* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu luận văn Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậ
Trang 1TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC
VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM
TRỌNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2007
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2Chương 1: sự hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm
trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế trong luật hình
sự việt nam
5
1.1 Sự hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm
trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế trước pháp điển
1.2 Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
trong Bộ luật hình sự đầu tiên của đất nước đã thống nhất năm
1985
16
1.3 Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây
hậu quả nghiêm trọng trong Bộ luật hình sự năm 1999
22
1.3.1 Phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
gây hậu quả nghiêm trọng không có các tình tiết định khung
Trang 3Chương 2: nhận thức chung về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
29
2.1 Khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
29
2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
31
2.2.3 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm 54
2.3 Phân biệt tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với một số tội phạm khác
63
2.3.1 Phân biệt giữa tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999) với tội tham ô tài sản (Điều 278 Bộ luật hình sự năm 1999)
64
2.3.2 Phân biệt giữa tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999) với tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142
Bộ luật hình sự năm 1999)
69
2.3.3 Phân biệt giữa tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999) với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
71
Trang 4Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
hình sự về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản
lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
74
3.1 Những yêu cầu khách quan trong hướng hoàn thiện tội cố ý
làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu
quả nghiêm trọng
74
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình
sự về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng
81
3.2.2 Công tác thực thi và áp dụng pháp luật 85
Trang 5Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới, chúng ta còn không ít những khó khăn, tiêu cực trong xã hội
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế xã hội nước ta có những bước phát triển mạnh
mẽ Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường mang lại, thì mặt trái của cơ chế thị trường cũng tác động đến đời sống xã hội, do
đó, tình hình vi phạm pháp luật cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, đặc biệt là những tội phạm kinh tế nói chung và tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng
Theo thống kê của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa
án dân nhân tối cao tội phạm kinh tế mặc dù chỉ chiếm 12% - 15% trong tổng
số tội phạm xảy ra trên toàn quốc nhưng thiệt hại về kinh tế chiếm đa số trong tổng số thiệt hại về tài chính do tội phạm gây ra [57, tr 131] Tội phạm kinh
tế, nhất là nhóm tội phạm tham nhũng, cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng có chiều hướng gia tăng cả về số lượng cũng như quy mô và tính chất
Trang 6quy mô, tính chất phức tạp, nó liên quan đến rất nhiều các ban ngành và đoàn thể cho nên vấn đề đấu tranh, phòng chống tội phạm kinh tế luôn là vấn đề nóng trong xã hội
Nhiều vụ việc đã được phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm kinh tế nói chung và tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nói riêng Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều trường hợp đã được chia nhỏ để chuyển sang
xử lý hành chính nhằm trốn tránh bị xử lý trách nhiệm hình sự
2 Tình hình nghiên cứu
Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng cũng đã được một số tác giả nghiên cứu và làm rõ Điển
hình như TS Bùi Minh Thanh với đề tài "Đấu tranh phòng, chống vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay" Nhà xuất bản Công an
nhân dân, 2004; Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ với công trình nghiên cứu "Pháp
luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" Nhà xuất bản Tư
pháp, 2004 Ngoài ra, còn một số bài viết khác của các tác giả đăng trên các tạp chí Kiểm sát, tạp chí Tòa án, tạp chí Luật học đề cập đến loại tội phạm này Nhưng cho đến nay, chưa có tác giả nào đề cập một cách toàn diện và
riêng rẽ Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về đề tài "Tội cố ý làm trái quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" có ý nghĩa
quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích
Trang 7nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về "Tội cố ý làm trái quy
định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng"
* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trong tình hình mới
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thực tiễn thống kê để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu khóa luận
Trang 8sự về loại tội phạm này, khái niệm, đặc điểm pháp lý, phạm vi và lĩnh vực phạm tội Trên cơ sở đó có thể đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản
lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong tình hình mới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sự hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý
làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Chương 2: Nhận thức chung về tội cố ý làm trái quy định của nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
hình sự về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu
quả nghiêm trọng
Trang 9VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC
VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ TỘI
CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ TRƯỚC PHÁP ĐIỂN HÓA LẦN THỨ NHẤT NĂM 1985
Quá trình hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gắn liền với sự phát triển của các chính sách pháp luật của đất nước Sự hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật về tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế có thể được tìm hiểu qua từng thời kỳ, giai đoạn cụ thể sau đây
1.1.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa, nước ta đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thử thách do giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và đặc biệt nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh Lợi dụng những khó khăn trước mắt về kinh tế, nhiều hành vi tội phạm kinh tế trong thời kỳ này xuất hiện ngày càng nhiều như; nạn buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm bạc giả xảy ra rất phức tạp Trong đó có cả một
số cán bộ của các cơ quan nhà nước, nhà máy công, sở cũng lợi dụng biển thủ công quỹ, nhận hối lộ…
Sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách pháp luật trong nhà nước dân
chủ nhân dân; "Trước chúng ta đã bị quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế
độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một
Trang 10góp phần bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xây dựng đất nước ổn định và phát triển
Nhưng do thời kỳ này chúng ta vừa giành được độc lập, trước mắt chúng
ta đang còn rất nhiều việc cần phải thực hiện ngay như; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… Do vậy, việc ban hành các chính sách pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có các nguyên nhân chủ quan và khách quan
Xét về nguyên nhân chủ quan, vừa giành được chính quyền về tay nhân dân Bộ máy nhà nước ta thời kỳ này còn non trẻ Mặt khác, đội ngũ cán bộ nước ta thời kỳ này còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn nhất là về kỹ thuật lập pháp Tuy nhiên, do tình hình hết sức khẩn trương không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết nói riêng nên ngày 10/10/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ "Luật hình
An Nam", Bộ "Hoàng Việt hình luật" và Bộ "Hình luật pháp tu chính" với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [30, tr 190]
Xét về nguyên nhân khách quan, sau khi giành được chính quyền, Đảng
và Nhà nước ta ra sức củng cố và giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội Được thể hiện bằng hành động cụ thể, chống thù trong giặc ngoài Do vậy mà công tác ban hành các chính sách pháp luật chưa được chú trọng
Trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành một số sắc lệnh quan trọng làm cơ sở pháp lý cho công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế như Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/2/1946 về trừng trị tội phá hoại cộng sản; Sắc lệnh 223/SL ngày 17/11/1946 quy định truy tố các tội hối lộ, biển thủ công quỹ Trong một loạt các hành vi phạm tội trên, có chứa đựng một phần
Trang 11Hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế trong giai đoạn này chưa được quy định cụ thể trong các văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách cụ thể, riêng biệt mà nó được đan xen cùng với một số tội phạm khác Các tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng trong thời kỳ này được xử lý chủ yếu dựa vào quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ
Tóm lại, trong thời kỳ này, sự phát triển của hệ thống pháp luật nói chung vẫn còn thiếu và yếu, trong đó sự hình thành và phát triển của các quy phạm của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế chưa cụ thể và thiếu rõ ràng Các quy phạm này mới chỉ đề cập về loại hành vi của tội
cố ý làm trái, giai đoạn này vẫn chưa có tiêu chí cụ thể Càng về các thời kỳ sau này tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế ngày càng được quy định rõ ràng và cụ thể hơn
1- Những nhiệm vụ mà Chính phủ đã đề ra: hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục lại nên kinh tế quốc dân, làm giảm bớt khó khăn về đời sống của nhân dân phù hợp với tình hình đất nước ta, phù hợp với nguyện vọng của
Trang 12Phương châm khôi phục kinh tế, khôi phục và phát triển nông nghiệp, khôi phục công nghiệp và thương nghiệp đều hướng về dân sinh phục vụ cho sản xuất của nhân dân, phục vụ cho công cuộc kiến thiết của nước nhà (Nghị quyết kinh tế 1955 của Quốc hội)
Ngày 15/6/1956 của Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 267-SL
về trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa
"Sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm phục vụ lợi ích của toàn dân Kẻ nào phá hoại sự nghiệp ấy là làm hại nhân dân
Để góp phần vào việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa, nay ban hành sắc lệnh này nhằm trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa" (Sắc lệnh số 267)
Điều 4 của Sắc lệnh 267 ngày 15/6/1956 còn quy định như sau:
Kẻ nào vì mục đích phá hoại mà làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch kinh tế và văn hóa của nhà nước bằng bất cứ cách nào như: tuyên truyền chống phá chính sách, chống kế hoạch, phao đồn tin bịa đặt gây sự nghi ngờ hoang mang trong quần chúng, hành động chống chính sách, chống kế hoạch, không làm hoặc làm sai công việc mình phụ trách, làm gián đoạn công việc thường xuyên; kìm hãm sự phát triển của một bộ phận, một ngành hoạt động, gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ công nhân viên, cán bộ,
Trang 13Quy phạm này một lần nữa phản ánh quan điểm của Nhà nước ta trong việc trừng trị những hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, Hợp tác xã và của nhân dân
Sau khi chúng ta thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960- 1965)
và nhất là từ khi đế quốc Mỹ gây ra chiến tranh phá hoại ở miền Bắc nước ta, công tác tổ chức và quản lý kinh tế, việc xây dựng và thi hành các chế độ, thể
lệ về quản lý kinh tế có phần bị buông lỏng; công tác giáo dục và phát động quần chúng đông đảo tham gia bảo vệ của công làm chưa tốt Việc trừng trị những hành động nhằm xâm hại tài sản xã hội chủ nghĩa cũng thiếu nghiêm minh và kịp thời Những hiện tượng tiêu cực như tham ô, trộm cắp, lãng phí tài sản của Nhà nước và của Hợp tác xã chưa được ngăn chặn một cách có hiệu quả, được thể hiện qua một số vụ án cụ thể trong thời kỳ đó
Ví dụ 1: Vụ Nguyễn Hữu Cờ và đồng bọn tham ô, cố ý làm trái
Ngày 17/7/1960 Nguyễn Hữu Cờ và đồng bọn tham ô ở nhà máy in Tiến Bộ, Hà Nội, lợi dụng những sở hở về quản lý kinh tế của giám đốc nhà máy, Nguyễn Huy Cờ (nhân viên kế toán) đã cấu kết với Trương Công Nhận
và Trần Văn Pha (nhân viên cung ứng) hoạt động tham ô, cố ý làm trái Những hoạt động phạm tội của Cờ và đồng bọn lại được Trần Cao Tưởng (Phó phòng tài vụ) bao che, nên hiện tượng vi phạm kéo dài, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 92.517 đồng Tổng kết trong 2 năm 1961 - 1962 đã phát hiện 55 vụ gây thiệt hại về kinh tế bắt 503 tên tội phạm [37, tr 237-239]
Trang 14đảo, cố ý làm sai trái chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước và còn dùng tiền và hàng hóa để hối lộ một số cán bộ ở các Bộ, Ngành trong vụ án có 12 bị can [37, tr 244].
Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân Cũng trong thời kỳ này, với sự điều chỉnh văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình mới, ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Tại Điều 12 Pháp lệnh quy định tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính gây thiệt hại đến tài sản xã
hội chủ nghĩa như sau: "Kẻ nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái
nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt…" Theo các khung hình phạt của điều
luật, thì tội này có hình phạt tù từ 6 đến 20 năm
Đặc biệt hành vi cố ý làm trái trong giai đoạn này chủ yếu là hành vi làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế Những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế được Nhà nước đặt ra nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động kinh tế của Nhà nước đi đúng đường lối kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, mà nhà nước đã hoạch định, bảo đảm cho mọi hoạt động kinh tế được cân đối, có kế hoạch Hai mặt đó có mối quan hệ với nhau
và tác động qua lại
Người làm kinh tế tùy theo từng thẩm quyền, cương vị ở lĩnh vực nào nhất thiết phải tôn trọng và thi hành đúng những quy định về quản lý kinh tế trên lĩnh vực đó Hiện tại chúng ta đang đứng trước một thực tế là; cơ chế quản lý kinh tế đang từng bước được hoàn thiện và củng cố theo yêu cầu của
Trang 15Đảng Nhà nước ta luôn luôn nhằm tác động, thúc đẩy làm cho mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn
Vậy hành vi cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ
về kinh tế, tài chính gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa là như thế nào?
Để hiểu rõ hành vi này cần phải nghiên cứu, tìm hiểu làm rõ những vấn đề
"Nguyên tắc" theo cách hiểu thông thường thì đó là những tư tưởng,
phương châm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước và cụ thể trong trường hợp này
là những nguyên tắc trong quản lý kinh tế Trong bất cứ lĩnh vực nào cũng có nguyên tắc của nó, kể cả trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng
phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản Qua đó chúng ta thấy rằng "nguyên
tắc" là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong bất kể công việc,
cũng như lĩnh vực cụ thể, không thể xa rời các nguyên tắc Bởi như trên chúng ta
đã biết "nguyên tắc" chính là những tư tưởng, phương châm định hướng chỉ đạo
Các nguyên tắc của Nhà nước về quản lý kinh tế giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho toàn bộ cơ chế kinh tế, cho hoạt động ổn định và phát triển kinh tế, là những tiêu chuẩn cơ bản để quản lý kinh tế và đánh giá hành vi của
cá nhân trong quá trình thực hiện những tư tưởng, phương châm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về kinh tế
Còn "chính sách" theo cách hiểu thông thường đó là: "Những chuẩn
tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó" [48, tr 145]
Do đó "chính sách" có thể hiểu là một đường lối, nhiệm vụ nhất định
cần phải thực hiện trong một giai đoạn hoặc một thời kỳ nào đó Ví dụ như;
Trang 16Như vậy, "chính sách" có nền tảng là một đường lối nhất định do đó
có nội dung, phạm vi và tính chất của chính sách phụ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…ở từng thời kỳ Để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong thời gian này, Đảng và Nhà nước ta
đã hoạch định nhiều chính sách như: chính sách kinh tế, chính sách khoa học, chính sách đối ngoại…Chính sách sử dụng pháp luật là một trong hệ thống các chính sách của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là công cụ để xây dựng xã hội phát triển
Xuất phát từ đường lối của Đảng và Nhà nước ta, chính sách là những nguyên tắc, đường lối cơ bản trong việc sử dụng pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhằm quản lý xã hội ở một thời kỳ cách mạng nhất định Như vậy chính sách bao gồm những định hướng chủ trương sử dụng vào việc quản lý xã hội
và phát triển kinh tế
Nói đến cơ chế quản lý kinh tế, trong đó bao gồm những nguyên tắc, thể lệ quản lý kinh tế Một khi có vi phạm đến những nguyên tắc, thể lệ đó cũng có nghĩa là xâm phạm đến cơ chế quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, đường lối phát triển và quản lý kinh tế
Pháp lệnh đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tài sản xã hội chủ nghĩa, trong đó nêu ra hai bộ phận cấu thành của tài sản xã hội chủ nghĩa; tài sản của Nhà nước- tức là của toàn dân, và tài sản của Hợp tác xã, các tổ chức hợp pháp khác của nhân dân - tức là tài sản tập thể Việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa đã được quy định căn cứ vào tính chất nghiêm trọng khác nhau giữa các tội cụ thể: các tội như cố ý hủy hoại tài sản
xã hội chủ nghĩa, tội vô ý gây hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa…
Trang 17phải là tất yếu do hành vi cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ về thể
lệ kinh tế tài chính gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa gây nên, hiểu theo điều luật là xâm hại đến sở hữu xã hội chủ nghĩa
Ví dụ 3:
Vụ Phạm Trí Tuyển làm trái chính sách phân phối thực phẩm
Phạm Trí Tuyển, Cục phó Cục Thực phẩm - Bộ Nội thương và đồng bọn cố ý làm trái chính sách phân phối thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng Sau Hội nghị tem phiếu toàn quốc năm 1966, Tuyển đã giao cho Nguyễn Hữu
Dị in tem phiếu (thịt, đường, sữa) cho các địa phương nhưng theo kế hoạch thì in thiếu (thịt, đường 2.286 phiếu); giao thiếu cho các địa phương (tem sữa, thịt) 782.660 kg,… Thực tế là Cục Thực phẩm không nắm được số tem phiếu
có bao nhiêu, mất bao nhiêu, chi chênh lệch như nhà in báo mất gần 10.000 đồng gây dối loạn thị trường trong việc sử dụng tem, phiếu thực phẩm Bản thân Dị đã dùng giấy giới thiệu của Cục Thực phẩm (do Tuyển) từ ngày 15/8/1966 đến ngày 25/3/1967 chiếm đoạt của Nhà nước 2,8 tấn thịt, 1,8 tấn đường, 4.212 hộp sữa Bọn chúng còn móc ngoặc với Nhà ăn Diễm Hằng, bếp Ngân hàng Trung ương, Cửa hàng may đo số 4 Tràng Tiền, xuất hàng ngoài
kế hoạch, gây thất thoát nhiều tấn hàng thực phẩm và vải của Nhà nước…
Ngày 3 - 7/11/1970 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử sơ thẩm các bị cáo
+ Phạm Trí Tuyển nguyên cục phó Cục thực phẩm - Bộ Nội Thương,
Lê Vũ Dũng nguyên chủ nhiệm công ty công nghệ thực phẩm cấp I, Nguyễn Hữu Dị cán bộ phòng kế hoạch cục thực phẩm- Bộ Nội Thương
Căn cứ vào bản cáo trạng số 82 - V2 ngày 25/06/1970, TANDTPHN tuyên án ba bị cáo Phạm Trí Tuyển 8 năm tù giam, Lê Vũ Dũng 3 năm tù
Trang 18trọng về mặt chính trị, vi phạm Điều 12- đoạn 1, 2, khoản b, đ Pháp lệnh 21/10/1970 [38, tr 17-18]
Ví dụ 4:
Cũng trong giai đoạn này tỉnh Hà Nam đã khởi tố vụ án, bắt Đỗ Văn
Bi, Phó văn phòng Huyện ủy, Nguyễn Văm Đam cán bộ Phòng Giao thông Sau khi điều tra kết luận vụ án có liên quan đến 25 đối tượng trong đó có Bí thư Huyện ủy Hoàng Diễm, Nguyễn Văn Thụ Phó Chủ tịch, Đoàn Lương Phó
Bí thư, Đỗ Trung Trác trưởng Phòng giao thông, Nguyễn Văn Thắng - Trưởng Phòng thủy lợi và một số cán bộ chủ chốt khác đã cố ý làm trái và tham ô với tổng số tiền 559.910 đồng [37, tr 253]
Tóm lại, trong thời kỳ này đất nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai chiếm đóng Trước tình hình đó Nhà nước ta quyết tâm thực hiện song song hai nhiệm vụ, đó là đấu tranh thống nhất nước nhà và đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội góp phần là hậu phương vững chắc cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Do vậy, trong giai đoạn 1954 đến năm
1975 Đảng và Nhà nước ta đã ồ ạt tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế ở miền Bắc nhằm đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh nhất Chính vì vậy, mà trong thời kỳ này đã xuất hiện các vụ án về kinh tế trong đó có tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước điều này đã được thể hiện rõ qua các số liệu cũng như các vụ án nêu trên
1.1.3 Thời kỳ từ năm 1976 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985
Từ sau khi đất nước ta được hoàn toàn giải phóng và thống nhất vào một mối, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà nước ta đã bắt
Trang 19Nhìn chung, trong giai đoạn này nền kinh tế của nước ta vẫn còn khó khăn và lạc hậu, cơ chế quản lý thời kỳ bao cấp mang nặng tính bảo thủ, trì trệ gây cản trở cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước Chế độ giá, lương, tiền đã có những thiếu sót, thậm chí phạm khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng dẫn đến lạm phát tăng cao Tệ hành chính quan liêu kéo dài trong nhiều năm, lại chậm được đổi mới dẫn đến đới sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kinh tế kém phát triển, người lao động thiếu việc làm…
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế trong thời
kỳ này Tại Đại hội V của Đảng đã xác định rõ một trong những chính sách lớn về kinh tế - xã hội là:
Thiết lập trật tự mới xã hội chủ nghĩa, trên mặt trận phân phối, lưu thông để góp phần ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất, biến chuyển tốt tình hình kinh tế - xã hội Phân phối lưu thông phải tham gia đắc lực vào cuộc đấu tranh giữa hai con đường, mở rộng trận địa của chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi trận địa tự phát tư bản chủ nghĩa, điều tiết bằng được thu nhập của các tầng lớp dân cư cho công bằng, hợp lý Phải kết hợp chặt chẽ cả ba biện pháp kinh tế, hành chính và giáo dục, trong đó biện pháp kinh tế là gốc [1, tr 76]
Đứng trước những hạn chế khó khăn và bất cập của nền kinh tế trong thời kỳ này trong đó phải kể đến các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Đặc biệt là những hành vi cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa xảy ra ngày một nhiều với các hành vi, thủ đoạn ngày càng công khai và trắng trợn được thể hiện qua một số vụ án cụ thể
Ví dụ 5:
Vụ Phạm Ngọc Bàng và đồng bọn tham ô tài sản và cố ý làm trái
Trang 20Bàng và đồng bọn đã hối lộ các cơ quan liên quan để được phê duyệt công trình sớm, rót vật tư nhanh theo kế hoạch, rồi lại bán vật tư ra ngoài theo giá chợ đen, lập quỹ riêng của đơn vị Nghiêm trọng hơn, trong quá trình xây dựng chúng đã đánh tráo vật tư, nguyên liệu, làm giảm tuổi thọ nhiều công trình, gây thiệt hại lâu dài [37, tr 253]
Đến giai đoạn này trước sự phát triển của nền kinh tế, các văn bản chính sách pháp luật đã có nhiều hạn chế, bất cập Đòi hỏi nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải có những văn bản pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các cơ quan hữu quan và các nhà làm luật đã bắt tay vào công việc xây dựng Bộ luật hình sự nhằm đáp ứng với tình hình thực tế
1.2 TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC ĐÃ THỐNG NHẤT NĂM 1985
Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công đến nay, qua các thời kỳ cách mạng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự Những văn bản này đã phát huy tác dụng, góp phần chống thù trong giặc ngoài, góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tuy nhiên, nhìn chung, tất cả các văn bản pháp luật hình sự hiện có không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Vấn đề đặt
ra là phải rà soát lại tất cả các văn bản pháp luật hình sự đó, hệ thống hóa nó lại và soạn thảo Bộ luật hình sự Bộ luật này quy định tập trung và đồng bộ trong cùng một văn bản mọi vấn đề thuộc lĩnh vực tội phạm, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật hình sự xã hội chủ nghĩa
Trang 21trọng là một tội nguy hại cần phải được ngăn chặn, xử lý Hành vi này đã được quy định tại Điều 174 chương VII các tội phạm về kinh tế Bộ luật hình
sự năm 1985 như sau:
1 Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt
tù từ hai năm đến bảy năm
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng có các dấu hiệu đặc trưng sau đây
Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt Bởi vì, chủ thể tội này phải là những người có chức vụ quyền hạn, hay cụ thể hơn những chức vụ, quyền hạn này được Nhà nước giao cho Còn chủ thể bình thường, nghĩ là những người không có chức vụ quyền hạn chỉ có thể là đồng phạm
Có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn cố ý làm trái, những nguyên
tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định "Nguyên tắc,
chính sách, chế độ quản lý kinh tế" đã được đề cập ở phần trên Chủ thể của
tội này đều biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, trái với quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế mà vẫn dùng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện
Trang 22Đã gây hậu quả nghiêm trọng, thể hiện bằng thiệt hại về vật chất có thể tính toán được, hậu quả về chính trị làm hư hỏng cán bộ, lũng đoạn tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch quản lý kinh tế của Nhà nước, đến việc bảo đảm đời sống của nhân dân (hậu quả này khó có thể tính toán cụ thể một cách chính xác) Nếu trong trường hợp chưa có hậu quả
nghiêm trọng thì phải có dấu hiệu "đã bị xử lý về hành chính mà còn vi phạm"
là dấu hiệu bắt buộc Đối với tội phạm này việc xử lý hành chính, phải có quyết định bằng văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xử lý người có hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng như; phê bình, khiển trách hạ tầng công tác…hoặc kết luận bằng văn bản về hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, yêu cầu đình chỉ khắc phục hậu quả…
Có mục đích "vụ lợi" tức là thu vén cho lợi ích có tính chất cục bộ địa
phương, hoặc lợi ích của cá nhân trái phép Gây thiệt hại cho lợi ích chung rộng lớn theo quy định của Nhà nước (vụ lợi khác với tư lợi ở chỗ tư lợi thường chỉ thu hẹp trong lợi ích cá nhân)
Với quy định như trên thì số hành vi bị coi là tội phạm quy định tại Điều174 Bộ luật hình sự 1985 là rất lớn trong khi đó nhiều chế độ, chính sách
về quản lý kinh tế ban hành trước đây không còn phù hợp nữa, nhưng chưa được sửa đổi hoặc tuy đã được sửa đổi nhưng còn đang thử nghiệm mà vẫn phải sửa đổi bổ sung Hay nói chính xác hơn là phi hình sự hóa một số hành
vi, chỉ cần xử lý về dân sự, hành chính, kỷ luật cũng có tác dụng trừng phạt
và răn đe Bên cạnh đó, nhiều chính sách mới chưa được thể chế hóa bằng pháp luật, pháp luật về quản lý kinh tế vẫn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ…Vì vậy, những việc làm năng động, sáng tạo, mang tính chất thử nghiệm, tìm tòi cái mới vì lợi ích chung, nhằm phát triển sản xuất cải thiện đời sống nhân
dân Đối với các hiện tượng có tính chất "phá rào" thì cũng cần phải xem xét
thận trọng để xem xét xem trường hợp nào là năng động, sáng tạo, trường hợp
Trang 23nào là làm bừa, làm ẩu để việc truy cứu trách nhiệm hình sự được đúng đắn, chính xác…
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy trong việc xét xử loại tội này, việc đánh giá chứng cứ vận dụng đường lối xét xử gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp Trong tình hình hiện nay quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh được
mở rộng Cần phải xem xét lại tính khả thi của Điều 174 Bộ luật hình sự năm
1985, để tăng tính khả thi của điều luật này cách hữu hiệu nhất là phi tội phạm hóa một số hành vi quy định về tội này Chỉ nên kết án tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, các trường hợp cố ý làm không đúng nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế đã được thể chế bằng pháp luật Theo tinh thần Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là thiệt hại trực tiếp về tài sản xã hội chủ nghĩa, tính được thành tiền với giá trị từ 5 tấn gạo trở lên
Đó chính là lý do dẫn tới ngày 28/12/1989 Quốc hội sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985 (trong đó có Điều 174), cho phù hợp với tình hình thực tế của loại tội này Và như vậy Điều 174 Bộ luật hình sự năm
1985 được sửa lại là "Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" với nội dung: "Người nào vì vụ lợi hoặc
động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng thì bị…" [26]
Sau lần sửa đổi này các dấu hiệu của tội phạm chỉ bớt đi dấu hiệu "đã
bị xử lý về hành chính mà còn vi phạm" còn tính chất của hành vi cố ý làm
trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, về
cơ bản vẫn giữ nguyên so với quy định từ khi mới ban hành và bao gồm các hành vi làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế, chính sách quản lý kinh tế, chế độ quản lý kinh tế Qua một thời gian áp dụng tính khả thi của điều luật vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi nội dung của điều luật
Trang 24Cương lĩnh xây dựng đất nước được thông qua năm 1991, theo đó đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đặt ra yêu cầu một mặt phải xây dựng khung pháp luật hoàn chỉnh nhằm khuyến khích, phát triển mạnh mẽ các yếu tố tích cực phát huy quyền tự do kinh doanh, không hạn chế quy mô mức độ
Với lý do đó ngày 22/12/1992 Nhà nước ta tiếp tục sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985, trong đó có Điều 174 tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi lại như sau:
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thì
bị phạt tù từ một năm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:
a) Phạm tội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;
b) Phạm tội có tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ mười năm đến hai mươi năm
Sau khi đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của loại tội phạm này, về bản chất thì không có gì thay đổi Nhưng về dấu hiệu của tội
phạm đã bớt đi dấu hiệu "vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác", theo quy định tại khoản 1 điều luật quy định "Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý
làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…" trong trường hợp này người phạm tội có hành vi lợi dụng chức
vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Nội dung của điều luật đã cho biết người phạm tội
đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình mà Nhà nước giao cho mà lại cố ý
Trang 25làm trái những quy định của Nhà nước ban hành, phần lớn là vụ lợi hoặc động
cơ cá nhân vì trong tội này hoàn toàn chỉ có lỗi cố ý, tức người thực hiện hành
vi đã biết trước, và nhìn thấy trước được hậu quả của hành vi phạm tội của mình sẽ gây thiệt hại cho Nhà nước nhưng vẫn cứ làm Có nhiều trường hợp người phạm tội còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình yêu cầu cấp dưới phải thực hiện những quyết định của mình đưa ra, mặc dù đã biết như vậy sẽ trái với quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nhằm trốn tránh hoặc giảm nhẹ bớt trách nhiệm khi bị cơ quan chức năng phát hiện
Quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế bao gồm có cả những nguyên tắc, chính sách chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong tất
cả các lĩnh vực đều có văn bản quy định cụ thể Do vậy chỉ cần người nào có hành vi cố ý làm trái những quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế là đủ yếu tố cấu thành khoản 1 tội này Bởi trong điều luật này chỉ có yếu tố định tính chưa có yếu tố định lượng
Hơn mười năm qua, công cuộc đổi mới đã đem lại những thay đổi đáng kể, căn bản và toàn diện trên mọi mặt đời sống đất nước, đặc biệt là đời sống kinh tế và sinh hoạt dân chủ Chính trong tình hình đó, Bộ luật hình sự năm 1985 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung một số lần nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập, cần phải được sửa đổi, bổ sung Trong đó "Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm một cách có hiệu quả
Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt ra yêu cầu một mặt phải xây dựng một khung pháp luật hoàn chỉnh nhằm khuyến khích, phát huy mạnh mẽ các yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, mặt khác, phải định rõ những điều nghiêm cấm với những chế tài nghiêm khắc không chỉ về hành chính, dân sự
mà cả về hình sự nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những mặt trái, tiêu cực của cơ chế
Trang 26Để phù hợp với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung
và tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng, ngày 21/12/1999 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình
sự mới Trong đó tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế cũng được quy định mới
1.3 TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH
TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường mang lại, thì mặt trái của cơ chế thị trường cũng tác động đến đời sống xã hội,
do đó, tình hình vi phạm pháp luật cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, trong đó có tội cố ý làm trái những quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Nhằm đáp ứng kịp thời công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng vẫn được giữ lại tại Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 để không bị lọt các hành vi phạm tội mà chúng ta chưa thể lường hết được trong hoạt động quản lý kinh tế hiện nay
Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng như sau:
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng, hoặc dưới một trăm triệu đồng,
đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm
Trang 272 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;
b) Có tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác
3 Phạm tội gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm
4 Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn
bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, giữa Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự mới năm 1999 có một số điểm mới Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định rõ ràng hơn so với Bộ luật hình sự cũ năm 1985 một số vấn đề cơ bản sau
1.3.1 Phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng không có các tình tiết định khung hình phạt
Đây là trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật hình sự, là cấu thành cơ bản của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội bị cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm
So với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985, thì khoản 1 Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, tại khoản 1 Điều 174
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định phạt tù từ một năm đến bảy năm Và nếu
Trang 28so sánh cả hai điều luật với nhau, thì Điều 165 Bộ luật hình sự năm1999 là điều luật nhẹ hơn
1.3.2 Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật
* Vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
Tại điểm a khoản 2 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
- Vì vụ lợi là trường hợp người phạm tội vì những lợi ích cục bộ địa
phương, cục bộ cơ quan, đơn vị, tổ chức của mình mà cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Hầu hết những người phạm tội này đều có động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
- Động cơ cá nhân khác là ngoài động cơ vụ lợi nói trên, người phạm
tội còn vì tình cảm cá nhân, vì nể nang mà cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Động cơ phạm tội là yếu tố thuộc mặt chủ quan, nên người phạm tội thường không thừa nhận, do đó cần phải căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án, nhất là mối quan hệ giữa người phạm tội với người mà người phạm tội đem lại lợi ích cho họ
* Có tổ chức
Cũng như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
Có sự chỉ huy phân công, phân nhiệm một cách cụ thể tạo thành một đường dây phạm tội, một vòng tròn khép kín rất khó phát hiện và xử lý
* Dùng thủ đoạn xảo quyệt
Dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp người phạm tội có những việc làm gian dối một cách thâm hiểm, khó mà lường trước được sự việc Thông
Trang 29thường, người phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng ít dùng những thủ đoạn xảo quyệt Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người phạm tội đã tính toán một cách tỉ mỉ trước khi thực hiện hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, nếu như hậu quả xảy ra và bị phát hiện thì trốn tránh được trách nhiệm hoặc
đổ lỗi cho người khác, cho khách quan Nhiều trường hợp đổ lỗi cho cấp dưới
để mình thoát tội
* Gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác
Trong điểm này của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung
hình phạt, đó là: gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng
hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể
mà các cơ quan tiến hành tố tụng xác định người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội nào thì áp dụng tình tiết đó
- Trường hợp thứ nhất: Gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới
một tỷ đồng
Trường hợp phạm tội này không khó xác định, chỉ cần căn cứ vào thiệt hại thực tế do hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế mà người phạm tội thực hiện đã gây ra thiệt hại có giá trị "từ ba trăm
triệu đồng đến dưới một tỷ đồng" Tuy nhiên, thiệt hại này là thiệt hại về tài
sản và được xác định từ khi người phạm tội có hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây ra Nếu không phải là thiệt hại về tài mà
là những thiệt hại khác được tính ra bằng tiền hoặc tuy đó là thiệt hại về tài sản nhưng không phải do hành vi cố ý làm trái hoặc tuy đó là hành vi cố ý làm trái nhưng không phải là làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này
Đây là một vấn đề khá phức tạp khi áp dụng trong thực tiễn xét xử Nhiều trường hợp người phạm tội gây thiệt hại về tài sản nhưng lại do nhiều nguyên
Trang 30nhân, trong đó có nguyên nhân của hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế, ngoài ra còn có các nguyên nhân từ các hành vi khác như: thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý hành chính, quản lý trật tự công cộng, quản lý trong các lĩnh vực khác, nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản
lý kinh tế, các cơ quan tiến hành tố tụng thường cộng chung những thiệt hại
về tài sản của những nguyên nhân khác để buộc người phạm tội phải chịu
- Trường hợp thứ hai: Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác
Đây là trường hợp do hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây ra những thiệt hại rất nghiêm trọng khác ngoài thiệt hại về tài sản như: tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người và những thiệt hại khác
Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật,
bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, là tội phạm rất nghiêm trọng So với khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 2 Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, và nếu so sánh giữa Điều 165 với Điều 174 thì Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 là điều luật nhẹ hơn
1.3.3 Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 của điều luật
Khoản 3 quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, nhưng
không quy định từng điểm riêng đó là: "Gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên
hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác" Vì vậy, tùy từng trường hợp
cụ thể mà các cơ quan tiến hành tố tụng xác định người phạm tội thuộc trường hợp nào thì áp dụng tình tiết đó
* Gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên
Trường hợp phạm tội này không khó xác định, chỉ cần căn cứ vào thiệt hại thực tế do hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
Trang 31kinh tế mà người phạm tội thực hiện đã gây ra thiệt hại có giá trị từ một tỷ đồng trở lên Tuy nhiên, thiệt hại này là thiệt hại về tài sản và được xác định
từ khi người phạm tội có hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây ra Nếu không phải là thiệt hại về tài mà là những thiệt hại khác được tính ra bằng tiền hoặc tuy đó là thiệt hại về tài sản nhưng không phải do hành vi cố ý làm trái hoặc tuy đó là hành vi cố ý làm trái nhưng không phải là làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này
* Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
Đây là trường hợp do hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây ra những thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng khác ngoài thiệt hại về tài sản như: tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
và những thiệt hại khác
Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 của điều luật,
bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
So với khoản 3 của Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 3 Điều 165
Bộ luật hình sự năm 1999 không nhẹ hơn và cũng không nặng hơn, nhưng nếu so sánh giữa Điều 165 với Điều 174 thì Điều 165 Bộ luật hình sự năm
1999 là điều luật nhẹ hơn
1.3.4 Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội
Ngoài hình phạt chính, "người phạm tội còn có thể bị tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm", so với Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985
quy định hình phạt bổ sung đối với tội phạm này thì khoản 4 Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thêm loại hình phạt tịch thu một phần hoặc toàn
bộ tài sản, nhưng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định nhẹ hơn Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985
Trang 32Như vậy Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi thành Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định một cách cụ thể và rõ ràng hơn Ngoài ra hình phạt bổ sung này còn có tính chất bồi hoàn lại một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại do hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây ra, nghĩa là người phạm tội ngoài phải chịu trách nhiệm hình sự còn phải chịu cả trách nhiệm dân sự, hành chính Giúp cho các cơ quan tố tụng phát hiện, xử lý được nhanh chóng và chính xác Góp phần có hiệu quả vào công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nói riêng, đưa nền kinh tế của nước
ta ngày càng ổn định và phát triển
Trang 33Chương 2
NHẬN THỨC CHUNG
VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC
VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG
2.1 KHÁI NIỆM TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG
Trong tình hình hiện nay, các hoạt động kinh tế, các quan hệ sản xuất, kinh doanh diễn ra hết sức sôi động và đa dạng, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Cùng với những thành tựu đó còn có không ít những hiện tượng tiêu cực đang hàng ngày, hàng giờ tấn công vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nạn tham nhũng, gian lận thương mại, sản xuất hàng giả, diễn biến phức tạp trên phạm
vi rộng lớn gây thiệt hại về nhiều mặt Trong đó phải kể đến hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
Để đưa ra được khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Cần phải làm rõ một số vấn đề sau
"Cố ý làm trái quy định của Nhà nước" tức là cố ý làm không đúng
hoặc cố ý không thực hiện những quy định mà Nhà nước đặt ra, trong trường hợp này quy định ở đây là những quy định trong quản lý kinh tế
"Quản lý kinh tế" để hiểu được vấn đề này, cần phải làm rõ thế nào là
"quản lý" và thế nào là "kinh tế"
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "quản lý" được hiểu là tổ chức, điều
khiển và theo dõi thực hiện những đường lối của chính quyền quy định [49,tr 129]
Trang 34Trong giáo trình quản lý học đại cương thì đưa ra khái niệm quản lý
như sau "quản lý là sự tác động có tính chất, có định hướng của chủ thể lên
các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước" [19, tr 13-14]
"Kinh tế" trong hệ thống pháp luật cũng như trong lý luận về pháp luật
ở nước ta hiện nay, còn tồn tại khá nhiều các quan niệm về kinh tế Kinh tế là phạm trù rất rộng Nếu xét ở góc độ tổ chức, kinh tế được hiểu là toàn bộ các hoạt động nhằm làm ra của cải và tiêu thụ của cải đó Xét ở khía cạnh quan hệ
xã hội, thì kinh tế là tổng hợp các quan hệ sản xuất (hay quan hệ kinh tế) trong một xã hội cụ thể [33, tr 88-89]
Theo giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế, thì khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như sau:
Quản lý nhà nước về kinh tế hay còn gọi là quản lý hành chính kinh tế, là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính trên tất
cả các lĩnh vực bao gồm tất cả các thành phần kinh tế [46, tr 116]
Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm: Tội cố ý làm trái quy định của
Nhà nước về quản lý kinh tế là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
Theo quy định tại Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội cố
ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng như sau: "Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới
ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành
vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng…"
Trang 35Tóm lại, sau khi tìm hiểu khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Giúp chúng ta có thể hiểu được phần nào bản chất của hành vi này Từ đó chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra được các dấu hiệu pháp lý của tội này và tất cả các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này sẽ được đi sâu nghiên cứu tìm hiểu trong mục 2.2 của chương này
2.2 DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG
Dấu hiệu pháp lý của tội phạm có thể hiểu là những đặc điểm cơ bản của tội phạm, phản ánh bản chất và đặc điểm của tội phạm cụ thể Dựa vào đó cho phép chúng ta xác định tội danh, phân biệt giữa tội phạm đó với tội phạm khác
Trong thực tế mỗi tội phạm có thể có sự khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhưng mỗi một tội phạm cụ thể đều có những đặc trưng chung nhất mà bất kỳ loại tội phạm nào cũng phải có, những đặc trưng đó được gọi là các yếu tố cấu thành tội phạm, các yếu tố đó bao gồm; chủ thể của tội phạm, khách thể của tội phạm, mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng cũng không nằm ngoài bốn yếu tố cấu thành tội phạm nói chung
Hiện nay, các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế xảy ra khá phổ biến, trong đó có tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng Đây là một trong những loại tội phạm có quy
mô và tính chất khá phức tạp Vì vậy để nhận diện được chúng cần phải nghiên cứu một số đặc điểm nhất định Ngoài những đặc điểm chung của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, còn có một số đặc điểm riêng xuất phát
từ tính chất của các quan hệ xã hội bị chúng xâm hại Việc chỉ ra các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, sẽ giúp chúng ta đề xuất được những giải pháp đấu
Trang 36tranh có hiệu quả đối với loại tội này Trên cơ sở dấu hiệu pháp lý của tội phạm nói chung, từ đó rút ra các dấu hiệu cơ bản của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng như sau
2.2.1 Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội Theo luật hình sự Việt Nam chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể Theo đó, pháp nhân không thể là chủ thể của tội phạm như quan niệm trong luật hình sự của một số nước khác Để thỏa mãn là chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn hai đặc điểm: có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi ấy và điều khiển được hành vi ấy, trừ những người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (Đ13 Bộ luật hình sự năm 1999), tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, (Điều12 Bộ luật hình sự năm 1999) quy định: "Người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ
14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" Ngoài
ra một số trường hợp đòi hỏi phải là chủ thể đặc biệt Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của TSKH.PGS Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm chủ thể của tội phạm như sau:
Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định) [14, tr 357]
Trang 37Đối với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng đòi hỏi chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này Mặc dù tội phạm này là tội phạm quy định tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nhưng các dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn lại hoàn toàn giống như các tội phạm về chức vụ quy định tại chương XXI Bộ luật hình sự năm 1999; tội tham ô, tội nhận hối lộ…
Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức nào khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ [9, tr 202]
Mặc dù chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội cũng phải có đủ các điều kiện quy định tại các điều
12, 13 Bộ luật hình sự năm 1999
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999 Bởi theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên thì chịu trách nhiệm về mọi hành vi do mình gây ra Còn với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý Mà theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định, tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ trên 7 năm nhỏ hơn hoặc bằng 15 năm tù, còn tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt thấp nhất là trên 15 năm tù chung thân hoặc tử hình Đối chiếu với khoản 1 Điều 165
Bộ luật hình sự, trong trường hợp này chỉ là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng Do vậy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này Chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự quy
Trang 38định tại khoản 2, 3 Điều 165 Bộ luật hình sự, trong trường hợp này chỉ đúng
về mặt lý thuyết, còn về mặt thực tế hầu như không có
Còn trường hợp nếu gây ra thiệt hại dưới một trăm triệu đồng, thì
người thực hiện hành vi cố ý làm trái phải là người "đã bị xử lý kỷ luật về
hành vi này mà còn vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng", thì mới phải chịu
trách nhiệm hình sự Vì đây là tội phạm có chủ thể đặc biệt, phải là những người đang làm việc, hay nói chính xác hơn là đang có chức vụ, quyền hạn trong tay là cán bộ, công chức Đối với cán bộ, công chức nếu vi phạm quy định của pháp luật, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý
về kỷ luật theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức Việc quy định dấu
hiệu "đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm" thể hiện quan điểm của Nhà nước ta
đối với những hành vi vi phạm pháp luật trước hết phải giáo dục hoặc xử lý bằng biện pháp khác, trong trường hợp này là xử lý về kỷ luật, rồi mới đến biện pháp hình sự Mặt khác bảo đảm sự công bằng, bình đẳng đối với người không phải là cán bộ công chức vi phạm
Đối với người không phải là cán bộ, công chức mà có hành vi vi phạm (chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) thì họ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Ngoài ra các chủ thể bình thường khác chỉ là chủ thể của tội này với vai trò là đồng phạm
* Nhân thân người phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Nhân thân người phạm tội một trong những vấn đề hết sức quan trọng,
là đối tượng nghiên cứu của của nhiều chuyên ngành khoa học nói chung Trong đó phải kể đến chuyên ngành hình sự, nhân thân người phạm tội không thể thiếu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Trang 39Trong tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, nhân thân người phạm tội là một trong những vấn đề cần phải nghiên cứu tìm hiểu Vậy nhân thân người phạm tội là gì? Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa:
"Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ" [47, tr 97]
tr 126]
Theo khái niệm nêu trên, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội Những đặc điểm riêng biệt đó cụ thể như; tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự, nghề nghiệp, trình độ, văn hóa, hoàn cảnh gia đình của người phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội…
Qua công tác khảo sát thực tế và các số liệu thống kê trong các báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy, đặc điểm nhân thân của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ngày càng đa dạng và phức tạp Trong toàn quốc từ năm 1996 - 2005 thể hiện trong
hồ sơ còn lưu giữ ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể rút ra một vài chỉ số
về nhân thân kẻ phạm tội như sau:
+ Về giới tính
Từ trước đến nay đa số các loại tội phạm nói chung và tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nói riêng, thì tỷ lệ phạm tội của nam giới bao giờ cũng lớn hơn so với nữ giới Bởi những người có chức vụ,
Trang 40quyền hạn trong quản lý kinh tế hiện nay phần lớn là nam, tỷ lệ nữ chiếm rất
ít Mặc dù hiện nay một số loại tội phạm tỷ lệ nữ giới có tăng so với các thời
kỳ trước Qua thực tế cho thấy chủ yếu người phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là nam giới, số
chủ thể là nữ chiếm tỷ lệ thấp
+ Về độ tuổi
Những người phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản
lý kinh tế, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi từ 40 tuổi đến 55 tuổi Điều này đã được chứng minh, trong thực tế những người có chức vụ, quyền hạn được Nhà nước giao cho để quản lý kinh tế Để có một chức vụ, quyền hạn nhất định thì phải trải qua một thời gian dài rèn luyện và phấn đấu thì mới có thể đứng ở vị trí đó Do đó chủ thể của tội phạm này chủ yếu nằm trong độ tuổi từ
40 tuổi đến 55 tuổi
+ Về trình độ văn hóa
Khác với các tội phạm trong các lĩnh vực khác như; trật tự an toàn xã hội, ma túy, mại dâm… Nhìn chung, đối với tội này thường đa số là những người có trình độ học vấn và chuyên môn nhất định Bởi những người có chức vụ, quyền hạn trong trong quản lý kinh tế thường phải là những người
có trình độ văn hóa, cũng như trình độ chuyên môn trong lĩnh vực được giao quản lý, điều này đã được chứng minh trong thực tế
+ Về tiền án tiền sự
Vấn đề tiền sự là một trong những dấu hiệu cơ bản để cấu thành tội
này, đó là "đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" Trường hợp
người thực hiện hành vi mà gây thiệt hại chưa đủ một trăm triệu so với cấu thành cơ bản, thì người đó phải thỏa mãn điều kiện là đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm chưa hết thời hạn xử lý vi phạm kỷ luật thì mới