Bài viết Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học 2013 của Karen Thornber do Hải Ngọc dịch in trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình các nền văn học, văn hóa và
Trang 1HOÀNG THỊ HẠNH
TẢN VĂN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ NGÀNH: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG - Năm 2018
Trang 2HOÀNG THỊ HẠNH
TẢN VĂN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ NGHÀNH: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THANH TRUYỀN
BÌNH DƯƠNG - Năm 2018
Trang 3kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được ai công bố trong công trình nào trước đây Các thông tin, tài liệu có sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn nguồn, ngày tháng truy cập
Bình Dương, ngày 01 tháng 9 năm 2018
Tác giả
Hoàng Thị Hạnh
Trang 4Bùi Thanh Truyền - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn, đặc biệt các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy khóa II, chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ phòng Sau Đại học Trường Đại học Thủ Dầu Một đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, Ban Giám hiệu của đơn vị công tác Đó chính là nguồn động viên tinh thần lớn lao để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này
Trang 6Danh mục chữ viết tắt iii
Mục lục iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Các công trình về phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học Việt Nam 3
2.2 Các bài viết liên quan đến sinh thái trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học và sinh thái học 12
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 13
4.3 Phương pháp so sánh 13
5 Đóng góp của luận văn 13
6 Kết cấu luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGOC TƯ 14
1.1 Khái lược về phê bình sinh thái 14
1.1.1 Khái niệm sinh thái và văn học sinh thái 14
1.1.2 Phê bình sinh thái 21
1.2 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư - sự hòa kết giữa văn chương và sinh thái 29
1.2.1 Sơ nét về thể loại tản văn 29
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư - cây bút Nam Bộ nhiều duyên nợ với tản văn 37
Chương 2 SINH THÁI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ NỘI DUNG PHẢN ÁNH 45
2.1 Sinh thái tự nhiên trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 45
Trang 72.2.2 Sự lên ngôi của chủ nghĩa vật chất 61
2.3 Thông điệp về sinh thái trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 65
2.3.1 Cảnh báo khẩn thiết về sự lâm nguy của môi trường 65
2.3.2 Lời cảnh tỉnh trước tương lai 68
2.3.3 Kiến tạo lối sống đẹp của con người trước môi sinh 70
Chương 3 SINH THÁI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN 78
3.1 Ngôn từ - chất liệu “đậm mùi hương thổ” của tinh thần sinh thái 78
3.1.1 Mật độ cao về từ ngữ, hình ảnh giàu biểu tượng tự nhiên 78
3.1.2 Ngôn ngữ có tính đối thoại về môi trường 87
3.2 Giọng điệu - cách thức triển diễn hiệu quả tiếng nói sinh thái của nhà văn 93
3.2.1 Diễn ngôn lãng mạn về tự nhiên 94
3.2.2 Sự đan xen giữa giọng điệu trữ tình và chính luận 100
3.3 Thời - không gian nghệ thuật - môi trường thăng hoa của tinh thần sinh thái 106
3.3.1 Thời gian với sự tương phản hai môi sinh quá khứ và hiện tại 106
3.3.2 Không gian với sự song kết giữa hiện thực và tâm tưởng 111
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 81.1 Thế kỉ XXI nhân loại đã đạt thêm nhiều thành tựu mới trong khoa học, công nghệ nhưng cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất Ngày nay, con người không còn xa lạ với các cụm từ “biến đổi khí hậu”, “ô nhiễm môi trường”, “ấm lên toàn cầu”… Chỉ riêng nửa đầu năm 2018, thiên tai, hạn hán bất thường xẩy ra khắp hành tinh, rải đều các châu lục đã cho thấy tính bất ổn của khí hậu toàn cầu, loạn nhịp của môi trường sinh thái trái đất Cùng với tốc độ đô thị hóa, sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật hiện đại, con người vẫn tiếp tục khai thác tận diệt tự nhiên Dù đã được dự báo, cảnh báo và cả nhãn tiền nhưng sự xâm hại của con người với môi trường vẫn chưa thấy có dấu hiệu dừng lại Bên cạnh đó,
xu thế toàn cầu hóa của thế giới khiến cho không chỉ môi trường tự nhiên đang bị báo động đỏ về độ ô nhiễm mà môi trường xã hội của nhân loại cũng bị đe dọa vì
sự xói mòn về đạo đức và nhân tính Mỗi công dân không kể quốc tịch, màu da đều có thể đứng trước những sự rủi ro, bất trắc như nhau Việt Nam không nằm
ngoài quỹ đạo đó
1.2 Phê bình sinh thái (Ecocriticism) hình thành, phát triển và nổi lên
trong bối cảnh trên và nhất là khi sự biến đổi khí hậu, sự ô nhiễm môi trường hay
sự suy thoái về đạo đức cốt lõi của con người vượt ra khỏi phạm vi của một dân tộc, quốc gia hay khu vực Xuất hiện trên thế giới tính đến nay gần nửa thế kỉ (từ 1970) và ngay từ sơ khai, nó nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học của Mỹ, Anh, sau đó lan sang các nước châu Á Tuy nhiên, ở nước ta, thời điểm ấy phê bình sinh thái (PBST-viết tắt) chưa được thật sự chú trọng nghiên cứu dù đó là một trong những cơ sở lí luận, phương tiện vững chắc để phản tỉnh thuyết nhân loại trung tâm nhằm cứu lấy Mẹ thiên nhiên
và môi trường nhân văn Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tịnh Thy cho rằng Việt Nam đang trong quá trình khởi động nghiên cứu sinh thái, chúng ta đi chậm so với thế giới 20 năm Giới sáng tác, phê bình nghiên cứu cần nỗ lực nhiều hơn mới mong bắt kịp xu hướng của nhân loại Trong rất nhiều lý thuyết về nghiên cứu văn học hiện đại đến hậu hiện đại, PBST có vẻ “cận nhân tình” hơn cả
Trang 9hiểu biết thực sự cặn kẽ về các vấn nạn môi trường nhưng rất quan tâm tới vấn đề sinh thái, trong đó có ý thức, đặc biệt hứng thú tìm hiểu PBST và văn học sinh thái (VHST - viết tắt) Vì vậy, mong muốn góp một tiếng nói nhỏ bé thúc đẩy về hướng “nghiên cứu xanh” trong văn học Việt nhằm đánh động sự thờ ơ, bàng quan của những người xung quanh về môi trường sống của mình
1.3 Văn học luôn quan tâm đến sự sống Nhưng một thời gian dài nó dành
sự ưu ái cổ vũ cho sức mạnh, tinh thần làm chủ lẫn bá chủ của của con người trên trái đất Và văn học theo hướng sinh thái ra đời như một sự xét lại, phản tư, giải thiêng những tượng đài rất vững chãi nói trên Cùng với thế giới, VHST Việt Nam thực sự không còn mới mẻ đặc biệt những năm gần đây song chưa thành một trào lưu như các dòng văn học khác May mắn thay lớp nhà văn trẻ đi sau nhưng đã nhanh nhạy bắt kịp những xu thế vận động của văn học thế giới lẫn nhân loại Vì vậy, bên cạnh hướng đến phản ánh những xung đột, những giá trị cốt lõi của con người thì tác phẩm của họ luôn hướng về vấn nạn môi trường Trong số những gương mặt tiên phong, không thể không kể đến tác giả Nguyễn Ngọc Tư Trong văn học Nam Bộ, chị là một cây bút giàu năng lượng Mảnh đất phương Nam màu mỡ tưởng đã đủ dung dưỡng nên một thế hệ thuộc lớp “người hiền” đi trước nhưng bằng một cách rất riêng những cây bút trẻ đã lớn nhanh và kịp tiếp nối mạch văn chương rất riêng để hòa vào dòng chảy của văn học dân tộc, cùng vươn ra biển lớn Thành công với mảng tiểu thuyết, truyện ngắn, chị còn có cả một gia tài khá đồ sộ về tản văn Tính đến nay, tác giả đã xuất bản bảy cuốn về thể loại này Bên cạnh những nét hồn hậu của thiên nhiên sông nước miệt vườn Cửu Long, sự ấm áp tình người thì chủ đề lớn Nguyễn Ngọc Tư bền bỉ theo đuổi xuyên suốt các tập tản văn là sự tàn phá, hủy hoại tự nhiên, sự nguội lạnh, xuống cấp về đạo đức xã hội Dù vậy, những công trình nghiên cứu về cây bút đến từ “Đất Mũi mù xa” này chủ yếu còn tập trung vào mảng tiểu thuyết và truyện ngắn mà chưa có sự quan tâm nào tương xứng với lĩnh vực tản văn
Trang 102 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình về phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học Việt Nam
Phê bình văn học Việt Nam tiếp xúc với phê bình sinh thái thế giới trước hết là qua những công trình dịch thuật và các tiểu luận mang tính dự báo, dò đường
Nhìn lại lịch sử PBST của thế giới, đặc biệt là Mỹ và châu Âu, Việt Nam khởi động muộn hơn hẳn Năm 2011, trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Tiếp cận văn học châu Á từ lí thuyết phương Tây hiện đại: Vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”, giáo sư Karen Thornber (Đại học Havard) đã có bài nói chuyện về PBST tại Viện văn học Từ đây, các công trình dịch thuật và nghiên cứu mới dần xuất hiện ở nước ta Một trong những người nghiên cứu khá sớm PBST ở Việt Nam là Đỗ Văn Hiểu Năm 2012, ở mảng dịch thuật, Đỗ Văn Hiểu có hai phần lược dịch lịch sử phát triển cùng nguồn gốc tư tưởng của PBST
với công trình Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển (phần 1, 2) Bài
dịch này đã chỉ ra hiệu quả, tác dụng thực tiễn của phân nhánh lí thuyết này
không chỉ dừng lại ở nghiên cứu văn bản văn học Bài viết Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học (2013) của Karen Thornber do Hải Ngọc dịch in trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình các nền văn học, văn hóa và môi trường thể hiện quan điểm về tính đa chức năng của PBST: “Đây là
một lý thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa học, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường” Tiểu luận tiếp tục khẳng định
“PBST có thể tìm thấy ở văn chương, mỹ thuật, điện ảnh, nghệ thuật đương đại Việt Nam nhiều “ca” thú vị để nghiên cứu” Riêng khái niệm “mơ hồ sinh thái”
đã phản ánh một đặc trưng quan niệm phổ biến về môi trường, thiên nhiên tưởng
như rất gắn bó, bền vững trong các nền văn hóa Đông Á Sang 2014, Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường do Trần Thị Ánh Nguyệt dịch (sách Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên) thì PBST được giới hạn cụ
Trang 11sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học Qua 2015, Đỗ Văn Hiểu sơ dịch từ
cuốn Đương đại tây phương tối tân văn luận giáo trình của Vương Nhạc Xuyên, Nhà xuất bản Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008) về Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái Dịch giả đã chuyển tải rằng sự phát triển của lí luận
phương Tây mới nhất không phải vì chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu thực dân, nghiên cứu văn hóa không ngừng làm mới mà dừng lại Cuối thế kỉ XX, “văn hóa sinh thái” của phương Tây và lí luận “PBST” từ phát sinh phát triển đến dần dần lan rộng trên toàn thế giới, đã trở thành một phương pháp nghiên cứu lí luận văn nghệ mới mang tính liên ngành Song song đó, bài viết này vừa phân tích hệ quả của Chủ nghĩa tiêu dùng trong thời hậu công nghiệp vừa đánh giá tính cập thiết, giá trị của lí luận PBST Nhà nghiên cứu Trần
Đình Sử với bài Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay
(2015) vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trung vào quan hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ Công trình mới nhất trong khuynh hướng chuyển ngữ do
Đỗ Văn Hiểu đảm nhận là Phê bình sinh thái ở Trung Quốc - nhìn từ Việt Nam
Trong bài viết này, người viết tiến hành tái hiện tình hình phát triển PBST ở Trung Quốc trên các phương diện: giới thiệu, dịch thuật, xây dựng lí thuyết và vận dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể, từ đó đề xuất giải pháp phát triển PBST ở Việt Nam
Mảng nghiên cứu lí luận, Đỗ Văn Hiểu cũng là người tiên phong với bài
Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân
(2012) với mong muốn làm sáng tỏ một số cách tân bản chất của PBST trên phương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẩm mĩ, đối tượng, phạm
vi nghiên cứu; bên cạnh đó cũng lưu tâm đến hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng, phát triển của khuynh hướng nghiên cứu này Đặc biệt, bài viết này cũng
Trang 12(NTTTH - viết tắt) có bài Phê bình sinh thái - Nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc
(2013) đã nhìn thấy cảm quan hậu hiện đại biểu hiện ở đặc điểm giải cấu trúc như tản quyền, cái chết của chủ thể, tính đối thoại… Đỗ Văn Hiểu tiếp nối mạch phê
bình của mình với Tính “khả dụng” của phê bình sinh thái (2016) Dịch giả đã
bước đầu xác lập cơ sở lí luận của khuynh hướng nghiên cứu này, đồng thời thử tìm ra hướng thao tác nghiên cứu để có thể vận dụng vào thực tiễn văn học nước nhà PBST Việt Nam những năm gần đây cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu khá chuyên sâu, đánh dấu kết quả của sự nghiên cứu bền bỉ, nghiêm túc của các nhà nghiên cứu nữ như Đặng Thị Thái Hà, Trần Thị Ánh Nguyệt, Lê
Lưu Oanh, Nguyễn Thị Tịnh Thy… Năm 2016, chúng ta có công trình Con người và tự nhiên trong văn học Việt nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt - Lê Lưu Oanh Chuyên luận này bao quát
khá toàn diện sáng tác văn học nước nhà sau khi thống nhất trên cơ sở tham chiếu
lí thuyết của PBST Chuyên luận Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương
của nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy ra đời trong bối cảnh hôm nay (2017) đã góp phần đưa phê bình văn học của nước ta tiếp cận với các trào lưu, lý thuyết phê bình khả dụng vào thực tiễn đời sống của thế giới Thông qua cuốn sách tác giả lần lượt giới thiệu và làm sáng tỏ các nội hàm của những thuật ngữ liên quan tới PBST
Không dừng lại ở nghiên cứu một chiều, sự phát triển của PBST tại Việt Nam còn mang tính phản biện về tiếp nhận và ứng dụng về lí thuyết dù chưa nhiều Tiên phong trong trường hợp này là nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân Bài
viết Các lý thuyết nghiên cứu văn học và tính khả dụng (2014) đã đặt lại câu hỏi
cho việc tiếp nhận lí thuyết phê bình văn học phương Tây ở nước ta, trong đó có PBST Căn cứ vào nhiệm vụ của Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường (ASLE) là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa, văn học với môi trường, với tự nhiên, nhưng “văn học” ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm cả các tác phẩm, công trình phi hư cấu (tức phi văn chương) Như thế, nếu xếp nó vào là
Trang 13nhìn nhận sát sao hơn nữa bản chất của văn bản tự sự về môi trường chứ không nên đơn thuần chỉ tụng ca Đến 2018, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân tiếp tục
có bài “Sinh thái học tinh thần” hay là văn hóa học? in trên mục Diễn đàn lý
luận phê bình văn hóa của báo Văn nghệ (số 3) để phản biện lại một số cách hiểu chưa thật chính xác về PBST tinh thần Bằng cách viết khúc chiết, chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, trên cơ sở khoa học bài báo của trên đã chỉ rõ sự ngộ nhận, nhầm lẫn trong việc hiểu nghĩa gốc của từ “eco” (môi trường) vốn mang nghĩa chuyên môn, không phải nghĩa sinh hoạt như “khung cảnh”, “hoàn cảnh”, “điều kiện”,
“bối cảnh” Vì hiểu nhầm nên có một thời gian “PBST tinh thần” ở Việt Nam đã nghiêng về nghiên cứu hoàn cảnh xã hội và con người Thực chất đó lại là phạm
vi của phê bình văn hóa học đối với “khung cảnh văn hóa tinh thần” mà hoàn toàn không phải là sinh thái học văn học hay phê bình sinh thái học Từ đó, tác giả Nguyễn Văn Dân cũng thống nhất với quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới rằng “sinh thái học tinh thần là nghiên cứu mối quan hệ giữa vấn đề môi trường tự nhiên với tinh thần, tín ngưỡng và tôn giáo” (Nguyễn Văn Dân, 2018,
tr 17) Dù mới là hiện tượng đơn lẻ nhưng cách nhìn lại trên là cần thiết cho nghiên cứu khoa học nói chung và tiếp nhận lí thuyết sinh thái nói riêng Nó giúp chúng ta tránh được sự áp đặt, phiến diện và cực đoan
Sự phát triển của lí thuyết sinh thái ở Việt Nam đồng thời ngày càng đi vào thực tiễn và có tính ứng dụng cao Trước tiên phải kể đến sự ứng dụng trong
lĩnh vực văn hóa với các bài trong cuốn Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2000): Triết lí môi trường; Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái nhận văn Việt Nam ba miền Nam Trung Bắc; Một cái nhìn sinh thái nhân văn với các di tích - lịch sử - văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng Những bài nghiên
cứu này vừa chỉ ra sự khác biệt văn hóa vùng miền vừa gom lại những yếu tố chung, căn cốt của người Việt Nam trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội và với tự nhiên môi trường Lí thuyết PBST còn đi vào địa hạt của mình như nghiên cứu ca dao tục ngữ, thơ ca trung đại đến văn học hiện đại Tiêu biểu như Trần
Trang 14xã hội như trời, đất, nước, khí hậu, hệ sinh thái; mô hình cổ truyền và mô hình mới về ứng xử với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca
dao, tục ngữ Huỳnh Như Phương từ năm 2013 có bài viết Mùa xuân, sinh thái
và văn chương được gợi dẫn từ truyện Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Qua
đó, tác giả bàn luận thêm về chức năng, trách nhiệm mới của nhà văn, văn học khi chuyển sang hoạt động mở rộng địa bàn lí thuyết sinh thái Đó là bảo vệ sức khỏe môi trường cũng là bảo vệ con chính con người và không thể thờ ơ trước sự suy thoái hệ sinh thái của đất nước Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp lại vận
dụng lí thuyết sinh thái để phân tích Thơ mới với đề tài Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa (2014) với thú nhận đây là những “vén mở bước đầu” Song
mảng văn xuôi có lẽ được các nhà nghiên cứu soi chiếu nhiều hơn cả Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tịnh Thy tham chiếu lí thuyết vào một loạt TPVH vào
năm 2015 như: Tư tưởng sinh thái trong truyện ngắn của Trần Duy Phiên; Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên - Nhìn từ lí thuyết sinh thái; Đối thoại trong tiểu thuyết Totem sói của Khương Nhung Vũ Minh Đức nghiên cứu Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái phát hiện
những gợi dẫn về sinh thái nữ quyền từ motif, thông điệp trong tác phẩm Môi
trường sinh thái đô thị cũng được Đặng Thị Thái Hà khai thác như Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời Đổi mới, hay Sinh thái - đô thị trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên (Phóng sự Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa thời kì đổi mới), Lê Trà My (Tản văn Việt Nam thế kỉ XX (từ cái nhìn thể loại) đã nghiên cứu các thể loại trên cơ sở sinh thái văn hóa (culture ecology)
Nhiều luận văn của học viên ở các trường đại học đã lựa chọn PBST đề nghiên cứu một trào lưu, một giai đoạn văn học hoặc các tác phẩm của nhiều nhà văn, nhà thơ trong nước lẫn nước ngoài Song song đó, chỉ trong một thời gian ngắn, các hội thảo về PBST được tổ chức liên tục Tháng 12 năm 2017, Hội thảo quốc tế “Phê bình sinh thái tiếng nói bản địa tiếng nói toàn cầu” được tổ chức tại
Trang 151 năm 2018 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Hội thảo thu hút khoảng 20 nhà nghiên cứu từ các nước Đông Nam Á cùng 60 nhà khoa học, phê bình Việt Nam tề tựu, thảo luận về các vấn đề phê bình sinh thái trong khu vực Đông Nam Á Đầu tháng 2 năm 2018, Hội thảo khoa học “Sinh thái: Lí luận và ứng dụng” đầy giá trị thực tiễn do trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Những Hội thảo này đã có sự góp mặt của các nhà nghiên cứu sinh thái hàng đầu với nhiều bài viết có giá trị
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp ở khu vực Đông Á, nơi có truyền thống về tình yêu thiên nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên đã xuất hiện từ khá lâu, song đó chưa phải là những vấn đề của sinh thái hiện đại Dù lí thuyết PBST đang được học giới Việt Nam dẫn nhập, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn sinh thái đã có những thực hành nhất định nhưng vẫn phải nhận định rằng dường như tất cả còn đang ở những bước khởi động Và mảng nghiên cứu này vẫn đang là mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều vẫy gọi
2.2 Các công trình liên quan đến sinh thái trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XXI, tác phẩm và con người nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (NNT - viết tắt) đến nay
đã thu hút rất nhiều bài viết lẫn công trình nghiên cứu cả trong nước, nước ngoài Tìm hiểu về những bài báo, bài phê bình về chị, người đọc nhận thấy điểm chung của chúng là đều ghi nhận nét riêng, đặc sắc, phong cách nhà văn và tiếp cận với bằng nhiều góc độ khác nhau
Trang web http://www.viet-studies.net đã dành một vị trí trang trọng cho nhà văn đất Mũi bên cạnh những cây cổ thụ văn hóa, văn học khác cùng với rất nhiều bài viết lẫn tác phẩm xưa nay của chị Riêng Trần Hữu Dũng, chủ nhân của
trang điện tử trên đã có một loạt bài như Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam (2004), Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư (2005), Nguyễn Ngọc Tư và Sông
(2012) nhấn mạnh cá tính riêng, phong cách riêng của nhà văn trẻ từ vùng sông
nước Cà Mau rất đặc trưng của Nam Bộ Văn Công Hùng có bài viết Bất tận với
Trang 16nhà văn trẻ Nam Bộ nghiêng về đánh giá kiểu nhân vật đặc trưng trong tác phẩm
của chị Nhà phê bình Bùi Công Thuấn lại nghiêng về cái nhìn tổng quan về hành
trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ những tác phẩm trước Cánh đồng bất tận, đến những tập truyện sau đó như Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy… qua bài Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi Trong đội ngũ các nhà phê bình, Nguyễn Trọng
Bình là một trong những người có nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc
Tư, như: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật về con người; Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình trở về… Qua các bài viết,
độc giả đã được thấy sự tiếp cận khá đa dạng từ nội dung đến tư tưởng, nghệ thuật trong sáng tác, đặc biệt là thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Phạm
Thái Lê quan tâm về Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư một cách rất riêng
Thế hệ đàn anh như Nguyễn Quang Sáng, Chu Lai, Nguyên Ngọc, Dạ Ngân, Trung Trung Đỉnh cũng đã chú ý, chăm chút Nguyễn Ngọc Tư khi tập
truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đoạt giải của Hội Liên hiệp văn học nghệ
thuật Việt Nam Trong lời đề tựa cho tập truyện trên, Nguyễn Quang Sáng đã nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thường, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc - mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta đã dày công khai phá…” (NNT, 2006, tr 3) Trong khi đó, nhà văn Chu Lai lại đánh giá gần như một cách
tuyệt đối: “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của văn học Việt Nam” (Hà Linh, 2006, còn Dạ
Trang 17Riêng truyện ngắn Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên “hội
chứng” hay “trào lưu” không chỉ trong giới phê bình nghiên cứu, độc giả mà cả với văn hóa xã hội Tới bây giờ thật khó thống kê những cuộc đối thoại, phỏng vấn, trao đổi liên quan đến truyện ngắn này với cả người trong cuộc lẫn bên ngoài đăng trên các báo, tạp chí Trong đó, có khá nhiều bài viết đáng chú ý, như:
Cánh đồng bất tận - nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật của Đoàn Ánh Dương; Lời “đề từ” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Phạm Phú Phong; Nỗi nhớ qua cánh đồng bất tận của Nguyễn Quang Sáng; Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận của Bùi Việt Thắng; Cảm quan Phật giáo trong Cánh đồng bất tận của Phan Thị Thu Hiền…
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, tiêu biểu như:
Khám phá thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Vũ Thị Thu Hà (2006), Đại học KHXH&NV Hà Nội; Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2008) với Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh; Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Đoàn Thị Tiến (Đại học Vinh, luận văn thạc sĩ, 2011); Lương Thị Thảo (2011) với Đặc sắc trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư, Đại học Đà Nẵng Nhìn chung, các công tình
trên chủ yếu tập trung vào truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và đã có những tìm tòi, đóng góp nhất định về việc khẳng định giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn
Ở mảng PBST có liên quan đến tác phẩm văn xuôi, đặc biệt là mảng tản văn của chị có những tiểu luận, chuyên luận đáng chú ý Về nghiên cứu khoa học
ứng dụng, Trần Thị Ánh Nguyệt có bài “Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (từ góc nhìn phê bình sinh thái)” Tác giả dựa trên cơ sở lí thuyết khoa
học nhân văn lấy “con người làm trung tâm” trước đó, để đề xuất cách nhìn nhận,
tiếp cận “trái đất làm trung tâm” Không gian sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Thụy Khê lại đề cập đến môi trường sống trong thể loại
Trang 18đất quê nhà trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư để nêu bật những vấn đề ý nghĩa, nóng bỏng của văn học đương đại nói riêng và nhân loại nói chung Phạm Ngọc
Lan đã tạo nên tiếng vang trong giới nghiên cứu với đề tài Tìm về với mẹ thiên nhiên: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái Trên cơ sở lí luận của sự mâu thuẫn/ mơ hồ sinh thái do Karen Thornber phát hiện ra trong chuyên luận Ecoambiguity Environmental Crises and East Asia Literature - một thực hành phê bình sinh thái về văn chương Đông Á, Đặng
Thị Thái Hà đã áp dụng vào nghiên cứu các tác phẩm văn học như tiểu thuyết
Sông, tập truyện ngắn Khói trời lộng lẫy, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác cùng một
số tản văn của Nguyễn Ngọc Tư trong Mơ hồ sinh thái và sự chất vấn những ảo tưởng du lịch sinh thái trong văn xuôi đương đại (trường hợp Nguyễn Ngọc Tư)… Tiểu luận này lấy điểm tựa từ lí thuyết mơ hồ môi trường của Karen
Thornber, người viết hướng đến khái quát cũng như đi sâu diễn giải hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại là Nguyễn Ngọc Tư Từ đó, tác giả đặt
ra những câu hỏi nghi vấn về những quan niệm cố hữu, về những ảo tưởng, tình thế mâu thuẫn trong ứng xử với môi trường tự nhiên hiện tại
Về luận văn nghiên cứu của học viên cao học, Nguyễn Thị Ngọc Lan đã
bảo vệ đề tài Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư với mục đích
qua những biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư có thể hiểu được bản chất, ý nghĩa của tự nhiên, hiện thực và truyền thống cũng như cơ sở gắn kết của
cả một cộng đồng Vào năm 2015, Lê Thị Thúy Nga đã nghiên cứu Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái để làm luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ trên cơ sở lí thuyết của PBST Công trình mới nhất là luận văn Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa của Nguyễn Thị Thúy Hà, Đại học Thái Nguyên
2017 được xem là tiệm cận nhất với thể loại tản văn Tuy nhiên, luận văn hầu như còn bỏ ngỏ mảng PBST trong lĩnh vực này Dù môi trường sinh thái vẫn là một đối tượng quan tâm hàng đầu của tác giả song thực sự chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc hay có mức độ xứng tầm với lĩnh vực sáng tác này
Trang 19nghiên cứu về sáng tác của nhà văn đến từ đất Mũi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sinh thái là vấn đề rộng Ở đề tài này, chúng tôi chỉ quan tâm đến hai phương diện chính là biểu hiện của sinh thái môi trường và sinh thái nhân văn trong bảy tập tản văn của Nguyễn Ngọc Tư
Các tác phẩm được khảo sát bao gồm:
- Sống chậm thời @, (In chung với tác giả Lê Thiếu Nhơn), NXB Thanh
niên, Hà Nội, 2006
- Ngày mai của những ngày mai, NXB Phụ nữ, 2007
- Biển của mỗi người, NXB Văn hóa Sài Gòn - Thời báo Kinh tế Sài Gòn,
Tp.Hồ Chí Minh, 2008
- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ - Thời báo Kinh tế Sài Gòn, TP Hồ
Chí Minh, 2008
- Yêu người ngóng núi, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2009
- Gáy người thì lạnh, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2011
- Đong tấm lòng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học và sinh thái học
Để góp phần làm rõ PBST là một lý thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác, giữa phân tích văn chương và những cảnh báo
về môi trường Kết hợp đồng bộ phương pháp nghiên cứu lịch sử, địa lí, văn hóa
để tìm hiểu, phân tích, lí giải những biểu hiện sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 20văn thể hiện trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
4.3 Phương pháp so sánh
Mục đích của phương pháp này nhằm so sánh với những tác phẩm ngợi ca sức mạnh con người trong công cuộc chinh phục, cải tạo tự nhiên với những tác phẩm có quan điểm ngược lại Qua đó, có thể thấy sự khác biệt về chủ thể và tư tưởng của những tác phẩm này
Người viết có tiến hành so sánh liên tưởng nội dung sáng tác trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư với một số tác giả cùng thế hệ với chị có tham gia sáng tác trong lĩnh vực này như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà, Võ Diệu Thanh… nhằm tìm thấy điểm gặp gỡ cũng như khác biệt về sở trường, phong cách riêng của nhà văn
Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học để nhận diện khuynh hướng văn xuôi sinh thái của Nguyễn Ngọc Tư qua thời gian, không gian, ngôn ngữ, giọng điệu…
5 Đóng góp của luận văn
Với mong muốn chỉ ra sự hòa kết giữa văn chương và sinh thái trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, trong luận văn này người viết tập trung tìm hiểu tản văn của chị từ góc nhìn phê bình sinh thái Tính đến thời điểm luận văn được tiến hành, chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề tài này ra đời Do
đó, chúng tôi rất hy vọng đề tài nghiên cứu vừa là một phát hiện thú vị trong sáng tác của nhà văn vừa đem đến cái nhìn sâu sắc, xuyên suốt nhằm có thể bổ sung thêm một số nhận định xác đáng, nhất quán, có giá trị bên cạnh những ý kiến đã
có trước đây về mảng sáng tác này của tác giả Mặt khác, kết quả nghiên cứu mong muốn góp phần khẳng định giá trị của dòng VHST trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam đương đại
6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm ba phần chính: phần dẫn nhập, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung gồm ba chương như sau:
Trang 21ánh
Chương 3: Sinh thái trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ nghệ thuật thể
hiện
Trong đó, nhiệm vụ của các chương:
Chương 1: Cung cấp một cái nhìn tổng quan về PBST từ đó tìm hiểu để
thấy được tản văn Nguyễn Ngọc Tư là sự hòa kết giữa văn chương và sinh thái
Chương 2: Tập trung tìm hiểu những biểu hiện của sinh thái trong tản văn
Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ nội dung Điều đó được thể hiện qua những hình ảnh biến dạng của hiện trạng làng quê, cảnh báo hiểm họa nhãn tiền từ môi trường thành thị cũng như những mai một về những chân giá trị lâu đời, sự lên ngôi của môi trường mang tính thực dụng và thông điệp về sinh thái qua những bài viết của nhà văn
Chương 3: Tìm hiểu sinh thái trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ phương
diện nghệ thuật Qua đó, chúng tôi thấy được sự hỗ trợ, cộng hưởng giữa các hình thức nghệ thuật như ngôn từ, giọng điệu, không gian và thời gian nghệ thuật mang đậm cảm quan sinh thái trong việc thể hiện của tác giả
Trang 22KHÁI LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI
VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Khái lược về phê bình sinh thái
Trong tiến trình phát triển của nhân loại thời hiện đại, giai đoạn từ nửa sau thế kỉ XX, theo sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, kinh tế - xã hội
là sự ô nhiễm môi trường và sinh thái đã bị loài người phá hủy một cách không thương tiếc Vì vậy, không chỉ những cuộc chiến tranh về tài nguyên, tôn giáo, sắc tộc, giới tính hay nghèo đói, nhân loại vẫn từng ngày phải chống chọi lại với nhiều thảm họa khác vừa là thiên tai nhưng cũng do nhân họa như trái đất nóng dần lên, lỗ thủng tầng ôzôn, núi lửa phun, động đất, sóng thần, bão lũ, cùng với nhiều loại ô nhiễm Tất cả không ngừng trút lên trái đất, gây ảnh hưởng tới môi trường và đe dọa sự sống của muôn loài Cộng đồng loài người nói chung đang phản ứng chậm hơn với tốc độ hủy hoại Dù vậy, nhiều phong trào xã hội cũng đang nỗ lực để bảo vệ môi trường và vì sự phát triển bền vững trái đất PBST là một trong những phong trào hoạt động có tiêu chí hàng đầu như thế Trước đó,
khái niệm sinh thái (ecological) của lĩnh vực khoa học tự nhiên đã trở thành tiêu
điểm bình luận của giới học thuật
1.1.1 Khái niệm sinh thái và văn học sinh thái
Trang 23theo nghĩa đen sinh thái học là môn học nghiên cứu về các sinh vật và nơi ở của chúng Hay theo nghĩa rộng, “Sinh thái học (STH - viết tắt) là môn học về tất cả các quan hệ giữa sinh vật và môi trường cùng các điều kiện cần thiết của chúng” (NTTTH, 2017, tr 20) STH là một ngành khoa học trẻ Thuật ngữ này chỉ thật
sự được ra đời vào năm 1869 do bác sĩ, nhà sinh vật học, nhà giải phẫu học so sánh người Đức Ernst Haeckel (1834 - 1919) đưa ra Trong chương trình “Sinh thái học và phân bố học”, ông định nghĩa STH là sự nghiên cứu điều kiện hữu cơ
và điều kiện vô cơ mà các sinh mệnh dựa vào đó Nghĩa là nó được hiểu như là môn học về mối tương quan giữa thế giới bên ngoài và các sinh vật Nhưng đến nửa sau thế kỉ XX, danh từ này được hiểu là việc bảo vệ thiên nhiên môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế
Năm 1935, STH hình thành tại các nước Anh, Mỹ nằm trong khoa sinh học Khái niệm then chốt của STH là môi trường, là hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống của sinh vật Môi trường có cấu trúc, chức năng, quy luật Theo độ nóng của vấn đề sinh thái toàn cầu, phạm vi của từ sinh thái ngày càng
mở rộng, ý nghĩa của thuật ngữ STH ngày càng cũng ngày càng rộng hơn, bao hàm toàn bộ khoa học sinh mệnh trên trái đất này Đến nay, nó đã xuyên thấm các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội như: chính trị học sinh thái, kinh tế học sinh thái, mỹ học sinh thái, triết học sinh thái, văn học sinh thái… Như vậy, nghiên cứu và tìm hiểu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã không còn giới hạn ở lĩnh vực STH của khoa học tự nhiên mà còn tiến vào lĩnh vực xã hội nhân văn Trong các phân nhánh đó, nhiệm vụ của STH văn hóa là
“nghiên cứu các quá trình thích nghi của một xã hội với môi trường của nó” (Nguyễn Văn Dân, 2017, tr 89) Nó xuất hiện chủ yếu ở Mỹ từ những thập niên cuối của thế kỷ XX Đến năm 1970, trước khủng hoảng sinh thái trái đất, chủ
nghĩa sinh thái (ecologism) ra đời Từ năm 1972, khi Hội nghị môi trường Liên
Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn môi trường nhân loại, toàn nhân loại đang đứng trước khủng hoảng môi trường chưa từng có Từ năm 1973, khi Arne Jonas
Trang 24nghiên cứu nhân văn đã có sự chuyển biến về phía sinh thái nhân văn (tinh thần) Triết học sinh thái, chính trị học sinh thái, kinh tế học sinh thái, nữ quyền sinh thái, văn học sinh thái… đều là những nhánh nghiên cứu mới Sinh thái trở thành một quan điểm, một thế giới quan mới, một quan niệm xuyên suốt để người ta nhìn nhận tự nhiên, xã hội, sự sống, hoàn cảnh, vật chất, văn hóa, nhìn nhận mọi vấn đề liên quan đến con người, trong đó có văn học Đặc biệt năm 1992, nước
Mỹ đã thành lập tổ chức Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường
(Association for the Study of Literature and Enviroment [ASLE]) Một trong
những nhiệm vụ của nó là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa, văn học với môi trường, với tự nhiên, nhưng văn học ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cà tác phẩm, công trình văn chương phi hư cấu (non fiction) Đây được xem
là một trong những tiền đề cho sự ra đời của PBST về sau
1.1.1.2 Văn học sinh thái
Một thực tế mà nhân loại không thể lẩn trốn là trái đất đang đang đối mặt với sự khủng hoảng môi trường ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng, kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường như khí hậu biến đổi, thiên tai tàn khốc, nguồn nước cạn kiệt Ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX, văn chương thế giới đã có hàng loạt tác phẩm đề cập đến nguy cơ sinh thái, hình thành nên một dòng văn học sinh
thái (VHST - viết tắt) lan tỏa khắp nơi Mùa xuân im lặng (Silent Spring) của nhà
sinh vật học hải dương người Mỹ Rachel Carson (1907 - 1964) ghi lại các tác động có hại của việc sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu lên môi trường, đặc biệt là với các loài chim Carson cho rằng ngành công nghiệp hóa chất phát tán thông tin sai lệch, và các quan chức của ngành công nghiệp lại chấp nhận chúng một cách mù
quáng Các nhà nghiên cứu thường cho rằng Mùa xuân im lặng là cột mốc mở
đầu của thời đại VHST Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa R Carson là người viết VHST đầu tiên trên thế giới Bởi nhà văn thường sáng tác từ những cảm thức
tự thân, cảm nghiệm và dự cảm cá nhân Vậy nên, trước R Cason, khi khủng hoảng môi trường chưa trở nên đáng báo động, đã có nhiều tác gia thành công
Trang 25Henry David Thoreau (1817 - 1862), Jack London (1876 - 1916)… Dù vô thức hoặc có thể chưa chủ động nhưng các tác giả này đã hình thành ý thức rất sớm về tính chất quan trọng của việc ứng xử hài hòa giữa con người với tự nhiên, để lại cho thế hệ sau những khởi nguyên tư tưởng sinh thái còn nguyên vẹn giá trị về thời gian
VHST còn có các tên gọi khác như: văn học sinh thái học, văn học môi trường, văn học tự nhiên, văn học xanh… ra đời khi mà các thảm họa về môi trường liên tục xảy ra, đe dọa nghiêm trọng đến sự bình yên, ổn định của sự sống trên trái đất “VHST là cách định danh đối với những tác phẩm văn học ra đời trong bối cảnh môi trường sinh thái ngày càng xấu đi, trong ý thức âu lo và trách nhiệm xã hội tiêu dùng ngày càng mạnh mẽ đối với vấn nạn này” (NTTTH,
2017,tr 80) Và nó chỉ thực sự bùng phát như một định hướng tư tưởng khi sinh thái tự nhiên và sinh thái tiêu dùng trong xã hội ngày một xấu đi Hai nguy cơ này đều xuất phát từ hậu quả của văn minh hiện đại Nền văn minh hiện đại mang lại cho con người một mặt mang lại cuộc sống tiện nghi, mặt khác mang đến quá nhiều tai họa sinh thái uy hiếp đến sự sống còn của nhân loại Những nguy cơ với sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội, sinh thái văn hóa với cảnh rừng nguyên sinh
bị xóa sổ, sông suối cạn nguồn, đất đai mòn bạc, biển nhiễm độc suy tàn, đạo đức xuống cấp, tâm thái mất cân bằng… đẩy loài người vào sự hoang mang, bất an, tổn thương, mất mát Điều đó tác động mạnh mẽ đối với các nghệ sĩ, trong đó có các nhà văn, khiến họ sáng tác ra những tác phẩm văn chương như để chuộc lỗi với tự nhiên - VHST Cũng cần nhấn mạnh rằng VHST không đơn thuần là văn học miêu tả tự nhiên một cách thông thường Nếu với cách nghĩ ấy, mọi người sẽ thấy sinh thái trong văn chương là vấn đề rất xưa cũ Sự ngộ nhận, mơ hồ về dòng văn học này còn khá lớn trong suy nghĩ của nhiều người “VHST là loại văn học lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái”
Trang 26chí cuối cùng để bình xét phương thức sống, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của nhân loại VHST lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái hoặc quan niệm chủ thể sinh thái làm kim chỉ nam để khảo sát mối quan hệ giữa tự nhiên và con người
Điểm xuất phát của VHST là nhu cầu tâm linh của nhân loại, then chốt là quan hệ sinh thành tương hỗ giữa con người và tự nhiên, xem xét tự nhiên ảnh hưởng như thế nào đến sự sinh tồn và tâm hồn con người Riêng đối với sáng tác VHST, chú trọng suy nghĩ sâu sắc của triết học sinh thái, làm sâu thêm thể nghiệm thẩm mĩ của văn hóa sinh thái, thu được phán đoán giá trị sinh thái chính xác, tìm kiếm phương thức cảm tri mới của cảm giác “gia viên” trong thế giới
Đối với sự cấu thành tác phẩm, VHST, chú trọng chủ nghĩa tự nhiên trung tâm và
sự hài hòa giữa con người và tự nhiên trong văn bản, thông qua tự sự văn bản làm mạnh thêm sự tu dưỡng của con người đối với tự nhiên, dưới sự dẫn dắt của văn bản tự sự, tìm kiếm tính khả năng có thể thoát khỏi nguy cơ sinh thái toàn cầu Đối với việc đọc, VHST nhấn mạnh thông qua đọc hiểu nâng cao thế giới quan tinh thần bên trong của tồn tại trong mẫu thể tự nhiên, đối với sự xấu đi của
tự nhiên và khó khăn của trái đất có cảm giác nguy cơ như chính mình trải qua, đồng thời kích thích thiên tính yêu sinh mệnh, hồi phục quan hệ hài hòa bên trong trong quan hệ giữa thế giới tinh thần và tự nhiên “Chúng ta khi đọc tác phẩm văn học, đối với cơ thể phức tạp điều tiết vai trò tương hỗ giữa con người
và môi trường được thể hiện trong văn bản có thể có lí giải mới Nghiên cứu văn học có ý thức môi trường mang đến cơ hội sâu rộng hơn, mang theo sự mẫn cảm mới đối với tiếng nói tự nhiên để đọc tác phẩm văn học Mấu chốt của sáng tạo
và đọc VHST là điều tiết lại mô hình tư duy trung tâm kiêu ngạo của con người,
từ đó không ngừng bước vào thế giới quan sinh thái trung tâm, từ đó có được cảm tri thẩm mĩ chính xác đối với khái niệm chỉnh thế toàn cầu đối với hình thức sinh mệnh và môi trường vật lí phi nhân loại” (Đỗ Văn Hiểu, 2013)
Trang 27tâm và không chấp nhận quan điểm cực đoan hóa chủ nghĩa sinh thái trung tâm,
đề cao chủ nghĩa sinh thái trung tâm khẳng định tính chỉnh thể của toàn bộ sinh vật, nhấn mạnh sự bình đẳng giữa con người và tự nhiên cùng vạn vật Tuy nhiên, nhà văn cũng không xem nhẹ năng lực, địa vị, tính chỉnh thể của con người, đảm bảo sự cân bằng, bình đẳng giữa con người với tự nhiên, tránh sự cực đoan một phía
Đặc trưng cơ bản thứ hai của VHST là “lấy chủ nghĩa sinh thái làm lợi ích cao nhất, kêu gọi tinh thần “chủ nghĩa sinh thái nhân văn” Chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất, kêu gọi con người tôn trọng giá trị nội tại của tự nhiên Chủ nghĩa sinh thái nhân văn là
sự tổng hợp và điều hòa đối với chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa sinh thái trung tâm” (NTTTH, 2017, tr 94) VHST còn chú trọng xây dựng sinh thái tinh thần của nhân loại, cho rằng biện pháp tốt nhất để giải quyết một cách căn bản nguy cơ sinh thái là giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên
Mặt khác, VHST nhấn mạnh “nơi chốn” (place) và “ý thức nơi chốn” (sense of place) “Nơi chốn” nếu trong phạm vi nhỏ là ngôi nhà, lớn hơn là trái
đất, vũ trụ Nhưng nơi chốn cũng có thể là bất cứ không gian nào đều có thể trở thành nơi trở về trên ý nghĩa tinh thần và tâm lý của nhân loại Xây dựng ý thức
về nơi chốn, VHST giúp con người quan tâm và gần gũi với nơi mình sinh sống, xem đó là nơi trú ngụ của tâm hồn để từ đó hình thành ý thức trách nhiệm VHST còn kết hợp “tính khoa học” và “tính văn học”, giữa tính khoa học của thể loại phi hư cấu và tính văn học đặc thù của loại hình nghệ thuật ngôn từ Tính khoa học thể hiện ở những kiến thức sâu rộng của nhà văn về lĩnh vực tự nhiên mà mình đang khai phá Tác phẩm đó có thể giúp người đọc hiểu biết nhiều hơn về thế giới mình đang sống, qua đó để yêu thương, trân quý và bảo vệ Đó là cách VHST tác động từ lí trí đến tình cảm của người đọc trên cơ sở khoa học Đồng
Trang 28Hơn nữa, điều dễ nhận biết về VHST bởi một đặc trưng lớn khác là có trách nhiệm sinh thái, phê phán mặt trái của văn minh, thể hiện lý tưởng sinh thái
và cảnh báo nguy cơ sinh thái VHST rất chú trọng đến trách nhiệm kèm theo nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, kêu gọi bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái, ca ngợi sự hi sinh vì lợi ích chỉnh thể của sinh thái Khuynh hướng văn học này đưa trách nhiệm của nhân loại đối với tự nhiên thành đạo đức chủ yếu Ngoài ra, nó truy tìm nguồn gốc của nguy cơ sinh thái Rất nhiều tác giả lên án quyết liệt với các hiện tượng tư tưởng, văn hóa, xã hội gây tổn hại đến môi trường sinh thái như: Chủ nghĩa nhân loại trung tâm; các quan điểm nhị nguyên luận, chinh phục và thống trị tự nhiên; chủ nghĩa tiêu dùng vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng; những cải tạo và phát triển phá vỡ cân bằng sinh thái… Mặt khác, bằng sự tưởng tượng và nhạy cảm của nhà văn, tác phẩm văn học viễn tưởng còn có thể dự báo những thảm họa sinh thái, cảnh báo nhân loại những nguy cơ sinh thái và hoài niệm hay mơ ước về một cuộc sống lý tưởng đầy trong lành, an ổn, hài hòa, bình đẳng
Bằng những đặc trưng của mình, VHST góp phần cảnh báo nhân loại rằng nguy cơ sinh thái không chỉ là vấn đề của riêng khoa học sinh thái học mà còn là vấn đề của xã hội Điều làm nên sự khác biệt của VHST với các loại hình văn học khác chính là tư tưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái Tuy nhiên, không vì coi trọng lợi ích sinh thái mà dòng văn học này coi thường hay phản nhân loại, bởi xét tận cùng lấy lợi ích sinh thái làm giá trị cao nhất cũng có nghĩa là đạt đến lợi ích căn bản và bền vững của nhân loại Nguy cơ sinh thái không còn giới hạn nội bộ một lĩnh vực, một lãnh thổ mà là nguy cơ của toàn nhân loại, nguy cơ mang tính toàn cầu Sự áp đặt của con người với tự nhiên sẽ liên quan đến sự áp bức của con người đối với con người trong xã hội Vì vậy đảm bảo sự cân bằng với tự nhiên là đảm bảo cân bằng xã hội
1.1.2 Phê bình sinh thái
1.1.2.1 Khái niệm và nội hàm của phê bình sinh thái
Trang 29Ngay khi xuất hiện, PBST đã không thuần nhất nên cũng có nhiều thuật ngữ khác được sử dụng cùng với nó, như: Nghiên cứu văn học và môi trường
(Study of literature and environment), “Sinh thái học văn học” (Literary ecology), “Phê bình văn học và môi trường” (Environmental literary criticism),
“Thi pháp sinh thái” (Ecopostics), “Phê bình xanh” (Green studies) hay “Phê bình văn hóa xanh” (Green Culture studies), “ Sinh thái lãng mạn” (Romantic ecology)… Giới nghiên cứu đã nhiều tranh luận về tên gọi thống nhất, trong đó hai thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất là PBST (Ecocricism), Nghiên cứu văn học và môi trường (Study of literature and environment) Theo giáo sư văn học
và môi trường Cheryll Glotfelty, phần lớn các học giả thống nhất thuật ngữ
“PBST (ecocricism) “vì nó ngắn gọn và có thể dễ dàng tạo thành dạng thức khác
là ecocritical (tính chất PBST) và ecocritic (nhà PBST) Hơn nữa, họ thích tiền tố
“eco-” (sinh thái) hơn tiền tố “enviro-” (môi trường) bởi vì theo nghĩa rộng mang quan điểm con người là trung tâm và có tính nhị nguyên, ngụ ý rằng, con người chúng ta là trung tâm, tất cả mọi thứ xung quanh ta là môi trường Ngược lại, tiền
tố “eco-” (sinh thái) ám chỉ vạn vật cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một
hệ thống và những yếu tố trong hệ thống đó luôn có sự hòa hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau” (NTTTH, 2017, tr 139)
PBST hấp thu không phải là thành quả nghiên cứu cụ thể của khoa học tự nhiên mà là tư tưởng cơ bản của sinh thái học, hoặc nói chính xác hơn là tư tưởng triết học sinh thái Triết học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của PBST Karl Kroeber (1926 – 2009) đã luận thuật rõ ràng về điểm này Ông nói: “PBST không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học Nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi” (Đỗ Văn Hiểu, 2013)
Vậy thế nào là PBST? Các học giả trên thế giới đưa ra nhiều khá nhiều khái niệm về khuynh hướng phê bình này Bắt đầu từ JosephMeeker cha đẻ của cuốn “Hài kịch của sự sinh tồn: nghiên cứu trong STH văn học” (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology, 1972), định nghĩa thuật ngữ: “STH văn
Trang 30học” (literary ecology) sau đó lần lượt William Rueckert, James S Hand, Scott
Slovic, Cheryll Glotfelty, Vương Nặc… đều đưa ra định nghĩa về nó Năm 1994, tại hội thảo khoa học về PBST ở thành phố Salt Lake (Mỹ), các học giả đã tập trung thảo luận về định nghĩa của thuật ngữ PBST Tuy nhiên, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy tiếng nói chung, đồng thuận cao nhất ở một định nghĩa cụ thể nào Năm 1996, trong lời giới thiệu cho “Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology), Cheryll Glotfelty đưa ra định nghĩa về PBST như sau: “PBST
là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” Bà còn giải thích thêm “Toàn bộ PBST có chung một tiền đề cơ bản là văn hóa nhân loại được gắn kết với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới đó PBST lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là văn hóa sáng tạo về ngôn ngữ và văn học làm chủ đề Với tư cách là một quan điểm phê bình, PBST đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” (NTTTH, 2017, tr 45) Đây được coi là một kiến giải được giới nghiên cứu nhất trí cao nhất trong các định nghĩa về PBST trước đó Các công trình, tiểu luận liên quan đến PBST ở Việt Nam hầu hết đều đồng tình với nhận định này Bởi định nghĩa của Cheryll Glotfelty đã thể hiện rõ sứ mệnh quan trọng nhất của
nó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, truy tìm nguồn gốc văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Đây là yêu cầu chính của chủ nghĩa sinh thái Và đây cũng được xem là điểm nổi bật của định nghĩa ngắn gọn này Bên cạnh đó, giáo sư người Mỹ đã chỉ rõ rằng: PBST đứng một chân ở văn học, tức xem xét đặc điểm nội tại như tính thẩm mỹ và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học; một chân đứng ở trái đất, nghĩa là đứng ở góc
độ của toàn bộ hệ thống sinh thái để suy nghĩ vấn đề Định nghĩa này cũng có tính gợi mở như PBST cần bao hàm hai phương diện, đó là chỉnh thể sinh thái và thẩm mỹ sinh thái Tuy nhiên, phải bổ sung thêm phần diễn giải để làm rõ hơn tính chất nghệ thuật của phê bình văn học thì định nghĩa lại trở nên quá dài Trên
cơ sở tổng hợp và phân tích từ nhiều định nghĩa tiêu biểu của các nhà nghiên cứu
Trang 31như Scott Slovic, Cheryll Glotfelty, Lawrence Buell, Vương Nặc,… Nguyễn Thị Tịnh Thy đã có một đề xuất một định nghĩa PBST khá hoàn chỉnh: “ PBST là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (NTTTH, 2017, tr 157)
Giống như chủ nghĩa hậu hiện đại, nội hàm căn bản của PBST là tính giải cấu trúc mạnh mẽ của nó, biểu hiện ở các đặc điểm lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, lật đổ và tái thiết, tính đối thoại… Trong quan hệ với tự nhiên, nhân loại đã từng trải qua nhiều cảm thức Đó là sự sợ hãi, sùng kính tự nhiên ở thời
cổ đại, sự thân thiện và chan hòa ở thời trung đại, sự xem thường và cưỡng đoạt
tự nhiên ở thời hiện đại Bước vào thế kỷ XX, cùng với sự tiến bộ của khoa học
kĩ thuật, nhân loại tự cho mình đặc quyền chinh phục và tước đoạt tự nhiên Quan điểm hiện đại đề cao tư duy lý tính, coi trọng “tập quyền” Cũng chính vì vậy, các lý thuyết phê bình văn học trước đó như chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa tân lịch sử,… đều lấy luận thuyết “nhân loại trung tâm” làm nền tảng Ngược lại với quan niệm trên, quan điểm giải cấu trúc, hậu hiện đại đề cao nguyên tắc “lệch tâm”, nguyên tắc “tản quyền” Các nhà PBST phê phán quyết liệt và phản đối “trung tâm luận” của văn hóa hiện đại Họ chỉ ra sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa “nhân loại trung tâm” trong nội hàm của chủ nghĩa hiện đại
Sự sai lầm trong nhận thức chính là nguyên nhân của nguy cơ sinh thái Vì thế, chỉ có thông qua giải cấu trúc triệt để “chủ nghĩa nhân loại trung tâm” mới làm giảm đi sự nguy hại đối với tự nhiên, cũng là sự nguy hại đối với nhân loại Từ
sự hoài nghi và phản đối “chủ nghĩa nhân loại trung tâm”, các nhà PBST đã dịch chuyển trung tâm bằng sự đề cao “sinh vật trung tâm”, “trái đất trung tâm”, “sinh thái trung tâm” Từ việc lấy con người làm trung tâm đến việc lấy sinh vật, trái đất làm trung tâm là một sự thay đổi rất lớn trong nhận thức nhân loại bởi sự dịch chuyển này cũng đồng nghĩa với một đề xuất, một cái nhìn bình đẳng đối với vạn vật Các nhà STH cho rằng mỗi hành vi, phẩm chất thành quả của con người đều phải được xem xét trong mối quan hệ với tự nhiên Như vậy, tự nhiên
Trang 32trở thành thước đo giá trị của hành vi con người Con người không còn được độc quyền trong mọi việc mà đã bị “tản quyền” PBST cũng cho rằng, quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ, là chủ nhân của hành tinh này, là động vật bậc cao nhất và có quyền thống trị tất cả thảy là một “đại tự sự” cần xóa bỏ
Giải cấu trúc trong PBST là những tín hiệu cho thấy sự cách tân, sự phản
tư của một trào lưu phê bình văn học gắn với những thực trạng xã hội loài người mang tính toàn cầu Từ đặc điểm giải cấu trúc - hậu hiện đại, nó sẽ giúp người đọc phát hiện những tư tưởng, giá trị, ngôn từ tưởng như đã bị lãng quên, hoặc không được quan tâm trong văn bản, qua đó bổ sung và tin tưởng thêm những công năng, giá trị xã hội của văn học PBST cũng gắn với tinh thần phản tư về những phương thức sản xuất, những quan niệm nhân sinh; phê phán sâu sắc với
“tính hiện đại”, đau đớn ngăn cản những mặt trái của văn minh công nghiệp Nó không chỉ chú trọng “tính văn học” của văn chương mà còn bộc lộ sự phê phán mạnh mẽ, phản tư một cách sâu sắc Vì vậy, PBST còn giúp “làm xanh lại nghiên cứu văn học, đưa văn học trở thành một ngành khoa học mở, vượt ra khỏi chuyên môn hẹp của mình, hấp thu khoa học địa lý nhân văn, tâm lý học, xã hội học nhân loại, triết học, sử học…” (NTTTH, 2017, tr 175)
1.1.2.2 Vai trò của phê bình sinh thái với văn học Việt Nam đương đại
“Có lẽ trong lịch sử nghiên cứu văn học chưa từng có một trào lưu nghiên cứu nào mang một sứ mệnh đặc thù như PBST Sứ mệnh của PBST là nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái” (Đỗ Văn Hiểu, 2012) Sinh thái hiện đang là vấn đề toàn cầu, đồng bộ ở các nước, không phân chia biên giới, thể chế chính trị, giai tầng xã hội Mặc dù căn nguyên tư tưởng ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, nhưng nguy cơ sinh thái hiện nay cũng như giải quyết nó là vấn đề chung đòi hỏi cộng đồng các quốc gia cùng góp sức Nghiên cứu văn học thế giới đã trải qua nhiều lần chuyển trung tâm, như chuyển từ tác giả sang văn bản, người đọc, văn hóa và đến PBST, mặc dù vẫn tiếp tục xu hướng ngoại hóa trong nghiên cứu văn học nhưng đã mang một sứ mệnh hoàn toàn mới Mang một sứ mệnh cao cả này, một phần rất lớn là PBST ra đời không phải từ khát vọng sáng lập lí
Trang 33thuyết mới của các nhà phê bình, cũng không phải xuất phát từ nội bộ nghiên cứu văn học, mà là từ sự thúc đẩy của nguy cơ sinh thái Không ít người đã dự đoán rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của trào lưu sinh thái hiện nay, là thời đại của việc sáng lập văn minh sinh thái, nguy cơ lớn nhất mà loài người phải đối mặt hiện nay là nguy cơ sinh thái Các nhà PBST ý thức được rằng, văn học nhân loại cần phải có trách nhiệm với nguy cơ này, bởi bản thân văn học cũng là một trong những nguyên nhân văn hóa sâu xa tạo nên nguy cơ đó Bởi vì “chúng ta làm gì đối với sinh thái phụ thuộc vào quan niệm của chúng ta về quan hệ giữa con người và tự nhiên” (Đỗ Văn Hiểu, 2012) Nhà văn, nhà phê bình phải thông qua cải tạo văn học, cải tạo quan niệm văn học để hạn chế mắc lỗi với tự nhiên và thậm chí chuộc lỗi với tự nhiên Nhà xã hội học kiêm sử gia và là nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ W.E.B.Du Bois từng dự đoán: Vấn đề chung rộng lớn của thế kỷ 20 là vấn đề chủng tộc Đến đầu thế kỷ mới, dấu tích của vấn đề này vẫn không hề phai mờ Nhưng, còn một vấn đề có lẽ là bức thiết hơn, đó là đối với tuyệt đại đa số cư dân trên địa cầu, nếu như không tiến hành cải cách mạnh mẽ phương thức sống hiện nay, thì trái đất liệu có còn sức sống nữa hay không?
Như vậy, sứ mệnh của PBST là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên,
đã dẫn đến nguy cơ sinh thái Từ đây có thể thấy, PBST là một khuynh hướng nghiên cứu mang đậm tinh thần phê phán văn hóa PBST muốn hướng đến cải cách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát triển, xây dựng văn minh sinh thái
PBST không chỉ lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng mà còn lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo Nếu không xác định được nguyên tắc mỹ học riêng, hướng phê bình này sẽ không khác gì các hoạt động nghiên cứu môi trường thông thường PBST phải “một chân đặt ở địa cầu, một chân đặt ở văn học” Lý Khánh Bản cho rằng: “Trên cơ sở sinh thái chỉnh thể luận, chủ trương của mĩ học sinh thái là thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, con người và bản thân chứ không phải là
Trang 34con người chiếm hữu, chinh phục và cải tạo tự nhiên, không chủ trương quan điểm lao động sáng tạo ra cái đẹp” (Đỗ Văn Hiểu, 2012)
Trước tiên, thẩm mỹ sinh thái là thẩm mỹ mang tính tự nhiên, nó không phải là sự trừu tượng hóa trên cơ sở kinh nghiệm thẩm mỹ cụ thể, cũng không phải là thông qua đối tượng cụ thể thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của chủ thể thẩm mỹ Trong thẩm mỹ sinh thái không tồn tại quan hệ chủ thể - khách thể, con người cảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẩm mỹ Mặc dù trong lịch sử mỹ học, cái đẹp tự nhiên vẫn được bàn đến, nhưng phần lớn các nhà tư tưởng đều coi cái đẹp nghệ thuật, cái đẹp trong cuộc sống đẹp hơn cái đẹp tự nhiên Nếu có thừa nhận, coi trọng cái đẹp tự nhiên thì thường cho nó là sự ngoại hóa của sức mạnh hoặc thế giới tinh thần của con người Với thẩm mỹ sinh thái, những gì có lợi cho sự ổn định, hài hòa của hệ thống sinh thái mới là Đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn định sinh thái sẽ bị coi là Xấu Trong mỹ học truyền thống, con người trở thành tiêu chuẩn, thành thước đo, còn đến PBST, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức của thẩm mỹ sinh thái, chỉ có cảm thụ một cách vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được càng nhiều cái đẹp, cái kì thú của tự nhiên
Đối tượng của PBST không phải chỉ là VHST hay những tác phẩm miêu
tả phong cảnh tự nhiên Có miêu tả tự nhiên hay không không phải là điều kiện tất yếu để triển khai PBST Chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, thậm chí, tác phẩm văn học cho dù hoàn toàn không đả động gì đến cảnh vật tự nhiên, mà chỉ bàn đến chính sách phá hoại sinh thái, bàn đến một phương thức sống của xã hội tiêu dùng, một sự kiện ô nhiễm môi trường… đều có thể trở thành đối tượng quan tâm của PBST Cho nên, dùng góc nhìn sinh thái, có thể khảo sát văn học đông tây kim cổ, đặc biệt là những tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng lớn đến văn minh nhân loại cũng như biến động xã hội; có thể tiến hành đọc lại các tác phẩm trong quá khứ, tìm ra ý nghĩa sinh thái tiềm ẩn trong đó, tất nhiên, cũng bao hàm việc chỉ ra những hạn chế của nó trong tương quan với
Trang 35chỉnh thể sinh thái Điều này, sẽ góp phần bổ sung cho những khuyết thiếu trong lịch sử nghiên cứu văn học nhân loại Chẳng hạn, ngay trong thần thoại, suốt bao nhiêu năm, giảng dạy và nghiên cứu luôn đề cao khát vọng khám phá, chinh phục
tự nhiên, nhưng nếu nhìn từ góc độ sinh thái, vấn đề đã trở nên khác biệt Hay nói cách khác, dòng lý luận này đã “lộn trái phê bình ra” (Hoàng Tố Mai (chủ biên, 2017), tr 28) Điều này có nghĩa là chiến lược của nó xoay chuyển sự chú ý
từ trong ra ngoài, đó dường như chỉ là sự sắp đặt được mang từ những ngoại vi phê bình tới trung tâm phê bình Đọc văn bản chuẩn mực theo kiểu PBST, nó sẽ thêm vào những góc nhìn khác biệt, chúng không bị giới hạn trong những tác phẩm nghiêng hẳn về tự nhiên
Với việc hướng tới quan hệ giữa văn học và tự nhiên dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là tư tưởng chỉnh thể sinh thái, làm rõ căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, đồng thời chú ý đến thẩm mỹ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật khác của văn học, PBST đã tự tạo cho mình một diện mạo mới Nhưng do sự phổ cập tư tưởng sinh thái cũng như xây dựng văn minh sinh thái vẫn còn dừng lại ở mức độ nhất định, yêu cầu cân đối giữa “nhân loại trung tâm luận” và “sinh thái trung tâm luận” vẫn còn nhiều vấn đề Hơn nữa văn học hàng nghìn năm hầu hết là sản phẩm được sáng tạo trên nền tảng tư tưởng “nhân loại trung tâm luận”, cho nên, sự mở rộng, phát triển của PBST cũng gặp không ít trở ngại Phát triển PBST ở Việt Nam, bên cạnh những khó khăn chung, còn gặp những khó khăn riêng do hoàn cảnh đặc thù, vì PBST là một bước tiến dài trong hành trình “ngoại hóa” của nghiên cứu văn học phương Tây, nó ít nhiều có nền tảng trong chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu văn học, trong khi đó, thành tựu của sự chuyển hướng này ở Việt Nam chưa thực sự
rõ rệt Tuy nhiên, nguy cơ sinh thái đang là vấn đề của toàn cầu, trong truyền thống văn học Việt Nam cũng có không ít nhân tố sinh thái… Cho nên, việc phát triển PBST ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay là cần thiết và có cơ sở
Mặt khác, nếu STH tự nhiên, dựa theo quan điểm của sinh học lấy mục tiêu cao nhất là hệ sinh thái cân bằng cho năng suất sinh học hay sinh khối tối đa, thì STH nhân văn dựa trên quan điểm lấy mục tiêu cao nhất là hệ sinh thái cân
Trang 36bằng đưa lại điều kiện sống tốt nhất cho con người (cả hai mặt môi trường và sự phát triển) STH tinh thần là sự kết hợp của hai từ tinh thần và STH Các học giả phương Tây như Llewellyn Vaughan-Lee (Anh), Leslie Sponsel (Mỹ) đưa ra khái niệm ngắn gọn và có tính thời sự hơn: STH tinh thần “là phản ứng tinh thần đối với cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay” (NTTTH, 2018, 144) Thực ra
“PBST tinh thần” có thể được hiểu là “STH tinh thần” với tư cách là một phân nhánh của STH Các nhà khoa học trên thế giới quan niệm rằng STH tinh thần là nghiên cứu mối quan hệ giữa vấn đề môi trường tự nhiên với tinh thần, tín ngưỡng và tôn giáo Họ khẳng định rằng những yếu tố tinh thần, tôn giáo là gốc
rễ của các vấn đề môi trường; yêu cầu cấp bách để giải quyết nguyên nhân căn bản của các vấn đề môi trường không phải là những giải pháp chính trị, kinh tế hay khoa học kỹ thuật, mà là tinh thần Vì thế, việc bảo vệ môi trường hiện nay cần bao gồm các lĩnh vực tinh thần, tôn giáo và tâm linh; bao gồm nhận thức và hành động tham gia vào các vấn đề sinh thái Nhận thức là điều cơ bản nhất của STH tinh thần Con người có thể dễ nhận thấy được những dấu hiệu bên ngoài của khủng hoảng sinh thái như sự ô nhiễm nguồn nước, biến mất các loài và biển đổi khí hậu Nhưng chúng ta khó nhận thức được những thay đổi bên trong, đặc biệt là khi nền văn hoá phương Tây đã nhiều thế kỷ loại bỏ thế giới bên trong, tuyên bố rằng chỉ có thế giới vật chất là có thật Vậy là trong nội tâm, trong tâm hồn chúng ta đang có một cuộc khủng hoảng nguy hiểm không kém cuộc khủng hoảng bên ngoài Cho nên, đánh thức tâm linh, nối lại sợi dây thiêng liêng đã từng bị đứt giữa tâm linh con người với thế giới tự nhiên, nhận biết những khủng hoảng bên trong để tìm lại sự cân bằng cho bản thân và toàn thế giới là một vài trong số những cách mà các nhà STH tinh thần mang lại cho chúng ta nhận thức
về bản chất thiêng liêng của thế giới và trách nhiệm của chính mình
Với tiềm năng to lớn của nó, PBST là một trong những khuynh hướng nghiên cứu văn học có giá trị tiên phong trong thời đại khủng hoảng môi trường của nhân loại Tuy nhiên nó không thể thay thế các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình văn học khác Bản thân các nhà PBST cũng không phủ nhận những vấn
đề xã hội, văn hóa, sắc tộc đang cần được quan tâm và giải quyết từ nhiều góc độ
Trang 37khác nhau Song, ý nghĩa khoa học của PBST là hết sức rõ nét, nó được toát lên
từ tư tưởng tìm kiếm hài hòa giữa con người với tự nhiên Đây có thể coi là một
tư tưởng đầy tính nhân văn nhằm điều chỉnh mâu thuẫn trong phát triển, không vì phát triển mà hủy hoại môi trường Bởi hủy hoại môi trường sinh thái là con người đang hủy hoại mình và hủy hoại mưu cầu hạnh phúc của nhân loại Với tư cách là một diễn ngôn khoa học, trên cơ sở phân tích và truy vấn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, PBST góp phần làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, điều chỉnh những nhầm lẫn tai hại về môi trường sinh thái, biết lắng nghe tiếng nói của tự nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững
1.2 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư - sự hòa kết giữa văn chương và sinh thái
1.2.1 Sơ nét về thể loại tản văn
1.2.1.1 Khái niệm tản văn
Có lịch sử hàng trăm năm nhưng đến thế cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, tản văn mới đang nổi lên như một thể loại chính của văn học Việt Nam; những năm gần đây, thể loại này có sự bùng nổ cả về số lượng người viết, đầu sách được xuất bản và người đọc Về phía người viết, tản văn hấp dẫn bởi nhiều lý do, trong đó có nhu cầu chia sẻ cảm nghĩ, hoài niệm, kinh nghiệm sống Nhiều nhà văn có tiếng cũng thử sức với nó Còn về phía độc giả, trong cuộc sống gấp gáp hiện nay, tản văn được cho là hấp dẫn “fast food” (đồ ăn nhanh), bởi số lượng chữ ít, chỉ một vài trang, độc giả không tốn quá nhiều thời gian để thưởng thức Người người viết tản văn, nhà nhà viết tản văn nhưng để tên tuổi, tác phẩm trụ lại trong lòng độc giả thì không nhiều Có nhiều tên gần nghĩa hoặc tương đồng cho thể tản văn “Gần nghĩa, và cả đồng nghĩa với Tạp văn, có nhiều từ khác nữa: Mạn đàm, Nhàn đàm, Tạp luận, Tùy bút, Tùy tưởng, Giai thoại, Thi thoại, Đoản văn… Mỗi từ lại cho thấy một thiên hướng của thể loại này: có loại thiên về bàn luận về một vấn đề gì đó từ xã hội, kinh tế, đạo đức cho đến thời trang, ẩm thực, quan hệ con người, gọi là Mạn đàm, Nhàn đàm, hay gọi chung là Tạp luận; có loại thiên về cảm xúc, suy tư thì gọi là Tùy tưởng, Tùy bút; loại chuyên kể thuật hay bàn về thơ văn thì gọi là Giai thoại, Thi thoại” (Đoàn Lê Giang, 2018)
Trang 38Vậy từ nào thích hợp nhất để gọi chung cho thể loại này? Và định nghĩa
nào là chính xác, đầy đủ? Ở Từ điển văn học bộ mới (nhà xuất bản Thế giới),
chúng tôi không thấy tản văn mà có khái niệm của tạp văn Đó là “một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý
nghĩa văn học Từ tạp văn vốn xuất hiện trong sách Văn tâm điêu long của Lưu
Hiệp, song trong công trình đó từ này còn dùng để chỉ chung các thể loại văn chương” (Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên, 2004), tr 160) Tuy nhiên, Từ điển Thuật ngữ Văn học lại đưa ra khái niệm:
“Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc
lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả” (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, 1992, tr 293) Dù không phải là một nhưng tạp văn là một thể loại nhỏ hơn tản văn, được phân hóa ra từ tản văn bởi có cùng đặc điểm nghệ thuật, nhưng xét về phạm vi đề tài thì tạp văn chuyên viết về những đề tài mang tính chính luận, tính luận bàn những vấn đề khá phổ biến trong xã hội, còn tản văn và tạp bút thì vẫn chưa ngã ngũ Đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định rõ chúng là một nhưng cũng chưa có sự phân biệt nào đủ
rõ để nói rằng chúng độc lập nhau Cả hai đều là những thể loại thuộc ký và không có ràng buộc nhiều trong quy tắc sáng tác Vì có nhiều tương đồng nên trong đời sống văn học hiện nay người ta không còn quan trọng việc phân biệt các thể loại trên Người đọc không thực sự quá câu nệ phải chính xác là tản văn, tạp văn hay tạp bút Riêng Đoàn Lê Giang (2018) đã rất “thôi xao” khi nói về thể loại này và cho rằng gọi là “đoản văn” (tập đoản văn), tức là văn ngắn là phù hợp nhất Đoản văn có hàm nghĩa rất rộng, tương tự như từ Essay, tức là từ đàm, luận cho đến suy tưởng hay giai thoại Nó là một thể văn trung gian giữa văn học và báo chí” Tuy nhiên, xét theo quán tính, tên gọi này dường như chưa được phổ biến với nhiều bạn đọc Tạp văn cũng không phải là tên gọi ưa thích của nhiều
Trang 39người vì từ “tạp” gợi sự tạp nham, ít màu sắc văn chương Vì vậy, phổ biến nhất cho tên gọi của thể loại văn học ít hư cấu, ngắn gọn, tự do, linh hoạt, dung hợp cả trữ tình và tự sự vẫn là tản văn Trần Đình Sử (2009) trong bài “Tản văn Việt Nam hiện đại - một thể loại bị lãng quên”, chỉ ra rằng: “dung lượng ngắn, cách viết đa dạng, có thể tự sự, trữ tình, bình luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau, tản văn nói được bao nhiêu điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ ”
1.2.1.2 Đặc điểm của tản văn
Dù được cho là “thức ăn nhanh” của “thời số hóa” nhưng tản văn vẫn có những điểm riêng biệt với thể loại khác Đặc trưng cơ bản của tản văn là tính chủ quan, là sự có mặt đầy bản lĩnh của chủ thể sáng tạo, vì thế, đậm chất trữ tình vì ghi lại thế giới tâm hồn, giãi bày tâm trạng của chủ thể Tản văn đòi hỏi phải có
“cảm nhận” mới có “giãi bày”, cho nên nó tất yếu viết về những gì tác giả tự mình trải qua, tự mình cảm thấy, cái có trong nội tâm của mình Đề tài là cái có thể gặp nhưng không thể cầu, tản văn muốn bám vào chính con người, cho nên tất yếu sẽ phải dựa vào tình cảm chân thành, thể nghiệm độc đáo, mà tất cả những điều này đều yêu cầu một sự lịch duyệt trong cuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương đương, khó được cóp nhặt chắp vá
Cũng vì vậy, tản văn là thể phi hư cấu Một phần vì mức độ khảo cứu được tán ra trong đó Nhờ thao tác khảo cứu, nhiều tản văn thoát khỏi sự dùng dằng quá lâu trong hồi ức, tâm tình cá nhân để trình hiện những hiểu biết, mô tả khách quan về đối tượng quan tâm Phẩm chất này đòi hỏi người viết tự mình tiến thêm một bước trong việc lựa chọn đề tài, nội dung mà bản thân am tường nhất Tản văn thoạt mới nhìn giống như kiểu mùa nào thức ấy nhưng thực chất trong đó thường là những phi tiêu cắm sâu vào vốn văn hóa, tri thức đang tích lũy Viết tản văn cũng là viết văn và nó không là ngoại lệ nên cũng luôn đòi hỏi lắm công phu
Về hình thức, tất cả những yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức
tự do, phóng túng, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay là bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện, nó đều ít có tính quy phạm, cách thức, hạn chế, tất cả
Trang 40đều lấy cảm nhận và giãi bày của tác giả làm trung tâm Hơn nữa, đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, cơ hồ như không gì nó không nói đến, không có gì là không thể đưa vào ngòi bút của người viết tản văn; bất luận là tìm hiểu vũ trụ, than thở về nhân sinh hay là cỏ cây hoa lá, cá chim, muông thú tất cả đều có thể trở thành đề tài của tản văn Qua ngòi bút điêu luyện của một số tác giả, tản văn lại có thể bao hàm triết lí sâu sắc, tình ý đậm chất thơ, từ đó tạo ra sức hấp dẫn đối với người đọc Do sự rộng lớn về đề tài của tản văn nên nó còn được gọi là
“viện bảo tàng của cuộc sống”
Dung lượng tản văn thường ngắn gọn, cô đọng Khuôn khổ của nó thường nhỏ Tản văn cổ đại thông thường chỉ 100 chữ, tất cả chỉ 100 chữ - rất ngắn, tản văn hiện đại cũng chỉ tương đương nghìn chữ Hình thức thể loại này khá linh hoạt, nó có liên hệ giao nhau với các thể loại khác, khi cần có thể lảnh lót như thơ nhưng cũng có lúc hùng tráng như quân ca hay khúc chiết sinh động như tiểu thuyết Đồng thời, do kết cấu của tản văn rất tự do khiến người đọc có cảm giác tản mạn, nhưng không phải là lộn xộn, phi văn chương, mà là trong cái tản mạn
có trật tự, trong cái tản mạn có văn chương Mặc dù tản mạn là hiện tượng bên ngoài, nhưng thống nhất về ý tưởng, chủ đề là bản chất bên trong Đó mới là cái căn bản trong kết cấu tưởng rất tự do ấy Ngôn ngữ tản văn bóng bẩy, trong sáng, súc tích, tươi mới, tự nhiên Chủng loại của nó cũng rất phong phú đa dạng, bất
kể từ góc độ nào, căn cứ nào đều có thể chia thành rất nhiều loại Thông thường thì người ta căn cứ vào đối tượng và hình thức thể hiện để chia thành ba loại: tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận Tuy nhiên cũng khó phân biệt rạch ròi vì không có ranh giới rõ ràng giữa các yếu tố trên
Lối viết tung tẩy, bay bổng đầy ẩn ý qua các câu chữ của từng bài viết đã làm cho tản văn chiếm một chỗ đứng rất quan trọng trên các trang báo giấy hiện nay Nó đã tự khẳng định rằng ngày nay tản văn đã trở thành là một hình thức văn chương trên báo viết, phản ánh trung thực về con người và các vấn đề xã hội đang diễn ra từng giờ hay từng khoảnh khắc Không chỉ thế, tản văn cũng thể hiện ưu thế và sức mạnh của mình trên các trang văn chương mạng Với những đặc điểm như ngắn gọn, đầy đủ mà sâu sắc đã làm cho tản văn thu hút được bạn