Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nghi lễ gia đình của các dân tộc ở Việt Nam
Đến nay, hàng trăm công trình nghiên cứu về nghi lễ gia đình đã được thực hiện, thể hiện sự phong phú qua góc nhìn dân tộc học và văn hóa học Nghi lễ gia đình đang thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả từ các lĩnh vực khác nhau Tổng quan các nghiên cứu của các nhà văn hóa học và dân tộc học/nhân học cung cấp cho NCS những phương pháp tiếp cận và hướng đi mới cho đề tài luận án Nhiều tác giả đã mô tả chi tiết các nghi lễ vòng đời của người Việt ở vùng đồng bằng, trong đó nổi bật là các công trình “Nghi lễ đời người” của Lê Trung Vũ và “Lễ tục vòng đời” của Phạm Minh Thảo.
Nghi lễ đời người của Trương Thìn đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và có hệ thống về các nghi lễ trong cuộc sống của người Việt Bài viết khám phá các giai đoạn quan trọng từ khi sinh ra, thời kỳ học trò, hôn lễ, lễ mừng thọ cho đến tang lễ, cùng với các nghi thức diễn ra trong suốt năm.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về nghi lễ chu kỳ đời người của các dân tộc thiểu số, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu.
Phan Quốc Anh đã tiến hành nghiên cứu sâu sắc về nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, bao gồm các nội dung như tình hình nghiên cứu, đặc điểm của người Chăm Ahiêr, các nghi lễ vòng đời và việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Chăm thông qua những nghi lễ này Nghiên cứu không chỉ cung cấp tư liệu phong phú về đời sống tâm linh, tín ngưỡng và phong tục truyền thống của tộc người mà còn đánh giá và nhận diện giá trị văn hóa của các nghi lễ vòng đời.
Cuốn sách “Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn” của Lý Hành Sơn miêu tả sinh động các nghi lễ trong đời người và sự biến đổi của chúng Tác giả làm rõ vai trò, chức năng và giá trị của những nghi lễ này, đồng thời phản ánh đặc trưng văn hóa của người Dao, đặc biệt là người Dao Tiền ở Bắc Kạn Với hệ thống tư liệu đa dạng và phong phú, cuốn sách có độ tin cậy cao nhờ tác giả là người dân tộc Dao.
Nghi lễ vòng đời người của tộc người Mnông và Chứt đang trải qua sự biến đổi mạnh mẽ, theo các nghiên cứu của Đỗ Hồng Kỳ (2000) và Nguyễn Văn Mạnh (2013) Các nghi lễ như sinh đẻ, hôn lễ và tang ma đang tiếp thu yếu tố hiện đại và dần bỏ qua những truyền thống xưa Nguyên nhân của sự thay đổi này bao gồm giao lưu văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội và ảnh hưởng từ các chương trình của Nhà nước Các tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa thông qua nghi lễ vòng đời người.
Nghi lễ gia đình là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà dân tộc học Nhiều nghiên cứu đã khám phá các nghi lễ trong gia đình, đặc biệt là trong công trình nghiên cứu về “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”.
Nghi lễ hôn nhân, đặc biệt là đám cưới, đã được nghiên cứu sâu sắc qua nhiều công trình, như bài viết của Hoàng Hữu Bình và Trần Thị Hạnh về đám cưới truyền thống của người Tày ở Trùng Khánh, Cao Bằng, mô tả chi tiết các bước từ đính hôn đến lễ lại mặt Năm 2008, Trịnh Thị Lan đã chỉ ra những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân ở nông thôn Việt Nam qua nghiên cứu tại ba tỉnh Yên Bái, Thừa Thiên - Huế và Tiền Giang, tập trung vào quan niệm và tiêu chuẩn lựa chọn trong hôn nhân cũng như các nghi thức chính Cùng năm, Lê Thị Hường đã nghiên cứu nghi lễ cưới xin của người Việt (Kinh) tại làng Bạch Trữ, làm rõ quan niệm về hôn nhân và sự biến đổi trong các lễ nghi Phạm Quang Hoan cũng đã nghiên cứu nghi lễ cưới xin và tang ma của người Dao Khâu ở Sìn Hồ, Lai Châu, tuy nhiên, tài liệu chủ yếu mô tả trình tự mà chưa phân tích sự biến đổi và nguyên nhân của các nghi lễ này.
Ngoài các cuốn sách chuyên khảo và bài viết trên tạp chí chuyên ngành, nhiều luận văn và luận án cũng nghiên cứu về nghi lễ gia đình và nghi lễ vòng đời Một số tác phẩm tiêu biểu bao gồm: “Những nghi lễ vòng đời chủ yếu của người Khmer xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” của Nguyễn Văn Lữ (2007), “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Dao Thanh Y, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Thu Hà (2016), và “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Hoa Quảng Đông ở quận 5, thành phố Hồ Chí Minh” của Đỗ Hồng Thanh (2016).
“Nghi lễ của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay” của Trịnh Thị Lan (2016) [55], “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày huyện
Các tác giả Nguyễn Thị Hoa Mai (2018) và Hoàng Thùy Dương (2019) đã nghiên cứu về nghi lễ chu kỳ đời người của các tộc người Nùng Cháo và các yếu tố tác động đến sự biến đổi của chúng Họ làm rõ thực trạng và giá trị văn hóa tộc người thông qua các nghi lễ, đồng thời đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Các nghiên cứu của Lê Hải Đăng và Nguyễn Văn Thắng đã tổng hợp toàn bộ nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở Nghệ An và người Mảng ở Việt Nam, bao gồm các nghi lễ sinh đẻ, cưới xin, tang ma, thờ cúng tổ tiên, nhà mới, mừng thọ và nông nghiệp Các tác giả cũng chỉ ra những biến đổi trong nghi lễ gia đình, nguyên nhân của sự biến đổi từ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và chính sách pháp luật, cũng như sự giao lưu văn hóa với các tộc người khác Đây là tư liệu nghiên cứu hữu ích cho những ai quan tâm đến nghi lễ gia đình và việc bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người.
Nghiên cứu về nghi lễ và nghi lễ gia đình của người Mường ở Việt Nam
Người Mường ở Việt Nam là một trong các tộc người thiểu số được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Khi nghiên cứu về người Mường ở Việt Nam, không thể không nhắc đến học giả Cuisinier.J với tác phẩm “Người Mường – Địa lý nhân văn và xã hội học” Tác phẩm này được bà Cuisinier.J viết từ những năm trước đây, đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết về văn hóa và xã hội của người Mường.
Cuốn sách năm 1948, đã được dịch và tái bản nhiều lần, là tài liệu dân tộc học quan trọng cho những ai muốn tìm hiểu về dân tộc Mường Với nguồn tài liệu phong phú, cuốn sách trình bày một cách khoa học về các khía cạnh của tộc người này, từ nhà ở, nghề nghiệp, ẩm thực, trang phục đến gia đình, làng xóm và các nghi lễ như thờ cúng, ma chay, ma thuật, mừng năm mới, và ruộng đồng Hơn 70 năm trôi qua, cuốn sách vẫn giữ giá trị như một nguồn tài liệu quý giá với nhiều thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến tộc người Mường.
Với nhan đề “La Province Muong de Hoa Binh”, Ed de la Revue Indochinoise, xuất bản 1926 (Hồng Vân dịch, “Tỉnh Mường Hòa Bình”,
Năm 1994, Grossin Pierre đã mô tả vị trí địa lý, địa hình và nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Mường, đồng thời giới thiệu truyền thuyết lịch sử và hệ thống quản lý của người Mường trong khu vực bốn tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình, Hà Nội và Hưng Hoá Đây là một trong những công trình hiếm hoi của tác giả nước ngoài về các tộc người ở Hoà Bình, cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu về tộc người Mường tại Việt Nam Đối với các nghiên cứu trong nước, công trình “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” của Viện Dân tộc học đã đề cập đến nhiều khía cạnh của dân tộc Mường như sinh hoạt kinh tế, xã hội, gia đình, tôn giáo tín ngưỡng và văn học nghệ thuật, mặc dù chỉ là những nét sơ lược, nhưng đã phác họa được những hiểu biết cơ bản về dân tộc Mường và tín ngưỡng của họ.
Nghiên cứu về dân tộc Mường chủ yếu diễn ra tại tỉnh Hòa Bình, với những công trình tiêu biểu của Nguyễn Từ Chi Các nghiên cứu này không chỉ sử dụng phương pháp phỏng vấn hồi cố mà còn giúp hình dung rõ nét về con đường tiễn đưa linh hồn người chết Qua đó, chúng ta có thể hiểu được quan niệm vũ trụ ba tầng và bốn thế giới theo trục dọc, cũng như mối liên kết giữa hai xã hội Mường ma và Mường người theo trục ngang.
Ngoài ra, Nguyễn Từ Chi còn có tập hợp những bài viết về người Mường trong cuốn “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người” [19] như
Cõi sống và cõi chết trong quan niệm của người Mường, cùng với phần thần thoại trong Đẻ đất đẻ nước, thể hiện sâu sắc văn hóa tinh thần của họ Hình thức khai thác ruộng lang và cạp váy Mường là những biểu hiện rõ nét của văn hóa vật chất Bên cạnh đó, món ăn Huế và món ăn Mường không chỉ là đặc sản mà còn phản ánh phong cách sống của người Mường Tất cả những tư liệu này đóng góp quan trọng trong việc hình dung đầy đủ về đời sống văn hóa, tinh thần và mưu sinh của người Mường.
Bài viết "Người Mường ở Việt Nam" do Bùi Tuyết Mai chủ biên đã thể hiện sự độc đáo và sinh động của người Mường thông qua nhiều bức ảnh đẹp Tác phẩm cung cấp cái nhìn khái quát về lối sống, phong tục tập quán và truyền thống văn hóa của tộc người Mường tại Việt Nam.
Cuốn sách “Người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình” của Nguyễn Thị Thanh Nga và Nguyễn Ngọc Thanh cung cấp cái nhìn tổng quan về người Mường tại Tân Lạc, Hòa Bình, từ nguồn thu nhập, thiết chế xã hội đến văn hóa vật chất và tinh thần Nghiên cứu này có giá trị dân tộc học, nhưng phần nội dung về nghi lễ chỉ dừng lại ở miêu tả mà chưa có đánh giá về sự biến đổi của chúng Hơn nữa, tác phẩm chưa đề cập đến những thay đổi trong giá trị văn hóa của người Mường trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Một số công trình nghiên cứu về Mo Mường, như “Mo – Đường lên trời” của Đinh Văn Ân, đã trình bày chi tiết những áng mo quan trọng trong nghi lễ tang ma của người Mường bằng cả tiếng Việt và tiếng Mường Bùi Thị Kim Phúc cũng có công trình “Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường”, nhấn mạnh rằng nghi lễ Mo là một hiện tượng văn hóa đặc sắc, phản ánh tín ngưỡng dân gian và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Mường Nghiên cứu của bà cung cấp cái nhìn sâu sắc về toàn bộ nghi lễ Mo và nhân vật ông.
Mo là người thực hiện nghi lễ và cử hành các hoạt động văn hóa của người Mường, giúp hiểu rõ hơn về sinh hoạt văn hóa của họ Nghiên cứu này, theo NCS, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và xây dựng đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh cho dân tộc Mường.
Nghiên cứu về chu kỳ đời người và hôn nhân gia đình, như trong tác phẩm “Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Ngọc Thanh, đã chỉ ra sự biến đổi trong nghi lễ đời người của người Mường Phú Thọ, đặc biệt qua chương 4 về các nghi lễ như cưới hỏi, sinh đẻ và tang ma Ngoài ra, tác giả cũng đã công bố nhiều bài viết liên quan đến con cái trong cộng đồng người Mường huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Những nghiên cứu này cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho những ai quan tâm đến văn hóa và phong tục của dân tộc Mường.
Cuốn sách “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình” của Nguyễn Thị Song Hà là tài liệu quý giá cho nghiên cứu về nghi lễ vòng đời của người Mường Tác phẩm này khắc họa rõ nét các nghi lễ trong hôn nhân, sinh đẻ, nuôi dạy con cái và tang ma, đồng thời phản ánh đặc điểm văn hóa của tộc người Tác giả cũng so sánh và chỉ ra sự tương đồng cũng như khác biệt trong nghi lễ của người Mường ở Hòa Bình với các tỉnh khác Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập đến sự biến đổi của nghi lễ từ truyền thống đến hiện đại và nguyên nhân của những thay đổi này.
Tiếp đến, NCS tiếp cận cuốn sách “Biến đổi hôn nhân của người Mường ở Hòa Bình và người Mường di cư ở Đắk Lắk” do Nguyễn Thị Song
Hà làm chủ biên một công trình nghiên cứu về hôn nhân truyền thống và sự tác động đến biến đổi hôn nhân của người Mường, làm rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa người Mường ở Hòa Bình và Đắk Lắk Nhóm tác giả đề xuất kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong hôn nhân của người Mường trong bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Hai cuốn sách nghiên cứu về người Mường là nguồn tài liệu hữu ích cho NCS trong nghiên cứu luận án Tiến sĩ, cung cấp cái nhìn về vũ trụ quan, thế giới quan, văn hóa vật chất, phong tục, lễ hội và nghệ thuật dân gian của dân tộc Mường Văn hóa Mường có mối quan hệ gắn bó với nhiều lĩnh vực lịch sử, địa lý, nhân văn và xã hội học, tạo nên sự phong phú và đa dạng Tuy nhiên, do công trình chủ yếu mang tính sưu tầm, tư liệu vẫn dừng lại ở góc độ miêu tả, chưa đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính khoa học.
Tang ma của người Mường cũng được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Năm 2011, Bùi Huy Vọng đã đề cập đến mảng chủ đề này trong cuốn
Bộ sách “Tang lễ cổ truyền của người Mường” gồm ba tập ghi chép toàn bộ diễn trình tổ chức tang lễ của người Mường, được chia thành ba quyển để mô tả chi tiết từ đầu đến cuối Mỗi quyển bao gồm phần ghi chép các nghi lễ và phần ghi lại lời Mo, lời khấn tương ứng Qua công trình này, có thể thấy tang lễ cho người chết là phong tục lâu đời của người Mường, thể hiện tính nhân văn và cách ứng xử của người sống với người chết Đây là một di sản văn hóa độc đáo của người Mường, mặc dù có tốn kém và phức tạp.
Nghi lễ tang ma cổ truyền của người Mường là đề tài được nhiều học viên lựa chọn cho luận văn, trong đó Mai Văn Tâm đưa ra những kiến nghị nhằm từng bước loại bỏ các hủ tục liên quan.
Cuốn sách “Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình” của Bùi Chỉ nghiên cứu sâu về các món ăn truyền thống của người Mường, nhiều món trong số đó hiện đã không còn xuất hiện trong thực đơn Tác giả đã thể hiện sự công phu và tỷ mỉ trong việc sưu tầm, nghiên cứu, mang đến cái nhìn sâu sắc về văn hóa ẩm thực của tộc người Mường, đặc biệt là người Mường Hòa Bình Tác phẩm này có giá trị cao trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực dân gian.
Nghiên cứu về người Mường và nghi lễ gia đình của người Mường ở Thanh Hóa
Văn hóa dân gian Mường ở Thanh Hóa gắn liền với nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân, người đã chỉ ra rằng hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Mường rất phong phú, với hơn mười ngàn câu thơ trong các bài ca nghi lễ như bài mo và bài cúng Hệ thống tín ngưỡng này được chia thành ba phần chính: Nghi lễ diễn xướng mo để đưa hồn người chết đến cõi vĩnh hằng, nghi lễ cúng ma nhà và ma làng, và tín ngưỡng vía với các bài lễ ca gọi vía Tác giả đã giữ nguyên văn bản các bài mo, bài cúng và chú thích những từ ngữ khó hiểu, tuy nhiên, chưa có đánh giá hay lý giải sâu về hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Mường.
Cuốn sách “Cõi người – qua tín ngưỡng mường Trong” của Hoàng Anh Nhân thể hiện những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu văn hóa Mường, với các phần nói về tang lễ, nghi lễ làm vía T’rúa và Pồn pôông Tác phẩm này không chỉ khám phá những phong tục và tín ngưỡng mà còn đi sâu vào các vấn đề triết lý nhân sinh quan phức tạp Phương pháp tiếp cận của tác giả từ các nghi lễ dân gian như lễ tang và lễ cầu vía đã mang lại những phát hiện mới, làm sáng tỏ giá trị văn học và văn hóa dân gian Mường Đây là những đóng góp đáng ghi nhận trong việc nghiên cứu và giải mã các vấn đề phức tạp liên quan đến cõi người và cõi ma trong các nghi lễ dân gian Mường.
Hoàng Anh Nhân đã sưu tầm nhiều bản tình ca Mường như “Nàng Ờm – chàng Bồng Hương” và “Nàng Con Côi”, cùng với các truyện cổ Mường Ông và các đồng nghiệp cũng đã biên dịch các tác phẩm quan trọng như sử thi “Đẻ đất Đẻ nước”, “Văn hóa ẩm thực Mường” và “Văn hóa giao duyên Mường Trong” Những đóng góp này của ông góp phần bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Mường tại Thanh Hóa.
Văn hóa dân gian Mường, một góc nhìn, đã dừng lại ở việc sưu tầm và mô tả dân tộc học, nhưng các công trình này đã khái quát rõ nét những khía cạnh văn hóa đặc trưng của người Mường tại Thanh Hóa.
Năm 2013, Cao Sơn Hải đã xuất bản cuốn sách “Lễ tục vòng đời người Mường – điều tra, khảo sát, hồi cố ở vùng Mường Thanh Hóa”, giúp người đọc hiểu rõ về lễ tục vòng đời của người Mường từ khi còn trong bụng mẹ cho đến khi qua đời Cuốn sách trình bày nhiều loại hình lễ tục với các nghi lễ hệ thống và nhất quán, phản ánh kho tàng văn hóa phi vật thể quý giá của người Mường, góp phần làm phong phú văn hóa truyền thống các dân tộc Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả các nghi lễ mà chưa thực hiện đánh giá, phân tích hay chỉ ra sự biến đổi và nguyên nhân của những nghi lễ này, đây là vấn đề cần được nghiên cứu tiếp theo.
Năm 2001, Nxb Văn hóa dân tộc đã phát hành cuốn sách “Tiếp cận với văn hóa bản Mường” của tác giả Vương Anh, tập hợp các bài viết về người Mường ở Thanh Hóa, trong đó nổi bật là bài viết “Sắc thái văn hóa Mường xứ Thanh”.
“Tục cưới hỏi cổ truyền của người Mường”, “Trang phục dân tộc Mường”,
Cuốn sách “Hội Mường hội bản” tập trung vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Mường, nhằm đổi mới các hoạt động văn hóa tại bản Mường Những bài viết trong sách chủ yếu là những câu chuyện tản mạn do tác giả ghi chép lại, không phải là các nghiên cứu chuyên sâu về người Mường ở Thanh Hóa Nội dung phản ánh sự đa dạng trong văn hóa truyền thống của người Mường Thanh Hóa, bao gồm thơ, tục ngữ và dân ca.
Hà Diệu Thu đã có nhiều bài viết về tín ngưỡng người Mường ở Thanh Hóa, như “Tìm hiểu sự biến đổi tín ngưỡng của người Mường Thanh Hóa trong thời đại hiện nay” và “Hôn nhân của người Mường ở huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa” Tuy nhiên, các bài viết này vẫn chưa giải thích đầy đủ nguyên nhân của sự biến đổi tín ngưỡng và nghi lễ của người Mường tại Thanh Hóa, cũng như thiếu sự so sánh với người Mường ở các địa phương khác.
Các bài viết về người Mường trên các tạp chí Trung ương và địa phương như Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Tạp chí Văn hoá dân gian, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, và Tạp chí Dân tộc học rất phong phú và đa dạng Một ví dụ tiêu biểu là bài viết "Đôi nét về nhà sàn Mường Thanh Hóa" của tác giả Bùi Chí Hăng.
[42] ; Sinh hoạt hát xường trong lễ cưới của người Mường ở Thanh Hóa (Mai
Thị Hồng Hải) [39]; Văn hóa cồng chiêng Mường (Ngô Quang Hưng) [50]
Mặc dù các bài viết hiện có chủ yếu khảo sát các khía cạnh khác nhau về người Mường, nhưng vẫn thiếu những nhận định chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống.
Nghiên cứu về nghi lễ gia đình của người Mường đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ giá trị văn hóa của họ, cả về lý luận lẫn thực tiễn Hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về nghi lễ gia đình của người Mường ở Thanh Hóa, cũng như chưa phân tích sâu về những biến đổi và nguyên nhân của các nghi lễ trong bối cảnh hiện nay Do đó, cần có những khuyến nghị cho chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thông qua hệ thống nghi lễ trong đời sống gia đình của dân tộc Mường, đặc biệt tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa.
Cơ sở lý thuyết
Một số khái niệm
Trong Nhân học, khái niệm nghi lễ được định nghĩa phổ biến qua hai tác giả Schultz và Lavenda trong tác phẩm “Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh” Họ xác định bốn yếu tố chính và mục đích của nghi lễ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó trong việc hiểu biết về văn hóa và xã hội.
Nghi lễ bao gồm bốn yếu tố chính: hoạt động xã hội lặp đi lặp lại với các động tác biểu tượng như múa, hát, lời nói và điệu bộ; sự tách biệt khỏi các hoạt động thường ngày; tuân theo một mô hình văn hóa nhất định; và liên quan chặt chẽ đến các tư tưởng trong huyền thoại Mục đích của nghi lễ là hướng dẫn việc lựa chọn và thực thi các tư tưởng này thông qua biểu tượng.
Theo Victor Turner, nghi lễ chủ yếu liên quan đến các hoạt động tôn giáo, được định nghĩa là "hành vi được quy định có tính chất nghi thức cho những dịp không liên quan đến công việc kỹ thuật hàng ngày, mà liên quan đến niềm tin vào đấng tối cao hoặc sức mạnh thần bí." Nghi lễ, theo nghĩa hẹp, chỉ những hoạt động chính thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo Các nhà nhân học mở rộng khái niệm này để bao hàm bất kỳ hoạt động nào có tính chất chính thức cao và không vụ lợi Mỗi hành động của con người đều có khía cạnh nghi lễ, chuyển tải thông điệp về vị trí văn hóa và xã hội của cá nhân.
Nguyễn Thị Song Hà nhấn mạnh rằng nghi lễ là những nghi thức cần thiết trong một buổi lễ, phản ánh đời sống văn hóa của tộc người và được cộng đồng xã hội công nhận.
Nghi lễ được định nghĩa là các nghi thức thực hành có hệ thống và trật tự trong không gian thiêng, thể hiện mối quan hệ giữa con người với nhau và với tự nhiên Nó phản ánh mọi khía cạnh của đời sống văn hóa, tinh thần và vật chất, đồng thời thường gắn liền với các thực thể siêu linh hoặc thế giới vô hình, liên quan đến niềm tin tín ngưỡng.
Nghi lễ gia đình là những hoạt động được tổ chức trong không gian gia đình, bao gồm các nghi lễ liên quan đến cá nhân hoặc tập thể sống chung, như nghi lễ vòng đời, cầu an, thờ cúng thần linh và tổ tiên, cùng các lễ tiết trong năm.
Nghi lễ vòng đời người bao gồm các nghi lễ quan trọng như sinh đẻ, hôn nhân và tang ma, thể hiện tín ngưỡng liên quan đến cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết Những nghi lễ này không chỉ là hành động của gia đình mà còn phản ánh sự ứng xử của cộng đồng đối với mỗi cá nhân, gắn liền với văn hóa tộc người Trong mọi nền văn hóa, sinh đẻ được coi là một nghi lễ chuyển tiếp quan trọng, nhấn mạnh những tín ngưỡng sâu sắc và giá trị cốt lõi của văn hóa, đồng thời cho thấy cách mà văn hóa định hình quan niệm về thế giới và vị trí của người phụ nữ.
Trong nghiên cứu, NCS định nghĩa nghi lễ sinh đẻ là các nghi thức được thực hiện từ khi thai nhi còn trong bụng mẹ cho đến khi trẻ ra đời và được công nhận là thành viên chính thức của gia đình.
Hôn nhân là một quá trình diễn ra qua nhiều nghi lễ và nghi thức, bắt đầu từ việc đặt vấn đề cho đến khi cô dâu về nhà chồng Nghi lễ hôn nhân không chỉ là một sự kiện cá nhân mà còn là dấu mốc quan trọng, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa nam và nữ được xã hội công nhận.
Nghi lễ hôn nhân là những nghi thức kết hợp nam nữ thành vợ chồng, được cộng đồng và pháp luật công nhận, thể hiện nét đẹp văn hóa của mỗi dân tộc Những nghi lễ này không thể thiếu ở bất kỳ dân tộc nào và khác nhau tùy theo phong tục tập quán địa phương, nhằm thông báo sự chấp nhận của gia đình và cộng đồng về cuộc hôn nhân Hôn nhân không chỉ là một nghi lễ mà còn là biểu tượng văn hóa sâu sắc, phản ánh bản sắc dân tộc Bên cạnh đó, các nghi lễ tang ma cũng mang ý nghĩa quan trọng, thể hiện mối quan hệ giữa linh hồn người chết, người sống và thi thể Hertz đã chỉ ra rằng linh hồn và cơ thể có mối liên hệ ẩn dụ, giúp hiểu rõ hơn về thể thức của các nghi lễ Khi thi thể thối rữa, linh hồn rơi vào tình trạng tồi tệ, chỉ khi còn lại xương cốt, người chết mới có thể gia nhập thế giới tổ tiên, cho thấy sự vận động giữa hai thế giới sống và chết.
Nghiên cứu này tập trung vào quan niệm về nghi lễ tang ma, bao gồm các nghi thức và cách ứng xử đối với người đã khuất Tang lễ thường đi kèm với các quy định, nghi thức thờ cúng và kiêng kỵ, nhằm mục đích tiễn đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia.
Kiêng là sự tránh né và cảnh giác của cộng đồng đối với các hiện tượng trong cuộc sống, giúp con người sống an toàn hơn nhờ vào những lời cảnh báo từ thế hệ trước Kỵ là hình thức tránh né có ý thức cao hơn kiêng, thể hiện sự công nhận và tuân theo của mọi người Phong tục được hình thành qua lịch sử, ổn định và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính thống nhất trong cộng đồng Sự bền vững của phong tục một phần nhờ vào hệ thống chu kỳ trong đời sống con người, bao gồm vòng đời người, vòng cây trồng và hệ thống thời tiết trong năm Ba hệ thống này không chỉ tạo nên nếp sống truyền thống mà còn ghi dấu ấn của các giai đoạn lịch sử Phong tục là một phần quan trọng của văn hóa, góp phần hình thành truyền thống của tộc người, địa phương và quốc gia, ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân trong cộng đồng.
Tập quán là thói quen lâu đời, được công nhận và tuân theo trong đời sống xã hội của một cộng đồng Nó chi phối mỗi thành viên trong cộng đồng nhưng không mang tính bắt buộc như nghi thức hay nghi lễ Tập quán trở thành nề nếp bền vững, tuy nhiên, nó cũng có sự vận động và biến đổi theo sự phát triển của xã hội Một số tập quán có thể không còn phù hợp và bị đào thải, trong khi những tập quán mới được hình thành Tập quán là phương thức truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, ảnh hưởng đến mọi người sống trong cộng đồng.
Tổ tiên là những người mà cá nhân hoặc dòng họ có nguồn gốc từ đó, bao gồm các bậc tiền bối có ý nghĩa xã hội được ghi nhớ trong ký ức của cộng đồng Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ quan trọng thể hiện lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ, đồng thời thể hiện niềm tin vào sự che chở và trợ giúp từ tổ tiên.
Thần linh là những người sống thông minh, chính trực và làm việc có lợi cho đất nước, sau khi chết được thờ cúng và hưởng phước báo Các thần linh có khả năng can thiệp vào cuộc sống con người, thưởng phạt theo hành động của họ Người thiện lương sẽ được che chở, trong khi kẻ xấu thường bị trừng phạt Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thần linh được hiểu là lực lượng siêu nhiên nói chung.
Lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết Chức năng của Bronislaw Malinowski nhấn mạnh vai trò tâm sinh lý của nghi lễ và phong tục, trong khi Radcliffe Brown tập trung vào chức năng của lễ hội và lễ nghi trong cộng đồng Thuyết Chức năng coi nghi lễ là biểu tượng của quyền lực xã hội, từ đó phản ánh những căn nguyên của đời sống xã hội.
Theo lý thuyết Chức năng, nghiên cứu về nghi lễ gia đình giúp NCS hiểu rõ văn hóa người Mường gắn liền với môi trường, gia đình, dòng họ, cộng đồng và xã hội Qua đó, có thể phân tích cách ứng xử và mối quan hệ của người Mường với con người và môi trường thông qua các nghi lễ trong gia đình.
Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Cẩm Lương là một xã vùng cao thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, nằm cách trung tâm huyện 12 km về phía Tây Bắc và cách thành phố Thanh Hóa 85 km qua quốc lộ 217 Xã cũng nằm gần đường Hồ Chí Minh, chỉ cách 8 km Về mặt địa lý, Cẩm Lương giáp với xã Cẩm Quý và Lương Trung ở phía Bắc, xã Cẩm Giang và Cẩm Bình ở phía Đông, xã Cẩm Thạch ở phía Nam, và xã Cẩm Thành ở phía Tây.
Trước khi có cây cầu treo bắc qua sông Mã, giao thông tại xã Cẩm Lương gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Người dân phải sử dụng hai bến đò ngang để di chuyển sang các xã khác và vào huyện Tuy nhiên, từ tháng 9 năm 2005, cây cầu treo được xây dựng đã kết nối xã Cẩm Lương với quốc lộ 217, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu kinh tế, văn hóa Đến năm 2010, đường từ thôn Lương Thuận qua núi Hang cũng được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Việc mở rộng Bò sang xã Cẩm Lương và kết nối với đường Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Năm 2020, cầu bê tông bắc qua sông Mã được hoàn thiện, nâng cao khả năng giao thông và thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa giữa xã Cẩm Lương và các vùng miền khác trong cả nước.
Xã Cẩm Lương có địa hình đa dạng với núi đá vôi, núi thấp, đồi, sông, suối và bãi bồi phù sa ven sông Mã Dải núi Trường Sinh, cao từ 200-400m và có độ dốc 25-30 độ, là ngọn núi lớn nhất trong khu vực, với ngọn cao nhất vượt quá 500m Ngoài ra, còn có các ngọn núi nhỏ như núi Hô, núi U, núi Trâu Bạc và các quả đồi thấp như đồi Hàm Rồng, đồi Phóng, đồi Vải Địa hình núi đá vôi và đồi thấp đã tạo ra các thung lũng chân núi, thuận lợi cho đồng bào canh tác nương rẫy và ruộng lúa.
Xã Dãi Núi nổi bật với nhiều hang động có kích thước đa dạng, trong đó động Đăng là lớn nhất, cách suối cá thần Cẩm Lương khoảng 200 m Hiện nay, động Đăng thu hút du khách đến tham quan và chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên của nó, cùng với khu du lịch suối cá.
Cẩm Lương có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với những điều kiện thời tiết đa dạng và khắc nghiệt Nơi đây chịu ảnh hưởng của gió Lào, mang đến nắng nóng vào mùa hè và mưa lũ vào mùa mưa, trong khi mùa đông lại lạnh rét và khô hanh Nhiệt độ trung bình tháng Giêng dao động từ 15 đến 16 độ C, trong khi tháng Bảy có thể lên tới 37 đến 40 độ C Lượng mưa trung bình hàng năm ở Cẩm Lương đạt từ 1.600 đến 1.900 mm.
Sông Mã chảy qua xã Cẩm Lương, dài khoảng 6 km, tạo nên vùng đất màu mỡ thuận lợi cho nông nghiệp Ngoài sông Mã, xã còn có nhiều suối từ dải núi Trường Sinh, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân Đặc biệt, suối Ngọc dài khoảng 200m, nổi tiếng với đàn cá lớn nhỏ, thu hút du khách và phát triển kinh tế du lịch địa phương Tuy nhiên, vào mùa mưa, sông Mã và các con suối có thể dâng cao, gây lũ lớn, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân.
Đặc điểm dân số, dân cư
Theo thống kê của Ban Dân tộc, năm 2019, tỉnh Thanh Hóa có 364.622 người Mường, phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi phía Tây như Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Quan Hóa, và Quan Sơn Trong đó, huyện Cẩm Thủy có số lượng người Mường cư trú lâu đời, với 55.570 người, chiếm 52% dân số toàn huyện, đứng thứ hai sau huyện Ngọc Lặc với 94.676 người.
Theo báo cáo của Ban Công an xã Cẩm Lương, tính đến tháng 7 năm 2020, xã này có bốn thôn (Xủ Xuyên, Kim Mẫm, Lương Ngọc, Hòa Thuận) với tổng cộng 802 hộ và 3.290 nhân khẩu Dân cư chủ yếu thuộc hai dân tộc Mường và Việt (Kinh), trong đó có 603 hộ với 2.415 nhân khẩu là dân tộc Mường.
Bảng 1.1 Số hộ, khẩu chia theo dân tộc ở các thôn thuộc xã Cẩm Lương năm 2020
TT THÔN NGƯỜI MƯỜNG NGƯỜI VIỆT
Nguồn: Ban Công an xã Cẩm Lương, 2020
Người Mường ở xã Cẩm Lương có nguồn gốc từ ba nhóm chính Nhóm đầu tiên, được gọi là người Mường Trong (Mường gốc), đã có mặt tại xã từ rất lâu đời và chủ yếu sinh sống ở thôn Lương Ngọc.
Nhóm người Mường di cư từ Mường Bi (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) được gọi là người Mường Ngoài Một số hộ gia đình, như nhánh họ Bùi của ông Bùi Văn Lợi ở thôn Lương Ngọc, đã chuyển đến xã Cẩm Lương từ huyện Yên Thủy Ngoài ra, nhóm người Việt (Kinh) cũng đã di cư đến xã vào các thời điểm khác nhau, sống xen kẽ với người Mường và dần dần trở thành người Mường, trong đó có những người mang họ Phạm.
Ông Hoàng Trung Hải, Trưởng phòng Văn hóa huyện Cẩm Thủy, cho biết rằng người Mường ở Cẩm Thủy, đặc biệt là xã Cẩm Lương, chủ yếu là người Mường Trong Mặc dù có một bộ phận nhỏ người Mường di cư từ Hòa Bình (Mường Ngoài), nhưng do thời gian dài, hiện tại không còn sự phân biệt giữa Mường Trong và Mường Ngoài.
Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội
Người Mường ở xã Cẩm Lương cư trú ở vùng đồi và núi thấp Họ tập trung sinh sống ở những nơi có nhiều đất sản xuất thuận lợi cho sinh kế
Trước năm 1995, người Mường ở Cẩm Lương chỉ canh tác một vụ lúa mùa Tuy nhiên, sau khi hệ thống thủy lợi được xây dựng và hoàn thiện vào năm 2009, việc dẫn nước vào ruộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa vụ chiêm và vụ đông.
Người Mường không chỉ trồng lúa nước dưới thung lũng mà còn canh tác nương rẫy trên sườn đồi và núi, với các loại cây như lúa, ngô, sắn, khoai, bông vải và dâu tằm Nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong kinh tế địa phương, cung cấp lương thực và nguyên liệu dệt vải Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số và chính sách giao đất, nương rẫy đang dần chuyển đổi thành các vườn rừng có giá trị kinh tế như luồng, keo, lát và xoan Kể từ năm 2010, khi xã kết nối với đường Hồ Chí Minh, người Mường đã bắt đầu trồng cây mía.
Trồng mía mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn so với trồng lúa, với đầu tư chủ yếu chỉ trong năm đầu Nếu chăm sóc tốt, một sào mía có thể thu hoạch từ 3 - 4 tấn, tương đương 60 – 80 tấn/ha, với giá bán dao động từ 850.000 – 900.000 đồng/tấn Do đó, thu nhập từ một sào mía đạt từ 2,3 – 3,3 triệu đồng, và trung bình mỗi ha sau khi trừ chi phí có thể thu về 45 – 50 triệu đồng, thậm chí lên đến 60 – 65 triệu đồng trên đất tốt Các hộ gia đình trồng mía cho biết, thu nhập từ một sào mía tương đương với một sào lúa tốt của hai vụ, nhưng đầu tư ít hơn và có nhiều thời gian nông nhàn hơn Hơn nữa, lá mía còn là nguồn thức ăn cho gia súc Vì vậy, nhiều hộ gia đình người Mường ở thôn Hòa Thuận đã chuyển sang trồng mía, nhờ đó, đời sống vật chất của họ được cải thiện rõ rệt với nhà cửa khang trang và nhiều tiện nghi hiện đại.
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thực phẩm và sức kéo cho nông nghiệp, nhưng ở xã Cẩm Lương, hoạt động này vẫn kém phát triển hơn so với trồng trọt Gần đây, nhờ chính sách đổi mới trong nông nghiệp, các gia đình người Mường đã có điều kiện phát triển chăn nuôi Từ việc chỉ nuôi gia cầm và gia súc nhỏ với quy mô nhỏ lẻ, hiện nay nhiều gia đình đã chuyển sang nuôi gia súc lớn như trâu, bò và gia cầm với quy mô lớn, tập trung, cũng như nuôi cá lồng Chăn nuôi chuồng trại đã xuất hiện bên cạnh hình thức thả rông, và nhiều hộ gia đình đã xây dựng gia trại theo mô hình vườn, ao, chuồng, ruộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nghề thủ công ở Cẩm Lương đóng vai trò quan trọng bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi, chủ yếu phục vụ nhu cầu thiết yếu trong gia đình Người Mường tại đây nổi bật với nghề đan lát và dệt, trong đó đàn ông thường làm các đồ dùng như rổ, rá, giỏ đựng Với nguyên liệu dồi dào, sản phẩm đan lát ở Cẩm Lương có độ bền cao và tính thẩm mỹ, nhưng chủ yếu được sử dụng trong gia đình thay vì trao đổi thương mại Từ năm 1988 đến 2002, nghề đan cót ép phát triển mạnh, nhưng từ năm 2003 đã suy giảm do nguyên liệu cạn kiệt và sự thay thế của nilon trong xây dựng.
Nghề dệt truyền thống của người Mường gắn liền với việc trồng bông, cho thấy sự khéo léo của phụ nữ Mường trong việc dệt vải Họ sản xuất nhiều loại vải phục vụ nhu cầu mặc trong gia đình, bao gồm vải may quần áo, vỏ chăn, vỏ gối, và đặc biệt là chiếc cạp váy truyền thống của phụ nữ Mường.
Nghề đan lát và dệt vải đang bị đe dọa bởi sự phổ biến của sản phẩm nhựa và vải công nghiệp Để khôi phục nghề thủ công, chính quyền địa phương đã khuyến khích các hộ gia đình người Mường tạo ra sản phẩm chất lượng phục vụ du lịch, mang lại thu nhập cho người dân và góp phần vào chương trình xóa đói, giảm nghèo Năm 2019, Hội phụ nữ xã Cẩm Lương đã thực hiện đề án khôi phục nghề dệt thổ cẩm truyền thống nhằm bảo tồn văn hóa và tạo thu nhập cho phụ nữ Mường.
Kể từ đầu những năm 2000, người Mường tại xã Cẩm Lương đã phát triển nghề sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là gạch ngói, mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình.
Người Mường tại xã Cẩm Lương, đặc biệt là thôn Lương Ngọc, đã phát triển kinh tế thông qua du lịch, với điểm nhấn là suối cá Cẩm Lương, nơi có giống cá quý được gọi là cá thần, thu hút hàng chục nghìn du khách mỗi năm Kể từ khi quy hoạch du lịch được phê duyệt vào năm 2004, dịch vụ phục vụ khách tham quan như ăn uống, bán ngô nướng và đồ thủ công đã phát triển mạnh mẽ, tạo việc làm ổn định cho người dân và đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của xã Giá trị thu nhập từ dịch vụ du lịch năm 2019 đạt 15 tỷ đồng, tăng 5 tỷ so với năm 2015 Chính quyền xã Cẩm Lương đã ban hành Chương trình Phát triển dịch vụ, du lịch trở thành ngành kinh tế chủ lực giai đoạn 2021-2025, với mục tiêu phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Mường.
Du lịch đã cải thiện đáng kể cuộc sống của gia đình tôi Trong khi những ngày lễ Tết và mùa hè thu hút nhiều khách du lịch, công việc chính của chúng tôi vẫn là làm ruộng, đặc biệt là trong những tháng mùa đông.
(PVS, bà Thơm, thôn Lương Ngọc)
Với sự phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, người Mường ở Cẩm Lương đã cải thiện kỹ thuật canh tác ruộng nước, trồng mía, phát triển nghề phụ, và quy hoạch chăn nuôi gia súc, gia cầm Những nỗ lực này đã góp phần vào sự phát triển kinh tế du lịch, tạo nên diện mạo cuộc sống mới cho cộng đồng.
Trước Cách mạng tháng Tám (1945), thiết chế xã hội người Mường ở Cẩm Lương gọi là mường, có tổ chức và sự phân định rạch ròi, chặt chẽ
Mường này không có lang đạo như các vùng mường Hòa Bình hay Thanh Hóa Thay vào đó, đứng đầu mường là trùm mường, người phụ trách việc cúng bái tại đình chung Mỗi làng trong mường cũng có một trùm làng đảm nhiệm việc cúng tế tại đình làng.
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), tổ chức mường bị xóa bỏ và thay thế bằng mô hình xã – xóm, trong đó địa bàn xã Cẩm Lương hiện nay thuộc xã Đồng Minh Đầu năm 1947, xã Đồng Minh được đổi tên thành xã Cẩm Giang với 12 xóm, bao gồm Kim Mẫm, Lương Thuận, Lương Hòa, và Lương Ngọc Năm 1964, xã Cẩm Giang được chia thành hai xã: Cẩm Lương và Cẩm Giang, với xã Cẩm Lương gồm năm thôn: Lương Ngọc, Kim Mẫm, Lương Hòa, Lương Thuận và thêm xóm Xủ từ xã Cẩm Thạch Năm 2007, thôn Kim Mẫm được chia thành Kim Mẫm 1 và Kim Mẫm 2, nâng tổng số thôn của xã Cẩm Lương lên sáu Đến năm 2018, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, thôn Kim Mẫm 1 và Kim Mẫm 2 được sát nhập thành thôn Kim Mẫm, và thôn Lương Hòa cùng Lương Thuận sát nhập thành thôn Hòa Thuận, hiện nay xã Cẩm Lương gồm bốn thôn: Xủ Xuyên, Kim Mẫm, Lương Ngọc, và Hòa Thuận.
Người Mường tại xã bao gồm nhiều dòng họ như họ Cao, Trương, Phạm, Bùi, sống quây quần ở chân đồi hoặc gần sông suối Hàng năm, các dòng họ tổ chức họp mặt một lần Tuy nhiên, hiện nay, kết cấu dân cư trong làng có cùng huyết thống gần như không còn tồn tại.
Vai trò của các phe trong cộng đồng làng rất quan trọng, bên cạnh vai trò của dòng họ Phe là tập hợp các gia đình giúp đỡ nhau trong những công việc lớn như xây nhà và tổ chức tang lễ Khi một gia đình xây nhà, ông trùm phe sẽ phân công các gia đình trong làng góp vật liệu và huy động mọi người đến giúp dựng nhà theo ý muốn của chủ nhà Tương tự, khi có người qua đời, các ông trùm sẽ kêu gọi sự đóng góp gạo, gà, tiền để hỗ trợ tang chủ trong việc tổ chức tang lễ từ khâm liệm đến đưa tang Sự hình thành các phe không chỉ giúp giải quyết công việc mà còn củng cố tinh thần cộng đồng bền chặt trong làng.