

với mong muốn tìm hiểu các bất cập và thực tiễn thực hiện của LDN 2014 đối với chế định người đại diện và đưa ra các lập luận giải pháp hoàn thiện

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên thực tế đã có một số bài viết, một số tờ trình của các cơ quan tổ chức như

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, bài viết trên Thời báo tài chính – Cơ quan của Bộ Tài chính, bài viết trên Thời báo Ngân hàng – Cơ quan thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đưa ra các bất cập của LDN 2014 và đề xuất sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên vẫn chưa có bất kỳ luận văn cấp độ Thạc sĩ nào nghiên cứu vấn

đề này một cách toàn diện

Hiện nay, chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu, điển hình như các công trình sau:

Nguyễn Hợp Toàn (2017), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba

trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty cổ phần có nhiều

NĐDTPL, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 Bài viết trình bày về ý nghĩa, các vấn đề

pháp lý đối với trường hợp công ty cổ phần có nhiều NĐDTPL của LDN 2014 và vấn

đề quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba khi có tình trạng xung đột thẩm quyền giữa những người đại diện theo pháp luật của Công ty

Phan Thành Nhân (2018), Thực trạng quy định của pháp luật về NĐDTPL của

doanh nghiệp và hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7 Bài viết khái quát

về các khía cạnh pháp lý về NĐDTPL của LDN 2014, từ đó đưa ra một số điểm bất cập

Trang 8

NĐDTPL, từ đó đưa ra một số vấn đề để hoàn thiện

Bùi Đức Giang (2015), Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật

của Luật doanh nghiệp 2014, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 (326) Bài viết tập

trung phân tích các quy định mới của LDN 2014 về chế định NĐDTPL, đặc biệt về việc chỉ định, quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL cùng trách nhiệm dân sự của chức danh này

Bùi Thị Tâm (2017), Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực tiễn

Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học - Học viện khoa học Xã hội

Đề tài này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cũng như thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn của Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam về NĐDTPL

Phạm Lâm Hải Nguyên (2014), Chế định người đại diện của doanh nghiệp theo

pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật

thành phố Hồ Chí Minh Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về người đại diện của doanh nghiệp theo LDN 2005 Từ đó,

đề xuất kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định người đại diện của doanh nghiệp

Vũ Thị Bích Thùy (2014), Đại diện theo pháp luật của CTCP ở Việt Nam, Luận

văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật và áp dụng các quy định về NĐDTPL của CTCP ở Việt Nam theo LDN 2015 Từ đó, đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định người đại diện của CTCP ở Việt Nam

Trần Hoàng Vũ, Quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL trong CTCP theo LDN 2014,

Trang 9

của CTCP ở Việt Nam theo LDN 2015 Từ đó, đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định về quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL trong CTCP

Ngoài các công trình tiêu biểu trên, khoa học pháp lý còn tồn tại khá nhiều công trình nghiên cứu về chế định NĐDTPL của doanh nghiệp Mỗi công trình đều có phạm

vi và mục đích nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu về NĐDTPL trong doanh nghiệp một cách bao quát toàn diện các loại hình doanh nghiệp và thực tiễn tại thành phố hiện đại kinh tế phát triển, tiến bộ bậc nhất Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh Đây được xem là “khoảng trống” để tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nhận diện và đánh giá thực trạng các quy định của LDN 2014 về đại diện theo pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về NĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu về những vấn đề còn hạn chế của LDN 2014, từ đó, có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về LDN 2014 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thông qua các nhiệm vụ sau:

nước khác;

nghĩa vụ, phạm vi, trách nhiệm pháp lý của NĐDTPL của doanh nghiệp;

Trang 10

dụng theo LDN 2014

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tiểu luận có đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Người Đại diện theo pháp luật của doanh

nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là:

(i) những vấn đề lý luận về NĐDTPL; (ii) thực trạng quy định của LDN 2014 về NĐDTPL; (iii) thực tiễn trạng pháp luật và thực tiễn về NĐDTPL tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

Nghiên cứu quy định pháp luật về NĐDTPL theo LDN 2014 và Luật Doanh nghiệp 2005

công ty trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các vụ án tiêu biểu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Nghiên cứu cách xử lý hồ sơ hành chính liên quan đến NĐDTPL tại các cơ

quan hành chính trên cả nước đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm:

tài sử dụng trong quá trình nghiên cứu; phân tích để tiếp cận và có những hiểu biết nhất định đối với vấn đề nghiên cứu; dùng làm căn cứ để hình thành các luận điểm, luận cứ, xác lập các lập luận làm cơ sở phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài hướng tới

Trang 11

hại để tìm ra hướng đi, hướng giải quyết đối với tình hình trong nước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là kết quả của một quá trình nghiên cứu pháp luật, thực thi pháp luật trên thực tế, đồng thời tham khảo pháp luật doanh nghiệp của một số nước trên thế giới, qua đó luận văn này không chỉ mang về ý nghĩa lý luận mà còn đem đến các ý nghĩa thực tiễn, cụ thể như sau:

quan đến LDN 2014 qua đó cho người đọc một cái nhìn bao quát tổng thể về pháp luật doanh nghiệp từ Việt Nam nhìn ra thế giới

khoa học qua nhìn nhận và đánh giá của tác giả, do đó, luận văn không chỉ là ý kiến cá nhân của tác giả mà còn ý kiến của các chủ thể doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu lập pháp

mong muốn đưa ra những giải pháp hữu ích cho quá trình sửa đổi LDN 2014 sắp tới

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về người đại diện pháp luật của doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng pháp luật về người đại diện pháp luật theo LDN 2014 Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

1.1 Khái niệm và đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Ở một số nước trên thế giới, khái niệm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định cũng không giống nhau Chẳng hạn, Luật Công ty Anh quy định

NĐDTPL của công ty là: “Một thành viên cá nhân được ủy quyền bởi công ty có quyền

thực hiện các quyền hạn tương tự công ty có thể thực hiện” [50, Điều 323.2] LDN của

Úc quy định: “Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân do doanh nghiệp

chỉ định để thực hiện tất cả hoặc bất kỳ quyền hạn nào mà doanh nghiệp có thể thực

hiện”.[51, Điều 250D] Pháp luật Nhật Bản tiếp cận NĐDTPL thông qua chức năng

quản lý, đó là: “Người quản lý có quyền thực hiện bất kỳ và tất cả các hành vi pháp lý

và phi tư pháp nhân danh công ty liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình”.[52, Điều 11.1] Riêng đối với Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn không đưa ra khái niệm

một cách rõ ràng, mà theo hướng khẳng định: “Công ty sẽ do các Giám đốc làm đại

diện Nếu một công ty không có Giám đốc, công ty sẽ được đại diện bởi các cổ đông bất cứ khi nào có tuyên bố ý định hoặc các tài liệu được cung cấp trên đó”.[53, Điều

35.2] Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản là quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL

trong các Công ty trách nhiệm hữu hạn ở Đức được thể hiện thông qua quyền và nghĩa

vụ của Giám đốc và các cổ đông (nếu công ty không có giám đốc)

Khảo sát quy định về NĐDTPL của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể khẳng định thuật ngữ “NĐDTPL của doanh nghiệp” mang những nội dung khác nhau, tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tựu chung lại thì pháp luật của các nước vẫn có điểm giao thoa nhau về khái niệm NĐDTPL, đó là người được doanh nghiệp chỉ định để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nhân danh doanh nghiệp

Trang 13

Quan hệ đại diện được xác lập theo hai hình thức cơ bản: Đại diện có thể là đại

trường hợp sau: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm

quyền đại diện theo quy định của pháp luật;(iii) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án” 3

Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện mà quyền đại diện được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa người được đại diện và người đại diện

Bên cạnh đó, còn có đại diện theo ủy quyền lại: Người đại diện theo ủy quyền

có thể ủy quyền lại cho một người thứ ba đại diện cho doanh nghiệp, nếu như trong nội dung ủy quyền ban đầu có nội dung cho phép ủy quyền lại hoặc do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

lại, cần lưu ý hình thức ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu và nội dung không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu

Ví dụ: Chủ tịch HĐQT là đại diện đương nhiên, ủy quyền cho Tổng Giám đốc

ký hợp đồng và cho phép Tổng Giám đốc được ủy quyền lại cho các Phó tổng Giám đốc hay Giám đốc các chi nhánh ký hợp đồng Trường hợp này thường xuyên xuất hiện

ở các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp có chi nhánh lớn rộng khắp trên cả nước NĐDTPL sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ, theo quy định tại điều lệ doanh nghiệp và theo LDN 2014 Người đại diện theo ủy quyền và người được ủy quyền lại

sẽ có phạm vi quyền hạn theo nội dung được ủy quyền

1 Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015,

2 Điều 85, Bộ luật Dân sự 2015

3 Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015

4 Khoản 1, Điều 564 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 14

thành viên công ty, cổ đông hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định

Trước đây LDN 2005 không đưa ra khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp, mà quy định về NĐDTPL của doanh nghiệp chỉ nằm rải rác ở các điều luật quy định về cơ

thể hiện bước tiến khi có một điều khoản dành riêng để quy định về NĐDTPL Theo

đó, khoản 1 Điều 13 LDN 2014 quy định: “NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân

đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” Với quy định này, LDN 2014 đã ghi nhận chức

năng đại diện theo pháp luật trong tố tụng của NĐDTPL được quy định từ Điều 85 đến Điều 90 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 Tuy nhiên, khái niệm trên chỉ mới đề cập đến việc “thực hiện” giao dịch nhân danh doanh nghiệp mà chưa đề cập đến chức năng “xác lập” giao dịch nhân danh doanh nghiệp – vốn là một trong các quyền hạn then chốt của chế định NĐDTPL Mặc dù, khoản 1 Điều 13 LDN 2014 có

thêm quy định mở, đó là NĐDTPL được thực hiện “các quyền và nghĩa vụ khác theo

quy định của pháp luật”, tức là được thực hiện quyền xác lập giao dịch, song việc

không quy định cụ thể quyền hạn này trong văn bản luật chuyên ngành cũng là một hạn

(BLDS) năm 2015 thì người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của người được

5 Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 5 Điều 67, khoản 1 Điều 74); CTCP (khoản 1 Điều 116); Công

ty hợp danh (khoản 1 Điều 137); Doanh nghiệp tư nhân (khoản 4 Điều 143).

6Bùi Đức Giang (2015), “Hành lang pháp lý mới về NĐDTPL của Luật doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí

Nhà nước và Pháp luật, số 6/2015, tr 18.

Trang 15

1.1.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Một là, NĐDTPL của doanh nghiệp là người được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đó

Theo quy định tại Điều 29 LDN 2014, trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh

nghiệp gồm các nội dung sau: Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; Địa chỉ trụ

sở chính của doanh nghiệp, Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của NĐDTPL của doanh nghiệp đối với CTTNHH và CTCP….” Như vậy, trong

các nội dung đăng ký kinh doanh phải có thông tin NĐDTPL của doanh nghiệp Hay nói cách khác, cơ sở để xác định NĐDTPL của một doanh nghiệp chính là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài ra, thông tin người đại diện theo quy định pháp luật còn được ghi nhận trên các tài liệu khác như: Quyết định của HĐQT, Quyết định của ĐHĐCĐ, Điều lệ của doanh nghiệp… Tuy nhiên các văn bản này là văn bản nội bộ của doanh nghiệp nên khả năng chứng minh đối với đối tác không cao như Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Bên cạnh đó, hiện nay Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không nhất thiết phải nộp lại cho cơ quan đăng ký kinh doanh khi đăng ký nội dung thay đổi Do đó, để kiểm tra chính xác thông tin NĐDTPL, cần phải đối chiếu thông tin người đại diện trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và thông tin tra cứu trên trang thông tin điện tử

(https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/Pages/Trangchu.aspx) và cả điều lệ doanh nghiệp

Hai là, NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân có đủ năng luật pháp luật dân

sự và năng lực hành vi dân sự

Trang 16

của doanh nghiệp ra bên ngoài Quyết định của doanh nghiệp phải được thể hiện thông qua một hoặc nhiều cá nhân nhất định được doanh nghiệp bầu chọn, chỉ định theo các thủ tục hành chính Do đó, NĐDTPL của tổ chức nói chung, doanh nghiệp nói riêng phải là cá nhân Đây là một đặc điểm phân biệt với đại diện theo ủy quyền vì người đại diện theo ủy quyền có thể cá nhân hoặc tổ chức, chẳng hạn, doanh nghiệp có thể ủy quyền cho một doanh nghiệp khác nhân danh và vì lợi ích của mình để xác lập, thực hiện giao dịch theo cơ chế đại diện cho thương nhân theo Luật Thương mại

Để có thể thể hiện ý chí của doanh nghiệp, NĐDTPL phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Theo quy định tại BLDS 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự và

có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Khi cá nhân nhân danh doanh nghiệp để thực hiện giao dịch trong phạm vi cho phép thì các quyền và nghĩa vụ

từ giao dịch phát sinh cho doanh nghiệp chứ không phát sinh cho cá nhân đó

Ba là, NĐDTPL của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp

Bản chất của quan hệ đại diện nói chung là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch Tuy nhiên, khác với các người đại diện theo ủy quyền chỉ xác lập, thực hiện các công việc theo phạm vi ủy quyền, NĐDTPL nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp Điều này có nghĩa là, NĐDTPL có quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện mọi giao dịch của doanh nghiệp, ngoại trừ trường hợp có giới hạn phạm vi, thẩm quyền do pháp luật hoặc điều lệ quy định

Bốn là, CTTNHH và CTCP có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL

Trước đây, theo quy định của pháp luật, một doanh nghiệp chỉ có một cá nhân là

Trang 17

hòa với pháp luật của nhiều nước trên thế giới hiện nay

những điểm mới của LDN 2014 đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền quyết định số lượng NĐDTPL, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, quy định mới này chưa áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân… Về phía CTHD, luật không quy định nhiều người đại diện pháp luật, nhưng mỗi thành viên hợp danh đều có quyền nhân danh doanh nghiệp để thực hiện giao dịch

Do đó, mỗi thành viên hợp danh có thể coi là mỗi “NĐDTPL”

LDN 2014 quy định rõ một công ty có thể có nhiều NĐDTPL mà không quy định cụ thể một cá nhân có thể là NĐDTPL của nhiều công ty hay không Khoản 3

Điều 141 BLDS 2015 quy định “Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá

nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng

là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Qua đó, có thể thấy rằng một cá nhân được phép là NĐDTPL của nhiều công ty chỉ cần không vi phạm điều cấm về việc nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người

một người làm đại diện theo pháp luật của nhiều doanh nghiệp Tại thành phố Hồ Chí Minh cũng vậy, rất nhiều cá nhân làm đại diện pháp luật cho nhiều Công ty Ví dụ: bà Nguyễn Vũ Thiên Diễm, đồng thời là NĐDTPL của các công ty sau: Công ty TNHH

7 Khoản 2, Điều 13 Luật Doanh Nghiệp 2014,

8 Khoản 3, Điều 141 BLDS 2015

Trang 18

136H Nguyễn Tri Phương, Phường 09, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam), Công ty TNHH Tập đoàn Đầu tư Thiên Minh, mã số thuế: 0315834143, Khu Thương mại Dịch vụ Tầng 1 Khu 1.12, Tòa nhà The EverRich Infinity, Số 290 An Dương

nghiệp tư nhân, do đặc thù phải chịu trách nhiệm bằng tất cả tài sản cá nhân đối với hoạt động doanh nghiệp, mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên CTHD Bên cạnh đó, chủ Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong CTHD, CTTNHH hoặc CTCP

Tương tự chủ Doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Do đó, thành viên hợp danh có một số hạn chế như sau:

“1 Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của CTHD khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại

2 Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

3 Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.” 10

Như vậy, chủ Doanh nghiệp tư nhân thì không được làm người đại diện pháp

Trang 19

Theo quy định tại Điều 137, Bộ luật Dân sự về đại diện theo pháp luật của pháp nhân, những người sau đây có thể làm đại diện theo pháp luật của công ty:

LDN 2014 tiếp tục quy định về chủ thể có thể làm đại diện theo pháp luật cho từng loại hình doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác (khoản 2 Điều 78 LDN)

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là NĐDTPL của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch HĐQT là NĐDTPL của công ty Trường hợp có hơn một NĐDTPL thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là NĐDTPL của công ty (khoản 2 Điều 134 LDN 2014)

và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty theo quy định tại khoản 1 Điều 179 LDN 2014 Tuy nhiên, chỉ có Chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc CTHD có các nhiệm vụ đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác (theo điểm đ khoản 4 Điều 179 LDN 2014)

của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 185, LDN 2014

Trang 20

ngầm hiểu phải đáp ứng 2 yêu cầu sau: phải là người thứ 03 và không đồng thời nắm giữ các vị trí xung đột với quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL như kế toán, kiểm sát viên…

Thứ sáu, NĐDTPL là điều kiện để thành lập doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 20, 21, 22 hồ sơ đề nghị thành lập doanh nghiệp phải có giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 8, khoản 9, Điều 24 LDN 2014, giấy đề nghị doanh nghiệp phải có thông tin NĐDTPL

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 13 LDN 2014, doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có ít nhất một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam Trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo hình thức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Nghị định 50/2016/NĐ-CP

Như vậy, có thể thấy NĐDTPL của doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng, là điều kiện cần để thành lập một doanh nghiệp, cũng như điều kiện để duy trì sự tồn tại phát triển của một doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

NĐDTPL của doanh nghiệp được ví như “cây nêu” của doanh nghiệp để mọi người nhìn vào, là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với công ty Thông qua người đại diện để xác định được tư cách hợp pháp của người thay mặt cho doanh nghiệp thực hiện các giao dịch kinh tế, dân sự

Trong quá trình hoạt động, bằng các thủ tục pháp lý, doanh nghiệp có thể thay NĐDTPL, nhưng người mới làm đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp vẫn tiếp tục

kế thừa việc tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công ty mà người đại diện trước đó đã và đang thực hiện Nếu doanh nghiệp muốn, hoặc buộc phải thay

Trang 21

Có thể nói, NĐDTPL của doanh nghiệp có vai trò quan trọng Cụ thể:

Một là, NĐDTPL của doanh nghiệp là một trong các điều kiện pháp lý để công

ty thành lập và hoạt động bình thường

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, ngay từ khi thành lập và đăng ký, doanh nghiệp phải đăng ký chức danh NĐDTPL Trừ những việc do ĐHĐCĐ hoặc HĐQT quyết định, các quyền và nghĩa vụ còn lại của doanh nghiệp sẽ do một hoặc nhiều NĐDTPL trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện Do đó, pháp luật quy định trường hợp công ty chỉ có duy nhất một người đại diện nhưng người này xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải ủy quyền cho người khác thực hiện nhiệm vụ của NĐDTPL, nếu NĐDTPL duy nhất của công ty vắng mặt khỏi Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác đại diện hoặc trường hợp NĐDTPL chết, mất tích, bị tạm giam,

bị kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; từ chức hoặc bị bãi miễn thì công ty phải cử người đại diện khác

Hai là, NĐDTPL thay mặt doanh nghiệp duy trì mối quan hệ với các chủ sở hữu

doanh nghiệp (cổ đông), với Nhà nước, khách hàng, đối tác, người lao động… của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một thực thể được hình thành từ nguồn vốn của các thành viên,

cổ đông (chủ sở hữu) Quá trình hoạt động doanh nghiệp không tồn tại đơn lẻ mà có sự gắn kết và quan hệ mật thiết với các chủ thể khác như: Quan hệ với chủ sở hữu (kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận, quyết định phương án kinh doanh, phương án phân chia lỗ…); quan hệ với Nhà nước (quan hệ đăng ký kinh doanh, đóng thuế, tố tụng, nộp phạt…); quan hệ với khách hàng, các đối tác, người lao động, với chủ nợ và các con nợ của công ty Các mối quan hệ này luôn kiềm chế đối trọng và thúc đẩy nhau cùng phát triển, trường hợp các mối quan hệ này mâu thuẫn sẽ

Trang 22

nhuận

Ba là, NĐDTPL của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp để xác lập, thực

hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức có các quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, có quyền tham gia các quan hệ pháp luật Doanh nghiệp là một tổ chức có nhiều cá nhân, nhưng không phải mọi cá nhân đều có thể tự mình nhân danh công ty thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình, do vậy, NĐDTPL của doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng, trong việc thay mặt công ty, nhân danh công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp NĐDTPL cũng có thể ủy quyền cho người khác xác lập,

đại diện trong phạm vi ủy quyền, NĐDTPL vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân về nghĩa

vụ đại diện theo pháp luật

Bốn là, tổ chức thực hiện các trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Bản thân doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh, có thể chịu các trách nhiệm hành chính, lao động, dân sự và cả trách nhiệm hình sự về các vi phạm của doanh nghiệp do NĐDTPL gây ra Khi một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động có các hành vi vi phạm pháp luật (do hành vi của NĐDTPL hoặc của những người khác trong doanh nghiệp gây ra), chẳng hạn như gây ô nhiễm môi trường, vi phạm pháp luật về thời hạn nộp thuế… Lúc này, quyết định xử phạt ghi rõ chủ thể vi phạm là “doanh nghiệp”, nghĩa vụ nộp phạt cũng là của doanh nghiệp NĐDTPL có nghĩa vụ tổ chức thực hiện quyết định xử phạt của cơ quan có thẩm quyền đối với công ty mà mình đang thực hiện nghĩa vụ đại diện theo pháp luật, đồng thời, doanh nghiệp cũng sẽ quy trách nhiệm cá nhân đối với người có hành vi để xảy ra vi phạm gây thiệt hại cho doanh

11 Khoản 1, Điều 138 BLDS

Trang 23

Theo quy định của BLDS 2015, thẩm quyền đại diện của NĐDTPL theo pháp luật được xác lập dựa trên một trong các căn cứ: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (iii) Người

do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án (Điều 135, Điều 137 BLDS 2015) Việc đại diện thông qua cá nhân chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định (Điều 98 BLDS 2015)

Thứ nhất, theo điều lệ doanh nghiệp

Khi kê khai hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp bắt buộc doanh nghiệp phải

kê khai NĐDTPL và những thông tin cá nhân của người này trên Giấy đề nghị đăng ký hoạt động và quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của NĐDTPL, cũng như những thông tin cụ thể của người này trong điều lệ doanh nghiệp Theo quy định khoản 2 Điều 13 LDN 2014 điều lệ doanh nghiệp quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp

Đây được cho là một trong những bước tiến mới của doanh nghiệp, khi mà doanh nghiệp được quyền tự quyết định về số lượng, chức danh, quyền và nghĩa vụ NĐDTPL Điều này thể hiện nguyên tắc tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quyền định đoạt của chủ sở hữu doanh nghiệp [45, Tr 7] Tuy nhiên, điều lệ doanh nghiệp phải quy định trong phạm vi cho phép pháp luật Các quy định trong Điều lệ công ty không được vi phạm điều cấm, vi phạm quy tắc đạo đức xã hội

Thứ hai, căn cứ theo quy định của pháp luật

Có một số trường hợp căn cứ quy định pháp luật để xác định NĐDTPL như: Khoản 4, Điều 13 LDN 2014 quy định trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các

Trang 24

quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong phạm vi

đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại… Thực tế, doanh nghiệp sẽ quy định cụ thể NĐDTPL và chức danh của NĐDTPL Thông thường sẽ là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Tuy nhiên đối với trường hợp điều lệ công ty không có quy định thì việc xác định NĐDTPL sẽ dựa trên quy định pháp luật và căn cứ vào chức danh của người đó như sau:

Đối với Công ty cổ phần chỉ có một NĐDTPL, thì Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là NĐDTPL của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch HĐQT là NĐDTPL của công ty Trường hợp có hơn một NĐDTPL, thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là NĐDTPL của công ty (khoản 2 Điều 134 LDN 2014)

NĐDTPL trong CTTNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu là Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác (khoản 2 Điều 78 LDN 2014)

Thứ ba, theo quyết định của Tòa án

Theo khoản 7, Điều 13, LDN 2014, trong một số trường hợp đặc biệt, để đảm bảo cho quá trình tố tụng tại Tòa án diễn ra theo đúng trình tự thủ tục, Tòa án có thẩm quyền sẽ có quyền chỉ định NĐDTPL của doanh nghiệp Theo quy định của luật chuyên ngành về thủ tục tố tụng của Tòa án, khoản 1 Điều 87 và khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định rằng Tòa án phải chỉ định NĐDTPL của doanh nghiệp để tham gia tố tụng tại Tòa án trong trường hợp (i) Nếu NĐDTPL của doanh nghiệp cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với doanh nghiệp mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; (ii) Nếu NĐDTPL đang là NĐDTPL trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong cùng một vụ việc Quy định này của pháp luật tố tụng nhằm tránh xung đột lợi ích giữa NĐDTPL và doanh nghiệp mà họ làm đại diện [45, Tr 8]

Trang 25

Bên cạnh đó, theo Luật Phá sản 2014 quy định khá chi tiết đối với trường hợp công ty bị mở thủ tục phá sản (khoản 2 Điều 47) Trường hợp xét thấy NĐDTPL của doanh nghiệp không có khả năng điều hành, doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm khoản

1 Điều 48 của Luật Phá sản 2014 thì Thẩm phán ra quyết định thay đổi NĐDTPL của doanh nghiệp theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ hoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản

lý, thanh lý tài sản

Những trường hợp thay đổi NĐDTPL nêu trên, không phụ thuộc vào điều lệ công ty hay chỉ có ý chí của cổ đông, Tòa án có quyền chỉ định NĐDTPL để bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp tại Tòa án [45, Tr 8]

Tuy nhiên, đây cũng chỉ là hai trường hợp cụ thể có quy định về việc Tòa án chỉ định NĐDTPL Trên thực tế còn rất nhiều trường hợp khác cần phải được Tòa án chỉ định NĐDTPL tuy nhiên vẫn chưa có quy định hướng dẫn cụ thể khoản 7, Điều 13 LDN

1.3 Nghĩa vụ của người đại diện pháp luật của doanh nghiệp

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam, nghĩa vụ dân sự là việc

mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) (Điều 274 Bộ luật dân sự 2015) Đặc điểm nghĩa vụ dân sự: Các bên chủ thể trong nghĩa vụ dân sự được xác định cụ thể; Là một loại quan hệ tài sản; Có sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể; Vì lợi ích bên có quyền Nghĩa vụ dân sự gồm có: nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng, nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng Đối tượng thực hiện là các bên trong quan hệ dân sự, vì mục đích của chủ thể có quyền

Theo như cách luận giải đã phân tích về các khía cạnh của người đại diện và mối quan hệ về đại diện trong doanh nghiệp tại nhiều quốc gia khác nhau và Việt Nam đều thừa nhận rằng, người đại diện có quyền và nghĩa vụ làm tất cả mọi thứ mà pháp

Trang 26

luật không cấm nhằm đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp Tuy nhiên, các học thuyết nổi tiếng ra đời ở thế kỷ thứ 20 như Lý thuyết về đại diện (Theory of Agency), Xung đột lợi ích (Conflicts of Interests), Lý thuyết hành vi… đều dẫn đến một kết luận rằng, con người luôn có xu hướng hành động vì lợi ích của chính mình hơn là chủ thể khác và người đại diện thường lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cho chính

họ hơn là cho các cổ đông và công ty Từ những thực tiễn đó, nhà làm luật đã xây dựng những quy định mang tính chất hạn chế những “mục đích cám dỗ” mà những người đại diện có thể mắc phải bằng những hành động trái với lợi ích của những người đã tin tưởng “chọn mặt gửi vàng” trong công việc quản lý hoạt động kinh doanh của họ như sau:

Thứ nhất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

Với bản chất là một mối quan hệ tương hỗ, “cộng sinh” lẫn nhau để cùng phát triển, người đại diện mong muốn nhận được thù lao xứng đáng trong phạm vi nhiệm vụ

và quyền hạn được ủy thác của mình còn chủ sở hữu mong muốn người đại diện thực hiện công việc một cách mẫn cán, trung thực để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả Tuy nhiên, nếu người đại diện một ngày phá vỡ sự giao phó vì lợi ích của công ty thì các nhà làm luật cũng chỉ quy định những điều mang tính nguyên tắc chung chung như

“trách nhiệm trung thực, cẩn trọng” rất khó để cơ quan Tư pháp giải thích và áp dụng nhằm áp đặt trách nhiệm dân sự lên chủ thể này

Thứ hai, trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

Dù là luật định hay điều lệ công ty quy định, trách nhiệm và quyền hạn của NĐDTPL của công ty gần như là thay mặt pháp nhân, các cổ đông, thành viên chủ sở hữu thực hiện hầu hết công việc vận hành kinh doanh NĐDTPL của công ty chính là người nắm trong tay “thực quyền” điều khiển, chèo lái toàn bộ tổ chức của doanh

Trang 27

nghiệp, trực tiếp thực hiện các nghị quyết của hội đồng cổ đông, trực tiếp quyết định các hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch, phương

một quyền lực “to lớn” như vậy, rất dễ dàng người đại diện pháp luật lợi dụng vị trí của mình để gian lận, trục lợi, bố trí lao động là thân nhân nhằm thiết lập mô hình gia đình trị trong công ty, đưa ra các quyết định kinh doanh mạo hiểm, ký các hợp đồng có tính rủi ro cao cho công ty nhưng để hưởng những khoản “hoa hồng” lớn… gây tổn thất

Thứ ba, thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác

Để bắt kịp sự phát triển khách quan của thực tế khi các công ty lớn có hàng ngàn nhân viên, hàng trăm cơ sở kinh doanh trên khắp các tỉnh thành ngày càng xuất hiện nhiều trong nền kinh tế, LDN 2014 đã cho phép các loại hình công ty TNHH và

đại diện tại nhiều công ty khác nhau hay không thì Luật dường như bỏ ngỏ Tuy nhiên, dựa vào điều khoản về trách nhiệm của người đại diện trong việc thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về việc mình hoặc người có liên quan của mình làm chủ tại các doanh nghiệp khác thì có thể hiểu rằng, một người có thể cùng đứng tên tại nhiều doanh nghiệp khác nhau trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Chính việc tưởng chừng đem lại những thuận lợi to lớn cho doanh nghiệp trong việc vận hành kinh doanh khi tận dụng triệt để những người có trình độ cao trong quản lý doanh nghiệp để cũng tiềm ẩn những rủi ro đáng ngờ có thể phát sinh de dọa tới lợi ích của

12 Khoản 2 Điều 64 Luật Doanh nghiệp 2015

13 Lê Việt Phương (2013), NĐDTPL của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr 52

14 Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014

15 Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 28

doanh nghiệp

Trong tác phẩm Của cải của các Dân tộc (The Wealth of Nations), nhà kinh tế học nổi tiếng Adam Smith đã cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công

hữu Doanh nghiệp nói riêng nắm bắt kịp thời và đầy đủ việc người đại diện của họ hoặc người có liên quan đến người đại diện này làm chủ hoặc có tài sản tại một doanh nghiệp khác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc lường trước được những xung đột lợi ích sẽ gặp trong trường hợp NĐDTPL đồng thời làm người đại diện cùng lúc cho nhiều doanh nghiệp khác

1.4 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (A separate legal entity) tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể

Chính vì thế mọi hoạt động kinh doanh của công ty luôn cần phải có người đại diện

Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ đại diện của bên đại diện phát sinh trên cơ sở quy

vi được thực hiện các quyền và nghĩa vụ thay mặt cho doanh nghiệp được tóm gọn trong các quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế có những công việc không nằm trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện được quy

16 Adam Smith, The Wealth of Nations, 1776, tr 800

17 Xem án lệ Ferguson v Wilson (1866), LR 2 Ch App 77, tr.89-90

18 Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa

học pháp lý, số 4/2017, tr 25

19 Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 29

định cụ thể và rõ ràng trong luật hoặc điều lệ công ty trong một số trường hợp cũng được coi là thẩm quyền của người đại diện Ngoài ra, giao dịch đó vẫn có giá trị ràng buộc giữa công ty và người thứ ba bởi vì trường hợp không xác định được cụ thể phạm

vi đại diện theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ thì NĐDTPL của công ty có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường

Cụ thể, đối với điều lệ của công ty, được xem như là “luật riêng” của mỗi doanh nghiệp, không những thể hiện những thông tin cơ bản của doanh nghiệp mà còn quy định các vấn đề quản trị nội bộ của công ty, đặc biệt là trách nhiệm, quyền hạn và

sở kinh doanh, có địa bàn hoạt động rộng lớn khắp cả nước, quản lý hàng chục ngàn nhân viên thì điều lệ cũng phải quy định quyền và nghĩa vụ riêng của từng NĐDTPL

để tránh chồng chéo và phát sinh nhiều rắc rối trong vận hành kinh doanh

phạm vi thẩm quyền của NĐDTPL như sau:

- Một là, đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp

- Hai là, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án

- Ba là, đại diện cho doanh nghiệp đối với các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

1.5 Trách nhiệm pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Theo quy định của BLDS: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu

trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền

20 Khoản 2 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015

21 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014

22 Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 30

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” 23

Theo quy định tại khoản 2, Điều 14 LDN 2014: NĐDTPL của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa

vụ quy định tại khoản 1 Điều này

Như vậy khi vi phạm nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, thì NĐDTPL phải bồi thường cho doanh nghiệp

Tương tự như các trường hợp bồi thường thiệt hại khác, để yêu cầu NĐDTPL bồi thường, cần phải chứng minh được: hành vi vi phạm của NĐDTPL, yếu tố lỗi, có thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại

Bên cạnh đó, NĐDTPL cũng là người đại diện do đó, khi người đại diện vượt quá phạm vi đại diện sẽ phải chịu các trách nhiệm pháp lý

Điều 143 BLDS 2015 quy định về Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện Theo đó, người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm

vi đại diện mà vẫn giao dịch Đồng thời, người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp người đại diện đồng ý Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

1.6 Chấm dứt thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật

23 Khoản 1, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 31

Theo BLDS 2015, thẩm quyền đại diện NĐDTPL chấm dứt sự tồn tại khi: Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục; Người được đại diện là cá nhân chết; Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên

Đối với NĐDTPL của doanh nghiệp, thẩm quyền đại diện của NĐDTPL chấm dứt trong trường hợp sau: doanh nghiệp thay đổi người đại diện pháp luật, người đại diện chết, doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại

Sở dĩ người đại diện sẽ chấm dứt việc nhân danh doanh nghiệp trong trường hợp này là bởi mối quan hệ đại diện chỉ được xác lập trên nền tảng của sự ủy thác Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy -

bằng của mối quan hệ này, doanh nghiệp chấm dứt tồn tại sẽ không còn các quyền và nghĩa vụ để người đại diện được nhân danh thực hiện và ngược lại

Kết luận chương 1

Chương 1 của Luận văn đã trình bày một cách khái quát các vấn đề lý luận về đại diện và NĐDTPL của doanh nghiệp theo LDN 2014, tóm gọn lại các ý như sau:

nghiệp xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

24 Khoản 4, Điều 140 Bộ luật Dân sự 2015

25 Ở các nước theo truyền thống luật án lệ, giám đốc, người quản lý công ty (director) được coi là fiduciary – tạm gọi là người thụ ủy - một khái niệm mà chúng ta không thể tìm thấy được thuật ngữ tương đồng, phản ánh đầy đủ bản chất và ý nghĩa của từ này, trong luật thực định và khoa học pháp lý Việt Nam Nói một cách ngắn gọn, fiduciary là người mà được mong muốn hành động vì lợi ích của một người khác, xem Pamela Hanrahan, Ian Ramsay and Geof Stapledon, Commercial Applications of Company Law (5th ed, 2004), tr 244

Trang 32

- Về đặc điểm của NĐDTPL: Một là, NĐDTPL của doanh nghiệp là người được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đó; Hai là, NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân có đủ năng luật pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; Ba là, NĐDTPL của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp; Bốn là, một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL; Năm là, NĐDTPL là người quản lý doanh nghiệp

một trong các căn cứ: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (iii) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án

giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; Thứ hai, trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; Thứ

ba, thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện đó

và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác

nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản

1 Điều 14 LDN 2014

đại diện pháp luật, người đại diện chết, doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại

Nội dung Chương 1 là các lý luận về NĐDTPL của doanh nghiệp Chương 2 sẽ trình bày thực trạng pháp luật về NĐDTPL doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH 2.1 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

2.1.1 Thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật

Theo quy định của BLDS 2015, căn cứ xác lập thẩm quyền đại diện theo pháp luật được xác lập dựa trên một trong các căn cứ: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (iii) Người

do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án (Điều 135, Điều 137 BLDS 2015) Việc đại diện thông qua cá nhân chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định (Điều 98 BLDS 2015)

Như đã nêu ở phần lý luận, BLDS quy định về căn cứ xác lập thẩm quyền đại diện, LDN 2014 quy định số lượng, chức danh quản lý… như vậy giữa hai luật có sự

bổ sung cho nhau Tuy nhiên cách sử dụng từ của BLDS 2015 tại Điều 137 có phần chưa hợp lý khi nói: “NĐDTPL của pháp nhân bao gồm:…” Cách viết này dễ gây hiểu nhầm trong trường hợp người đại diện trên Điều lệ khác với người đại diện theo quyết định của cơ quan thẩm quyền, chỉ đạo của Tòa án là khác nhau thì tất cả những người này đều là NĐDTPL của doanh nghiệp

Đối với quy định chung tại Điều 135 BLDS 2015, căn cứ xác lập thẩm quyền theo từng trường hợp Do đó, không thể hiểu như trên

Xét về quy trình thực hiện, dù NĐDTPL xác lập theo trường hợp nào nêu trên đều phải thông qua thủ tục thay đổi tại cơ quan đăng ký kinh doanh Ví dụ trường hợp thành lập doanh nghiệp mới: trước hết điều lệ phải quy định về NĐDTPL của doanh nghiệp, nội dung này tiếp tục được thể hiện trong Giấy đề nghị đăng ký thành lập

Trang 34

doanh nghiệp, sau khi thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, trong đăng ký kinh doanh

sẽ có nội dung kê khai thông tin người NĐDTPL Kết quả là trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có tên và một số thông tin người NĐDTPL Tương tự, trường hợp thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp như thay đổi người đại diện pháp luật, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ thay đổi trong đó có điều lệ sửa đổi thông tin người đại diện đến

cơ quan đăng ký kinh doanh trong vòng 10 ngày kể từ ngày quyết định có sự thay

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với thông tin người đại diện mới

Trường hợp NĐDTPL, được Bản án/quyết định bởi bản án có hiệu lực pháp luật chỉ định, Doanh nghiệp phải tiến hành ngay thủ tục đăng ký thay đổi NĐDTPL trong vòng 15 ngày từ ngày kể từ ngày Bản án/ Quyết định có hiệu lực, qua đó điều lệ doanh nghiệp phải thay đổi và tên người đại diện mới sẽ được ghi trên giấy chứng nhận đăng

Như vậy, theo tác giả khi sử dụng cụm từ “căn cứ xác lập thẩm quyền”, tức BLDS nói về thời điểm bắt đầu có hiệu lực xác lập thẩm quyền của NĐDTPL Nói một cách dễ hiểu hơn: NĐDTPL có thẩm quyền ngay khi điều lệ doanh nghiệp, điều lệ doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực (Trường hợp thành lập mới hoặc thay đổi NĐDTPL), các trường hợp đáp ứng quy định pháp luật, khi có quyết định/ Bản án quyết định NĐDTPL của doanh nghiệp có hiệu lực

Do đó, để dễ hiểu hơn và để thống nhất hướng xử lý, theo tác giả LDN 2014 nên

bổ sung thêm điều khoản quy định cụ thể: “Thời điểm xác lập thẩm quyền đại diện có

hiệu lực khi căn cứ xác lập thẩm quyền đại diện theo quy định pháp luật có hiệu lực”

người đại diện theo pháp luật

Điều lệ doanh nghiệp quy định số lượng, quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL

26 Khoản 2, Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014

27 Khoản 4, Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 35

doanh nghiệp:

Theo quy định LDN 2014, Công ty TNHH và CTCP có thể có trên 2 người đại diện pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp Ngoài ra, pháp luật không có bất kỳ quy định nào khác về quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL Như vậy, điều lệ doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đối với thẩm quyền NĐDTPL Đây được cho là một trong những bước tiến mới của doanh nghiệp Thể hiện quyền tự do quyết định của doanh nghiệp Tuy nhiên, doanh nghiệp cần quy định như thế nào để phát huy được hết sự cho phép của pháp luật:

Giải quyết được các vấn đề, lý do, về việc cho phép doanh nghiệp nhiều NĐDTPL: đó là nhằm mục đích phân tán trách nhiệm “to lớn” của NĐDTPL; giải quyết được các vấn đề về điểm mạnh điểm yếu khi xác định vao trò của người điều hành, người quản trị, NĐDTPL; giải quyết vấn đề ký tá các Hợp đồng, giao dịch với chính NĐDTPL…

Bên cạnh đó căn cứ vào nhu cầu mục đích của chính doanh nghiệp, doanh nghiệp hoàn toàn có thể quy định trách nhiệm của từng NĐDTPL như việc phân chia: người chịu trách nhiệm chính đối với các giao dịch lớn, người chịu trách nhiệm phụ với các giao dịch nhỏ theo một giá trị xác định hay trường hợp có mâu thuẫn ý chí của NĐDTPL thì phải ý chí của ai sẽ mang tính chất quyết định kết hợp với việc xác định chức vụ, quyền hạn của NĐDTPL cho vị trí quản trị hay điều hành doanh nghiệp; hoặc phân chia quyền và nghĩa vụ theo lĩnh vực, theo vai trò, nhiệm vụ của doanh nghiệp trước Tòa án, trọng tài; …

Dưới đây là một số gợi ý đối với việc xây dựng điều lệ cho doanh nghiệp nhiều NĐDTPL:

Xây dựng điều lệ doanh nghiệp:

Theo tác giả việc quy định không rõ thẩm quyền không phải là bất cập trong việc doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL vì đã có quy định pháp luật giải quyết nêu trên

Trang 36

Nhưng để doanh nghiệp xây dựng được điều lệ chuẩn, thể hiện được quyền tối đa pháp luật cho phép cũng như là nâng cao hoạt động quản trị doanh nghiệp, khi quy định quyền và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện, doanh nghiệp nên xem xét các yếu tố sau:

Thứ nhất, dựa vào thẩm quyền của NĐDTPL theo quy định LDN 2014

Dựa vào thẩm quyền của NĐDTPL có thể phân chia NĐDTPL có các thẩm quyền sau: Thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Thứ hai, dựa vào quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp quy định tại Điều 7, Điều

8 LDN 2014

Dựa vào Điều 7, Điều 8 LDN 2014 có thể phân chia thẩm quyền người đại diện dựa trên các nhóm sau:

kết Hợp đồng vay vốn, thế chấp, các văn bản tài liệu, Hợp đồng có liên quan;

chính khác theo quy định của pháp luật;

đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

ĐHĐCĐ

Trang 37

Thứ ba, dựa trên nhu cầu thực tế của doanh nghiệp

Ví dụ, do quy mô doanh nghiệp mở rộng trên cả nước, do đó cần có nhiều đại diện pháp luật quản lý từng khu vực có thể phân chia NĐDTPL để xác lập thực hiện giao dịch theo từng khu vực, tham gia tố tụng cũng như thực hiện các quyền và nghĩa

vụ khác trong từng khu vực Đây là cách phân chia khá dễ và rõ ràng

Trường hợp khó hơn, doanh nghiệp phân chia thẩm quyền đại diện theo chuyên môn phụ trách ví dụ như: xác lập thực hiện giao dịch trong việc mua bán, hợp đồng dịch vụ, với đối tác, vay vốn thế chấp với ngân hàng, xác lập Hợp đồng lao động quản

lý nhân sự của doanh nghiệp, thực hiện các nghĩa vụ thuế với cơ quan nhà nước

Thứ tư, dựa vào quyền và nghĩa vụ của những chức danh có thẩm quyền khác trong LDN 2014 để giới hạn thẩm quyền của người đại diện pháp luật

Đối với các giao dịch lớn sẽ thuộc thẩm quyền thông qua của các bộ phận quản

lý khác như: Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu, Hội đồng thành viên Do đó, khi quy định thẩm quyền của NĐDTPL cần xem xét để quy định đúng thẩm quyền của NĐDTPL theo quy định của LDN 2014

Giải quyết vấn đề xác định phạm vi đại diện không rõ

Dự liệu trước trường hợp doanh nghiệp quy định chưa rõ về thẩm quyền

NĐDTPL, khoản 2 Điều 141 BLDS 2015 quy định trường hợp không xác định được cụ

thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì NĐDTPL có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Như vậy khi điều lệ quy định thẩm quyền không rõ,

NĐDTPL sẽ có thẩm quyền đầy đủ để xác lập giao dịch Quy định pháp lý này giải quyết cho bài toán sau:

Hùng - tổng giám đốc kiêm NĐDTPL của một CTCP luôn cảm thấy phiền phức khi phải ký quá nhiều hợp đồng Anh được biết rằng theo khoản 2, Điều 13, LDN

2014, thì “CTTNHH và CTCP có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL” Như vớ được vàng, Hùng liền xem đây là giải pháp mà anh có thể áp dụng để giảm bớt việc ký của

Trang 38

mình Anh cho đăng ký liền một lúc 03 NĐDTPL của công ty, gồm vị chủ tịch HĐQT công ty, một vị phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh và Hùng

Việc có ba người đại diện tưởng như là một giải pháp quản trị hữu hiệu cho công ty, cho tới khi doanh nghiệp của Hùng đi vay vốn ngân hàng Khác với lịch sử giao dịch trước đây, ngân hàng yêu cầu Hùng cung cấp điều lệ công ty để tìm quy định thể hiện phạm vi thẩm quyền đại diện của ba người đại diện đương nhiên

Thực tế điều lệ công ty của Hùng không ghi nhận gì về vấn đề này Ngân hàng cho biết nếu doanh nghiệp có cùng một lúc nhiều NĐDTPL, thì quyền và nghĩa vụ của những người đại diện đó phải ghi nhận trong Điều lệ theo LDN 2014 Ngân hàng cần xác định rõ giao dịch vay vốn trong trường hợp này, ai trong số ba NĐDTPL là người

có thẩm quyền ký kết theo Điều lệ

Để đáp ứng yêu cầu của ngân hàng, công ty của Hùng đã phải trải qua một quy trình triệu tập họp từ HĐQT đến ĐHĐCĐ nhằm quy định phạm vi thẩm quyền đại diện của 03 NĐDTPL tại công ty Nội dung điều lệ ghi nhận: Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm về các giao dịch đầu tư, tổng giám đốc chịu trách nhiệm về các giao dịch kinh doanh và vị phó tổng giám đốc chịu trách nhiệm về các giao dịch mua sắm của công

ty

Tưởng chừng mọi chuyện đã được giải quyết và công ty đã đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, nhưng trong cuộc họp với Hùng, ngân hàng tiếp tục đưa ra các thắc mắc về thẩm quyền đại diện của ba vị đại diện theo pháp luật Trong khi Hùng cho rằng giao dịch vay vốn mua ô tô là giao dịch mua sắm nên vị phó tổng giám đốc – thẩm quyền về hoạt động mua sắm của công ty sẽ là người ký kết giao dịch, thì phía ngân hàng lại cho rằng đây là một giao dịch đầu tư

Ngân hàng còn cho rằng cũng có thể coi đây là một giao dịch kinh doanh thuộc thẩm quyền đại diện của chính Hùng Bởi suy cho cùng, mua ô tô cũng là vì phục vụ mục đích kinh doanh của công ty Do vậy ngân hàng cho rằng với nội dung Điều lệ công ty Hùng quy định, vẫn không rõ ai là người có thẩm quyền đại diện để ký kết

Trang 39

Khoản vay đi vào bế tắc Tưởng rằng nhiều người đại diện là giải pháp hay, hóa ra lại

Một số quan điểm thực tế cho rằng: Không đúng thẩm quyền đại diện ký kết

hợp đồng là một yếu tố có thể dẫn tới giao dịch vô hiệu Trong một vụ án tranh chấp, nếu một bên cho rằng người ký đúng thẩm quyền đại diện, bên còn lại cho rằng không đúng thì rủi ro pháp lý giao dịch vô hiệu xuất hiện Nếu doanh nghiệp chỉ có một NĐDTPL và người đó trực tiếp ký kết giao dịch, thì vấn đề rủi ro giao dịch vô hiệu vì thẩm quyền ký kết khó xảy ra Nếu doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL, thì sẽ phát sinh nhiều cách hiểu ai là người có thẩm quyền trong số nhiều người đại diện đương nhiên

đó Rủi ro pháp lý giao dịch vô hiệu sẽ phát sinh khi vụ việc được đưa ra Tòa án giải quyết Đây chính là sự bất hợp lý của quy định đa đại diện trong LDN 2014

Theo tác giả với quy định trên của BLDS 2015, ngân hàng không phải lo lắng trong việc ký kết hợp đồng với doanh nghiệp trên, bởi đây là trường hợp điều lệ quy định không rõ thẩm quyền, hạn chế thẩm quyền của NĐDTPL, như vậy đối với giao dịch trên, cả người đại diện trong hoạt động mua sắm, hay đầu tư, kinh doanh đều có thẩm quyền ký kết Ngoài ra, để đảm bảo an toàn hơn cho ngân hàng, ngân hàng có thể yêu cầu cả 3 người đại diện cùng ký vào văn bản xác định thẩm quyền ký Hợp đồng vay vốn mua ô tô trong trường hợp này mà không phải thông qua các thủ tục họp ĐHĐCĐ vô cùng phức tạp

Sự khác biệt giữa nhiều NĐDTPL và vấn đề phân công phân nhiệm theo chức vụ trong công ty

Như đã nêu trên, Công ty TNHH và Công ty Cổ phần có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL, Điều lệ doanh nghiệp sẽ quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi người đại diện Nói cách khác, doanh nghiệp hoàn toàn có thẩm quyền đại diện trong một hoặc một số lĩnh vực như: kinh doanh, tài chính, nhân sự, marketing, đại diện tham gia

tố tụng… Tuy nhiên, việc quy định quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật như nêu trên với việc công ty phân chia nhân sự, chức vụ nhân sự đảm trách

28 Trần Minh Hải (2019), Doanh nghiệp không nên cs nhiều người đại diện theo pháp luật,

luat-316738.html, truy cập ngày 20/3/2020.

Trang 40

https://tinnhanhchungkhoan.vn/tu-van-tai-chinh/doanh-nghiep-khong-nen-co-nhieu-nguoi-dai-dien-theo-phap-công việc này sẽ có một số khác biệt nêu sau:

Về mặt hình thức: NĐDTPL sẽ được ghi tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyền và nghĩa vụ được quy định trong điều lệ doanh nghiệp Người được được phân công, phân nhiệm thực hiện một công việc nào đó sẽ thực hiện theo quyết định phân công của NĐDTPL, quy chế tổ chức, hoạt động của công ty

Về mặt trách nhiệm: Khi quy định nhiều NĐDTPL và phân công phân nhiệm cho họ thì những NĐDTPL này sẽ trực tiếp ký kết xác lập giao dịch với đối tác và phải chịu trách nhiệm với công ty đối với phần công việc đã thực hiện theo quy định tại điều

lệ Đối với việc phân công, phân nhiệm cho nhân viên trong công ty thì NĐDTPL vẫn

là người quyết định, ký kết hợp đồng với đối tác, chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp trước pháp luật Người giao dịch, nhân viên dù là trưởng phòng, giám đốc về lĩnh vực

đó cũng chỉ chịu phần trách nhiệm liên quan đến nội dung mình thực hiện đối với NĐDTPL NĐDTPL vẫn phải chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp

Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào thì doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các nội dung đã giao phó cho NĐ DTPL, nhân viên doanh nghiệp

nghiệp Như đã nêu ở trên, NĐDTPL là người được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều lệ doanh nghiệp, một số trang công bố thông tin của cơ quan nhà nước Mỗi cá nhân đại diện theo pháp luật của công ty sẽ có một chức danh quản

lý như chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc hoặc các chức danh quản lý khác

Về khái niệm, người quản lý doanh nghiệp, LDN 2014 không định nghĩa về bản chất người quản lý doanh nghiệp, tuy nhiên LDN 2014 liệt kê người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm Thành viên hợp danh, Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT, Thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chủ doanh nghiệp tư nhân và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của doanh nghiệp theo quy định tại Điều lệ

Do đó, nếu điều lệ không có quy định khác, người nắm giữ các chức danh nêu

Ngày đăng: 05/07/2023, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đức Giang (2015), Hành lang pháp lý mới về NĐDTPL của LDN 2014, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 (326) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành lang pháp lý mới về NĐDTPL của LDN 2014
Tác giả: Bùi Đức Giang
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2015
2. Bùi Thị Tâm (2017), Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực tiễn Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học - Học viện khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực tiễn Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Tâm
Nhà XB: Học viện khoa học Xã hội
Năm: 2017
3. Bùi Trang (2016) “Kiện lãnh đạo đòi bồi thường: Cổ đông gặp khó”, <http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/kien-lanh-dao-doi-boi-thuong-co-dong-gap-kho-164264.html>, truy cập ngày 20/3/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiện lãnh đạo đòi bồi thường: Cổ đông gặp khó
Tác giả: Bùi Trang
Nhà XB: Tinnhanhchungkhoan
Năm: 2016
4. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2017, tr 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học pháp lý
Năm: 2007
5. Chính phủ (2001) Nghị định số 58/2001/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lý và sử dụng con dấu, ban hành ngày 24/08/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2001/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lý và sử dụng con dấu
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
6. Chính phủ (2015) Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, ban hành ngày 14/09/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
7. Chính phủ (2015) Nghị định 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, ban hành ngày 19/10/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
8. Chính phủ (2010) Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2005, ban hành ngày 01/20/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2005
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
12. Lê Hoàng Tùng (2009) “Thành viên Hội đồng quản trị độc lập: Quy định và thực tiễn”, Tạp chí Nhà quản lý, (số 68) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành viên Hội đồng quản trị độc lập: Quy định và thực tiễn
Tác giả: Lê Hoàng Tùng
Nhà XB: Tạp chí Nhà quản lý
Năm: 2009
13. Lê Thị Thu Thủy và Đỗ Minh Tuấn (2016), Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới, Nxb. Tài Chính, Hà Nội, tr. 157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới
Tác giả: Lê Thị Thu Thủy, Đỗ Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb. Tài Chính
Năm: 2016
14. Lê Việt Phương (2018), Người đại diện của Công ty cổ phần thép pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đại diện của Công ty cổ phần thép pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Việt Phương
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ luật học
Năm: 2018
15. Nhóm phóng viên (2012), Bài viết “Tranh chấp giữa SeaBank và Vinaconex – Viettel” tại https://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/tranh-chap-giua-seabank-va-vinaconex-viettel-vi-sao-21556.html (truy cập ngày 15/3/2020), báo đầu tư chứng khoán, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp giữa SeaBank và Vinaconex – Viettel
Tác giả: Nhóm phóng viên
Nhà XB: báo đầu tư chứng khoán
Năm: 2012
16. Ngô Gia Hoàng (2014) – Nguyễn Thị Thương (2016), NĐDTPL của doanh nghiệp theo LDN 2014 dưới góc độ quyền tự do kinh doanh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7 (339) Sách, tạp chí
Tiêu đề: NĐDTPL của doanh nghiệp theo LDN 2014 dưới góc độ quyền tự do kinh doanh
Tác giả: Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2016
17. Nguyễn Hợp Toàn (2017), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong trường hợp CTTNHH hoặc CTCP có nhiều NĐDTPL, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong trường hợp CTTNHH hoặc CTCP có nhiều NĐDTPL
Tác giả: Nguyễn Hợp Toàn
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2017
19. Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty – Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr. 332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty – Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2009
20. Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện: một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam, in trong: Chuyên san Kinh tế và kinh doanh, tập 26, số 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện: một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh
Nhà XB: Chuyên san Kinh tế và kinh doanh
Năm: 2010
21. Nguyễn Vinh Hưng (2016), Xây dựng chế định pháp luật về công ty hợp vốn đơn giản ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chế định pháp luật về công ty hợp vốn đơn giản ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
22. Nguyễn Thị Thanh (2016), NĐDTPL của doanh nghiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề (tháng 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: NĐDTPL của doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2016
23. Phạm Lâm Hải Nguyên (2014), Chế định người đại diện của doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định người đại diện của doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phạm Lâm Hải Nguyên
Nhà XB: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
24. Phạm Thị Hồng Đào (2014), Một số hạn chế của LDN và Luật Đầu tư năm 2014 cần hoàn thiện, http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2066, truy cập ngày 20/3/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hạn chế của LDN và Luật Đầu tư năm 2014 cần hoàn thiện
Tác giả: Phạm Thị Hồng Đào
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w