1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay

104 2 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Tạ Đức Hòa
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Xuân Đức
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Công chức cấp xã và pháp luật về công chức cấp xã (15)
    • 1.1.1. Sự xác lập và vị trí, vai trò của công chức cấp xã (15)
    • 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về công chức cấp xã (27)
  • 1.2. Hệ thống văn bản và nội dung quy định của pháp luật về công chức cấp xã (31)
    • 1.2.1. Hệ thống văn bản qui định về công chức cấp xã (31)
    • 1.2.2. Nội dung qui định của pháp luật về công chức cấp xã (32)
  • 1.3. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về công chức cấp xã (37)
    • 1.3.1. Tiêu chí đánh giá nội dung của pháp luật về công chức cấp xã (37)
    • 1.3.2. Tiêu chí đánh giá hình thức của pháp luật về công chức cấp xã (41)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM (43)
    • 2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam (43)
      • 2.1.1. Giai đoạn 1945 – 1959 (43)
      • 2.1.2. Giai đoạn 1959 – 1980 (46)
      • 2.1.3. Giai đoạn 1980 – 1992 (49)
      • 2.1.4. Giai đoạn 1992 – 2010 (trước khi Luật Cán bộ công chức có hiệu lực) (52)
    • 2.2. Thực trạng quy định và hệ thống văn bản pháp luật về công chức cấp xã (54)
      • 2.2.1. Về hình thức và cách thức qui định (54)
      • 2.3.1. Về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã (63)
      • 2.3.2. Tình hình thực hiện pháp luật về công chức cấp xã (65)
      • 2.3.3. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết (0)
    • 2.4. Đánh giá chung pháp luật về công chức cấp xã (69)
      • 2.4.1. Ưu điểm của pháp luật về công chức cấp xã (69)
      • 2.4.2. Những hạn chế, bất cập của pháp luật về công chức cấp xã (72)
      • 2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập của pháp luật về công chức cấp xã (74)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN (77)
    • 3.1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay (77)
      • 3.1.1. Yêu cầu của xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (77)
      • 3.1.2. Yêu cầu của cải cách hành chính (78)
      • 3.1.3. Yêu cầu của hội nhập quốc tế (79)
    • 3.2. Quan điểm, phương hướng hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã (79)
      • 3.2.1 Đổi mới quy trình xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã (79)
      • 3.2.2 Thường xuyên rà soát để phát hiện những bất cập nhằm bổ sung sửa đổi kịp thời các văn bản qui phạm pháp luật về công chức cấp xã (81)
    • 3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã (85)
      • 3.3.1. Hoàn thiện các qui định về tạo nguồn, tiêu chuẩn và tuyển dụng công chức cấp xã (85)

Nội dung

Đồng thời, luận văn có thể giúp ích cho những cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng trong việc tìm hiểu cũng như áp dụng đúng đắn các quy định

Công chức cấp xã và pháp luật về công chức cấp xã

Sự xác lập và vị trí, vai trò của công chức cấp xã

1.1.1.1 Sự xác lập công chức cấp xã Đội ngũ công chức là một yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động của một nhà nước Mặc dù pháp luật công chức, công vụ tồn tại và phát triển đã trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện Luật nghỉ hưu (Unyoke law) của công chức vào năm 1859 ở Vương quốc Anh, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm chung, thống nhất về công chức Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức thường là:

- Là công dân của nước đó;

- Được tuyển dụng qua thi tuyển;

- Được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc;

- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

Công chức là những người đảm nhiệm một công vụ nhất định, và định nghĩa về công chức có sự khác biệt giữa các quốc gia tùy thuộc vào thể chế chính trị, phát triển kinh tế-xã hội và các yếu tố văn hóa Ở Anh, Thái Lan và Singapore, công chức là những người làm công tác chuyên môn trong bộ máy hành chính của Chính phủ Trong khi đó, Nga, Trung Quốc, Ba Lan và Hungary mở rộng định nghĩa này bao gồm cả những người làm việc trong bộ máy hành chính địa phương Tại Việt Nam, khái niệm công chức đã được hình thành và hoàn thiện từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, với Sắc lệnh số 76/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xác định công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các cơ quan Chính phủ Theo quy chế này, công chức chỉ bao gồm những người giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm việc trong các cơ quan lập pháp và tư pháp Mặc dù các quy định trong quy chế công chức vẫn giữ giá trị khoa học, nhưng việc áp dụng đã bị gián đoạn do chiến tranh.

Từ năm 1960 đến 1980, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là cán bộ, công nhân, viên chức Nghị định số 69/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng đã định nghĩa rõ ràng công chức là "công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước" Nghị định cũng xác định rõ đối tượng là công chức, tuy nhiên, các quy định này thường bị lãng quên và không được áp dụng trong thực tế.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cán bộ, công chức vào ngày 28/2/1998, thể chế hóa các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ trong thời kỳ cải cách hành chính Đây là lần đầu tiên trong lịch sử công vụ Việt Nam có một văn bản pháp lý quy định cụ thể về đối tượng cán bộ công chức, nhằm xây dựng trình độ, năng lực và sự tận tụy phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17-11-1998 đã kế thừa và phát triển khái niệm công chức từ Nghị định 169/HĐBT ngày 25-5-1991, đồng thời quy định rõ ràng hơn về các đối tượng là công chức nhà nước.

Theo Nghị định 95/1998/NĐ-CP, công chức bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ công vụ thường xuyên, phân loại theo trình độ đào tạo và ngành chuyên môn, làm việc trong các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nghị định cũng chỉ ra rằng công chức phải là công dân Việt Nam, nhưng chưa phân định rõ giữa cán bộ, công chức và viên chức, dẫn đến khó khăn trong quản lý và đãi ngộ Đặc biệt, chưa có quy định về cán bộ, công chức cấp xã, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương Để khắc phục, Pháp lệnh sửa đổi năm 2003 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung các đối tượng công chức cấp xã và phân biệt rõ giữa công chức ngạch hành chính và ngạch sự nghiệp.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP vào ngày 10-10-2003, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Theo Điều 2, công chức là công dân Việt Nam, làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Nghị định này không chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công chức nhà nước mà còn mở rộng đến công chức thuộc các tổ chức chính trị.

Xét từ góc độ chính trị- pháp lý, sự mâu thuẫn giữa các công bản về hình thức tên gọi và nội dung của Nghị định là điều hợp lý trong xã hội.

Pháp lệnh Cán bộ, công chức cùng các Nghị định và Thông tư của Bộ Nội vụ đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, góp phần vào cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong các quy định hiện hành, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới hoạt động công vụ, đặc biệt là trong quản lý cán bộ công chức và các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của họ Để khắc phục những hạn chế này, ngày 13/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, và ngày 28/11/2008, Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh công bố Luật này, nhằm thể chế hóa các quan điểm của Đảng và tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức theo hướng cải cách và hiện đại hóa nền hành chính.

Luật Cán bộ, công chức quy định rõ ràng về các đối tượng cán bộ và công chức ở các cấp Trung ương, tỉnh, huyện và xã Một bước phát triển mới của luật này là việc xác định rõ ràng nhiệm vụ của cán bộ theo ngạch, chức vụ và chức danh Cùng với Luật Viên chức năm 2010, luật đã phân biệt cụ thể giữa cán bộ, công chức và viên chức, nhằm xác định cơ chế quản lý phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ làm việc trong khu vực nhà nước Viên chức được định nghĩa là công dân Việt Nam làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hợp đồng và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị đó.

Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí công vụ trong cơ quan nhà nước và quân đội, không bao gồm sĩ quan hay hạ sĩ quan Họ được phân loại theo chức vụ chuyên môn, trình độ đào tạo và vị trí công tác, với mỗi ngạch có chức danh và tiêu chuẩn riêng, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Hiện nay, công chức ở Việt Nam được phân định theo cấp hành chính, bao gồm công chức trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Từ khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2003 được ban hành, nhà nước đã công nhận sự tồn tại của công chức ở cấp xã.

Việc điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp xã đánh dấu một bước đột phá trong nhận thức của các cơ quan nhà nước về cải cách hành chính Lần đầu tiên, công chức tại các cơ quan địa phương được gọi là công chức địa phương, mặc dù họ có địa vị pháp lý tương tự như công chức nhà nước ở trung ương Quan niệm này xuất phát từ việc không xem các cơ quan địa phương là cơ quan nhà nước, mà là các cơ quan tự quản của cộng đồng.

Tại Việt Nam, các cơ quan hành chính cấp xã như HĐND và UBND đều thuộc nhà nước, do đó việc công nhận công chức cấp xã là công chức nhà nước là hợp lý Tuy nhiên, do đặc thù công việc của công chức cấp xã, nhà nước cần thiết lập các quy định riêng về chính sách, chế độ tiền lương, hưu trí và các vấn đề liên quan khác.

Luật Cán bộ, công chức đã quy định một chương riêng về cán bộ công chức cấp xã, bao gồm công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã Công chức cấp xã, bao gồm các chức danh như Trưởng công an (tại nơi chưa có lực lượng công an chính quy), Chỉ huy trưởng quân sự và các vị trí văn phòng, đều thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Thống kê các lĩnh vực như Địa chính - xây dựng, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, và Văn hóa - xã hội là rất quan trọng Luật Cán bộ, công chức quy định rõ ràng sự phân biệt giữa công chức cấp xã và cán bộ cấp xã, trong đó công chức cấp xã là công dân Việt Nam được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.

Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về công chức cấp xã

Trong xã hội, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm xã hội, bao gồm quy phạm đạo đức, tôn giáo và phong tục tập quán Khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, dẫn đến sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật để điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh Pháp luật trở thành công cụ của nhà nước trong việc thực hiện sự thống trị giai cấp, với hệ thống quy phạm bắt buộc và lâu dài, thể hiện ý chí của nhà nước Pháp luật bổ sung vào hệ thống quy phạm xã hội, giúp xác lập trật tự xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị Với tính ưu việt, pháp luật nhanh chóng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đồng thời phản ánh lợi ích chung của xã hội Nhờ có pháp luật, nhà nước có thể trật tự hóa các quan hệ xã hội, hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật khách quan.

Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật là công cụ quản lý xã hội Khoản

Điều 8 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rằng nhà nước hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng các quy định pháp lý Để thực hiện điều này, nhà nước cần ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng Lĩnh vực công chức, đặc biệt là công chức cấp xã, là một trong những lĩnh vực quan trọng liên quan đến quyền lực nhà nước và cần được điều chỉnh bởi pháp luật Để nhà nước thực sự là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, pháp luật phải là nền tảng hình thành đội ngũ công chức cấp xã và hướng dẫn họ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn Việc điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp xã giúp nhà nước quản lý và phát triển đội ngũ này theo hướng phù hợp với mong muốn của xã hội.

Đội ngũ công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và thực hiện các hoạt động công vụ, từ đó tạo ra những mối quan hệ cần thiết trong quá trình này.

- Quan hệ về tuyển dụng công chức cấp xã

- Quan hệ sử dụng và quản lý công chức cấp xã

- Quan hệ về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

- Quan hệ khen thưởng, kỷ luật công chức cấp xã

- Quan hệ về chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã

Pháp luật về công chức cấp xã là hệ thống các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình hình thành và thực hiện hoạt động công vụ của công chức cấp xã Các qui phạm này có mối quan hệ nội tại chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất, nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Hoạt động của công chức cấp xã là một lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng, đòi hỏi nhà nước phải ban hành pháp luật để quản lý hiệu quả Hiện nay, công chức cấp xã cần không chỉ điều chỉnh bằng pháp luật mà còn phải thực hiện điều chỉnh hiệu quả nhằm xây dựng chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hiện đại và hiệu lực, đồng thời tăng cường tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành.

1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về công chức cấp xã

Pháp luật về công chức cấp xã là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức, với những đặc điểm riêng biệt do tính chất của công chức cấp xã quyết định Luật này có những đặc điểm nổi bật cả về hình thức lẫn nội dung, phản ánh sự đặc thù của công chức cấp xã trong quản lý nhà nước.

Pháp luật về công chức cấp xã là một lĩnh vực pháp luật liên ngành, được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể khác nhau ban hành, chủ yếu là các quy phạm thuộc ngành luật hành chính.

Các qui phạm pháp luật về công chức cấp xã được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Công chức cấp xã còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như Luật Lao động, Luật Hình sự và các Luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Ngân sách, và Luật Kế toán Đặc điểm này yêu cầu cần phân định rõ ràng thẩm quyền và phạm vi của từng chủ thể trong việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời tránh mâu thuẫn và đảm bảo tính thống nhất trong lĩnh vực pháp luật về công chức cấp xã.

Nội dung pháp luật về công chức cấp xã cần phải phù hợp với các quy định chung đối với cán bộ, công chức, đồng thời cũng phải có những điều chỉnh đặc thù riêng Điều này xuất phát từ việc công chức cấp xã là một phần của chế định pháp luật về cán bộ, công chức Mặc dù công chức cấp xã phải tuân thủ các quy định chung, nhưng do đặc thù riêng của cấp xã, cần có những điều chỉnh phù hợp Việc nhận thức đầy đủ về đặc điểm này là rất quan trọng khi điều chỉnh pháp luật liên quan đến công chức cấp xã.

- Pháp luật về công chức cấp xã chỉ điều chỉnh đối với công chức làm việc ở cơ quan hành chính cấp xã (Ủy ban nhân dân cấp xã)

Pháp luật về cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay điều chỉnh rộng rãi đối với các đối tượng trong hệ thống chính trị, nhưng chưa tính đến đặc thù hoạt động của lao động trong khu vực nhà nước và tổ chức chính trị, dẫn đến tình trạng nhà nước hóa các tổ chức xã hội Đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử và hiện vẫn trong thời kỳ chuyển tiếp, khiến phạm vi điều chỉnh pháp luật khá rộng Tuy nhiên, đối với cấp xã, pháp luật chỉ công nhận và điều chỉnh công chức làm việc trong chính quyền xã, trong khi các bộ phận khác như Đảng và tổ chức chính trị-xã hội chỉ có cán bộ mà chưa có công chức Điều này tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh đối tượng công chức làm việc trong cơ quan nhà nước ở cấp xã.

Nghiên cứu đặc trưng của pháp luật về công chức cấp xã là cần thiết để xác định phạm vi và đối tượng điều chỉnh một cách khoa học Điều này không chỉ giúp điều chỉnh pháp luật cho phù hợp mà còn bảo đảm sự thống nhất và tính ổn định tương đối trong lĩnh vực pháp luật này.

Hệ thống văn bản và nội dung quy định của pháp luật về công chức cấp xã

Hệ thống văn bản qui định về công chức cấp xã

Pháp luật về công chức cấp xã được quy định qua các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nội dung của pháp luật này rất phong phú và đa dạng, được thể hiện trong nhiều văn bản khác nhau Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công chức cấp xã có thể được phân chia thành các nhóm cụ thể.

Các văn bản quy định về tổ chức chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã, đã đề cập đến cơ cấu và số lượng đội ngũ công chức cấp xã Những văn bản quan trọng trong nhóm này bao gồm Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành.

Các văn bản quy định về cán bộ, công chức áp dụng cho tất cả đối tượng là công chức và viên chức, bao gồm cả công chức cấp xã Những văn bản này bao gồm Luật Cán bộ, công chức năm 2010 cùng với các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành Luật này.

Các văn bản quy định riêng về cán bộ, công chức cấp xã bao gồm các nghị định và thông tư của Chính phủ và Bộ trưởng, quy định chi tiết về tuyển dụng, quản lý và sử dụng công chức cấp xã Ví dụ, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 quy định về chức danh, số lượng, chế độ và chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, cùng với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 cũng cung cấp các quy định liên quan đến vấn đề này.

Năm 2011, Chính phủ ban hành quy định về công chức xã, phường, thị trấn Tiếp theo, Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ đã hướng dẫn cụ thể về chức trách, tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quy trình tuyển dụng công chức tại các cấp địa phương này.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý công chức cấp xã theo phân cấp Ví dụ, Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 07/04/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định tiêu chuẩn công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Hệ thống văn bản pháp luật về công chức cấp xã rất phong phú và được ban hành bởi nhiều cơ quan có thẩm quyền Do đó, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công chức cấp xã của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cần đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất với Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cũng như Luật Cán bộ, công chức Sự thống nhất giữa các quy định trong các văn bản này là rất quan trọng.

Nội dung qui định của pháp luật về công chức cấp xã

Nội dung của pháp luật về công chức cấp xã bao gồm các vấn đề cơ bản như: tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cấp xã; đào tạo và bồi dưỡng công chức; quyền và nghĩa vụ của công chức; khen thưởng và kỷ luật công chức; cùng với chế độ và chính sách đối với công chức cấp xã.

1.2.2.1 Qui định về tuyển dụng công chức cấp xã

Tuyển dụng công chức cấp xã là quá trình quan trọng nhằm đảm bảo chính quyền cấp xã có đủ số lượng và chất lượng công chức để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ Việc tuyển dụng hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của chính quyền Chọn đúng người ngay từ đầu giúp hạn chế các vấn đề nhân sự như bỏ việc, thiếu động lực hay các vấn đề đạo đức, đồng thời giảm bớt công việc xử lý kỷ luật, sa thải và giải quyết khiếu nại Do đó, cần điều chỉnh pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã để đảm bảo tuyển chọn được những người có chuyên môn, phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu công việc.

1.2.2.2 Qui định về sử dụng và quản lý công chức cấp xã

Sử dụng công chức cấp xã là quá trình phân bổ công chức vào các vị trí phù hợp với năng lực và chuyên môn của họ trong Ủy ban nhân dân cấp xã Đây là giai đoạn quan trọng trong quản lý nguồn nhân lực, nhằm đảm bảo công chức được sử dụng hiệu quả để thực thi nhiệm vụ và đạt được mục tiêu hoạt động của chính quyền cấp xã.

Pháp luật về công chức cấp xã cần qui định một số nội dung chủ yếu sau trong sử dụng công chức cấp xã:

- Bố trí, phân công công tác;

- Thôi việc, nghỉ hưu đối với công chức

Khác với việc sử dụng công chức nói chung, pháp luật không điều chỉnh các quy định về luân chuyển, bổ nhiệm, từ chức và miễn nhiệm đối với công chức cấp xã Điều này xuất phát từ đặc điểm của công chức cấp xã là những người làm chuyên môn, không thuộc nhóm công chức lãnh đạo hay quản lý, do đó các quy định này chỉ áp dụng cho công chức lãnh đạo và quản lý.

Quản lý công chức cấp xã là quá trình thu hút, duy trì và phát triển nguồn nhân lực hành chính có trình độ và kỹ năng phù hợp với nhu cầu của nhà nước và Ủy ban nhân dân cấp xã Do đó, pháp luật về công chức cấp xã cần quy định rõ nguyên tắc, nội dung và thẩm quyền trong quản lý công chức cấp xã để đảm bảo chất lượng và số lượng nguồn nhân lực.

1.2.3.3 Qui định về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Đào tạo, bồi dưỡng là một tất yếu khách quan, có vai trò to lớn đối với nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Đào tạo, bồi dưỡng sẽ đảm bảo cho công chức cấp xã có thể thích ứng và theo sát sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đảm bảo cho chính quyền cấp xã có một đội ngũ công chức giỏi, hoàn thành tốt các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã Đào tạo, bồi dưỡng sẽ nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng và công tác để đạt được hiệu quả cao hơn và khả năng công tác tốt hơn trong thực thi công vụ của công chức cấp xã Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần được pháp luật qui định về nội dung, hình thức, chế độ, thời gian, phương pháp nhằm xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với nhà nước và tận tuỵ với công việc

1.2.2.4 Qui định về nghĩa vụ và quyền của công chức cấp xã

Quyền và nghĩa vụ của công chức cấp xã là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa họ với nhà nước và nhân dân, và cần được điều chỉnh bởi pháp luật Nghĩa vụ của công chức cấp xã bao gồm những trách nhiệm và bổn phận mà họ phải thực hiện, trong khi quyền của họ là các điều kiện cần thiết để đảm bảo việc thực hiện tốt các nghĩa vụ này.

Pháp luật về công chức cấp xã quy định rõ nghĩa vụ và quyền của họ, đồng thời cần xem xét mối quan hệ với quyền và nghĩa vụ chung của cán bộ, công chức Tuy nhiên, do đặc thù của công chức cấp xã và hoạt động công vụ tại cấp xã, cần thiết phải có những quy định riêng biệt để phù hợp với thực tiễn.

Các quy định pháp luật về nghĩa vụ và quyền của công chức cấp xã được chia thành hai nhóm: thứ nhất là nghĩa vụ và quyền của công chức như mọi công dân, vì họ phải là công dân Việt Nam; thứ hai là nghĩa vụ và quyền đặc thù liên quan đến hoạt động công vụ Công chức cấp xã được giao quyền lực công để thực thi công vụ, không phải là đặc quyền, mà là phương tiện pháp lý điều chỉnh hành vi trong công vụ Điều này cũng là cơ sở để nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết cho công chức cấp xã, bao gồm phương tiện làm việc, đời sống vật chất, tinh thần và an toàn trong công vụ Nghĩa vụ và quyền là hai khía cạnh tạo nên địa vị pháp lý của công chức cấp xã.

1.2.2.5 Qui định về khen thưởng, kỷ luật công chức cấp xã

Khen thưởng và kỷ luật là những biện pháp quan trọng của nhà nước nhằm thúc đẩy tinh thần làm việc của công chức cấp xã, đồng thời ngăn chặn các hành vi sai trái Những biện pháp này không chỉ đảm bảo trật tự và kỷ cương trong hoạt động công vụ mà còn góp phần duy trì sự ổn định và hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã.

Khu vực công, với đặc điểm hoạt động bằng ngân sách nhà nước và chế độ chức nghiệp gần như trọn đời, dễ dẫn đến sự trì trệ và thiếu sáng tạo Do đó, cần có biện pháp pháp luật để thúc đẩy động lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức cấp xã Khen thưởng là công cụ quan trọng tác động đến động lực làm việc của họ, thể hiện sự đánh giá cao của Nhà nước và xã hội đối với công trạng và kết quả phục vụ Qua đó, khen thưởng khuyến khích tinh thần sáng tạo, ý thức và đạo đức công vụ của công chức cấp xã.

Việc xử lý kỷ luật công chức cấp xã nhằm giáo dục và nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ công chức, đồng thời phòng ngừa và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật Điều này góp phần xây dựng một đội ngũ công chức có lối sống lành mạnh, chống lại các biểu hiện tiêu cực như tham nhũng và lãng phí Để đạt được mục tiêu này, cần đẩy mạnh cải cách hành chính và thiết lập hệ thống quy phạm kỷ luật rõ ràng cho công chức cấp xã.

Nhóm quy phạm về khen thưởng và kỷ luật công chức cấp xã cần quy định rõ các nguyên tắc, điều kiện, hình thức, thẩm quyền và trình tự xử lý các quan hệ phát sinh trong quá trình này Việc xây dựng hệ thống quy phạm một cách khoa học, đơn giản và dễ thực hiện sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã.

1.2.2.6 Qui định về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức cấp xã

Chế độ và chính sách đối với công chức cấp xã phản ánh thái độ và quan điểm của nhà nước trong việc đánh giá và đãi ngộ họ Việc thực hiện chế độ, chính sách là trách nhiệm pháp lý của nhà nước, nhằm khuyến khích tinh thần làm việc và nâng cao trách nhiệm của công chức Chế độ hợp lý sẽ thúc đẩy sự sáng tạo, thu hút nhân tài và tạo sự đoàn kết trong nội bộ, trong khi chế độ sai lệch sẽ dẫn đến tâm trạng chán nản và kìm hãm sự phát triển Do đó, để nâng cao chất lượng công chức cấp xã, cần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chế độ, chính sách đối với họ.

Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về công chức cấp xã

Tiêu chí đánh giá nội dung của pháp luật về công chức cấp xã

Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã là những đặc điểm cần thiết để nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động của công chức cấp xã Để pháp luật này được coi là hoàn thiện, cần phải có những tiêu chí lý luận rõ ràng nhằm đối chiếu với thực trạng hiện hành và đề xuất các phương hướng, biện pháp cải tiến Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên thuộc tính, bản chất và vai trò của pháp luật, đồng thời phải đảm bảo tính hệ thống, vì pháp luật về công chức cấp xã là một tập hợp các quy phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Pháp luật về công chức cấp xã cần phải đầy đủ để đánh giá mức độ hoàn thiện của nó Chức năng của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước, nhưng không phải mọi quan hệ xã hội đều cần sự điều chỉnh này Khi có những quan hệ mới hoặc phổ biến trong hoạt động của công chức cấp xã mà chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh, các quan hệ đó sẽ không phát triển tốt và ở trạng thái tự phát Do đó, chỉ khi có đầy đủ quy phạm pháp luật, nhà nước mới có thể xây dựng đội ngũ công chức cấp xã phù hợp với mục tiêu đề ra.

Để hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã, cần tiến hành rà soát các quan hệ trong lĩnh vực này và đánh giá mức độ quan trọng cũng như phổ biến của chúng Việc này giúp xác định quan hệ nào cần được pháp luật điều chỉnh và quan hệ nào có thể được điều chỉnh bằng các quy phạm xã hội khác như đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán, nhằm đạt hiệu quả cao hơn.

- Pháp luật về công chức cấp xã phải đồng bộ, thống nhất

Các qui phạm pháp luật về công chức cấp xã tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, đòi hỏi sự phát triển đồng bộ và không mâu thuẫn Pháp luật về công chức cấp xã là một phần của chế định cán bộ công chức trong ngành Luật hành chính, cần có sự thống nhất trong các qui phạm của nó Đồng thời, pháp luật này cũng phải phù hợp với các qui phạm của chế định pháp luật về cán bộ công chức và các ngành luật liên quan như Luật lao động, Luật Đất đai Để đảm bảo tính đồng bộ, các cơ quan nhà nước cần tuân thủ nguyên tắc pháp chế khi ban hành qui phạm pháp luật, bảo đảm đúng thẩm quyền và tôn trọng thứ bậc hiệu lực pháp lý giữa các văn bản Cụ thể, văn bản qui phạm pháp luật của cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cấp trên, và văn bản địa phương phải tương thích với văn bản trung ương.

Để hoàn thiện pháp luật theo tiêu chí này, cần thiết phải xây dựng và đổi mới đồng bộ các quy định pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức cũng như các lĩnh vực liên quan khác.

Pháp luật về công chức cấp xã cần phải phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm của công chức cấp xã, đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá tính hoàn thiện của pháp luật Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, mang tính chủ quan Tuy nhiên, pháp luật cũng có thuộc tính khách quan, ghi nhận và tác động vào các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển Do đó, để đạt được tính khả thi và mục tiêu điều chỉnh, pháp luật về công chức cấp xã phải đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội.

Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã, cần chú ý đến đặc điểm của họ, đặc biệt là nguồn tuyển dụng chủ yếu từ người địa phương Điều này giúp đảm bảo công chức có khả năng gần gũi và sát dân, đồng thời tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương Cần điều chỉnh tiêu chuẩn, phương thức tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và quản lý để xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có năng lực và tâm huyết với công việc Ngoài ra, việc kế thừa kinh nghiệm từ lịch sử phát triển pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam và trên thế giới cũng rất quan trọng.

Pháp luật về công chức cấp xã cần thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng đội ngũ công chức cấp xã Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân và duy trì bản chất giai cấp công nhân của nhà nước Để thực hiện vai trò này, Đảng đề ra các đường lối, chính sách để nhà nước chuyển hóa thành pháp luật Trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng đã nhấn mạnh việc hoàn thiện pháp luật và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức cấp xã.

Đảng đã xác định các phương hướng đúng đắn để hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và bản chất phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức Nếu pháp luật không thể hiện được các chủ trương, đường lối của Đảng, sẽ dẫn đến sự điều chỉnh không hiệu quả Do đó, cần đánh giá xem pháp luật hiện hành đã thể chế hóa đầy đủ các chính sách của Đảng trong lĩnh vực này hay chưa, và tìm ra các giải pháp khắc phục nếu cần thiết.

Tiêu chí đánh giá hình thức của pháp luật về công chức cấp xã

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả Để đạt được điều này, pháp luật về công chức cấp xã cần được xây dựng với trình độ kỹ thuật pháp lý cao, tuân thủ quy trình khoa học và hợp lý trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật.

Nghiên cứu các quy luật và yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội là cần thiết để xác định chính xác và đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp xã.

- Xác định đúng tính chất, đặc điểm của đối tượng để điều chỉnh cho phù hợp

Các quy phạm pháp luật về công chức cấp xã cần được diễn đạt một cách chính xác, rõ ràng và dễ hiểu Pháp luật yêu cầu tính xác định chặt chẽ về hình thức, nhằm đảm bảo rằng tất cả các chủ thể đều hiểu và thực hiện thống nhất các quy định Đặc biệt, do công chức cấp xã gần gũi với người dân, việc diễn đạt pháp luật càng cần được chú trọng để mọi người, bất kể trình độ dân trí, đều có thể dễ dàng hiểu đúng các quy định liên quan.

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, đóng vai trò quan trọng trong quản lý và điều hành công việc hành chính, cũng như thực thi pháp luật tại địa phương Để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của công chức cấp xã, cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ phát sinh bằng pháp luật, đồng thời làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung liên quan Việc nghiên cứu và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã cũng rất quan trọng Sự hoàn thiện này là yêu cầu khách quan nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ hóa đời sống xã hội, cải cách hành chính và hội nhập quốc tế tại Việt Nam.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN

Ngày đăng: 05/07/2023, 20:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w