Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: thống kê mô tả, thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn tìm kiếm từ đó phân tích diễn giải
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sàng lọc và đúc kết từ thực tiễn kết hợp với lý luận để đưa ra giải pháp cho vấn đề đặt ra
Đề tài này không chỉ hệ thống hóa lý luận về phát triển dịch vụ thẻ nội địa của NHTM mà còn cung cấp cái nhìn toàn diện cho Ban lãnh đạo ACB Bình Định về thực trạng dịch vụ thẻ nội địa, từ góc độ nhân viên đến ý kiến khách hàng Hơn nữa, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động phát triển dịch vụ thẻ nội địa, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh thẻ tại chi nhánh.
Chương 1 trình bày lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ thẻ nội địa của ngân hàng thương mại, nhấn mạnh tầm quan trọng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển này Chương 2 phân tích thực trạng phát triển dịch vụ thẻ nội địa tại Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Bình Định, đánh giá những thành tựu và thách thức mà ngân hàng đang đối mặt trong việc mở rộng dịch vụ thẻ nội địa.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ nội địa tại Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Bình Định
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã đọc và nghiên cứu một số nguồn tài liệu sau đây:
Nghiên cứu của TS Vũ Văn Thực về dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã chỉ ra thực trạng hiện tại và những nguyên nhân tồn tại Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ tại Agribank, bao gồm: đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ thẻ, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, điều chỉnh chính sách phí phát hành, và nâng cao công tác tiếp thị quảng cáo.
Trong bài viết của Phạm Thị Bích Hạnh (2008), tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của thẻ thanh toán trong xã hội hiện đại và đề xuất các giải pháp phát triển thẻ thanh toán tại Việt Nam, mặc dù vẫn còn tồn tại trong nghiên cứu Đề tài của Đầu tư và Phát triển Gia Lai (2013) đã hệ thống hóa lý luận về dịch vụ thẻ ngân hàng, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại chi nhánh này Đỗ Quang Thạch (2012) cũng đã nghiên cứu phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự hài lòng cho khách hàng Tuy nhiên, nghiên cứu của Thạch chủ yếu tập trung vào thẻ tín dụng quốc tế, không hoàn toàn phù hợp với thực trạng của ACB Bình Định.
Trần Thu Thảo đã thực hiện luận văn Thạc sĩ tại Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh vào năm 2013, tập trung vào phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Thủ Đức Đề tài đã trình bày các lý luận chung về khái niệm, đặc điểm, quy trình phát hành và chiến lược kinh doanh thẻ, đồng thời đánh giá ý kiến khách hàng về dịch vụ thẻ Tác giả cũng đã nêu ra những thành công và tồn tại trong hoạt động phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thẻ quốc tế và chưa đề cập nhiều đến thẻ nội địa, đồng thời không thể áp dụng trực tiếp vào thực trạng hoạt động tại ACB Bình Định do sự khác biệt về địa bàn kinh doanh.
1.1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ NỘI ĐỊA CỦA NHTM
1.1.1 Khái niệm và phân loại a Khái ni ệ m
Thẻ ngân hàng là công cụ do các tổ chức phát hành, thường là ngân hàng, cung cấp để thực hiện các giao dịch theo các điều kiện và điều khoản đã được thỏa thuận giữa các bên.
Thẻ ngân hàng được làm bằng plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm các yếu tố như nhãn hiệu thương mại (Visa, Master ), tên và logo của ngân hàng phát hành, loại thẻ (ATM, debit, prepaid, credit), thời hạn hiệu lực, hạng thẻ (Chuẩn, vàng, bạch kim), số thẻ, tên chủ thẻ và các yếu tố bảo mật Ngoài ra, thẻ còn có tên công ty chịu trách nhiệm thanh toán và một số yếu tố khác theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế.
Thẻ nội địa là loại thẻ do tổ chức phát hành thẻ phát hành, được sử dụng để thay thế tiền mặt trong việc thanh toán hàng hóa và dịch vụ, cũng như rút tiền mặt trong phạm vi quốc gia, với đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của nước đó Thẻ nội địa thường chỉ có thể sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ của ngân hàng phát hành, ngân hàng đại lý, và ngân hàng liên kết trong cùng một quốc gia.
Có nhiều tiêu thức phân loại thẻ khác nhau, chẳng hạn: ã Theo tớnh ch ấ t thanh toỏn c ủ a th ẻ :
Thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép chủ thẻ thanh toán hàng hóa và dịch vụ, với ngân hàng tạm ứng thanh toán cho nhà cung cấp Thời gian từ khi sử dụng thẻ đến khi phải trả tiền cho ngân hàng phụ thuộc vào từng loại thẻ Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ đúng hạn, họ sẽ được miễn lãi Ngược lại, nếu không thanh toán đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chịu phí và lãi chậm trả Sau khi thanh toán hết dư nợ, hạn mức tín dụng sẽ được khôi phục, thể hiện tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng.
Ngân hàng và tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng dựa trên uy tín và khả năng chi trả của khách hàng Khả năng này được xác định qua các tiêu chí như thu nhập, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ với tổ chức tài chính và tài sản thế chấp Khi sử dụng thẻ tín dụng, khách hàng có thể thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ thay vì dùng tiền mặt.
Thẻ ghi nợ (Debit Card) là loại thẻ liên kết trực tiếp với tài khoản ngân hàng, cho phép khách hàng rút tiền tại các máy ATM và thực hiện giao dịch mua sắm hoặc thanh toán hóa đơn một cách thuận tiện.
Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là phương tiện thanh toán
Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc vào số dư tài khoản, với ngân hàng cung cấp dịch vụ và thu phí Thẻ ghi nợ không liên quan đến quá trình cho vay tín dụng, cho phép mọi khách hàng có tài khoản tại ngân hàng tiếp cận sản phẩm này Do đó, thẻ ghi nợ có khả năng thay thế tiền mặt vượt trội hơn so với thẻ tín dụng.
Thẻ trả trước (Prepaid Card) là loại thẻ do ngân hàng và tổ chức tín dụng phát hành, cho phép khách hàng nạp tiền trước để thanh toán cho các sản phẩm và dịch vụ Tính năng của thẻ trả trước tương tự như thẻ ghi nợ, nhưng khác biệt ở chỗ thẻ không liên kết với tài khoản ngân hàng Chủ thẻ cần nạp tiền vào thẻ trước khi sử dụng và chỉ có thể chi tiêu trong giới hạn số tiền đã nạp.
Thẻ in nổi, hay còn gọi là thẻ khắc nổi, là loại thẻ có thông tin được khắc nổi trên bề mặt Tuy nhiên, hiện nay, loại thẻ này ngày càng ít được sử dụng do công nghệ in ấn còn thô sơ và dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ là loại thẻ chứa thông tin chủ thẻ được mã hóa trong dải băng từ ở mặt sau, hiện chiếm phần lớn thị trường thẻ Tuy nhiên, nhược điểm của thẻ băng từ là thông tin mã hóa hạn chế và cố định, dễ bị đánh cắp và làm thẻ giả Ngược lại, thẻ thông minh tích hợp chip điện tử và băng từ, với hai loại chip: chip bộ nhớ lưu trữ thông tin thanh toán và chip xử lý dữ liệu cho phép điều chỉnh thông tin Thẻ thông minh không chỉ lưu trữ thông tin chủ thẻ và điểm thưởng mà còn ghi lại lịch sử giao dịch, giúp ngân hàng giảm chi phí xử lý Mặc dù có nhiều ưu điểm, thẻ thông minh vẫn chưa phổ biến do chi phí cao và hệ thống máy móc đắt đỏ, chủ yếu được sử dụng ở các nước phát triển, mặc dù các tổ chức thẻ quốc tế khuyến khích phát hành để giảm rủi ro giả mạo.