Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế chính là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng, việc xác định đúng d
Trang 1PHẠM VĂN TOÀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TẠI PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2020
Trang 3Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Văn Toàn
Trang 4Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO
PHÁP LUẬT 9
1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật và các trường hợp thừa kế theo pháp luật 9
1.2 Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật 13
1.3 Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật 15
1.4 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 22
2.1 Quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật 22
2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật 36
2.3 Di sản thừa kế theo pháp luật và chia di sản thừa kế 44
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 51
3.1 Một số đặc điểm chung địa bàn tỉnh Phú Thọ 51
3.2 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 51
3.3 Nguyên nhân 68
3.4 Kiến nghị 70
3.5 Giải pháp 74
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
- TTLT: Thông tư liên tịch
- UBND: Ủy ban nhân dân
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6Bảng 2.1 Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 52Bảng 2.2 Bảng biểu số liệu án tranh chấp di sản thừa kế 54Bảng 2.3 Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật Bị hủy, sửa theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm 60
Trang 7Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào thì vấn đề thừa kế cũng có vị trí đặc biệt quan trọng trong các chế định pháp luật, đây là một hình thức pháp lý quan trọng để bảo vệ các quyền công dân nói chung Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Trong mỗi nhà nước, mỗi giai cấp, mỗi giai tầng chính trị mặc dù có những xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi vấn đề thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân, điều đó đều được quy định rất cụ thể trong Hiến pháp (đạo luật cao nhất) của quốc gia mình
Thừa kế và di sản thừa kế là vấn đề mang tính kinh tế, mang tính xã hội truyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý Có thể nói, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan
hệ dân sự về thừa kế Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế chính là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng, việc xác định đúng di sản thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các án kiện về thừa kế Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc xác định di sản thừa kế- yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc giải quyết các án kiện về thừa kế còn nhiều khó khăn cả về mặt
lý luận và trong thực tiễn áp dụng Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng của nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay thì vấn đề tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng Vì vậy, vấn đề di sản thừa kế và xác định di sản thừa kế cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết
Ở nước ta, nhận thức sớm được vai trò đặc biệt quan trọng của chế định quyền thừa kế, nên ngay từ những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê…cũng đã lưu ý và ban hành các quy định pháp luật
về thừa kế nhằm bảo hộ quyền lợi của người dân Pháp luật về quyền thừa kế ở nước ta lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều đại của
Trang 8rộng và được quy định rất cụ thể trong các bản Hiến pháp của nhà nước ta như: Điều 19 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”; Điều 27 Hiến pháp năm 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”; Điều 58 Hiến pháp năm 1992
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân”…trong giai đoạn này, sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995, sau đó là Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu sự phát triển của hệ thống pháp luật dân sự của nước ta nói chung, pháp luật về thừa kế nói riêng; Bộ luật Dân sự năm 2005 được xem là thành quả của quá trình pháp điển hóa những quy định của pháp luật về quyền thừa kế, nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của công dân nói chung, nhất là những người được hưởng thừa kế; Chưa dừng lại ở đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy định khá chặt chẽ về quyền thừa kế, cụ thể tại Điều 32 “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”, thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm
2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định khá chặt chẽ về quyền thừa kế nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng tăng trong thực tế với tính chất ngày càng phức tạp Sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp Tòa án, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố làm cho tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến việc xác định di sản thừa kế và cách phân chia di sản thừa kế ngày một tăng, làm cho các
vụ kiện tranh chấp về bị kéo dài, không dứt điểm Hơn nữa, khi cơ chế thị trường được mở ra, con người có điều kiện lao động tốt hơn, vì vậy mà khối tài sản họ làm ra trước khi chết đi là rất lớn, đồng nghĩa với đó là quyền lợi của những người được thừa kế khối tài sản đó cùng bị ảnh hưởng rất nhiều Nếu như không xác định đúng di sản thừa kế, ngay cả khi xác định đúng di sản thừa kế mà cách phân chia di sản sai thì cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi của người thừa
Trang 9Tuy vậy, nếu không hiểu rõ những quy định của pháp luật về xác định di sản thừa kế và cách phân chia di sản để nhận thức được quyền định đoạt tài sản của người để lại di sản cũng như cách phân chia di sản, thì việc để lại thừa kế lại là nguyên nhân làm bùng phát tranh chấp giữa những người thừa kế của họ về sau này Việc định đoạt tài sản của người để lại thừa kế không đúng phạm vi luật định có thể còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến những tranh chấp như đã và đang xảy ra trong thực tế là một trong những nguyên nhân làm tổn hại đến truyền thống đạo đức đã có từ lâu đời của dân tộc Thực tế tố tụng tại Tòa án những năm qua cho thấy, việc giải quyết những tranh chấp thừa kế theo pháp luật gặp rất nhiều khó khăn Nhiều vụ việc
đã diễn ra trong nhiều năm nhưng do tính chất phức tạp của quan hệ, cơ quan tố tụng đã giải quyết nhiều lần nhưng cũng chưa thực sự được thấu tình đạt lý
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Giải quyết tranh
chấp về thừa kế theo pháp luật từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại Phú Thọ” là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý
luận cũng như thực tiễn Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật và những khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp
về thừa kế theo pháp luật để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, kiến nghị các cơ quan lập pháp có căn cứ để xây dựng, sửa đổi, bộ sung Bộ luật Dân sự và
Bộ luật tố tụng dân sự ngày một phù hợp hơn với đời sống thực tiễn đặt ra
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về thừa kế tương đối nhiều và ở các cấp độ khác nhau như các khoá luận cử nhân, luận văn cao học và các luận án tiến sĩ Ngoài ra, còn một số bài viết trong các tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật của Bộ Tư Pháp, Tạp chí Toà án Nhân dân
+ Phùng Trung Tập: “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của
Trang 10chỉnh pháp luật về diện và hàng thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam
+ Phạm Văn Tuyết: “Thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”
Đề tài nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm về di chúc, quyền của người lập
di chúc, các điều kiện có hiệu lực của di chúc
+ Trần Thị Huệ: “Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam- những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận án tập trung nghiên cứu về những vấn đề như: cơ sở lý luận về di sản thừa kế, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về di sản thừa kế, thanh toán và phân chia di sản thừa kế, thực tiễn áp dụng trong việc xác định, thanh toán, phân chia di sản thừa kế và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về di sản thừa kế
+ Nguyễn Thị Vĩnh: “Thừa kế theo pháp luật trong BLDS Việt Nam” Nội dung chủ yếu gồm các vấn đề sau: khái niệm thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế, thừa kế thế vị, các trường hợp thừa kế theo pháp luật
+ Nguyễn Thị Hồng Bắc: “Một số vấn đề thừa kế theo pháp luật trong BLDS Việt Nam”
+ Viện Khoa học Pháp lý: “Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của BLDS” Các tập bình luận phân tích nội dung cơ bản của các qui định trong BLDS 1995 nói chung và các qui định về thừa kế nói riêng
+ Viện Nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật: “Những vấn đề cơ bản về BLDS Việt Nam” Đây là số tạp chí chuyên đề về BLDS (số 5/ 1995).Trong đó
có chuyên đề về chế định thừa kế trong BLDS Chuyên đề này nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản của điều chỉnh pháp luật về thừa kế, căn cứ khoa học để phân chia các hàng thừa kế
+ Tòa án Nhân dân Tối cao: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân”
Trang 11+ Nguyễn Ngọc Điện: “Một số suy nghĩ về thừa kế trong BLDS”.Tác giả so sánh pháp luật về thừa kế của Việt Nam qua các thời kỳ phát triển và so với chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự
Những công trình nghiên cứu đó nghiên cứu ở diện rộng và chung nhất về thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc Tuy nhiên, sau khi BLDS 2015 có hiệu lực từ 01/01/2017 và BLTTDS 2015 có hiệu lực, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào nghiên cứu về các quy định mới của Pháp luật để giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật trên cơ sở tình hình thực tiễn giải quyết loại án tranh chấp này tại địa phương Luận văn là công trình đâu tiên nghiên cứu có tính chất chuyên sâu và có hệ thống về giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật từ thực tiễn tại địa bàn tỉnh Phú Thọ ở cấp độ thạc sĩ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến các quy định về thừa kế theo pháp luật, giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật bao gồm làm rõ khái niệm thừa kế theo pháp luật, các quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật, phân tích tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật đồng thời có sự so sánh giữa thừa
kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc để rút ra được đặc trưng của mỗi hình thức và để có thể nhìn nhận vấn đề thừa kế một cách toàn diện
Nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, thực tiễn giải quyết giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Đồng thời, đề xuất một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất tại Việt Nam hiện nay
Trang 12- Nghiên cứu pháp luật giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật theo thủ tục tố tụng dân sự;
luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án tỉnh Phú Thọ;
thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án các cấp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật và một số công trình nghiên cứu cũng như những vụ việc cụ thể có liên quan đến vấn đề này
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật và các quy định của pháp luật nội
dung liên quan đến các vấn đề về tố tụng
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật tại Tòa án cấp xét xử sơ thẩm Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn không đề cập đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật tại
Tòa án cấp phúc thẩm cũng như thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm
Luận văn cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số nước điều chỉnh về thừa kế theo pháp luật, có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật thừa kế của Việt Nam, qua đó tham khảo, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những
Trang 13- Phạm vi không gian: tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực thừa kế Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích, khái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng áp dụng quy định của Pháp luật
về quyền thừa kế theo pháp luật
- Phương pháp hệ thống: luận văn sử dụng phương pháp phân tích theo hệ thống các vấn đề nghiên cứu đặt trong hệ thống có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ như một chỉnh thể thống nhất
- Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận văn để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và yêu cầu đổi mới pháp luật về thừa kế nói chung và giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật nói riêng
- Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
- Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa được sử dụng trong Chương 3 nhằm đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thừa kế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở kiến giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các qui định chung về thừa kế theo pháp luật, nhằm phát triển, mở rộng đối tượng nghiên cứu quan trọng của ngành khoa học pháp lý dân sự về tài sản Hiện nay, khoa học pháp lý thừa nhận quyền thừa kế là quyền để lại tài sản cho người khác hưởng, là
Trang 14Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận pháp luật về thừa kế đặc biệt là việc giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật nhằm thống nhất nhận thức về bản chất và nguyên tắc về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật, góp phần bảo vệ các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các Tòa án và các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan trong việc nghiên cứu, áp dụng pháp luật
về thừa kế theo pháp luật, đồng thời có thể sử dụng được cho việc giảng dạy tại các cơ sở đào tạo các chuyên gia pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật và giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật Chương 3: Thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Phú Thọ và kiến nghị hoàn thiện quy định về thừa kế theo pháp luật
Trang 15VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật và các trường hợp thừa kế theo pháp luật
1.1.1 Khái niệm về thừa kế
Thừa kế là một chế định xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, gắn liền với quyến sở hữu về tư liệu sản xuất Với ý nghĩa đó, thừa kế là một phạm trù kinh tế Theo khái niệm của từ điển Tiếng việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, thừa kế là “ được hưởng cái của người đã chết để lại cho (thường nói về tài sản, của cải)” [Từ điển tiếng Việt, 1206]
Quan hệ thừa kế là một quan hệ xã hội được pháp luật dân sự điều chỉnh và trở thành một quan hệ pháp luật Pháp luật thừa kế quy định các quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể thuộc quan hệ thừa kế
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật thừa nhận Công dân có quyền để lại thừa kế thuộc quyền ở hữu của mình cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân
Theo nghĩa khách quan, thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền và nghĩa vụ, phương thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
1.1.2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế của nước ta từ năm 1945 đến nay đều quy định hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Trang 16sống thì thừa kế theo pháp luật có thể được hiểu là sự dịch chuyển di sản của
người chết cho người còn sống trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hay quan hệ thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản
Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế Như phân tích ở trên, cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản của mình, sau khi cá nhân chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận
Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn
cứ để dịch chuyển di sản của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải dịch chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa
kế Điều 649 BLDS năm 2015 đã định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau:
“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự
thừa kế do pháp luật quy định”
Thừa kế theo pháp luật về bản chất vừa bảo vệ quyền đương nhiên người có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người
có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người có tài sản để lại
1.1.3 Khái niệm tranh chấp thừa kế theo pháp luật
“Tranh chấp” là “tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” [từ điển tiếng Việt, NXB Đà nẵng 2008, 1268] Sự tranh giành đó cho
Trang 17lợi ích của các chủ thể trong xã hội
Tranh chấp thừa kế theo pháp luật là một trong các loại tranh chấp diễn ra phổ biến trong xã hội Nó được sử dụng từ khi xuất hiện quan hệ thừa kế và cho đến ngày nay lại đang diễn ra đa dạng và phong phú hơn về các loại tranh chấp Quan hệ thừa kế ở đâu thì tất yếu có sự tranh chấp về thừa kế ở đó
Từ các khái niệm trên, ta có thể khái niệm “tranh chấp thừa kế theo pháp
luật” là một loại tranh tranh giành về tài sản của người đã chết để lại chưa rõ thuộc về bên nào, được xem xét theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế
do pháp luật quy định
1.1.4 Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật không chỉ phát sinh khi người để lại di sản không có
di chúc mà còn có thể phát sinh trong nhiều tình huống khác Qua mỗi giai đoạn phát triển, quy định về các trường hợp thừa kế theo pháp luật ngày càng rõ ràng, chặt chẽ và toàn diện hơn Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
Một là, không có di chúc Đây là trường hợp theo quy định của Pháp luật, người để lại di sản đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể trong việc lập di chúc nhưng lại không thực hiện quyền lập di chúc của mình
Hai là, di chúc không hợp pháp Mặc dù người để lại di sản có lập di chúc nhưng di chúc này lại không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định cuả Pháp luật dẫn đến di chúc vô hiệu (không có giá trị pháp
lý, di sản sẽ được chia theo pháp luật
Ba là, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế Trường hợp này, di chúc bị coi là vô hiệu căn cứ khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong trường hợp nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước
Trang 18đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật Bốn là, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản Khi mở thừa kế nếu người thừa kế theo di chúc vi phạm khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2005 thì không
có quyền hưởng di sản Trường hợp người được chỉ định trong di chúc có quyền hưởng di sản nhưng từ chối nhận di sản thì di sản được chia theo pháp luật
Năm là, phần di sản không được định đoạt trong di chúc Trường hợp này xảy ra khi người để lại di sản có nhiều tài sản khác nhau nhưng lại chỉ định đoạt trong di chúc một phần tài sản trong khối di sản này Khi đó, phần di sản không được thể hiện trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật
Sáu là, phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực Theo tinh thần của Khoản 4 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 thì trong trường hợp
di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật Điều này có nghĩa là di sản liên quan đến phần di chúc vô hiệu thì sẽ được chia theo pháp luật còn các phần khác sẽ được chia theo di chúc
Bảy là, phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc Khác với các quy định về thừa
kế dưới thời phong kiến, những người thừa kế của người chết có nghĩa vụ phải nhận di sản và phải trả các khoản nợ của người chết để lại kể cả di sản không đủ
để trả nợ, pháp luật hiện hành công nhận quyền thừa kế là một quyền năng dân
sự và người thừa kế có quyền khước từ quyền hưởng di sản của mình Theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 thì người thừa kế có quyền từ chối nhận
di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác Bên cạnh đó, pháp luật thừa kế cũng ghi nhận những trường hợp không được quyền hưởng di sản tại Điều 621 Bộ luật dân sự
Trang 19người này một phần di sản nhất định Khi đó, phần di sản của những người thừa
kế này sẽ bị coi là vô hiệu và được chia theo pháp luật
Tám là, phần di sản có liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế Điều kiện để một cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc là cơ quan tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Điều này có nghĩa là vào thời điểm người để lại di sản chết mà cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động thì sẽ không được hưởng thừa
kế Đó là trường hợp pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản, quyền và nghĩa vụ của pháp nhân hoàn toàn chấm dứt nên pháp nhân không còn tồn tại trên thức tế Việc xác định các trường hợp thừa kế theo pháp luật là vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật đồng thời tránh tình trạng để lại di sản bị đóng băng gây lãng phí cho gia đình và xã hội
1.2 Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế của Việt Nam cũng như pháp luật thừa kế của nhiều quốc gia trên thế giới điều ghi nhận hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Giữa hai hình thức thừa kế này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, có thể cùng được áp dụng trong việc phân chia di sản hoặc mang tính chất loại trừ nhau, có thể áp dụng độc lập một hình thức Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật để tìm ra điểm giống và khác nhau là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho việc nhìn nhận vấn đề chia thừa kế một cách toàn diện, áp dụng quy định của Pháp luật một cách chính xác nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền thừa kế Hai hình thức thừa
kế này có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt nhau Dưới đây là những điểm chung và điểm khác biệt cơ bản
Điểm giống nhau cơ bản, nổi trội nhất của hai hình thức thừa kế này được
thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, đều là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người sống và Thứ hai, người để lại di sản thừa kế đều là cá nhân
Trang 20Điểm khác nhau :
+ Thứ nhất, về ý chí của người để lại tài sản:
Thừa kế theo di chúc được thể hiện cụ thể trong những nội dung của di chúc Thừa kế theo pháp luật: Không có sự thể hiện ý chí của người để lại di sản hoặc có ý chí của người để lại di sản nhưng hình thức di chúc không tuân thủ đúng quy định của Pháp luật dẫn đến không được pháp luật thừa nhận Di sản đương nhiên được chia theo pháp luật
+ Thứ hai, về người thừa kế:
Người thừa kế là người được hưởng tài sản của người chết để lại theo di chúc hoặc theo quy định của Pháp luật
Người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản theo di chúc do người lập di chúc định đoạt khi còn sống Do đó người thừa kế theo di chúc có thể là bất kì ai được chỉ định trong di chúc, có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức, có thể là người có mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản hoặc không có các mối quan hệ này Không áp dụng quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp thừa kế theo di chúc
Người thừa kế theo pháp luật : là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình
tự thừa kế theo quy định của Pháp luật Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể
là cá nhân và có mối quan hệ về hôn nhân hoặc huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết Thừa kế thế vị được áp dụng trong hình thức thừa kế theo pháp luật
+ Thứ ba, cách phân chia di sản:
Thừa kế theo di chúc: Tùy thuộc vào sự phân định di sản của người lập di chúc, người thừa kế có thể được hưởng nhiều hoặc ít hơn toàn bộ di sản thừa kế Thừa kế theo pháp luật: những người cùng một hàng thừa kế thì được hưởng phần di sản ngang nhau
+ Thứ tư, thứ tự ưu tiên:
Thừa kế theo pháp luật chỉ được thực hiện trong trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không có giá trị pháp lý và một số trường hợp khác theo luật định
Trang 21Như vậy, về cơ bản thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật khác nhau về ý chí chủ thể để lại di sản, người thừa kế, cách thức phân chia thừa kế và thứ tự áp dụng
1.3 Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật
1.3.1 Đặc trưng của giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
1.3.1.1 Đặc trưng về thẩm quyền:
Tranh chấp thừa kế là một loại tranh chấp dân sự đặc thù bởi nó chịu sự điều chỉnh của quan hệ pháp luật về thừa kế đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh một số quan hệ pháp luật khác như Luật đất đai (trong trường hợp di sản thừa kế tranh chấp là quyền sử dụng đất), Luật doanh nghiệp (trong trường hợp di sản thừa kế là các quyền tài sản, quyền sở hữu về cổ phiếu, cổ phần…) Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế tài sản căn cứ quy định của BLTTDS Theo đó Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế theo thủ tục tố tụng dân
sự Ủy ban nhân dân hoặc văn phòng công chứng chỉ có thẩm quyền công nhận, công chứng sự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Đây không phải là việc giải quyết tranh chấp mà chỉ là một hành vi pháp lý công nhận hoặc công chứng một
sự kiện pháp lý trên cơ sở sự thống nhất và thỏa thuận các bên trong quan hệ pháp luật về thừa kế
1.3.1.2 Đặc trưng về đương sự
Theo quy định tại khoản 1, Điều 68 BLTTDS: “Đương sự trong vụ án dân
sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan” [BLTTDS] Như vậy đương sự trong vụ án dân sự nói
chung gồm 3 đối tượng Nguyên đơn là người khởi kiện hoặc được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,
Trang 22nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng
Cũng như các vụ án tranh chấp dân sự khác, đương sự trọng vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật cũng gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật có những đặc thu riêng Họ thường là những người thân trong một gia đình hay dòng tộc, họ có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng Đương sự trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế là những người anh,
em hoặc cha, mẹ với các con trong một gia đình, khi không thể tự thỏa thuận phân chia tài sản hoặc việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại họ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Cũng chính vì đặc thù trên, nên các vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật thường có nhiều đương sự Họ có thể ủy quyền cho một trong số các đồng nguyên đơn hoặc đồng bị đơn tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên, việc ủy quyền này chỉ được chấp nhận sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án và được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định
Như đã phân tích ở trên, đương sự trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế là những người cùng trong diện, hàng thừa kế, họ có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng và những mối quan hệ này thường đa dạng, phức tạp và trải qua một khoảng thời gian rất dài Do vậy, việc xác định đương
sự tham gia tố tụng là rất khó khăn Bên cạnh đó, loại tranh chấp thừa kế theo pháp luật có sự khác nhau trong việc xác định đương sự so với tranh chấp thừa
kế theo di chúc Đó là chưa kể đến trường hợp những vụ án đặc biệt phức tạp, chẳng hạn người chết có để lại di chúc nhưng di chúc đó chỉ có hiệu lực một phần Khi đó Tòa án sẽ phải xác định rõ những đối tượng được hưởng di sản theo di chúc và những đối tượng được hưởng di sản theo pháp luật Do đó, đương sự trong vụ án cũng sẽ đa dạng và phức tạp hơn Như vậy, xác định đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật là rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án đúng và hiệu quả Tòa án xác định sai đương sự trọng vụ án
Trang 23tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật sẽ dẫn đến việc triệu tập đương sự trong
vụ án không đầy đủ, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án mà
cụ thể là bản án sẽ tuyên tại Tòa Xác định sai đương sự tham gia vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng có thể dẫn việc bản án đã tuyên của Tòa án bị hủy Chính vì vậy, việc lập sơ đồ, thống kê một cách đầy đủ và chính xác hàng thừa kế là rất quan trọng Để thực hiện được vấn đề này, cần phải xem xét nhiều văn bản, tài liệu khác nhau như giấy khai sinh, giấy tờ liên quan đến nhận nuôi con nuôi, giấy đăng ký kết hôn… Việc kiểm tra, xác minh các giấy tờ này càng trở nên khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí hơn khi đối tượng thừa kế thuộc diện, hàng thừa kế là người Việt nam định cư ở nước ngoài
1.3.1.3 Đặc trưng về áp dụng pháp luật
Giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế theo pháp luật là một loại tranh chấp dân sự đặc thù, về bản chất là tranh chấp thừa kế nhưng tài sản tranh chấp lại là căn cứ để xác định văn bản áp dụng Do đó, để giải quyết loại tranh chấp này cần áp dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật đất đai, Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật tố tụng dân sự… Chẳng hạn, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì cần xem xét các quy định của Luật đất đai; xác định chính xác những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản thì cần tham chiếu quy định của Luật hôn nhân gia đình; Luật nuôi con nuôi để xác định quan hệ hôn nhân, quan hệ cha, mẹ và các con, quan
hệ nuôi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật Mặt khác, để xác định di sản là tài sản do người chết để lại có hợp pháp không? Do đó, nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và thống nhất các văn bản pháp luật có liên quan khi giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật là rất quan trọng, có vai trò quyết định trong việc giải quyết vụ án đúng và hiệu quả
1.3.1.4 Đặc trưng về thu thập, xác minh tài liệu chứng cứ giải quyết các tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Xác định tài liệu, chứng cứ luôn là một vấn đề quan trọng bậc nhất để giải quyết các vụ án dân sự Trong vụ án tranh chấp thừa kế thì việc xác định, xác
Trang 24minh tài liệu, chứng cứ là rất khó khăn và phức tạp Khi giải quyết loại tranh chấp này, Tòa án cần xác định đầy đủ đương sự tham gia tố tụng, xác định di sản thừa kế và định giá di sản chính xác, xác minh được nguồn gốc tài sản Đối với tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất còn phải xác minh được diễn biến quá trình
sử dụng đất là di sản thừa kế đang có tranh chấp Muốn lập hồ sơ vụ án với đầy
đủ chứng cứ để giải quyết vụ án khách quan đúng quy định của Pháp luật thì Tòa
án cần thu thập chứng cứ từ nhiều nguồn khác nhau Chứng cứ của vụ án có thể
là những tài liệu do nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp Chứng cứ có thể do Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự cung cấp cho Tòa Đồng thời, Tòa án cũng cần phải tự mình tiến hành xác minh từ những cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được chính xác những nội dung vụ việc hoặc họ có lưu giữ những tài liệu có thể được sử dụng là chứng cứ
để giải quyết vụ án Tuy nhiên, vì đa phần các tranh chấp thừa kế theo pháp luật diễn ra trong thời gian dài, do vậy việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án
sự nói chung, song nó có những đặc thù riêng Khi tiến hành thụ lý, giải quyết tranh chấp thừa kế theo thủ tục tố tụng dân sự, Tòa án cũng cần xem xét các điều kiện thụ
lý vụ án như: điều kiện về chủ thể khởi kiện, điều kiện về thẩm quyền giải quyết, điều kiện về hình thức và nội dung đơn khởi kiện, điều kiện về các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, điều kiện tạm ứng án phí Việc xác định thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp thừa kế mà di sản là quyền sử dụng đất cũng là một đặc trưng của giải quyết loại tranh chấp này
Trang 251.4 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
1.4.1 Pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Thừa kế được xác định là một chế định quan trọng trong Pháp luật Việt Nam Do đó ngay từ trước cách mạng tháng tám năm 1945, pháp luật thời kỳ phong kiến, thời kì pháp thuộc đã có những quy định về thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng Trong đó thừa kế theo pháp luật đã xuất hiện ở Luật Hồng Đức, Luật Gia Long cũng như pháp luật thời pháp thuộc Tuy nhiên ở những thời kì này, do bản chất của giai cấp thống trị, những quy phạm này chủ yếu để bảo vệ tôn ti trật tự của chế độ phong kiến dẫn tới sự bất bình đẳng trong quan hệ thừa kế, đặc biệt là giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ngày 10/10/1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ trong đó có những quy định về thừa kế Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 97/SL sửa đổi một số quy lệ
và chế định trong dân luật Ngày 18/9/1956, Bộ tư pháp đã ban hành thông tư số 1742-BNC quy định một số nội dung về thừa kế theo pháp luật
Hiến pháp 1959 ra đời tiếp tục ghi nhận về quyền thừa kế tài sản của công dân Trên tinh thần của Hiến pháp, Luật HNGĐ năm 1959 đã cụ thể hóa quyền thừa kế tài sản của vợ chồng, con cái
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất Cùng với sự thống nhất
về chính trị, kinh tế, đòi hỏi thiết yếu phải có sự thống nhất về việc áp dụng pháp luật Hiến pháp 1980 được ban hành là cơ sở, nền tảng cho bước phát triển mới của pháp luật về thừa kế Để có đường lối thống nhất cho Tòa án các cấp trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế, ngày 24/7/1981, Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư số 81/TANDTC Nội dung của thông tư 81 đã bao quát khá toàn diện các vấn đề thừa kế so với các văn bản trước đó Để phù hợp với sự biến đổi, phát triển của kinh tế, xã hội ở nước ta cũng như nhằm khắc phục những nội dung còn thiếu của những vướng mắc, ngày 30/8/2990, Hội đồng nhà
Trang 26nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10/9/1990 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy định tương đối đầy đủ về thừa kế ở nước ta sau cách mạng tháng 8/1945 cho đến khi Bộ luật dân sự 1995 được ban hành
Bộ luật dân sự 1995 được ban hành là kết quả kiểm nghiệm, sàng lọc hực tiễn đời sống xã hội và hệ thống hóa, pháp điển hóa các quy định trước đây Quyền thừa kế theo pháp luật của công dân được quy định tại BLDS 1995 đã góp phần bảo
vệ các quyền dân sự và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Tuy nhiên, các quy định về thừa kế trong BLDS 1995 được ban hành trong giai đoạn đầu của thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên nhiều quy định đã bị lạc hậu so với sự phát triển như vũ bão của các hoạt động kinh kế và các giao lưu trong đời sống xã hội Chính điều này đã thúc đẩy mạnh mẽ đòi hỏi phải có quy phạm pháp luật mới điều chỉnh kịp thời những yêu cầu của thức tiễn BLDS 2005 ra đời thay thế BLDS 1995 và BLDS 2015 thay thế BLDS 2015 So với các bộ luật trước, BLDS 2015 đã có sự sửa đổi bổ sung, ghi nhận cụ thể hơn những người được hưởng di sản thuộc hàng thừa kế thứ hai, thứ ba, nội dung về thừa kế thế vị, quyền hưởng di sản thừa kế của con nuôi…
1.4.2 Pháp luật tố tụng về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Tranh chấp về thừa kế là nội dung tranh chấp tương đối phổ biến trong tranh chấp dân sự, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế, vì nó có liên quan trực tiếp đến lợi ích giữa những người có quyền thừa
kế Vì vậy tranh chấp này pháp luật quy định phương thức giải quyết được thực hiện theo pháp luật tố tụng dân sự
Lịch sử tố tụng kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến nay xác định, cơ quan giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật thuộc thẩm quyền của Tòa án Những tranh chấp về thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, trừ trường hợp đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài thì tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh
Trang 27Đối với những tranh chấp liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế là bất động sản, thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết;
Trường hợp di sản thừa kế là động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc Các bên cũng có thể thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết tranh chấp
Tiểu kết chương 1
Quá trình phát triển của thừa kế gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người Dù ở thời kỳ nào, thừa kế cũng luôn đóng vai trò quan trọng Ở chương 1 của luận văn, xuất phát từ việc tham khảo giải nghĩa các cuốn từ điển cũng như định nghĩa, quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đã đưa ra khái niệm về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật, phân tích các đặc trưng về tranh chấp thừa kế theo pháp luật, phân tích và chỉ ra các trường hợp được hưởng thừa kế theo pháp luật; phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Để có cái nhìn toàn diện và thấy được những ưu nhược điểm của các quy định về pháp luật thừa kế của từng giai đoạn, trong chương này còn phân tích nội dung pháp luật giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật trong từng giai đoạn pháp luật
kể từ năm 1945 đến nay; Phân tích pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp thừa
kế theo pháp luật, xác định thẩm quyền của cơ quan nhà nước có quyền giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật là cơ quan Tòa án để từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp cũng như đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế và những người có liên quan
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
2.1 Quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật
2.1.1 Diện thừa kế theo pháp luật
Pháp luật dân sự hiện hành quy định chế định thừa kế bao gồm hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Diện và hàng thừa kế là một trong những vấn đề chính yếu và chỉ được đặt ra trong hình thức thừa kế theo pháp luật Quy định này xuất phát từ bản chất của hình thức thừa kế theo di chúc
là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc, có thể để lại di sản cho bất kỳ ai không cần phải xác định diện và hàng thừa kế
Diện thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của chế định thừa kế Tuy nhiên khái niệm về diện thừa kế mới chỉ được quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý chứ chưa được ghi nhận dưới góc độ quy định của Pháp luật nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Trong giáo trình Luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà nội đưa ra khái niệm về diện thừa kế như sau: “ Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết theo quy định của Pháp luật” [Giáo trình Luật dân sự, tr 432] Phạm
vi những người có thể được hưởng di sản thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của xã hội cũng như quy định pháp luật của mỗi chế độ nhất định Quá trình đất nước đổi mới và phát triển, pháp luật thừa kế ở nước ta đã xóa bỏ những tàn tích của tư tưởng lạc hậu trọng nam, khinh nữ và mở rộng diện thừa
kế Theo đó, người thừa kế theo pháp luật phải có một trong ba mối quan hệ sau đây với người để lại di sản: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng
2.1.1.1 Quan hệ hôn nhân
Quan hệ hôn nhân là một trong những căn cứ quan trọng để xác định diện thừa kế theo pháp luật
Trang 29Theo quy định của Luật HNGĐ Việt Nam thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ
và chồng sau khi đã kết hôn Vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi quan hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp Căn cứ vào quan hệ hôn nhân hợp pháp, quyền thừa kế của vợ, chồng trong việc hưởng di sản của nhau được đảm bảo bằng các quy định của Pháp luật Để có thể được Pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc kết hôn phải tuân thủ các điều kiện
và thủ tục do pháp luật quy định Hôn nhân hợp pháp phải đảm bảo cả về mặt nội dung lẫn hình thức nghĩa là phải đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng
ký kết hôn Giấy chứng nhận kết hôn được coi là bằng chứng của cuộc hôn nhân hợp pháp Từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận các bên có quyền và nghĩa vụ đối với nhau Giấy chứng nhận kết được coi là cơ sở pháp lý để các bên yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong quan hệ hôn nhân Tuy nhiên, trong trường hợp giấy chứng nhận kết hôn được cấp không đúng thẩm quyền sẽ không làm phát sinh giá trị pháp lý, hai bên nam nữ không được coi là
vợ chồng và do đó, không thuộc diện thừa kế của nhau
Trên thực tế, có một số trường hợp do điều kiện, hoàn cảnh khách quan nên vẫn tồn tại những quan hệ hôn nhân đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn nhưng lại vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn Nguyên nhân bắt nguồn từ điều kiện lịch sử, đất nước ta trải qua nhiều năm chiến tranh, nảy sinh nhiều trường hợp nam nữ mới chỉ được gia đình tổ chức lễ cưới theo tập quán mà chưa tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn; do ảnh hưởng của những tập tục lạc hậu, dẫn tới ý thức của người dân rất hạn chế, chỉ tôn trọng nghi thức cưới theo tập quán mà không đăng
ký kết hôn theo luật định, nhất là ở các khu vực nông thôn, miền núi, các vùng dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo Thực trạng này đã được giải quyết theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm
Trang 301986, Mục 2 của Nghị quyết đã đưa ra hướng dẫn giải quyết về trường hợp kết hôn vi phạm Điều 8:
Trong thực tế vẫn có không ít trường hợp kết hôn không có đăng ký Việc này tuy có vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không coi là việc kết hôn trái pháp luật, nếu việc kết hôn không trái với các điều 5, 6, 7 Trong trường hợp này, nếu
có một hoặc hai bên xin ly hôn, Tòa án không hủy việc kết hôn theo Điều 9 mà
xử như việc xin ly hôn theo Điều 40 [ Nghị quyết 01/1988 của HĐTP]
Quy định về việc thừa nhận hôn nhân thực tế như trên không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của hai bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em mà còn nhằm giải quyết những vướng mắc trong các giao dịch do hai bên vợ chồng thực hiện với người thứ ba Như vậy, trong trường hợp hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng mặc dù không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn nhưng đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn được Tòa án thừa nhận là trường hợp hôn nhân thực tế thì vợ chồng vẫn thuộc diện thừa kế của nhau và còn là người được thừa kế tài sản của nhau không phụ thuộc vào di chúc
Nhằm giải quyết triệt để những quan hệ vợ chồng không tuân thủ quy định của Luật HN&GĐ về đăng ký kết hôn, Khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định “ Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” [ LHNGĐ 2000] Tiếp đó, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật HN&GĐ năm
2000, hướng dẫn giải quyết các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn như sau: Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích kết hôn, tức là việc đăng ký kết hôn không bị hạn chế về mặt thời gian và quan
hệ vợ chồng được công nhận kể từ ngày bắt đầu chung sống như vợ chồng chứ không phải ngày đăng ký kết hôn Nhưng nếu nam, nữ sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thờ
Trang 31hạn hai năm kể từ ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003 Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng Kể từ sau ngày 01/01/2003 thì họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn Như vậy, tùy từng trường hợp mà pháp luật công nhận hôn nhân thực tế hay không và khi đã được công nhận là hôn nhân thực tế thì giữa vợ chồng sẽ phát sinh đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, trong đó có quyền được hưởng thừa kế theo pháp luật của nhau
Giả thiết được đặt ra là trong trường hợp nam nữ sống chung với nhau từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng chưa đi đăng ký kết hôn mà một bên chết trước trong khoảng thời gian từ sau ngày 01/01/2001 và trước ngày 01/01/2003 thì có thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau hay không? Mục II.1.b của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 06/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định: “… Cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc vợ còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của Pháp luật về thừa kế” [Nghị quyết số 01/2003 của HĐTP] Quy định này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn
Có thể nhận thấy việc thùa nhận hôn nhân thực tế chỉ mang tính tạm thời để giải quyết thấu tình đạt lý những trường hợp do hoàn cảnh khách quan mang lại Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực, hôn nhân thực tế không được thừa nhận nữa Vì vậy, việc hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không làm phát sinh quan hệ vợ chồng nên không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau
Luật HN&GĐ năm 2000 và năm 2014 quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng… Vậy trong trường hợp vợ chồng đã tiến hành chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại, sau đó một bên chết thì bên kia có được quyền hưởng thừa
kế di sản của người đã chết không? Theo khoản 1 Điều 680 BLDS 2005 và
Trang 32khoản 1 Điều 655 BLDS 2015 đều quy định “ Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản” [BLDS 2015] Quy định này hoàn toàn phù hợp với bản chất của quan hệ hôn nhân và phù hợp với thực tiễn đời sống bởi việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không dẫn tới hệ quả chấm dứt quan hệ vợ chồng, do đó, vẫn phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật giữa vợ, chồng với nhau Đây là quy định rất tiến bộ của Pháp luật hiện hành phù hợp với đời sống xã hội cũng như nếp sống văn hóa hiện nay
Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội Pháp luật ghi nhận vợ chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau một mặt xuất phát từ quan hệ gắn bó tình cảm cùng xây dựng gia đình giữa vợ và chồng, mặt khác tạo cơ
sở vật chất để người còn sống tiếp tục gánh vác, duy trì cuộc sống gia đình
2.1.1.2 Quan hệ huyết thống
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc bảng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ Quan hệ huyết thống là cơ sở quan trọng, cơ bản quy định diện thừa kế theo pháp luật
Để đảm bảo quyền và lợi ích về tài sản cũng như lợi ích về nhân thân của
cá nhân, việc xác định quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ và các con là hết sức quan trọng và cần thiết Vấn đề xác định cha, mẹ cho con (kể cả con trong giá thú và con ngoài giá thú) được Nhà nước ta rất quan tâm và được thể chế hóa bằng các quy định của Pháp luật Theo đó, tại khoản 1 Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN& GĐ 2014 đều quy định “ Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ mang thai trong thời kỳ đó là con chung vợ chồng Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng” [luật HNGĐ 2014] Thông thường, việc xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú sẽ phức tạp hơn bởi giữa cha, mẹ của người con không có hôn nhân hợp pháp nên không thể suy đoán dựa cào “thời kỳ hôn nhân” Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận còn thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gen
Trang 33Hiện nay, quy định về xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học, chẳng hạn như bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là rất phù hợp với thực tiễn đời sống, vừa mang tính nhân văn cao cả, vừa đảm bảo được quyền lợi của những người liên quan
Việc xác định cha, mẹ, con không những là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con đối với nhau trong quan hệ nhân thân mà còn là cơ
sở để xác định diện thừa kế giữa cha, mẹ và con khi một trong các bên đã chết
2.1.1.3 Quan hệ nuôi dưỡng
Theo quy định của Pháp luật hiện hành, diện thừa kế được xác định trên cơ
sở quan hệ nuôi dưỡng bao gồm quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định một trường hợp ngoại lệ đặc biệt,
đó là trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế nếu đáp ứng điều kiện nhất định Như vậy, có thể khái quát quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc nhau, nuôi dưỡng nhau giữa những người thân thuộc theo quy định của pháp luật
Trước hết xét đến quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Theo quy định tại Điều 652 BLDS 2015 (kế thừa quy định tại Điều 678 BLDS 2005) thì “ Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này” [BLDS 2015] Điều kiện để xác lập mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là sự kiện nuôi con nuôi được pháp luật thừa nhận Pháp luật Việt Nam quy định khá chặt chẽ việc nhận nuôi con nuôi nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người được nhận làm con nuôi Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014 đều có những quy định về điều kiện nhận nuôi con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nhận nuôi con nuôi Đặc biệt, những quy định này đã được kế thừa và phát triển, ghi nhận đầy đủ, cụ thể hơn trong văn bản pháp lý chuyên sâu, đó là sự ra đời của Luật nuôi con nuôi năm 2010 Việc nhận con nuôi dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi
Trang 34Việc nuôi con nuôi hợp pháp sẽ dẫn tới hệ quả: kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan Hay nói cách khác, con nuôi có đầy đủ quyền như con đẻ và được coi là hàng thừa kế thứ nhất của cha, mẹ nuôi
Như vậy, quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi sẽ được xác lập nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, trình tự, thủ tục Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp họ có mối quan hệ gắn bó, chăm sóc nhau, coi nhau như cha mẹ, con của nhau nhưng lại không đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Những trường hợp này có được pháp luật thừa nhận là con nuôi thực tế hay không? Đường lối giải quyết vấn đề này được quy định tại phần III.A.1 Thông tư 81:
“Con nuôi được thừa kế phải là con nuôi hợp pháp, tức là việc nuôi con nuôi phải được Ủy ban nhân dân cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp nhân dân chưa hiểu pháp luật cho nên chưa xin chính quyền công nhận và đăng
ký vào sổ hộ tịch việc nuôi con nuôi Trong trường hợp này, nếu việc nhận nuôi con nuôi là ngay thẳng, cha mẹ đẻ của đứa trẻ hoàn toàn tự nguyện, việc nuôi dưỡng đứa trẻ được đảm bảo, thì coi là con nuôi thực tế Con nuôi và bố mẹ nuôi
có quyền thừa kế lẫn nhau” [Thông tư 81]
Ngoài ra, quan hệ thừa kế được xác định dựa trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng còn bao gồm quan hệ giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế Theo quy định tại Luật HN&GĐ năm 2014 thì bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình và ngược lại, con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình Mặc dù giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế không có mối quan hệ sinh thành nhưng giữa họ đã thể hiện nghĩa vụ, chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con thì họ được thừa kế theo pháp luật của nhau Vấn đề này đã
Trang 35được ghi nhận cụ thể tại Điều 654 Bộ luật dân sự 2015 (kế thừa điều 679 BLDS 2005): “ Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế
di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này” [BLDS 2015] Trước đó, thông tư số 81 cho đến Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và BLDS 1995 đều quy định con riêng và bố dượng, mẹ kế thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi một bên chết trước nếu giữa họ đã thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con Như vậy, trải qua các thời kỳ, pháp luật về thừa kế chỉ thừa nhận con riêng và bố dượng, mẹ kế thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi và chỉ khi đáp ứng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con Quy định này phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống của người Việt Nam tuy nhiên vẫn còn mang tính chung chung Việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như thế nào thì sẽ được coi là như cha con, mẹ con thì vẫn chưa có những tiêu chí cụ thể Điều này đã nảy sinh thực tế giữa các Tòa án khác nhau sẽ có sự áp dụng khác nhau, không thống nhất đối với cùng một sự việc tương
tự Do đó cần phải có sự hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để trước hết bảo vệ được quyền
và lợi ích chính đáng của con riêng, bố dượng, mẹ kế đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật thống nhất tránh tranh chấp có thể xảy ra
Ngoài ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản thì không có bất cứ quan hệ nào khác để xác định diện thừa kế theo pháp luật
2.1.2 Hàng thừa kế theo pháp luật
Không phải ai thuộc diện thừa kế theo pháp luật cũng được hửng di sản thừa kế mà họ chỉ có thể được hưởng nếu thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Điều kiện do pháp luật quy định hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa kế Trên cơ sở xác định phạm vi những người thuộc diện thừa kế, pháp luật sắp xếp những người đó theo từng nhóm với thứ tự ưu tiên dựa trên tính chất gần gũi giữa họ với người để lại di sản Mỗi nhóm được gọi là một hàng thừa kế và những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
Trang 36Theo pháp luật hiện hành, số lượng hàng thừa kế được chia thành ba hàng
và cơ sở để ghi nhận những người trong cùng một hàng tùy thuộc vào mức độ gần gũi, thân thích với người để lại di sản Hàng thừa kế được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết hoặc bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản một cách hợp pháp
Số lượng các hàng thừa kế và nguyên tắc phân chia người thừa kế theo các hàng thừa kế
Pháp luật về thừa kế của nước ta quy định ba hàng thừa kế và những người thuộc cùng một hàng thừa kế bao gồm cả những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản
Nguyên tắc chia di sản thừa kế, trước kết sẽ chia di sản cho những người thừa kế ở hàng trước, theo thứ tự ưu tiên chia trước, chia hết và chia đều bằng nhau cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất Nếu không có ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản, thì di sản mới đươc chuyển xuống và chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ hai Tương tự như vậy đối với hàng thừa kế thứ ba Theo quy định hiện hành, việc phân nhóm của những người thừa kế về từng hàng thừa kế sẽ phụ thuộc vào mức độ thân thích, gần gũi với người để lại
di sản xét trên cả quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng
2.1.2.1 Hàng thừa kế thứ nhất
Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm:
vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất dựa trên cả ba mối quan hệ bao gồm quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau, là giám
hộ và đại diện đương nhiên của nhau khi thỏa mãn các điều kiện luật định
Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là mối quan hệ mang tính đối nhau, nghĩa là bên này chết thì bên kia thuộc hàng thừa kế thứ nhất và ngược lại Căn
Trang 37cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân như với các điêu kiện đã được phân tích ở trên Bên cạnh đó, cần lưu ý trường hợp cán
bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954 lại lấy vợ hoặc chồng khác Sau khi đất nước thống nhất (30/4/1975) họ trở về đoàn tụ gia đình và thực tế đã tồn tại một người có hai vợ hoặc hai chồng Do đó, việc kết hôn của họ mặc dù đã vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng nhưng không bị coi là việc kết hôn trái pháp luật Khi giải quyết các trường hợp này, quyền và lợi ích của tất cả các bên (trong đó có quyền được hưởng di sản thừa kế của nhau) được Pháp luật quan tâm và bảo vệ
2.1.2.2 Hàng thừa kế thứ hai
Hàng thừa kế thứ hai được xác định căn cứ theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 651 BLDS năm 2015 bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại Như vậy, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai dựa trên mối quan hệ huyết thống Ông nội, bà nội là người sinh
ra cha của cháu Ông ngoại, bà ngoại là người sinh ra mẹ của cháu Ông bà nội ngoại là những người thân thích thuộc bề trên của người để lại di sản, có quyền
và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu Do đó, nếu ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại còn sống vào thời điểm người cháu chết sẽ là người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ hai của người cháu đó Ngược lại, trong trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại chết thì cháu ruột là người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ hai Quy định này hoàn toàn phù hợp với nét đẹp đặc thù trong văn hóa Việt Nam: "kính trên, nhường dưới, ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền Anh ruột, chị ruột, em ruột là anh, chị, em cùng mẹ hoặc cùng cha, nghĩa là một người mẹ sinh bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con đó đều là anh, chị, em ruột của nhau không phụ thuộc vào việc các người con đó là cùng cha hay khác cha Cùng tương tự như vậy, một người cha sinh ra bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con đó đều là anh, chị, em ruột của nhau, không phụ thuộc vào việc các người con đó
Trang 38cùng mẹ hay khác mẹ Con riêng của vợ và con riêng của chồng thì không phải
là anh, chị, em ruột của nhau Nếu anh hoặc chị hoặc cả anh chị chết thì em ruột
sẽ là người thuộc hàng thừa kế thứ hai đối với di sản của anh, chị đã chết và ngược lại Như đã chỉ ra ở trên, con nuôi không đương nhiên trở thành anh, chị,
em của con đẻ của người nuôi nên giữa con nuôi và con đẻ không phải là người thừa kế theo pháp luật của nhau
Tương tự như những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, những người thừa
kế thuộc hàng thứ hai cũng được hưởng phần di sản bằng nhau, không phân biệt
là người bề trên, người bề dưới hay người cùng bậc với người để lại di sản Quy định như vậy là phù hợp với mục đích duy trì, bảo vệ và phát triển di sản thừa kế qua các thế hệ trong gia đình
mẹ đẻ Khi người để lại di sản (chắt) chết thì cụ là người thuộc hàng thừa kế thứ
Trang 39phục những hạn chế của những qui định trước đó, ghi nhận chắt thuộc hàng thừa
kế thứ ba của cụ nội, cụ ngoại
Bác ruột là anh ruột hoặc chị ruột của cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người chết để lại di sản Chú ruột là em trai ruột của cha đẻ của người chết để lại di sản Cậu ruột là em trai ruột của mẹ đẻ của người chết để lại di sản Cô ruột là em gái ruột của cha đẻ của người chết để lại di sản Dì ruột là em gái ruột của mẹ đẻ của người chết để lại di sản
Quan hệ thừa kế giữa những người này và người để lại di sản hình thành trên cơ sở mối quan hệ huyết thống giữa hai đời liền kề nhau
Như vậy, khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng một hàng sẽ được hướng phần di sản bằng nhau và theo thứ tự ưu tiên tuyệt đối giữa các hàng Trước hết, quyền ưu tiên thuộc về những người ở hàng thừa kế thứ nhất bởi giữa họ có mối quan hệ thân thích, gần gũi nhất Tiếp đó, nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì hàng thừa kế thứ hai sẽ được ưu tiên nhận di sản Tương tự, chỉ xét đến hàng thừa kế thứ ba khi không còn ai ở hai hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai Khi tất cả các hàng thừa kế không còn người thừa kế thì di sản thuộc về Nhà nước
Tuy nhiên, trên thực tế xét theo trình tự hàng thừa kế và thứ tự ưu tiên, rất hiếm trường hợp những người ở hàng thứ ba được hưởng thừa kế và việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ ba gặp nhiều khó khăn so với việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai Lý do là bởi hàng thừa kế thứ ba được cơ cấu gồm nhiều thế hệ và nhiều bậc trên dưới khác nhau, cả bên nội và bên ngoại của người để lại di sản Do đó, để xác minh liệt kê, tập hợp được đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế thứ ba không phải là đơn giản và rất dễ xảy ra tình trạng bỏ sót
2.1.3 Thừa kế thế vị
2.1.3.1 Khái niệm thừa kế thế vị và đặc điểm của thừa kế thế vị
Theo nguyên tắc, người thừa kế là người có khả năng được hưởng di sản theo qui định của pháp luật và phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Tuy
Trang 40nhiên, trên thực tế có những trường hợp người thừa kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế (chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản)
Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ gần gũi, thừa kế thế vị đã được quy định tại Điều 652 BLDS 2015 (kế thừa Điều 634 BLDS năm 2005) “ Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm vớ người để lại di sản thì chắt được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [BLDS 2015]
Theo nghĩa Hán – Việt, từ “thế” có nghĩa là “thay vào”, từ “vị” có nghĩa là
“ngôi thứ”, “ngôi vị”, “vị trí” Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội (xuất bản năm 1999), thừa kế thế vị được giải thích như sau “Thừa kế thế vị là thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế [Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học]
Như vậy, thừa kế thế vị được hiểu là việc cháu (chắt) được thay thế vị trí của cha hoặc mẹ (ông hoặc bà) để hưởng di sản của ông hoặc bà (cụ) trong trường hợp cha hoặc mẹ (ông hoặc bà) đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông hoặc bà (cụ)
Từ định nghĩa nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của thừa kế thế vị như sau:
Thứ nhất: thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong quan hệ thừa kế theo pháp luật
Điều này được lý giải bởi người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chết trước người lập di chúc thì phần di chúc liên quan đến người chết trước đó sẽ vô hiệu
Thứ hai, thừa kế thế vị được quy định để bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng của cháu, chắt trong trường hợp cha, mẹ của cháu, chắt chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông bà hoặc các cụ Đây là những người có quan hệ huyết thống gần gũi nhất với người để lại di sản
Thứ ba, thừa kế thế vị phát sinh trên cơ sở quan hệ huyết thống và quan hệ
nuôi dưỡng giữa người để lại di sản với con cháy của người đó Về quan hệ