Từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục ph
Trang 1NGUYỄN THANH BÌNH
QUẢN LÝ DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đắk Nông, năm 2021
Trang 2NGUYỄN THANH BÌNH
QUẢN LÝ DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
Ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 8.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN TUÂN
Hà Nội năm 2021
Trang 3liệu khác
Tác giả
Nguyễn Thanh Bình
Trang 4Khoa học Giáo dục
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Tuân - Trường Đại học thủ
đô Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng trong quá trình công tác
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở GD&ĐT Đăk Nông, Ban giám hiệu các trường THPT trên địa bàn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk nông (trường THPT Đắk Glong, THPT Lê Duẩn, PTDTNT THCS&THPT huyện Đắk Glong) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin phục vụ quá trình nghiên nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được góp ý của quý thầy
cô và đồng nghiệp
Đắk Nông, tháng 11 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thanh Bình
Trang 51.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6 1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 7 1.3 Lý luận về giáo dục trung học phổ thông 12 1.4 Quản lý hoạt động dạy học trong trường THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018 24 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT theo định hướng chương trình GDPT năm 2018 30
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 35
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông 35 2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 37 2.3 Thực trạng giáo dục và hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông 37 2.4 Thực trạng quản lý dạy học tại các trường THPT ở Đắk Glong 49 2.5 Đánh giá thực trạng dạy học và quản lý hoạt động dạy học 57
Chương 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 62
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 62
Trang 6KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8quốc gia
Ngày nay, nhân loại đang sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 với
sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo Đặc điểm này đã đặt ra những yêu cầu rất cao đối với nguồn nhân lực là: phải có trình độ học vấn cao, có tay nghề vững vàng, có tính năng động, sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình phát triển xã hội Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao
và những phẩm chất cần thiết đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại là vấn đề đang đặt ra cho các quốc gia phải quan tâm giải quyết
Ở nước ta, trên cơ sở thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, giáo dục còn hướng vào quá trình đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đây là đội ngũ lao động nòng cốt có trình độ khoa học, nắm vững công nghệ sản xuất hiện đại, có các phẩm chất cần thiết của người lao động trong xã hội văn minh trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội v.v…đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thế giới ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản nhất để giữ gìn và phát triển văn hóa để khỏi tụt hậu Toffler đã khẳng định: “Một dân tộc không được giáo dục - dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải; một cá nhân không được giáo dục - cá nhân đó sẽ bị xã hội loại bỏ”
Giáo dục có nhiệm vụ quan trọng là xây dựng một trình độ văn hóa cho toàn
xã hội bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho thế hệ trẻ và mọi người Ngày nay, trình độ dân trí cao là một tiêu chí để đánh giá sự giàu mạnh của một quốc gia Giáo dục là lực lượng sản xuất trực tiếp, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân thành công của nhiều quốc gia là có sự đầu tư và chăm lo đặc biệt đến sự phát triển giáo dục Ngày nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, tức là phải được thể hiện trong chính sách quốc gia, thể hiện trong chiến lược phát triển đất nước
Trang 9kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Điều đặc biệt là cần làm cho học sinh hình thành được tình cảm, niềm vui và hứng thú trong học tập
Chất lượng giáo dục đang là vấn đề khá nóng bỏng mà cả xã hội đang đề cập đến Nhưng muốn nâng cao chất lượng dạy học, ngoài sự nỗ lực và tự giác của người giáo viên đứng lớp, thì việc quản lý của hiệu trưởng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Hiệu trưởng nhà trường cần có những giải pháp quản lý phù hợp thì mới thúc đẩy được quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng giáo dục nói chung
Hiện nay, các trường THPT của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đều là những trường mới thành lập hoặc được chia tách từ các trường khác Chính vì thế
mà đội ngũ giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, một số ít giáo viên có kinh nghiệm thì đã được bổ nhiệm lên làm quản lý Và cũng chính đội ngũ cán bộ quản lý này cũng thực sự chưa có kinh nghiệm trong quản lý nhà trường nói chung và công tác quản lý hoạt động dạy học nói riêng
Thực trạng cho thấy trong những năm qua, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông còn thấp, tỷ lệ học sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng lại càng thấp Hậu quả ấy xuất phát từ chất lượng dạy và học mà trong đó công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng giữ vai trò vô cùng quan trọng
Địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông và học sinh Đắk Nông có nhiều đặc thù riêng nên cần phải có thêm những biện pháp quản lý đặc thù phù hợp với đối tượng thì mới nâng cao được chất lượng dạy học
Từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018” làm đề tài nghiên cứu với hy
vọng góp một phần công sức vào việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Trang 10Tiếp thu có chọn lọc từ những tư liệu đó, tác giả luận văn này tìm kiếm những
cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng QL hoạt động giảng dạy tại các trường THPT ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông và đề xuất những biện pháp QL có tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn giáo dục địa phương theo xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 nhằm nâng cao chất lượng dạy học tại các trường THPT ở địa phương
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay nhằm đề xuất biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng tại các trường THPT đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát số lượng 9 cán bộ quản lý, 71 giáo viên và 500 đang học tập 03 trường THPT ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Đề tài tập trung nghiên cứu tại các trường THPT: THPT Đắk Glong, THPT
Lê Duẩn, Phổ thông DTNT THCS & THPT huyện Đắk Glong của tỉnh Đắk Nông
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Việc quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông còn nhiều hạn chế, bất cập Nếu áp dụng sáng tạo và phù hợp những biện pháp quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu này như: “quản
lý việc thực hiện nội dung chương trình; quản lý đồng bộ việc đổi mới phương pháp
Trang 11Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích hoá, tổng hợp hoá, hệ thống hóa, khái quát hóa các văn bản chỉ thị, các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài… nhằm xác định nội hàm của các khái niệm cơ bản, xây dựng những nguyên tắc, xác định đường lối
và phương tiện nghiên cứu, hình thành giả thuyết khoa học, xây dựng khung lí luận của đề tài nghiên cứu Sử dụng mạng Internet trong tra cứu, tìm tài liệu
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để điều tra thực
trạng quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
+ Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu cá nhân: Phỏng vấn nhóm, phỏng vấn
cá nhân để thu thập thêm những thông tin về Quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng
chương trình giáo dục phổ thông 2018
- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự các buổi học có liên quan đến hoạt
động Quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhằm trực tiếp tìm hiểu thông tin về đối tượng nghiên cứu
Khảo sát và phân tích thống kê trong nghiên cứu định lượng
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích về định lượng và định tính của kết quả nghiên cứu Sử dụng bảng tính Excel để xử lí, tính toán số liệu thu được của đề tài
6 Ý nghĩa lý lận và thực tiễn
Nghiên cứu chỉ rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học trong trường trung
học phổ thông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học
phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học
phổ thông ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
Trang 131.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Quản lý giáo dục là vấn đề lớn với nhiều khó khăn và phức tạp, phức tạp hơn khi mà nó diễn ra trong nền kinh tế thị trường với nhiều biến động Nâng cao chất lượng dạy học là mục tiêu hướng tới của QL dạy học Vì vậy, trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường P.V.Zimin, M.I.Kođakốp, N.I.Saxerđôlốp đã nhận định: “Công tác quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường là khâu then chốt trong hoạt động quản lý trường học”
Về phương pháp dạy học (PPDH), ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về PPDH đã được Xôcrat (469-399 trước CN) đề xuất áp dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học Khổng Tử (551-479 trước CN) nhà triết học – nhà giáo dục phương Đông đã coi trọng tính tích cực của học sinh trong dạy học Các tư tưởng ấy vẫn trường tồn
và có giá trị lớn trong thời đại ngày nay đối với tiến trình đổi mới PPDH mà tất cả chúng ta đang quan tâm
Về chương trình giảng dạy, theo John Deway (1859-1925), nhà sư phạm người Mỹ đã đưa ra phương hướng cách tân giáo dục Ông cho rằng phải đưa vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề cao hoạt động đa dạng của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn Quan điểm
ấy đã đánh dấu một bước tiến mới trong cách tân giáo dục trên toàn thế giới và có giá trị cho đến ngày nay
Quản lý hoạt động dạy học (QLHĐDH) trong nhà trường phổ thông không chỉ chú trọng đến việc quản lý phương pháp dạy học (PPDH), quản lý (QL) nội dung chương trình mà còn phải đặc biệt chú trọng đến các hoạt động chuyên môn của nhà trường, của giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên Có như thế thì công tác giáo dục của nhà trường mới đạt hiệu quả, nhà trường mới thực hiện trọn vẹn sứ mệnh của mình
Trang 14
Liêm, Võ Quang Phúc…
Nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động giảng dạy, trong đó các vấn đề liên quan như: tổ chức quản lý tốt các hoạt động giảng dạy trong nhà trường, bao gồm: QL nội dung chương trình đào tạo, QL xây dựng và phát triển CSVC, điều kiện, phương tiện dạy học, QL việc chuẩn bị giờ lên lớp, phân công giảng dạy, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV
Những năm gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo nói chung và đổi mới nội dung, phương pháp nói riêng, các nhà nghiên cứu giáo dục học, tâm lý học như (Vũ Văn Tảo, Trần Đức Xước, Đỗ Đình Hoan, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Đản, Đặng Thành Hưng) đã đi sâu nghiên cứu về đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm HĐDH
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Dạy học
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến
kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [10,tr8]
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt, do nhà trường tổ chức, thầy giáo thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành
hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt
Xét trong quá trình tổng thể của giáo dục: dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ
Trang 15cùng một quá trình nhưng không hề đối lập nhau mà được thống nhất và hỗ trợ cho nhau Kết quả học tập của học sinh được đánh giá không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy, kết quả dạy của thầy không thể đánh giá tách rời kết quả học tập của trò
1.2.2 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm cùng với sự phát triển của xã hội loài người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại
F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm
và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm hay tổ chức”[2,tr13]
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt văn hóa, chính trị, kinh tế,
xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [10,tr9] Vậy, có thể nói quản lý là một quá trình định hướng, quá trình
có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định
Từ các ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”[10,tr15]
Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những nhận xét như sau:
Quản lý bao giờ cũng là loại tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp, có tính bắt buộc
Trang 16quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung Quá trình tác động này được vận hành trong môi trường xác định
Thông qua quá trình kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra ta thấy khái
niệm “quản lý” có thể được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan
Như vậy, quản lý là một hoạt động đặc biệt, có tính sáng tạo Hoạt động quản
lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình phát triển Đó
là sự phân công, chuyên môn hóa lao động quản lý Sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý
1.2.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế xã hội thể hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội Thực chất của quản lý giáo dục là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của nhà trường được vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là những tế bào quan trọng của hệ thống giáo dục Những tế bào có hoạt động tốt, hiệu quả, đúng mục tiêu thì hệ thống giáo dục mới thực hiện được những mục tiêu xã hội giao phó Vì vậy, để trường học vận hành và phát triển thì cần phải quản lý Quản lý nhà trường có thể hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục nói chung
Bản chất của việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [11,tr71]
Trang 17nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác Ở đây, những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường
Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có một quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau
Quản lý nhà trường được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội và được
xã hội thừa nhận
Tóm lại: Quản lý nhà trường là một bộ phận của Quản lý giáo dục (QLGD) Quản lý nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế
hệ trẻ Người QL nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên kết chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học (HĐDH) làm cho học sinh (HS) nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và trong đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở
học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan, và những phẩm chất đạo đức
Trang 18của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh;
QL các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học của cán bộ QL nhà trường
Quản lý HĐDH là nội dung, cách thức, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể quản lý Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý
để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan Trong nhà trường, biện pháp quản lý hoạt động dạy và học là những cách thức tổ chức, điều hành kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm đạt được kết quả cao nhất đã đề ra
1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
Biện pháp quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt được mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý
Biện pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản
lý Vì đối tượng quản lý phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lý phải đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đối tượng quản lý
Vậy, chúng ta có thể khái quát lại như sau: Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết hợp lý từng vấn đề, từng công việc, từng hoàn cảnh, điều kiện, tình huống cụ thể…do chủ thể quản lý lựa chọn và ra quyết định nhằm thực thi các công việc cần thiết, hoặc xử lý các vấn đề đặt ra, từ đó giúp hệ thống, đơn vị đạt được mục tiêu quản lý
Biện pháp QL hoạt động dạy học của người hiệu trưởng (HT) là cách thức tiến hành của hiệu trưởng để tác động đến những lĩnh vực trong quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học để thực hiện được mục tiêu giáo dục đã đề ra
Trang 19tạo quy định: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng” THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn quan trọng mà học sinh cần phải tích luỹ đầy đủ những kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện để chuẩn bị học lên (đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) hoặc đi vào cuộc sống xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Ở độ tuổi từ 15 - 18, học sinh THPT có
đủ các điều kiện về tâm - sinh lý, trí tuệ và thể chất để phát triển nhân cách toàn diện Chất lượng học tập ở bậc học này quyết định năng lực làm việc, tư duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người
1.3.1.2 Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông
Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Xác định đúng đắn mục tiêu giáo dục có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu giáo dục như là một phần của định hướng, chỉ đường cho các khuôn mẫu phát triển
và làm nền tảng cho sự vận động của tình hình hiện tại đi đến tương lai
Ngoài ra những mục tiêu cụ thể được xác định nhằm duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước năm 2000, phổ cập trung học cơ sở năm 2010, phổ cập THPT năm 2020 Bảo đảm phần lớn thanh, thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị
và vùng nông thôn học hết THPT, trung học chuyên nghiệp hoặc đào tạo nghề Tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời
1.3.1.3 Nội dung giáo dục trung học phổ thông
Khoản 2,3 điều 30 Luật Giáo dục quy định: Giáo dục trung học phổ thông
củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp
Trang 20khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.”
Nội dung giáo dục THPT là “phải củng cố, phát triển những nội dung đã học
ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và để phát huy năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới nội dung giáo dục nhằm loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản cập nhật với tiến bộ của khoa học và công nghệ, tăng nội dung khoa học - công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành ở bậc học phổ thông, tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và từng bậc học, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội - nhân văn, nhất là tiếng Việt, lịch
sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam
Như vậy, nội dung giáo dục THPT được đổi mới phải mang tính chất phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với
sự phát triển về tâm sinh lý học sinh
Để thực hiện những mục tiêu và nội dung đổi mới giáo dục THPT theo tinh thần của chương trình GDPT 2018, yêu cầu xây dựng đội ngũ giáo viên chuẩn hoá,
có chất lượng cũng như tăng cường việc đào tạo, sử dụng đội ngũ giáo viên càng trở nên cấp bách
1.3.1.4 Kế hoạch giáo dục ở bậc trung học phổ thông
Kế hoạch giáo dục là một văn bản có tính pháp lý của Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong toàn quốc, mọi cơ sở giáo dục, cán
bộ quản lý, giáo viên phải thực hiện nghiêm túc
Trang 21xây dựng kế hoạch giáo dục trong thời gian tới:
Kế hoạch giáo dục phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồm những yêu cầu về giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động kỹ thuật
Kế hoạch giáo dục phải phản ánh tính hài hoà, cân đối giữa các mặt giáo dục bảo đảm tính hệ thống, kế tiếp Xác định hệ thống môn học với thời lượng phù hợp, bảo đảm coi trọng nội dung giáo dục, khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn,
Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục là những thành tố của
hệ thống giáo dục và chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau Đối với mục tiêu giáo dục không những phải đổi mới nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục mà còn phải xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực, đủ tài đức để thực hiện mục tiêu đó, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sự phát triển của giáo dục phổ thông với đặc trưng về tổ chức sư phạm như
cơ cấu hệ thống, nội dung đào tạo, tổ chức các điều kiện đào tạo, nếu có sự quản lý tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhân tố tích cực, hạn chế các diễn biến tiêu cực của kinh tế - xã hội
1.3.2 Yêu cầu và xu thế phát triển trường THPT hiện nay
Trong bối cảnh thế giới cũng như trong khu vực và nước ta hiện nay đặt ra cho giáo dục trung học những yêu cầu mới Trước hết đó là những vấn đề như sau:
Trang 22nhân cách con người Việt Nam” đề nghị phải xem lại học vấn THPT, cấu trúc lại chương trình và nội dung dạy học, phải phát triển cho được ở học sinh phương pháp
tư duy sáng tạo
Con người sẽ thay đổi những quan niệm cơ bản đối với thiên nhiên và xã hội
Sự tiến bộ xã hội không chỉ đo bằng công nghệ hoặc mức sống vật chất, mà bằng cả chỉ tiêu đạo đức, thẩm mỹ, môi trường, văn hoá, tinh thần… Con người sẽ là trung tâm của sự phát triển Sự phát triển phải là của dân, do dân tham gia thực hiện, sự phát triển vì nhân dân, vì hạnh phúc con người, xem con người là động lực phát triển của xã hội Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Nền kinh tế thế giới cũng như khu vực đi đến một khuôn khổ toàn cầu Bất
kể đất nước nào nếu thu nhận được những bài học của thị trường, tạo lập được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới thì mới có cơ hội thành công Giáo dục được nhận thức như một động lực, một đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế
Thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Ngày nay các quốc gia không còn tách biệt nhau mà càng ngày càng liên kết trong một cộng đồng khu vực giáo dục, yêu cầu sử dụng vệ tinh cho giáo dục từ xa, nhu cầu xây dựng trường quốc tế, đa quốc gia
Sự hợp tác đa phương, song phương ngày càng mở rộng, làn sóng đua tranh, sàng lọc ngày càng gay gắt Xuất hiện trạng thái đa văn hoá trên nền văn hoá truyền thống Trong quan hệ quốc tế, hợp tác trí tuệ rất quan trọng Hợp tác quốc tế về trí tuệ là nét điển hình trong thế giới ngày nay
Bối cảnh thế giới sẽ xuất hiện những khủng hoảng trầm trọng như: nạn ô nhiễm môi trường sinh thái, sự bùng nổ dân số, xung đột sắc tộc, dân tộc và tôn giáo, sự đói nghèo, lạc hậu, dịch bệnh và ngu dốt đã ảnh hưởng đến nền giáo dục nói chung và GDTH nói riêng trong tình hình mới hiện nay
Trang 23sự hăng say lao động, học tập thay cho trung bình chủ nghĩa, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh THPT và sinh viên
Về vai trò của giáo dục trên thế giới cũng như trong nước ngày càng được khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Giáo dục là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai”, “Giáo dục là con đường cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước’
Bác Hồ cũng đã dạy: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hoá” Do đó, học tập là đặc trưng nổi bật của cuộc sống hiện tại và tương lai Mỗi con người phải có một trình độ học tập nhất định, một tay nghề nhất định, trên cơ sở đó mới có thể tự rèn luyện để thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống đang có nhiều biến đổi
Ở nước ta, sự chuyển đổi nền kinh tế, cùng với sự đổi mới trên mọi lĩnh vực
đã có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Thực tiễn đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục trung học (GDTH) nói riêng phải kịp thời đổi mới mục tiêu, nội dung, phương thức đào tạo Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải nhìn nhận lại những vấn đề cơ bản của GDTH nước ta: Cần khắc phục và giải quyết sự sa sút về chất lượng, sự thiếu trung thực trong thi cử, nạn dạy thêm, học thêm tràn lan, sự không phù hợp với tình hình biến đổi khoa học - xã hội của đất nước hiện nay Những vấn đề bức xúc được thể hiện ở chỗ:
Chất lượng học tập của học sinh nhìn chung còn thấp
Những điều kiện phục vụ cho dạy và học vừa thiếu vừa yếu kém đã ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập
Không đa dạng và thiếu cân đối về loại hình trường trung học Suốt cả một thời gian dài, dạy nghề chỉ là hình thức, hoàn toàn lý thuyết, rất xa rời thực tế
Chưa có sự phân hoá trong nội dung dạy học ở cấp THPT đã ảnh hưởng không tốt đến vấn đề hướng nghiệp cho học sinh
Trang 24chóng về khoa học, kỹ thuật, kinh tế - xã hội, hoạt động dạy và học phải luôn tự điều chỉnh để thích ứng Giáo dục trung học có vai trò quan trọng đối với việc thúc
đẩy tốc độ phát triển kinh tế xã hội, đất nước, thực hiện 3 mục tiêu giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong những năm tới, GDTH
cần được đổi mới theo hai phương hướng sau:
Góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, bình đẳng, hạnh phúc thông qua việc nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Đồng thời góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh, nhằm đào tạo
ra những con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề cuộc sống đặt ra cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Hoà nhập GDTH trên thế giới nhất là ở khu vực trong bối cảnh một thế giới
mở cửa, hợp tác để giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu
Để thực hiện sứ mệnh trọng đại này, trong quá trình đổi mới GDTH cần phải giải quyết những vấn đề sau đây:
Tăng cường khả năng mở rộng quy mô đào tạo để đáp ứng những yêu cầu phát triển sản xuất, góp phần thực hiện bình đẳng trong cơ hội hưởng thụ giáo dục
Bảo đảm hiệu quả và chất lượng GDTH trong tình hình đất nước còn nghèo, khả năng tài chính của đất nước đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp
Đa dạng hoá các hình thức tổ chức GDTH để vừa bảo đảm cơ hội học tập cho mọi người, vừa đáp ứng những yêu cầu của một nền kinh tế đang phát triển, tạo
Trang 25Chất lượng dạy học là sự sống còn của mỗi nhà trường trong giai đoạn hiện
nay, thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng dạy học là việc làm có tính quyết định
để xóa bỏ những “tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” góp phần đưa nền giáo dục Việt Nam hòa nhập với nền giáo dục khu vực và thế giới
Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã tán thành đề nghị của Chính phủ về chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông Theo đó mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển và thế giới
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục ở các bậc học, cấp học quy định trong luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách giáo khoa (SGK) hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS Bảo đảm sự thống nhất,
kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình, SGK phù hợp với hoàn cảnh và địa bàn khác nhau Đổi mới chương trình SGK, phương pháp dạy học (PPDH) phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp
và đổi mới trang thiết bị dạy học (TBDH), tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng GV và công tác QLGD
Trang 26Về nội dung, SGK và chương trình sẽ đảm bảo kiến thức cơ bản cần thiết, tinh giảm
và cập nhật với sự phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế xã hội, tiến độ với trình độ phát triển của chương trình giáo dục phổ thông của các nước phát triển trong khu vực và được soạn thảo với hướng đẩy mạnh đổi mới phương pháp giáo dục giúp HS biết cách tự học, phát hiện và chủ động giải quyết vấn đề, tăng cường việc vận dụng thực hành và sáng tạo
Thời lượng dạy học và hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông cần tăng cường thời lượng nghỉ trong quá trình học tập, nhằm tăng cường các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể góp phần làm giảm sự căng thẳng không cần thiết, xây dựng môi trường học tập thân thiện, học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức Các môn học trong nhà trường cũng được tích hợp lại theo hướng liên môn, từng chủ đề để phát huy tính sáng tạo của người học
1.3.3.3 Phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
Ngoài việc đổi mới nội dung dạy học, tăng cường cơ sở vật chất (CSVC), TBDH thì vấn đề PPDH cũng luôn đặt ra cho các nhà giáo dục những suy nghĩ Theo nguyên Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn Vinh Hiển: “Có nhiều thành tố quyết định chất lượng quá trình dạy học Trước hết là mục tiêu, nội dung, PPDH, thiết bị và CSVC, tổ chức và hình thức dạy học, thi, kiểm tra đánh giá Trong quá trình đổi mới chương trình SGK, chúng ta xác định rõ mục tiêu, trong đó nhấn mạnh là dạy học phải góp phần đào tạo ra những con người có lý tưởng, có phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo, có năng lực tự học và thiết tha với học tập suốt đời Đổi mới PPDH phải thực hiện được những mục tiêu đó” Đổi mới và hiện đại hóa PPDH ở bậc THPT cần có một số hướng chính sau:
Một là, cần phổ biến áp dụng PPDH mới phù hợp với nội dung dạy học, điều kiện dạy học và với đội ngũ GV Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ
Trang 27trong hè, cũng như tham gia các khóa đào tạo về PPDH đạt hiệu quả cao hơn, và cũng trên cơ sở đó, có những quy định nghiêm ngặt về việc triển khai các phương pháp dạy học thích hợp (ví dụ như chia nhóm, sử dụng TBDH, CNTT…)
Ba là, nội dung, hình thức thi cử Nếu nội dung thi coi trọng việc nắm bắt các kiến thức cơ bản trên cơ sở một phương pháp tư duy khoa học thì không thể tồn tại PPDH kiểu học để thi mà buộc HS phải học theo đúng quá trình nhận thức như chương trình GDPT 2018 quy định
Bốn là, để phục vụ tốt cho việc sử dụng phương pháp mới, CBQL nhà trường cần đáp ứng tốt CSVC, PPDH và triển khai hiệu quả ứng dụng CNTT hổ trợ dạy học
Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về kiểm tra đánh giá (KTĐG) quá trình dạy học cũng như đổi mới việc KTĐG thành tích học tập của HS Cần bồi dưỡng cho HS những kỹ thuật thông tin phản hồi, nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học Trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ chú ý đến kết quả mà chú ý cả quá trình học tập
Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dung tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp Hiện nay PPDH mới đang là trung tâm chú ý của các cấp quản lý cũng như của HT nhà trường Trong thời đại ngày nay, khi khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, khi hội nhập đang trở thành xu thế toàn cầu, thì việc đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo là điều kiện tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Vì vậy, PPDH phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, là tư tưởng chiến lược đào tạo con người của giáo dục Việt Nam
PPDH mới không phải là thay đổi toàn bộ PPDH đã có, mà phải trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của PPDH hiện nay, từng bước áp dụng những PPDH tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại nhằm thay đổi cách thức dạy học, thay đổi phương pháp học tập của HS, chuyển từ học tập thụ động sang học tập tích
Trang 28cực, chủ động sáng tạo, từng bước chuyển dần PPDH theo hướng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học
Để thực hiện tốt PPDH mới cần một khoảng thời gian dài vì đây là hoạt động sáng tạo hàng ngày của cả thầy và trò Vì vậy, PPDH mới có kết quả, phải có định hướng đúng Các hoạt động đổi mới PPDH rất phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung diễn ra theo ba hướng chính:
Tiếp cận theo quan điểm Tâm lý - Giáo dục: Bản chất của quan điểm này là
tìm mọi cách phát huy năng lực nội sinh của người học, phát triển sức mạnh trí tuệ, tâm hồn, ý chí của họ Đây là phương pháp tiếp cận đã có bề dày lịch sử lâu dài và vẫn giữ vai trò chủ đạo, quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới PPDH hiện nay vì nó tác động trực tiếp đến người học
Tóm lại, khi nói đến PPDH theo chương trình GDPT mới phải nhìn nhận vấn
đề một cách linh hoạt theo ba hướng chính, đó là phát triển năng lực nội sinh của HS; đổi mới quan hệ thầy trò và đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường Ba định hướng trên đây rất khái quát, cho phép hình dung bức tranh chung về đổi mới PPDH đa dạng trên thế giới hiện nay
Cách dạy của thầy theo chương trình GDPT 2018, cần hướng đến làm thay đổi tính chất hoạt động nhận thức của HS: chuyển từ tái hiện sang sáng tạo đây là điều đầu tiên mà nhà giáo dục cần tập trung giải quyết Hiện nay, hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học chủ yếu vẫn là vận dụng trí nhớ, là khả năng tái hiện Nhưng mục tiêu mà dạy học cần phải đạt được là hình thành năng lực sáng tạo cho HS Vì vậy, then chốt của việc đổi mới PPDH là phải hướng tới tăng cường các phương pháp sáng tạo, bằng việc tổ chức các hoạt động học tập của HS trong quá trình dạy học Điều đáng lưu ý là giữa tái hiện và sáng tạo có mối liên hệ rất chặt chẽ Không thể sáng tạo được nếu không tái hiện tốt, tái hiện tốt là cơ sở là nền tảng cho hoạt động sáng tạo
Cách học của trò theo chương trình GDPT mới cũng cần được thay thế bằng việc tăng cường hoạt động tự học của HS, tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động, nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Chú trọng rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Trong các PPDH thì cốt lõi là phương pháp tự học, tự học ngay cả trên lớp học có sự hướng dẫn của GV
Trang 29Vì vậy, chúng ta cần đặc biệt coi trọng hoạt động tự học có tính sáng tạo với tự học tái hiện một cách hợp lý trong quá trình dạy học Việc nắm vững lý thuyết chỉ là để biết, để nhận thức bản chất hiện tượng, sự kiện, điều quan trọng hơn là cần hành động cải tạo thực tiễn
Ngày nay các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã trở nên phổ biến, có tiềm năng to lớn về tri thức và phương pháp làm việc, cho phép tổ chức nhiều hình thức hoạt động dạy học phong phú và có hiệu quả Vì vậy, việc sử dụng các phương tiện
kỹ thuật hiện đại vào dạy học phải được xem là một nội dung quan trọng trong việc
và HS sưu tầm, làm đồ dùng dạy học; kiểm tra việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học, kiểm tra sổ sách, tài sản, dự giờ, đánh giá tỷ lệ
và chất lượng sử dụng … để động viên uốn nắn quá trình sử dụng và bảo quản
Trang 30nhằm phục vụ tốt hơn hoạt động dạy học Ứng dụng CNTT không đồng nhất với PPDH mới CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai PPDH tích cực, chứ không phải là điều kiện đủ của PPDH này Để một giờ có ứng dụng CNTT trở thành một giờ học có phát huy tính tích cực của HS, GV phải khai thác tính hiệu quả dựa trên yếu tố đảm bảo các yêu cầu đặc trưng của PPDH tích cực mà mình lựa chọn Hai trong các đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực là: HS được tạo cơ hội hoạt động tích cực và kiến thức là do HS kiến tạo với sự giúp đỡ của GV Hiện nay hầu hết các bài giảng có ứng dụng CNTT đều thiên về khả năng khai thác CNTT của chính người dạy chứ không phải của người học GV thường không đòi hỏi HS phải biết khai thác CNTT mà chỉ mong muốn các em thừa hưởng được kết quả vận dụng của GV Việc HS không trực tiếp khai thác CNTT để tiến hành các hoạt đông liên quan tới bài dạy làm giảm đi hiệu quả học tập tiếp thu kiến thức Vì vậy, người lãnh đạo không những chỉ dừng lại hoạt động giảng dạy của GV ở việc tăng cường đầu tư trang thiết bị CNTT hiện đại tạo điều kiện tốt cho công tác đổi mới PPDH mà bên cạnh đó người GV cần phải chú trọng đến kỹ năng ứng dụng CNTT vào bài giảng Soạn bài như thế nào và giảng bài ra sao để thật sự CNTT là phương tiện hiện đại tích cực hỗ trợ công tác dạy học chứ không phải để thay thế
“đọc chép truyền thống thành chiếu chép hiện đại”
1.3.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chương trình GDPT 2018
Theo Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT ban hành kèm theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT Việc kiểm tra đánh giá (KTĐG) quá trình dạy học Cần bồi dưỡng cho HS những kỹ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học Trong đánh giá thành tích học tập của
HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập Đánh giá thành tích theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp Trong xu hướng xây dựng các bài tập cũng như các bài thi, kiểm tra theo quan điểm phát triển năng lực có thể chia thành ba mức độ chính như sau:
Trang 31Tái hiện: Trọng tâm là tái hiện, nhận biết các tri thức đã học
Vận dụng: Trọng tâm là việc ứng dụng tri thức đã học để giải quyết các
nhiệm vụ trọng tâm, những tình huống khác nhau: phân tích tổng hợp, so sánh để xác định các mối quan hệ của các đối tượng
Đánh giá: Trọng tâm là vận dụng tri thức, kỹ năng đã học để giải quyết các
nhiệm vụ phức hợp, giải quyết các vấn đề, đánh giá các giá trị Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau Kiểm tra viết và bài tập thực hành Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Hiện nay Việt Nam chúng ta đang có xu hướng chọn hình thức trắc nghiệm khách quan cho các
kỳ thi, trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng đối với các kỳ thi Tuy nhiên trong đào tạo thì không được lạm dụng hình thức này, vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
Tóm lại, người lãnh đạo cần có những biện pháp cụ thể trong công tác chỉ đạo Theo nguyên thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: “Trước hết phải quán triệt tinh thần đổi mới kiểm tra đánh giá đến các cấp giáo dục, giáo viên, thậm chí là toàn xã hội Phải tập huấn giáo viên về năng lực ra đề, lập dàn ý sao cho quán triệt định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá” Thực tế cũng đã nhiều nơi tiến hành nhưng GV vẫn chưa vận dụng tốt Cần kiểm tra để giúp đỡ, yêu cầu và điều chỉnh kịp thời đối với đội ngũ GV Trong chỉ đạo đổi mới KTĐG, các cán bộ QLGD cần có các biện pháp cụ thể như: Các trường cần xây dựng ngân hàng câu hỏi và bài tập trên cơ sở
đó tổng hợp thành những đề thi; kiểm tra phù hợp với mục tiêu, với yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi nhà trường và trình độ HS Tăng cường kiểm định, kiểm tra chất lượng với các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy cụ thể, rõ ràng
1.4 Quản lý hoạt động dạy học trong trường THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học
1.4.1.1 Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học
Trong quản lý hoạt động dạy học, HT là người trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, và KTĐG kết quả học tập của HS và những vấn đề khác liên quan đến hoạt động dạy học theo quy định của Bộ GD&ĐT ban hành
Trang 32Hoạt động dạy học chính là nhiệm vụ chính yếu trong công tác giáo dục của nhà trường, vì vậy đòi hỏi người HT phải là người tạo động lực cho các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường phát huy hết khả năng, tư duy tích cực nhằm đạt được mục tiêu dạy học như mong muốn
1.4.1.2 Nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản, đặc trưng cho trường học; mặt khác, để cho công tác quản lý nhà trường đạt hiệu quả mong muốn, người hiệu trưởng cần phải có các điều kiện cần thiết về nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực, trong đó đội ngũ giáo viên là nguồn lực quan trọng nhất, mang tính quyết định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục
Để quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường, người hiệu trưởng cần tập trung vào hai việc: nâng cao nhận thức về bản chất của hoạt động dạy học, quản lý đổi mới hoạt động dạy học
Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo của nhà trường, xác định tầm nhìn, sứ mạng của nhà trường Hiệu trưởng cần quản lý những nội dung trọng tâm sau:
Phân công chủ nhiệm và giảng dạy cho GV; xếp và quản lý thời khóa biểu;
tổ chức hội giảng, thi giáo viên giỏi; quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn; quản lý thực hiện quy chế chuyên môn; quản lý việc kiểm tra hoạt động sư phạm của tổ chuyên môn; dự giờ hoạt động sư phạm của giáo viên; quản lý thực hiện chương trình và việc thực hiện kế hoạch dạy học; quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp; quản
lý việc KTĐG kết quả học tập của HS; quản lý phương tiện, điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học; quản lý công tác phụ đạo học sinh yếu, kém; quản lý công tác thi đua, khen thưởng học sinh
1.4.2 Nội dung công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Trong các nội dung quản lý nhà trường quản lý hoạt động giảng dạy là nội dung quan trọng và trọng tâm nhất của người quản lý Tuy nhiên theo quan điểm hệ thống - cấu trúc của lý luận dạy học thì hoạt động giảng dạy của GV là một hệ thống
mà bên trong nó có rất nhiều thành tố cấu thành nên, các thành tố này có sự tương tác, hỗ trợ cho nhau Mặt khác, hoạt động giảng dạy của GV là một hệ thống liên quan đến nhiều thành tố như: mục đích, nhiệm vụ dạy học; hoạt động học tập của HS, các phương pháp và phương tiện dạy học; kết quả dạy học Theo đó, các nội dung
Trang 33quản lý hoạt động giảng dạy ở trường THPT bao gồm các nội dung sau và đây cũng chính là những nội dung cơ bản đã được qui định trong Điều lệ trường THPT
1.4.2.1 Quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học
Kế hoạch dạy học là văn bản do Nhà nước ban hành, trong đó quy định các môn học, trình tự giảng dạy, học tập các môn, số giờ dành cho mỗi môn (trong một tuần, học kỳ, năm học) Người GV trên cơ sở thực hiện kế hoạch phân phối chương trình của Bộ GD & ĐT áp dụng cho bộ môn của mình có kế hoạch cụ thể cho việc soạn giảng, lên lớp và KTĐG quá trình học tập của HS trong một năm học Việc lập
kế hoạch bộ môn giảng dạy giúp GV định hướng cụ thể quá trình dạy học, kiểm soát tiến độ thực hiện phân phối chương trình theo tiến độ thời gian từ đó có kế hoạch điều chỉnh phù hợp Bên cạnh đó, GV cần nhận thức được rằng tất các môn học đã được đưa vào trong kế hoạch dạy học là chuẩn những kiến thức rất cần thiết trong đào tạo một cấp học nhất định vì thế GV cần thực hiện đúng quy định phân phối chương trình, không được tùy tiện cắt giảm tiết, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng chương trình đào tạo đã quy định
Người HT cần hướng dẫn phó HT và chỉ đạo các tổ trưởng bộ môn, GV lập
kế hoạch dạy học vào đầu năm học; đồng thời theo dõi, động viên, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi cụ thể của từng giai đoạn
Chương trình dạy học là văn bản có tính pháp lệnh của nhà nước về những bài học đòi hỏi GV và học sinh phải hoàn thành trong một thời gian nhất định, nhằm giúp HS có những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết đáp ứng yêu cầu và mục tiêu giáo dục Căn cứ vào chương trình dạy học để nhà nước chỉ đạo và giám sát hoạt động dạy học của nhà trường, đồng thời là căn cứ pháp lý để CBQL quản lý tốt công tác giảng dạy của GV
1.4.2.2 Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên
Phân công giảng dạy cho giáo viên trong nhà trường là một nội dung quan trọng hàng đầu, việc phân công phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học Để làm tốt việc này, trước hết hiệu trưởng phải thật sự sáng suốt và công tâm, tuyệt đối không để lợi ích của bất kỳ một cá nhân nào tác động ảnh hưởng đến việc phân công
Phân công giảng dạy phải đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết sâu sắc năng lực chuyên môn của từng cán bộ, giáo viên kết hợp với các yếu tố quan trọng khác như quyền lợi của học sinh, hoàn cảnh và nguyện vọng, thâm niên công tác của giáo viên
Trang 34Phân công khoa học, hợp lí nhằm phát huy tối ưu nguồn nhân lực giáo viên, yếu tố chủ chốt, quyết định chất lượng dạy học Theo tác giả Nguyễn Văn Lê:
Phân công để chuyên môn hóa tức là chỉ dạy một môn và dạy theo lớp để chịu trách nhiệm với lớp và nắm vững chương trình toàn cấp sau một thời gian nào đó
Phân công mang tính chất kèm cặp tức trong một khối lớp phải có một số giáo viên giỏi dạy để làm nòng cốt cho các giáo viên khác
Phân công giáo viên dạy lớp song song để làm giảm số giáo án trong tuần và tăng thời gian chuẩn bị cho mỗi giáo án
Theo tài liệu dự án SREM thì: Phân công giảng dạy phải xuất phát từ yêu cầu của việc giảng dạy và quyền lợi học tập của toàn thể học sinh Phân công giáo viên trước hết phải vì sự tiến bộ của tập thể sư phạm, tạo điều kiện người giỏi kèm người chưa có kinh nghiệm, người còn yếu, đồng thời chú ý đúng mức đến khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh
Các hình thức phân công:
Chuyên dạy một khối lớp trong nhiều năm
Dạy mỗi năm một khối lớp
Mỗi năm dạy nhiều khối lớp
Tiêu chuẩn phân công (dựa trên các nội dung sau):
Yêu cầu của việc dạy
Năng lực và sở trường của giáo viên
Thâm niên nghề nghiệp của giáo viên
Nguồn đào tạo của giáo viên
Hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân
1.4.2.3 Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp
Soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của GV cho giờ lên lớp Chuẩn bị bài lên lớp của GV là việc chuẩn bị hàng ngày cho từng tiết học Bài soạn thể hiện
sự lựa chọn phương pháp thích hợp của GV đối với nội dung kiến thức cần truyền thụ, mỗi bài học chứa đựng nội dung phạm vi kiến thức khác nhau, do đó trong bài soạn GV cần lựa chọn những phương pháp thích hợp kết hợp với các phương tiện dạy học nhằm khai thác kiến thức trọng tâm truyền tải đến HS, cần phải lưu ý đến
những tình huống sư phạm trong hoạt động thầy trò suốt giờ lên lớp
Trang 35Chuẩn bị bài trên lớp của GV còn là việc chuẩn bị cho cả một học kỳ, năm học Khi bắt đầu nhận phân công chuyên môn, GV nghiên cứu thật kỹ chương trình giảng dạy, tìm tư liệu, thu thập tư liệu, sách tham khảo, xem lại phương tiện dạy học sẵn có của nhà trường, chuẩn bị đồ dùng dạy học, từ đó lập kế hoạch soạn giảng cho
cả năm học Có thể nói việc chuẩn bị bài dạy trước giờ lên lớp cho cả chương trình giảng dạy hay cụ thể cho một tiết học là yếu tố then chốt quyết định rất lớn sự thành công công tác giảng dạy của GV
Chuẩn bị và soạn bài cho giờ lên lớp ảnh hưởng lớn đến chất lượng giờ dạy Việc chuẩn bị cho giờ lên lớp bao gồm việc chuẩn bị giờ dạy cho cả năm học và chuẩn bị cho từng tiết dạy cụ thể Thực chất công việc chuẩn bị dài hạn là giáo viên xây dựng cho được kế hoạch dạy học cho bộ môn học trong cả năm Kế hoạch này phải thể hiện cụ thể dựa trên cơ sở sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, điều kiện, phương tiện phục vụ cho dạy học Từ đó lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp
Chuẩn bị cho từng tiết dạy bao gồm việc soạn giáo án hay đề cương bài dạy
và phương tiện phục vụ cho tiết dạy vì soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp
Soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp là lao động sáng tạo của người giáo viên nhằm tìm tòi, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định mục tiêu từ nội dung, phương pháp, phương tiện sao cho phù hợp với từng đặc điểm, đối tượng học sinh của từng đơn
vị trường học, lớp học
Người quản lý của mỗi đơn vị cần quy định các bước soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp, xây dựng chuẩn kiểm tra đánh giá xếp loại giáo án, kế hoạch bộ môn, sổ báo giảng
1.4.2.4 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Giờ lên lớp là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS được tiến hành tương tác giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học theo đó là mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Giờ dạy học trên lớp thể hiện đầy đủ nhất năng lực chuyên môn và khả năng sư phạm, năng lực hiểu biết xã hội và những phẩm chất khác của GV Trong giờ lên lớp, GV tiến hành các hoạt động cụ thể theo kế hoạch của bài soạn ở nhà nhằm truyền đạt tới HS phạm vi
Trang 36kiến thức bài giảng theo mục đích yêu cầu thông qua việc tổ chức hoạt động của
GV và HS
Trong giai đoạn hiện nay, việc tổ chức dạy học trên lớp cần chú trọng nhiều đến việc đổi mới PPDH và việc KTĐG kết quả học tập của HS Thay đổi PPDH, tổ chức hoạt động truyền đạt tri thức thông qua hình thức phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS "lấy người học làm trung tâm" HS không chỉ lĩnh hội kiến thức từ nội dung bài giảng của GV mà còn phải rèn luyện được những kỹ năng vận dụng và thái độ nhận thức sau bài học, bên cạnh đó đánh giá kết quả của HS cần quan tâm chú ý đến quá trình học tập của HS
Giờ lên lớp là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của dạy học phổ thông Giờ lên lớp của giáo viên thể hiện năng lực, kinh nghiệm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, sử dụng phương tiện, đồ dùng, phương pháp dạy học; nghệ thuật sư phạm trong giảng dạy, giao tiếp trong và ngoài dự kiến, nó giữ vai trò quyết định đến chất lượng dạy học Các thuyết, các quan điểm, các phương pháp, thủ thuật dạy học và giáo dục đều được thể hiện, phối hợp và cụ thể hóa, thử thách ở đây
1.4.2.5 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là một nội dung không kém phần quan trọng trong nhiệm vụ dạy học của GV Qua kết quả kiểm tra, HS có thể tự đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của mình từ đó có nhận thức đúng đắn để tự điều chỉnh hoạt động học tập trên lớp của mình một cách tích cực và hiệu quả Đối với GV, kết quả KTĐG kết quả học tập của HS sẽ giúp GV vừa đánh giá được trình
độ và năng lực nhận thức của HS vừa tự đánh giá bản thân mình về tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và uy tín đối với HS Trên cơ sở những đánh giá đó,
GV sẽ tự đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục, hoàn thiện quá trình dạy học
để điều chỉnh những lệch lạc, sai sót mà HS đã bộc lộ qua các hình thức kiểm tra đồng thời bản thân cũng tự mình hoàn thiện về trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và nhân cách người thầy giáo Trong kế hoạch giảng dạy, GV cần có kế hoạch xây dựng lịch KTĐG kết quả học tập của HS theo đúng thời điểm của chương trình
đã dạy Lưu ý cải tiến hình thức kiểm tra đánh giá theo quan điểm giáo dục hiện đại phù hợp với việc đổi mới chương trình SGK Đánh giá kết quả học tập của HS một cách có hệ thống, có quá trình
Trang 371.4.2.6 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục Do đó, cán bộ quản
lý thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất và năng lực chuyên môn là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước Luật Giáo dục quy định: “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ”
Theo đó công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Thực tiễn cho thấy nội dung và hình thức bồi dưỡng giáo viên rất phong phú đa dạng, do vậy cán
bộ quản lý cần nắm rõ cách thức quản lý và tổ chức
Những nội dung quan trọng trong công tác bồi dưỡng là: Xác định mục đích yêu cầu, đối tượng tham gia bồi dưỡng, đặc biệt là bồi dưỡng về chương trình SGK
Nội dung, hình thức bồi dưỡng gồm: Thăm lớp, dự giờ; Thao giảng, hội
giảng, thi giáo viên giỏi; Tổ chức các chuyên đề thiết thực; Tham gia các lớp, khóa
đào tạo bồi dưỡng; Tự bồi dưỡng; Đánh giá công tác bồi dưỡng
Những vấn đề cần lưu ý trong công tác bồi dưỡng là: Tính hiệu quả công tác bồi dưỡng; Phát huy công tác tự bồi dưỡng của giáo viên
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT theo định hướng chương trình GDPT năm 2018
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Muốn hoạt động dạy học trong nhà trường có chất lượng, có hiệu quả thì nhà quản lý cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trong độ tuổi, trong cấp học, trong đặc thù của địa bàn để có các biện pháp quản lý phù hợp
Học sinh tại các trường THPT ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông là con em của các bậc phụ huynh từ nhiều dân tộc, miền quê, nhiều tỉnh thành về lập nghiệp
và sinh sống tại đây Đặc biệt, trong số đó có các học sinh là người dân tộc thiểu số tại chỗ như: người Mạ, người M’Nông nên có nhiều điểm khác biệt về văn hóa vùng miền, văn hóa truyền thống, quan niệm sống, thói quen, hành vi ứng xử và trình độ nhận thức So với người Kinh, thì học sinh người Mạ, người M’Nông có trội hơn về sức khỏe, thể lực và kỹ năng lao động tốt hơn; sự phát triển nhân cách của các em đã tương đối ổn định nên sẵn sàng đối diện với cuộc sống tự lập, sẵn
Trang 38sàng tham gia lao động Học sinh người Mạ, M’Nông có độ nhạy cảm về thính giác
và thị giác cao nên đã giúp các em thuận lợi trong tri giác, dễ phát hiện dấu hiệu đơn lẻ bề ngoài Vì vậy, tư duy trực quan hình tượng khá tốt Các em rất hăng hái và nhiệt tình với phong trào hoạt động bề nổi như văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao Phần lớn các em thường có cuộc sống nội tâm với bề ngoài trầm lặng, kín đáo nhưng lại ẩn chứa bên trong tình cảm chân thành
Phần đông các em chưa xác định được động cơ và mục đích học tập đúng đắn, chưa có hứng thú trong học tập bởi nhiều lý do như: vì bị mất căn bản từ cấp học dưới, vì bị yếu kiến thức ở một số bộ môn, vì bất đồng ngôn ngữ, vì hoàn cảnh kinh tế gia đình, vì quan niệm truyền thống của dân tộc thiểu số Đặc biệt, trong tư duy của các em là phần đông chưa có thói quen lao động trí óc, ngại động não, thích
sự suy nghĩ giản đơn Khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát hóa còn kém phát triển, các em chỉ nắm được những thuộc tính mang tính chất cảm xúc và nhận thức cảm tính Từ đó, dẫn tới việc lĩnh hội và nhận thức bản chất khái niệm của các em gặp nhiều khó khăn, sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ đặt ra chưa cao, khả năng kết hợp các tri giác khi quan sát chưa phát triển, các em thường có mặc cảm về bản thân nên đã ngại phấn đấu để vươn lên
Đối với học sinh là người Kinh ở đây cũng có sự khác biệt, do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đắk Glong nên học sinh ở đây đã có nhiều nét tính cách, tâm lý, quan niệm và lối sống rất khác so với học sinh nơi khác
Đó chính là do các em đã được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tây Nguyên được ảnh hưởng bởi sự giao thoa về văn hóa của các dân tộc bản địa, dân tộc các vùng miền khác, chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng Nam Tây Nguyên Ngoài sự khác biệt vừa nêu trên, học sinh tại các trường THPT ở huyện Đắk Glong cũng như người dân nơi đây choáng ngợp với những đổi thay hàng ngày của địa phương nên bắt nhịp không kịp với cuộc sống mới, tự mình cảm thấy xa lạ với chính mảnh đất đã sinh ra mình, hoặc đã nuôi lớn mình Học sinh bắt đầu tập ăn chơi, đua đòi theo lối sống thành thị nhưng là thành thị nửa mùa vì họ chưa đủ độ chín theo đúng nghĩa của người dân thành thị Con cái tỏ ra hiểu biết hơn cha mẹ, tỏ ra sành điệu hơn người, bắt đầu khó dạy bảo kể cả ở nhà cũng như ở trường Tư tưởng không cần học cũng có thể kiếm sống vì có rất nhiều công việc
để làm đã xuất hiện trong nhiều học sinh Vì vậy, để hiểu được tâm lý học sinh của
Trang 39nhà trường có tính đặc thù như các trường THPT ở địa phương là một công việc hết sức khó khăn, nhưng đó là điều cần thiết phải làm để hoạt động dạy học đạt được hiệu quả
1.5.2 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý
1.5.2.1 Phẩm chất, năng lực, trình độ quản lý của người hiệu trưởng
Người hiệu trưởng muốn QL tốt nhà trường nói chung, hoạt động giảng dạy nói riêng, trước hết phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, biết hy sinh quyền lợi riêng để cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, có đạo đức trong sáng, tác phong mẫu mực, đi đầu trong mỗi lĩnh vực hoạt động của nhà trường Người hiệu trưởng phải là người có trình độ nghiệp vụ QL cao, sắc sảo, có vốn hiểu biết xã hội sâu rộng
1.5.2.2 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của hiệu trưởng
Để QL tốt HĐDH của đội ngũ GV, người hiệu trưởng phải có kiến thức sâu rộng về các môn học, nắm vững các PPDH; có kỹ năng phân tích và tổng hợp, đánh giá chuyên môn của GV Người HT phải tham gia đầy đủ các chuyên đề giảng dạy của GV, nắm bắt và chỉ đạo sát sao, đúng yêu cầu giảng dạy trong từng giai đoạn đổi mới, nhất là đổi mới PPDH lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo dự án…
Hiệu trưởng phải có năng lực xác định tầm nhìn, mục tiêu sứ mạng: Muốn
quản lý nhà trường, hiệu trưởng phải có năng lực hình thành và tổ chức thực hiện tầm nhìn của nhà trường, nhìn được tương lai của nhà trường Xây dựng và thực hiện tầm nhìn đòi hỏi năng lực lập kế hoạch chiến lược và quy hoạch nhà trường Thu hút các lực lượng trong và ngoài nhà trường, đặt lợi ích của cộng đồng nhà trường lên trên lợi ích cá nhân và biết chấp nhận rủi ro khi triển khai đổi mới và thuyết phục những người khác cùng chấp nhận những khó khăn thách thức, dám
nghĩ, dám làm vì mục tiêu phát triển nhà trường
Hiệu trưởng phải có năng lực điều hành nhà trường: Nhà trường là một tổ
chức đặc biệt, nơi mà HS là trung tâm của mọi hoạt động Vì thế, cán bộ quản lý nhà trường cần sử dụng các kiến thức vận hành cơ bản của nhà trường định hướng
hoạt động của nhà trường tập trung vào việc học tập vì sự tiến bộ của học sinh Bên
cạnh đó, cán bộ quản lý nhà trường cần có năng lực tạo dựng và đảm bảo môi trường học tập an ninh, an toàn, chú trọng đến môi trường học tập thân thiện, học
sinh chủ động sáng tạo Cần thiết lập quan hệ hợp tác và huy động cộng đồng chăm
Trang 40lo hoạt động giáo dục đào tạo của nhà trường Thiết lập và duy trì bầu không khí làm việc tích cực trong nhà trường, chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ, khơi
dậy sự sáng tạo, tận tụy của giáo viên, biết khuyến khích giáo viên làm lãnh đạo
Hiệu trưởng phải có năng lực giao tiếp: Giao tiếp là kỹ năng không thể thiếu
của người lãnh đạo Điều này càng mang tính cần thiết trong môi trường giáo dục Trong nhà trường phổ thông, quá trình giao tiếp của cán bộ quản lý được biểu hiện thông qua các quá trình chỉ đạo những hoạt động dạy học, các hoạt động giáo dục
và các hoạt động đoàn thể khác Để điều hành các hoạt động này, cán bộ quản lý phải thực hiện các mối quan hệ giao tiếp với giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh học sinh trong nhà trường, giao tiếp với những đồng sự cấp dưới gần gũi với mình, giao tiếp với lãnh đạo ngành giáo dục, các mối quan hệ với cơ quan ban
ngành đóng trụ sở ở địa phương
1.5.3 Điều kiện, phương tiện dạy học
Có thể nói rằng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học là điều kiện và phương tiện lao động sư phạm của giáo viên và phương tiện học tập của học sinh, là một trong những thành tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Điều kiện, phương tiện đảm bảo hoạt động dạy học tuy không trực tiếp làm thay đổi quá trình dạy học của giáo viên và nhận thức học tập của học sinh song nó hết sức quan trọng
vì nó tạo điều kiện để hoạt động dạy học đạt hiệu quả
Các thiết bị dạy học làm thay đổi phương pháp và hình thức dạy học, làm cho nội dung dạy học thêm sinh động, diễn cảm và hứng thú hơn, giúp giáo viên tổ chức điều khiển tối ưu quá trình nhận thức tích cực của học sinh tạo ra trong quá trình dạy học một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lý mới Các tài liệu, phương tiện trực quan, các thiết bị thực hành thí nghiệm giúp học sinh học tập hứng thú, tăng cường sự chú ý; rèn luyện các đức tính kiên trì, cẩn thận ; tư duy và hoạt động nhanh nhạy, chính xác do vậy, học sinh chẳng những có khả năng tiếp thu những kiến thức nhanh, bễn vững, chính xác mà còn được bổ sung, đánh giá, kiểm tra lý thuyết với thực tiễn
Bên cạnh đó, cán bộ quản lý phải thường xuyên yêu cầu giáo viên sử dụng và bảo quản CSVC, TBDH bằng cách tác động vai trò vị trí quan trọng của chúng Xây dựng quy chế sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học bồi dưỡng cho giáo viên năng lực sử dụng phương tiện kỹ thuật mới trong dạy học Chỉ đạo bộ phận liên quan như