1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay

122 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến ưu đãi xã hội thông qua việc ban hành nhiều văn bản, chính sách quy định việc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, giải quyết những nhu cầu bức xúc kh

Trang 1

Chương 1: những vấn đề lý luận cơ bản về quyền ưu đãi xã hội của công dân

7

1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền ưu đãi xã hội của công dân 7

1.1.2.1 Quyền ưu đãi xã hội là một trong những quyền cơ bản của công dân 14

1.1.2.2 Quyền ưu đãi xã hội chỉ áp dụng đối với người có công với đất nước 16

1.1.2.3 Quyền ưu đãi xã hội phản ánh, thể hiện chính sách xã hội của Nhà

nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước

16

1.1.2.4 Chế định quyền ưu đãi xã hội góp phần giữ vững thành quả cách

mạng, ổn định chính trị- xã hội

18

1.3 Các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân 29

1.3.1 Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công

dân

29

1.3.2 Hệ thống quyền ưu đãi xã hội của công dân trong mối quan hệ

giữa Nhà nước và công dân

29

quyền ưu đãi xã hội của công dân

Trang 2

của công dân ở Việt Nam

Việt Nam

42

2.1.1.1 Đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội 42

2.1.2 Hoạt động thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt

Nam hiện nay

75

2.2 Đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện

quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

80

hội của công dân ở Việt Nam

80

Việt Nam hiện nay

87

Chương 3: hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam 89

3.1 Nhu cầu hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt

Nam

89

nước giai đoạn hiện nay

90

Trang 3

3.2 Quan điểm hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt

Nam

97

dân trong Hiến pháp

97

3.2.3 Nâng cao mức trợ cấp ưu đãi đối với đối tượng thụ hưởng quyền

ưu đãi xã hội bằng mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội

98

3.2.6 Tăng cường các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền ưu đãi xã hội

của công dân

103

3.3 Giải pháp hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt

Nam

103

xã hội của công dân

103

đãi xã hội

104

đãi xã hội của công dân

105

hội

106

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài

Quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước không chỉ là vấn

đề đạo lý, truyền thống mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng, kinh tế và xã hội

Đó không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài

Chính vì vậy, sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành quy định về quyền ưu đãi xã hội đối với những người có công với đất nước Ngày 16 tháng 02 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 20/SL về chế độ hưu bổng thương tật…Từ đó đến nay, quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước đã có một chặng đường trên nửa thế kỷ hình thành phát triển

Hiện nay, có hơn 8 triệu người thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội Nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện ưu đãi xã hội hàng năm được điều chỉnh căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của đất nước và khả năng đáp ứng ngân sách nhà nước (năm 2005 là 5.832 tỷ đồng; năm 2006 là 6.193 tỷ đồng; năm 2007 là hơn 8000

tỷ đồng) Như vậy, số lượng đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội ở nước ta

là rất lớn [19]

Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đất nước thống nhất, một bộ phận không nhỏ trong số họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống về vật chất và tinh thần như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã phát biểu: “Phần mộ và hài cốt của một số liệt sĩ cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy Một bộ phận gia đình chính sách còn khó khăn trong cuộc sống, nhiều anh chị em thương binh, bệnh binh hàng ngày phải đối mặt với thương tật, ốm đau; một số đồng chí còn bị chất độc da cam hành hạ…” [17 ]

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi sự phân biệt giàu nghèo đang diễn ra, sự phân hoá xã hội đang ngày càng sâu sắc, các định hướng giá trị của xã

Trang 5

hưởng quyền ưu đãi xã hội thì một bộ phận trong số họ là những người có sự hy sinh, cống hiến vô giá, có những chiến công hiển hách làm nên những trang sử sáng chói của dân tộc sẽ tụt xuống vực sâu của cuộc sống, bất công xã hội nảy sinh và chúng ta sẽ không lường được biến cố chính trị, xã hội xảy ra như thế nào

Do điều kiện lịch sử và điều kiện kinh tế- xã hội nên nội dung quyền ưu đãi xã hội thường chắp vá, thay đổi Nhiều nội dung quyền ưu đãi xã hội còn mang tính bình quân cao, nhất là các chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội Quyền ưu đãi

xã hội của công dân chưa được xây dựng và thực hiện một cách toàn diện, đầy

đủ

Đảng đã lãnh đạo Nhà nước, nhân dân ta giành được những thành tựu rực

rỡ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội Từ một quốc gia phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới; chỉ số tăng trưởng kinh tế rất cao, thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng mạnh; an sinh xã hội có điều kiện phát triển toàn diện…

Cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng ta cũng nêu rõ: “ Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh

mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế- xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc” [15; tr101]

Trong điều kiện mới về kinh tế- xã hội của đất nước hiện nay, quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam đã bộc lộ những điểm bất cập, lạc hậu, không còn phù hợp với thực tế cuộc sống Điều này ảnh hưởng không ít đến đời sống, tâm tư và tình cảm của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội

Trang 6

chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mục đích cao cả, nhiệm vụ thường trực của Nhà nước pháp quyền không có gì khác hơn là vì con người Tất cả vì con người, theo hướng có lợi cho con người là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống, nhất là lĩnh vực ưu đãi xã hội, nguyên tắc trên còn chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và còn thiếu những quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ Đây là lĩnh vực bắt gặp nhiều vấn đề liên quan đến tính hợp pháp và hợp lý, đến nguyên tắc và ngoại lệ trong việc xây dựng, ban hành và áp dụng quy định pháp luật

Từ những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học cho bản thân mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực ưu đãi xã hội ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Luận án Tiến sỹ Luật học của Nguyễn Đình Liêu “Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi xã hội ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách đảm bảo xã hội ở nước ta hiện nay” PGS, PTS

Đỗ Minh Cương, PTS Mạc Văn Tiến- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1996; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Tạ Vân Thiều “Cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực người có công ở ngành Lao động- Thương binh và Xã hội”- Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật năm 1997; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hiền Phương “Pháp luật về bảo đảm xã hội Việt Nam: Thực trạng

và hướng hoàn thiện”- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002; Luận

Trang 7

pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam”- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006…

Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu quyền ưu đãi xã hội của công dân như một trong những chế định pháp lý Cho đến nay, ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu mang tính chất toàn diện và đầy đủ về quyền ưu đãi xã hội

như một trong những quyền cơ bản của công dân

3 Mục tiêu, phạm vi và nội dung nghiêu cứu

Ưu đãi xã hội là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, là một lĩnh vực mới được tiếp cận và nghiên cứu ở nước ta Do vậy, tôi chỉ nghiên cứu tập trung, đi sâu vào vấn đề quyền ưu đãi xã hội như một trong những quyền cơ bản của công dân, bao gồm những khái niệm, đặc điểm, nội dung, sự phát triển và thực trạng quyền ưu đãi xã hội của công dân Từ đó, đề xuất xây dựng và hoàn thiện quyền

ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay

* Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như thực trạng quyền ưu đãi xã hội của công dân để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề hoàn

thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

* Nội dung nghiên cứu

Trang 8

- Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân

- Các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân

- Sự phát triển quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

- Điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở nước ta

- Đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện quyền

ưu đãi xã hội của công dân ở nước ta

- Nhu cầu, quan điểm, giải pháp hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật lịch sử: Nhận thức, xác định quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam theo một hệ thống có mối liên hệ lịch sử, kế thừa và phát triển

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

- Phương pháp chuyên gia: Thu thập thông tin, quan điểm, phương pháp luận của các chuyên gia về quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập tài liệu, thông tin về quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam và những nội dung dự báo xã hội, pháp luật

về vấn đề này

- Phương pháp tư duy lô gíc: Lý luận- thực trạng- hướng xây dựng trong việc luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn để nêu lên căn cứ và nội dung hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

5 Những đóng góp của Luận văn

Trang 9

dân ở Việt Nam

- Dựng lại một cách khái quát quá trình phát triển quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của nhu cầu xây dựng và hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

- Xác định những nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân cần sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay ở nước ta

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các

cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, các nhà khoa học pháp lý, các luật gia và sinh viên chuyên ngành Luật, xã hội…

6 Kết cấu của Luận văn

Luận văn được kết cấu phù hợp với mục tiêu, phạm vi và nội dung nghiên cứu Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền ưu đãi xã hội của công dân

Chương 2: Thực trạng quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ QUYỀN ƯU ĐÃI XÃ HỘI CỦA CÔNG DÂN

1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền ưu đãi xã hội của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền ưu đãi xã hội của công dân

Sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân gắn liền với sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Cộng đồng cơ bản và vững chắc nhất là gia đình, trên nữa là

bộ lạc, dòng họ, thôn, xóm, làng, bản, xã/phường, quận/huyện, tỉnh/thành phố và quốc gia Do vậy, các cá nhân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ loan toan, gánh vác các công việc của cộng đồng nơi mình sinh sống Có cá nhân đóng góp nhiều sức lực, của cải, thành tích cho cộng đồng, có cá nhân đóng góp ít

Công việc chung của cộng đồng thường gồm hai loại: một là sự nghiệp chiến đấu để bảo vệ cộng đồng; hai là sự nghiệp kiến thiết, xây dựng và phát triển cộng đồng Trong quá trình lo toan cho công việc chung của cộng đồng, có nhiều cá nhân và gia đình của họ đã tình nguyện, chấp nhận hy sinh tính mạng,

bị thương tật, bệnh tật hoặc bị tàn phá hết cơ sở vật chất, của cải, không thể phục hồi được cuộc sống bình thường Đây chính là những đối tượng được cộng đồng hết sức quan tâm, chăm sóc Tuỳ theo đặc điểm của từng cộng đồng và truyền thống của cộng đồng, những người đó và gia đình họ có thể được thưởng công

Trang 11

dưỡng, giúp đỡ trong suốt cuộc đời sau này Họ chính là những người có công với cộng đồng

Bản thân những người có công là những cá nhân công dân bình thường, làm công việc của cộng đồng, tự coi đó là trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng mình nơi sinh sống Họ không bao giờ kể công, đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa Nhưng cộng đồng đời đời nhớ ơn họ và có những hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” cụ thể, nhất định tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị- kinh tế- xã hội Những người có công được cộng đồng dành cho những quyền ưu đãi cụ thể trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Đó không phải là sự trả công, mà là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng đối với bản thân người có công và gia đình họ

Ưu đãi dành cho người có công- những người có công lao, cống hiến đặc biệt với đất nước, với cộng đồng, là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, được ưu tiên hơn mức bình thường Đó

có thể là sự ưu tiên về đời sống vật chất, có thể là sự ưu tiên về đời sống văn hoá, tinh thần

Theo quan điểm của kinh tế học thì đây là hoạt động phân phối lại của cải vật chất của xã hội Tuy nhiên, sự phân phối này không căn cứ vào kết quả lao động của mỗi người đã đóng góp, cống hiến để trả công

Ở điều kiện nước ta, sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn thể nhân dân ta trường kỳ kháng chiến chống quân Pháp, Mỹ xâm lược Đây là những cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực- toàn dân, toàn diện và lâu dài, ác liệt Cả dân tộc Việt Nam đứng lên chống kẻ thù xâm lược, ở mặt trận tiền phương thì cán bộ, chiến sĩ đối mặt với quân thù ngoại xâm, ở mặt trận hậu phương thì nhân dân tăng gia sản xuất, chống giặc đói, cung cấp lương thực, quân trang, vũ khí cho tiền phương Hàng vạn, hàng triệu người tham gia vào bộ đội, du kích đánh giặc giữ làng,

Trang 12

độc lập, tự do của Tổ Quốc

Trong các cuộc kháng chiến đó, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã ngã xuống, hy sinh xương máu; hàng triệu người suốt đời bị ốm đau, bệnh tật hoặc thương tật trên mình, hàng vạn người bị nhiễm chất độc hoá học…, nhiều gia đình tham gia đóng góp của cải vật chất và sức lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Họ là những người có công với cách mạng

Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã sơ bộ nêu lên những tổn thất mất mát nhưng đầy vinh quang trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược:

“- 1.100.000 con em các dân tộc đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc

- 600.000 thương binh (thực tế chiến tranh số người bị thương trong chiến đấu rất lớn- thường chiếm xấp xỉ 3-4/1 phần so với hy sinh), số liệu thống kê chỉ tính số đã xếp hạng thương tật và được hưởng trợ cấp)

- 300.000 người bị mất tích trong chiến đấu

- 2.000.000 người dân bị giết hại

- 2.600.000 người có công với cách mạng

- 44.269 Bà mẹ Việt Nam anh hùng

- 3.119 đơn vị anh hùng (trong đó có 576 đơn vị dân quân tự vệ và 1.241 Anh hùng lực lượng vũ trang)

Trang 13

Sau cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, cũng có hàng chục vạn người hy sinh, bị thương tật, bị mắc bệnh tật suốt đời Đây là những mất mát vô cùng lớn lao mà dân tộc ta đã phải gánh chịu để bảo vệ non sông đất nước, đánh đuổi kẻ thù xâm lược

Nhìn dưới góc độ văn hoá, truyền thống, người Việt ta luôn luôn coi trọng đạo lý và nhân nghĩa, có truyền thống “tương thân tương ái”, “đền ơn đáp nghĩa”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”… Cuộc sống “đồng cam cộng khổ”, “lá lành đùm lá rách” đã có tự bao giờ Tình cảm “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng…” là những nét đẹp của tâm hồn người Việt, của tâm lý cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Kế thừa và phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến ưu đãi

xã hội, đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, động viên người có công với đất nước và gia đình họ Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày “thương binh toàn quốc” (tháng 7/1947), Bác Hồ viết:

“…Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu

để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu…”

“… Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” [31]

Trong Bài nói chuyện tại Buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (ngày 5/1/1960), Bác Hồ nói:

“Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói Sự

hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ…” [16]

Trang 14

Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến ưu đãi xã hội thông qua việc ban hành nhiều văn bản, chính sách quy định việc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, giải quyết những nhu cầu bức xúc khi chạy chữa vết thương, bệnh tật và các nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày…Bên cạnh đó, nhiều phong trào được nhân dân, đoàn thể, các tổ chức chính trị- xã hội phát động, phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các địa phương thuộc vùng tự do như trợ giúp thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ làm nhà ở, giúp ruộng đất, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để thương binh, bệnh binh về làng có cuộc sống ổn định…

Đến nay, ưu đãi xã hội trở thành một nhiệm vụ kinh tế- xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta, nhiều phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” được cộng đồng xã hội phát động và phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nước với nhiều thành quả hết sức ấn tượng, đáng khích lệ, biểu dương

Ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước ra đời là tất yếu, phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi khách quan của đời sống xã hội ở nước ta Ưu đãi xã hội thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng đối với người có công và gia đình của họ [26]

Ưu đãi xã hội là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng, là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, là sự đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần đối với một số công dân có nhiều hy sinh, cống hiến với đất nước nhằm tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2000 thì quyền là “1 Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi 2 Những điều do địa vị hay chức

vụ mà được làm (nói tổng quát)” [36; tr815]

Trang 15

bản Giáo dục năm 1996) thì quyền “là thế, sức mạnh, trách nhiệm do pháp luật công nhận hoặc do địa vị xã hội đem lại” [37]

Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý thì quyền là khả năng của một chủ thể tự

do lựa chọn hành động hoặc thụ hưởng những ưu đãi nhất định

Về khái niệm quyền con người, có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau lý giải nội dung quyền con người Có quan điểm cho rằng quyền con người

là một đặc quyền tự nhiên không phụ thuộc và có từ khi xuất hiện loài người Quan điểm khác lại cho rằng con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, quyền con người là phạm trù có tính lịch, là giá trị chung của nhân loại được hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung trong quá trình phát triển

Chủ nghĩa Mác- Lê Nin cho rằng quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân loại sâu sắc Quyền con người là sự biện chứng giữa quyền tự nhiên và quyền xã hội Quyền con người là khả năng được làm hoặc được hưởng của cá nhân mà nhà nước và xã hội cho phép hoặc thừa nhận Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin thể hiện tính chính xác, khách quan và khoa học về quyền con người

Về quyền công dân, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2000 xác định quyền công dân là “quyền của người công dân, bao gồm những quyền tự do dân chủ và các quyền lợi cơ bản về kinh tế, văn hoá, xã hội v.v được hiến pháp công nhận” [36; tr815]

Quyền công dân là quyền con người, là những giá trị gắn liền với một Nhà nước nhất định và được Nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể [29; tr25]

Trang 16

người Không thể quan niệm rằng, một cá nhân con người vừa có quyền con người vừa có quyền công dân một cách tách biệt hoàn toàn

Điều này được khẳng định tại Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” [2] Như vậy, việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện tốt các quyền công dân chính là đã thực hiện tốt những nội dung cơ bản của quyền con người

Quyền công dân được phân chia thành các nhóm tương ứng với các lĩnh vực khác nhau như quyền chính trị, quyền kinh tế, quyền dân sự, quyền xã hội… Trong đó, quyền ưu đãi xã hội thuộc nhóm quyền kinh tế- xã hội

Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi cho rằng:

Quyền ưu đãi xã hội là khả năng của công dân được tự do lựa chọn, thụ thưởng những ưu đãi xã hội nhất định, là những giá trị gắn liền với Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng pháp luật, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với những công dân có công lao, cống hiến đặc biệt với đất nước

Quyền ưu đãi xã hội của công dân được quy định từ rất sớm ở nước ta Ngày 16 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL quy định “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ” Hơn nửa thế kỷ qua, quyền

ưu đãi xã hội đã được hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ theo hướng toàn diện, đầy đủ và mở rộng đối tượng, phạm vi áp dụng hơn; thể hiện chính sách kinh tế-

xã hội của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo nhân dân đối với công tác “đền ơn đáp nghĩa”

Quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước không phải là sự đền bù Sự hy sinh cao quý vì Tổ quốc, bằng tính mạng và xương máu của mình

Trang 17

đãi xã hội không chỉ thể hiện bằng yếu tố vật chất thuần tuý, mà còn là đạo lý, truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, là lòng kính trọng đối với nhiều thế hệ người có công với đất nước

1.1.2 Đặc điểm quyền ưu đãi xã hội của công dân

Trước hết, chúng tôi xin đưa ra một số đặc điểm của ưu đãi xã hội như sau:

- Về đối tượng hưởng ưu đãi xã hội: Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội là

những cá nhân và gia đình họ có nhiều hy sinh, công hiến đặc biệt với đất nước

đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận là người có công theo quy định của pháp luật Ưu đãi xã hội được áp dụng đối với mọi công dân, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế…

- Về mục tiêu của ưu đãi xã hội: Ghi nhận công lao, sự hy sinh, đóng góp

của những người có công với đất nước và tạo mọi điều kiện, khả năng đền đáp,

bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần đối với họ

Thực hiện tốt ưu đãi xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tiến bộ

xã hội và tiến tới việc xây dựng một xã hội phồn thịnh, ấm no, hạnh phúc

- Về nội dung của ưu đãi xã hội: Ưu đãi xã hội có nội dung rất phong phú,

bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội… Cơ bản gồm: ưu đãi về đời sống vật chất, trong đó trợ cấp vật chất là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất nhằm giúp đảm bảo hoặc hỗ trợ thêm đời sống người có công và ưu đãi về đời sống văn hoá, tinh thần nhằm giúp cho người có công có đời sống tinh thần lạc quan, yêu đời, hạnh phúc

- Về chủ thể thực hiện ưu đãi xã hội: Chủ thể thực hiện ưu đãi xã hội bao

gồm Nhà nước, cộng đồng và các chủ thể khác Việc thực hiện ưu đãi xã hội của các chủ thể này có phạm vi, phương pháp và hiệu quả khác nhau

Nhà nước: Ban hành pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện

Trang 18

hội, vai trò của cộng đồng là hết sức quan trọng

Chủ thể khác: Thực hiện ưu đãi xã hội theo các hình thức tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu ở phần trên, chúng tôi cho rằng quyền ưu đãi xã hội của công dân có một số đặc điểm cơ bản như sau:

1.1.2.1 Quyền ưu đãi xã hội là một trong những quyền cơ bản của công dân

Quyền cơ bản của công dân luôn luôn là một chế định cơ bản của Luật Hiến pháp Việt Nam Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, chế định quyền cơ bản bao giờ cũng giữ một vị trí quan trọng, được quan tâm một cách thích đáng [25; tr237]

Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Do đó, mối quan hệ Nhà nước- công dân là mối quan hệ qua lại cùng có trách nhiệm Mối quan hệ qua lại cùng

có trách nhiệm chỉ có thể tồn tại trong một chế độ xã hội mà ở đó tư tưởng mỗi người vì hạnh phúc của mọi người, mọi người vì hạnh phúc của mỗi người trở thành nguyên tắc đạo đức và pháp lý

Mối quan hệ giữa Nhà nước - công dân thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ đối với nhau Các nghĩa vụ của Nhà nước được xác định trong Hiến pháp nói riêng, trong pháp luật nói chung dưới hình thức các nhiệm vụ của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước cụ thể hoặc dưới hình thức các quyền công dân và những đảm bảo của nó Trách nhiệm của công dân đối với Nhà nước và xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật dưới hình thức nghĩa vụ công dân

Các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp được gọi là các quyền cơ bản, trước hết vì nó xác định những mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nước và công

Trang 19

Các quyền của công dân được ghi nhận, thể hiện trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu, có ý nghĩa quyết định để xác định địa vị pháp lý của công dân Đây cũng chính là cơ sở để xác định các quyền khác của công dân, ở mọi cấp độ và trong mọi ngành luật

Quyền cơ bản là khả năng của mỗi công dân được tự do lựa chọn hành động Khả năng đó được Nhà nước ta ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Quyền cơ bản thể hiện khả năng của mỗi công dân được tự do lựa chọn cách thức và mức độ thể hiện thái độ cũng như hành động của mình một cách tự nguyện, tự giác [25; tr238]

Điều 67 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định quyền ưu đãi xã hội là một trong những quyền cơ bản của công dân như sau: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc…” [2]

Việc ghi nhận quyền ưu đãi xã hội là một trong những quyền cơ bản của công dân và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật đã thể hiện sự chú trọng, quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với lĩnh vực ưu đãi xã hội, với những người có công với đất nước và gia đình họ Bởi họ, chính là những đại diện ưu tú nhất của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống kẻ thù xâm lược - những người đã cống hiến, hy sinh, mất mát nhiều nhất cho độc lập,

tự do của đất nước

1.1.2.2 Quyền ưu đãi xã hội chỉ áp dụng đối với người có công với đất nước

Trang 20

có cống hiến lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quyền ưu đãi

xã hội đối với người có công với đất nước là quyền đặc biệt, được áp dụng cho những đối tượng đặc biệt Bản chất của quyền ưu đãi xã hội là sự “đền ơn đáp nghĩa”, chứ không mang ý nghĩa trả công, bởi sự hy sinh xương máu, tính mạng của người có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì không điều gì

có thể bù đắp, trả công được Chúng ta sẽ có những gì để có thể trả công cho những người mẹ đã hy sinh 09 người thân ruột thịt là chồng, là con cho Tổ quốc, cho người thương binh, bệnh binh bị thương tật, bệnh tật suốt đời, cho những người bị nhiễm chất độc da cam sinh thế hệ con, cháu là những người tật nguyền, cho những người đã anh dũng ngã xuống… trong các cuộc kháng chiến? Do vậy, chỉ những người có công với đất nước mới được hưởng quyền ưu đãi xã hội Toàn Đảng, toàn dân có trách nhiệm chăm lo đời sống cho người có công, nhưng trước hết trách nhiệm đó thuộc về Nhà nước Nhà nước ta là người đại diện cho giai cấp, cho nhân dân, cho toàn xã hội nên Nhà nước phải có nghĩa vụ, trách nhiệm đảm bảo và nâng cao đời sống tinh thần và vật chất đối với người có công với đất nước và gia đình họ

1.1.2.3 Quyền ưu đãi xã hội phản ánh, thể hiện chính sách xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước

Quyền ưu đãi xã hội của công dân phản ánh, thể hiện chính sách xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Tuỳ từng điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể, khả năng ngân sách của nhà nước, khả năng kinh tế của các địa phương trong từng giai đoạn lịch sử chung của đất nước, quyền ưu đãi xã hội lại có nội dung, hình thức, đối tượng thuộc diện thụ hưởng và các biện pháp bảo đảm thực hiện khác nhau Chế định quyền ưu đãi xã hội của công dân có vai trò thể chế hoá một phần quan trọng chính sách xã hội của Nhà nước, là phương

Trang 21

hội, Nhà nước xác định cụ thể các hình thức, phương pháp quản lý phù hợp của các cơ quan Nhà nước trên cơ sở nhận thức đầy đủ, chính xác đối tượng thụ hưởng quyền ưu xã hội và các biện pháp bảo đảm hiệu quả quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện quyền ưu đãi xã hội

Quyền ưu đãi xã hội của công dân bao gồm quyền ưu đãi về đời sống vật chất và đời sống văn hoá, tinh thần Quyền ưu đãi xã hội được xây dựng, hoàn thiện ngày càng toàn diện, đầy đủ hơn trong mối tương quan mật thiết với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước và phù hợp với khả năng của nền kinh tế Quyền đãi xã hội không được xây dựng quá cao vượt khả năng kinh tế, khả năng đảm bảo của đất nước nhưng cũng không được thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng Nếu quyền ưu đãi xã hội quá cao, vượt quá khả năng kinh tế- xã hội của đất nước thì sẽ khó được thực thi, khó triển khai hiệu quả khi đưa vào đời sống, kìm hãm sự phát triển chung; ngược lại, nếu quyền ưu đãi xã hội quá thấp, không đạt mức trung bình của đời sống cộng đồng thì sẽ không giúp hỗ trợ, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần đối với người có công với đất nước và thân nhân của họ, không đạt được mục đích và ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội đặt ra [24]

Trong kháng chiến, khi toàn Đảng, toàn dân tập trung toàn bộ khả năng kinh tế của đất nước vào việc đánh đuổi kẻ thù xâm lược thì việc quan tâm, chăm sóc người có công với đất nước còn hạn chế với một số quyền ưu đãi xã hội hết sức hạn chế, diện đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội chỉ là thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta

đã có điều kiện kinh tế thuận lợi hơn cho việc thực hiện ưu đãi xã hội Do đó, số đối tượng thuộc diện thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội tăng lên, mức trợ cấp tăng lên đáng kể, các hình thức hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần được cải thiện nhiều Tuy vậy, đây là thời kỳ có nền kinh tế tập trung- bao cấp nên đời sống xã

Trang 22

vào những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Chẳng hạn, ưu đãi về vật chất đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được tính tương đương một số lượng gạo nhất định; thương binh, bệnh binh được trang cấp quần áo, giày dép hoặc các

ưu đãi khác ngoài trợ cấp như miễn giảm thuế nông nghiệp, tạo điều kiện có đất đai để tham gia trồng trọt, cấy hái…

Sau thời kỳ đổi mới, đất nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác quốc tế thì nền kinh tế của nước ta đã

có những bước phát triển vượt bậc Chỉ số kinh tế liên tục tăng cao, khả năng ngân sách của Nhà nước được cải thiện, các điều kiện kinh tế- xã hội được nâng lên một tầm cao mới thì quyền ưu đãi xã hội của công dân cũng được phát triển toàn diện Đối tượng thuộc diện thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội được nghiên cứu,

bổ sung, chuẩn hoá khá đầy đủ; chế độ trợ cấp, phụ cấp được cải cách tương ứng với sự đi lên của mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội; chế độ ưu đãi về văn hoá, tinh thần và các hình thức hỗ trợ, giúp đỡ khác về đất đai, nhà ở, y tế, giáo dục, thuế… đã có những bước phát triển vượt bậc cả về nội dung và hình thức Quyền ưu đãi xã hội được Nhà nước bảo đảm thực hiện hiệu quả bằng pháp luật

và được cộng đồng ủng hộ mạnh mẽ với nhiều phong trào, hình thức thiết thực

1.1.2.4 Chế định quyền ưu đãi xã hội góp phần giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị- xã hội

Chế định quyền ưu đãi xã hội là sự ghi nhận, trân trọng công lao của người có công và gia đình họ trong thời kỳ đất nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nó cũng thể hiện sự quan tâm, chăm lo, đền đáp, bù đắp của Nhà nước và cộng đồng một phần đối với những cống hiến, mất mát, hy sinh của những người có công với đất nước và gia đình họ

Hơn nửa thế kỷ qua, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới với việc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng,

Trang 23

người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994, chế định quyền ưu đãi xã hội của công dân có một vai trò, ý nghĩa rất to lớn trong việc giữ vững thành quả cách mạng, củng cố ngày vững chắc chế độ chính trị, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm ổn định chính trị Nó cũng góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Đảm bảo ổn định chế độ chính trị là cơ sở quan trọng cho sự phát triển, đi lên của nền kinh tế

- xã hội

Đảm bảo thực hiện hiệu quả chế định quyền ưu đãi xã hội của công dân là một trong những tiêu chuẩn, thước đo sự thành công của tiến trình đổi mới ở nước ta Số lượng người có công với đất nước là rất lớn (cứ 12 người có 1 người

có công), có những địa phương như Quảng Trị, diện người có công chiếm 24% dân số, khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước còn hạn chế nhưng với những bước đi thích hợp, quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước đã được đảm bảo thực hiện trên cơ sở sự hài hoà với sự phát triển chung của kinh

tế, với yếu tố công bằng xã hội [38; tr54]

Thực hiện tốt chế định quyền ưu đãi xã hội của công dân trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định thành quả cách mạng to lớn của Đảng ta, dân tộc ta Đó là sự đóng góp, quan tâm của toàn Đảng, toàn dân nhưng điển hình là những người có công với đất nước Trân trọng đề cao những người có công với đất nước chính là tiếp tục khẳng định thành quả cách mạng của dân tộc ta Các thế hệ sau này tiếp tục kế thừa và phát huy hơn nữa thành quả cách mạng trong một thời kỳ mới- thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong đó người có công với đất nước và gia đình đã và đang phát huy phẩm chất của người công dân kiểu mẫu, gia đình cách mạng gương mẫu

1.2 Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân

Trang 24

do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đảng

và Nhà nước ta đang cố gắng hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, toàn bộ hoạt động của Nhà nước đều vì con người, phục vụ, đem tới những điều kiện sinh hoạt và làm việc tốt nhất cho con người Bản chất chế độ chính trị đó đã quyết định nội dung, mục đích và bản chất các quyền của công dân, trong đó quyền ưu đãi xã hội là một trong những quyền đặc biệt của công dân chỉ có ở nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong nhà nước tư bản chủ nghĩa, quyền ưu đãi xã hội của công dân cũng tồn tại, tuy nhiên, nội dung, bản chất, mục đích, hình thức biểu hiện hoàn toàn khác với nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyền ưu đãi xã hội của công dân chỉ tồn tại trên danh nghĩa ở nhà nước tư bản chủ nghĩa Nó thể hiện qua một số hình thức quan tâm của nhà nước tư bản tới những nhu cầu nhất định của những người đã hy sinh bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản trong các cuộc chiến tranh xâm lược, bành trướng… Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân trong cộng đồng có truyền thống xâm lược, lấy việc gây chiến tranh, cướp bóc các cộng đồng khác làm mục đích phát triển chỉ mang ý nghĩa đền bù, trả công vật chất thuần tuý, bản chất bóc lột mà không thể có tính nhân đạo, ý nghĩa “đền ơn đáp nghĩa” như trong nhà nước ta

Trong hoạt động chính trị- kinh tế- xã hội ở nước ta, nhân tố con người được đặt lên hàng đầu Tính năng động chủ quan, tài năng, trí tuệ và sức lực của con người hết sức được trân trọng và được chú ý, quan tâm, giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của cộng đồng, xã hội Bên cạnh đó, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước cũng được đề cao Nhà nước ta quản lý con người trên cơ sở quan điểm đó nhằm tạo các điều kiện thuận lợi để các cá nhân có thể phát huy khả năng của mình thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, Nhà nước

Trang 25

đất nước với việc giành cho họ những quyền ưu đãi xã hội nhất định vì những công lao, cống hiến, hy sinh được ghi nhận

Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân ở nước ta rất phong phú, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo… Chúng có mối liên hệ, tác động qua lại mật thiết với nhau nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ, hỗ trợ người

có công với đất nước ổn định và nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần

Đó có thể các hoạt động giải quyết các vấn đề vật chất và tinh thần cụ thể như trợ cấp tiền hàng tháng, tìm kiếm, quy tập, xây cất mồ mả liệt sĩ hoặc đào tạo, đào tạo lại, tìm việc làm cho người có công với đất nước bị suy giảm khả năng lao động… Đây là những công việc vừa mang ý nghĩa xã hội, vừa mang ý nghĩa chính trị to lớn Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân được nghiên cứu, xây dựng, phát triển và hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử

Quyền ưu đãi xã hội của công dân là hệ thống các quy định cụ thể được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật ưu đãi người có công Các chế độ

ưu đãi bao gồm các lĩnh vực khác nhau như: y tế; giáo dục đào tạo; sản xuất, đời sống, sinh hoạt… Trong từng chế độ ưu đãi có quy định cụ thể về phạm vi đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn, mức, nội dung và thời hạn hưởng

Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở nước ta bao gồm những nội dung cơ

bản như sau:

1.2.1 Nội dung quyền ưu đãi về trợ cấp

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2000 thì trợ cấp

là cấp tiền để giúp đỡ cho người thiếu thốn, khó khăn (trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, tiền trợ cấp hàng tháng…); còn trợ giúp là giúp đỡ [36; tr1045] Trợ cấp được hiểu theo hai nghĩa là cấp và giúp Cấp tiền, có thể là cấp vật

Trang 26

trợ cấp theo nghĩa hẹp này thì trợ cấp và trợ giúp xã hội có khái niệm tương đồng nhau về nội dung khái niệm

Trợ giúp xã hội là hình thức giúp đỡ của Nhà nước, nhân dân, cộng đồng

và quốc bằng tiền hoặc các điều kiện, phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng vươn lên tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hoà nhập cộng đồng Trợ giúp xã hội hướng tới đối tượng

là những người nghèo, những người không may bị biến cố thiên tai, dịch bệnh và các biến cố xã hội khác mà đời sống đang gặp nhiều khó khăn, nhưng chưa đến mức phải cứu tế [21; tr9]

Cùng là việc cấp tiền (hoặc hiện vật) nhưng mục tiêu, đối tượng và bản chất của trợ cấp hoàn toàn khác với trợ giúp xã hội

Về mặt khái niệm, chúng tôi cho rằng:

Trợ cấp ưu đãi xã hội là khoản tiền do Nhà nước cấp thường xuyên hoặc một lần đối với người có công với đất nước theo quy định của pháp luật ưu đãi

xã hội

Trợ cấp ưu đãi xã hội có nhiều loại khác nhau, cấp cho từng diện đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội khác nhau dựa trên những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể

Đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là những người đã có quá trình hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài, trường kỳ và gian khổ nên hầu hết trong số họ đã già yếu, suy giảm mạnh khả năng lao động do thương tật, bệnh tật, chất độc da cam… Hiện nay, những người này gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống đời thường Vì vậy, Nhà nước và cộng đồng căn cứ vào sự cống hiến, công lao và hoàn cảnh, tình trạng đời sống cụ thể của họ mà có sự giúp đỡ thích đáng về vật chất với khả năng cao nhất

Trang 27

Sự hỗ trợ, giúp đỡ bằng vật chất này được biểu hiện bằng một hệ thống các quy định về chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với đất nước Trong số những nội dung cơ bản của quyền ưu đãi xã hội thì trợ cấp vật chất là một trong những nội dung chủ yếu, cơ bản và thiết thực nhất đối với người có công với đất nước Đây là phương sách nhanh chóng đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của họ Tuy nhiên, bên cạnh đó, Nhà nước và cộng đồng cũng cần

có những hình thức, biện pháp khác để hỗ trợ người có công với đất nước trong cuộc sống đời thường

Tại Việt Nam, quyền ưu đãi về trợ cấp của công dân được hình thành từ rất sớm Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là giai đoạn 1976- 1986 (thời kỳ đất nước thực hiện nền kinh tế tập trung- bao cấp) thì chế độ trợ cấp, phụ cấp là phương sách chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất giúp người

có công với đất nước đảm bảo ổn định được cuộc sống Nội dung quyền ưu đãi

về trợ cấp được ghi nhận trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ưu đãi

xã hội là khá phong phú, với nhiều khái niệm khác nhau

Nội dung quyền ưu đãi xã hội về trợ cấp của công dân có thể được chia thành một số nhóm như sau:

- Trợ cấp hàng tháng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật ưu đãi xã

hội, được cấp hàng tháng đối với đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội; chẳng hạn trợ cấp hàng tháng đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh…

- Trợ cấp tuất hàng tháng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật ưu

đãi xã hội, được cấp hàng tháng cho thân nhân của liệt sĩ khi hết tuổi lao động, chưa đến tuổi lao động hoặc trên 18 tuổi nhưng bị tật nguyền bẩm sinh, không còn khả năng lao động

Trang 28

- Trợ cấp thương tật hàng tháng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật

ưu đãi xã hội, được cấp hàng tháng cho người bị thương được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên

- Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng: là khoản tiền trợ cấp thường xuyên theo

quy định của pháp luật ưu đãi xã hội, được cấp đối với một số đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội thuộc diện già yếu, cô đơn, không nương tựa, không còn khả năng lao động; chẳng hạn trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng đối với thân nhân của liệt sĩ, người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945…

- Trợ cấp một lần: là khoản tiền trợ cấp một lần theo quy định của pháp

luật ưu đãi xã hội, được áp dụng cho từng loại đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi

xã hội khác nhau; chẳng hạn trợ cấp một lần đối với người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến…

- Trợ cấp thương tật một lần: là khoản tiền theo quy định của pháp luật ưu

đãi xã hội, được cấp cho người bị thương được xác định có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 20% trở xuống (từ 5% đến 20%)

- Phụ cấp người phục vụ thương binh nặng, bệnh binh nặng: là khoản tiền

theo quy định của pháp luật ưu đãi xã hội, được cấp hàng tháng đối với người trực tiếp đảm nhiệm việc phục vụ, chăm sóc thương binh nặng, bệnh binh nặng

có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên do thương tật, bệnh tật đã về điều dưỡng tại gia đình

- Phụ cấp ưu đãi hàng tháng: là khoản tiền được Nhà nước cấp thêm ngoài

khoản trợ cấp chính, đối với một số đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội có hoàn cảnh đặc biệt đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng hoặc là khoản tiền phụ thêm đối với một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật ưu đãi xã hội;

Trang 29

chẳng hạn phụ cấp đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 … [34]

Nội dung quyền ưu đãi về trợ cấp của công dân được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật ưu đãi xã hội có nội dung hết sức phong phú, đa dạng Quy định này có ý nghĩa kinh tế, xã hội sâu sắc, đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thực tiễn đời sống xã hội Đây cũng là một điểm tựa về kinh tế giúp đỡ hiệu quả đời sống của người có công với đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Nội dung quyền ưu đãi về trợ cấp có những đặc điểm như sau:

- Có mối liên hệ mật thiết với quy định pháp lý về tiền lương tối thiểu của người lao động và sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội của đất nước:

Trong thời kỳ kinh tế tập trung- bao cấp: nội dung quyền ưu đãi xã hội về trợ cấp, cụ thể là các mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với đất nước được xây dựng dựa trên căn cứ, sự tương quan nhất định đối với các quy định pháp lý về tiền lương tối thiểu của người lao động

Trong thời kỳ kinh tế thị trường: nội dung quyền ưu đãi xã hội về trợ cấp được xây dựng dựa trên căn cứ mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội được Tổng cục Thống kê thông báo 02 năm một lần, phù hợp với sự tăng trưởng kinh

tế và tiến bộ xã hội của đất nước Suy cho cùng, nội dung quyền ưu đãi xã hội về trợ cấp vẫn có những mối tương quan nhất định với các quy định pháp lý về tiền lương tối thiểu của người lao động

- Đây không phải là yếu tố vật chất đơn thuần, mà còn là tình cảm, lòng kính trọng, sự biết ơn sâu sắc của cộng đồng Đó là không phải sự ban ơn, từ thiện hoặc sự trả công đối với người có công với đất nước

1.2.2 Nội dung quyền ưu đãi về kinh tế - văn hoá - xã hội

Nội dung quyền ưu đãi về kinh tế- văn hoá- xã hội được xây dựng trên căn

Trang 30

trên nhiều lĩnh vực khác nhau như lao động, việc làm, chăm sóc sức khoẻ, giáo

dục đào tạo…

Quyền ưu đãi về kinh tế- văn hoá- xã hội của công dân có thể được chia thành các loại như sau:

- Quyền ưu đãi về chăm sóc sức khoẻ

- Quyền ưu đãi về giáo dục, đào tạo

- Quyền ưu đãi về nhà ở

- Quyền ưu đãi về thụ hưởng văn hoá

- Quyền ưu đãi về kinh tế- lao động

Quyền ưu đãi về kinh tế- văn hoá- xã hội của công dân bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất, là chăm sóc đời sống đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội

Chăm sóc đời sống đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là vấn đề lớn, phức tạp, cần có sự ủng hộ mạnh mẽ của Nhà nước, cộng đồng Chăm sóc đời sống bao gồm các hoạt động, biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội Đó là toàn bộ việc tổ chức, quản lý, sắp xếp đời sống vật, tinh thần cho họ, dù họ là người còn khả năng lao động hay không còn khả năng lao động, được nuôi dưỡng trong các cơ sở điều dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh hay sinh sống cùng gia đình ở các địa phương trong cả nước Hoạt động chăm sóc đời sống đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội có nội dung rất phong phú, đa dạng từ việc

ăn mặc, ở, đi lại, chữa bệnh, học tập, vui chơi, giải trí, cho đến cuộc sống riêng

tư của từng trường hợp cụ thể…

Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là những người suy giảm khả năng lao động, không còn khả năng lao động, già yếu thậm chí sống cô đơn, không nơi nương tựa, không có chế độ lương hưu hoặc mất sức lao động… Do đó, việc chăm sóc đời sống vật chất đối với họ cũng hết sức phức tạp, bởi lẽ, có rất nhiều diện đối tượng khác nhau với những hoàn cảnh,

Trang 31

nhu cầu, mức độ cần trợ giúp khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đòi hỏi công tác chăm sóc đời sống vật chất đối với họ cần phải làm chu đáo, toàn diện và nhanh chóng hơn

Mục tiêu được đặt ra trong việc chăm sóc đời sống vật chất của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là phải đảm bảo cho họ có đời sống ổn định, dần dần được nâng cao, có mức sống không thấp hơn mức sống trung bình của người dân địa phương Đời sống vật chất của họ gắn liền với sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử

Chăm sóc đời sống vật chất của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội tức là phải đảm bảo, giải quyết tốt những vấn đề vật chất, những nhu cầu cơ bản của cuộc sống như ăn, ở, mặc và đi lại…

Bên cạnh những nhu cầu về vật chất, con người còn có những nhu cầu, đòi hỏi về đời sống văn hoá, tinh thần Đây là những yêu cầu khách quan của đời sống thường nhật của con người Đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội có những sự tổn thương, mất mát về cơ thể, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, éo le… Vì vậy, những nhu cầu về đời sống văn hoá, tinh thần, tình cảm của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội cần phải được hiểu thấu đáo, cảm thông, sẻ chia để việc giải quyết được chu đáo, tận tình

Chăm sóc đời sống văn hoá, tinh thần của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội tức là phải đảm bảo điều kiện thuận lợi cho họ được thụ hưởng những thành quả, giá trị của văn hoá; chia sẻ, giúp đỡ, động viên để họ có đời sống tinh thần vui vẻ, thoải mái trong sinh hoạt cộng đồng và gia đình

Chăm sóc đời sống của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội cần phải được làm chu đáo, đầy đủ cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần là quan điểm toàn diện của Đảng, Nhà nước và cộng đồng Đây cũng là sự thể hiện lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc đối với người có công với đất nước

Trang 32

- Thứ hai, là đảm bảo việc làm, phát huy khả năng lao động, sáng tạo của các đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội

Đảm bảo việc làm, phát huy khả năng lao động, sáng tạo của các đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là vấn đề có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội to lớn Đây là vấn đề nhằm đảm bảo quyền lợi đối với đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội với tư cách là một công dân, một người lao động Giải quyết tốt việc tạo việc làm, phát huy khả năng lao động, sáng tạo của họ là sử dụng hợp

lý một lực lượng lao động quan trọng của xã hội, góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội Và quan trọng hơn là tạo điều kiện cho những người còn khả năng lao động tự nâng cao mức sống, tự khẳng định mình, góp phần giảm bớt khó khăn cho xã hội, hoà nhập vào cộng đồng

Do đặc thù về thương tật, bệnh tật, sức khoẻ nên đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội phần lớn là những người có khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Đối với họ, đảm bảo công ăn, việc làm và có thu nhập cho bản thân và gia đình là hết sức quan trọng Tuy nhiên, do đặc điểm các đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là khác nhau nên đảm bảo việc làm, phát huy khả năng lao động, sáng tạo của họ phải linh hoạt, có những hình thức, biện pháp phù hợp

trong điều kiện kinh tế thị trường

- Thứ ba, là chăm sóc sức khoẻ đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội

Đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội thường là những người bị suy giảm khả năng lao động Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, pháp luật ưu đãi

xã hội rất chú trọng đến việc đảm bảo, phục hồi và chăm sóc sức khoẻ đối với

họ Chỉ khi được chăm sóc sức khoẻ hợp lý, khoa học và đầy đủ thì sức khoẻ, khả năng lao động của họ mới được phục hồi và nâng lên Trong đó, việc chăm sóc sức khoẻ cho người có công với đất nước, nhất là những đối tượng là thương binh, bệnh binh nặng đang sinh sống trong các Trung tâm điều dưỡng thương

Trang 33

binh, bệnh binh có ý nghĩa rất quan trọng, cần có những quy hoạch, định hướng

để công việc này được triển khai trong thực tiễn hiệu quả hơn

- Thứ tư, là tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi

xã hội và thế hệ con của họ được tham gia học tập, đào tạo và nâng cao trình độ

Đây là một minh chứng rõ ràng nhất thể hiện tính nhân đạo, “đền ơn đáp nghĩa” của Đảng, Nhà nước và cộng đồng đối với người có công với đất nước

Tổ quốc cần những thế hệ tương lai để tiếp tục xây dựng, bảo vệ trên con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội Không đối tượng nào, cá nhân nào tốt hơn là chính những thế hệ con của người có công với đất nước- một lực lượng chính trị tương lai hùng hậu, trung thành với lý tưởng của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta cần được tạo điều kiện thuận lợi để được tham gia học tập, đào tạo và nâng cao trình

độ giúp dựng xây nước nhà trong thời kỳ mới

1.3 Các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân

Việc bảo đảm thực hiện được đầy đủ quyền ưu đãi xã hội của công dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ những bảo đảm về kinh tế, chính trị, văn hoá ở tầm vĩ mô đến các điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân công dân ở phạm vi vi mô Trong số các bảo đảm đó, bảo đảm về mặt pháp lý ở phạm vi vĩ mô cũng như vi

mô có ý nghĩa trực tiếp trong việc thực hiện trên thực tế hệ thống quyền ưu đãi

xã hội của công dân [30]

1.3.1 Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân

Quyền ưu đãi xã hội được ghi nhận tại Điều 67 Hiến pháp năm 1992 là quyền cơ bản của công dân với hai nguyên tắc: thứ nhất, quyền ưu đãi xã hội được tôn trọng; thứ hai, Nhà nước có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm thực hiện

- Quyền ưu đãi xã hội của công dân được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước

Trang 34

- Quyền ưu đãi xã hội của công dân được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống cơ quan hành pháp

- Quyền ưu đãi xã hội của công dân được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống cơ quan tư pháp

- Quyền ưu đãi xã hội của công dân được bảo đảm thực hiện thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

1.3.2 Hệ thống quyền ưu đãi xã hội của công dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân

Việc bảo đảm thực hiện mối quan hệ giữa Nhà nước, cá nhân công dân còn phụ thuộc vào hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên chủ thể trong quan hệ được quy định như thế nào Đây chính là nội dung của quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và các nhân công dân

Nội dung của quan hệ đó không được quy định đầy đủ, chính xác, rạch ròi, đúng đắn thì dù có cơ chế pháp lý tốt đến đâu cũng không thể bảo đảm thực hiện

Do vậy, hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý ưu đãi xã hội của các bên chủ thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân người có công với đất nước là nhân tố bảo đảm cho nội dung quan hệ đó tồn tại và thực hiện

1.3.3 Văn hoá pháp lý và hành vi hợp pháp- nhân tố bảo đảm thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân

Văn hoá pháp lý là một yếu tố không thể tách rời với dân chủ, là khả năng

và phương tiện để Nhà nước cũng như cá nhân công dân sử dụng quyền và nghĩa

vụ pháp lý của mình

Văn hoá pháp lý bao gồm ba yếu tố: tri thức pháp luật; tình cảm, tôn trọng đối với pháp luật hiện hành và hành vi xử sự theo đúng đòi hỏi của pháp luật Văn hoá pháp lý của xã hội được quy định bởi ý thức pháp luật của xã hội, đặc trưng nền pháp lý hiện hành và nhất là tính ổn định của trật tự pháp luật trong

Trang 35

nước Văn hoá pháp lý của xã hội lại phụ thuộc vào văn hoá pháp lý của mỗi cá nhân, thành viên của xã hội

Văn hoá pháp lý của mỗi đối tượng người có công với đất nước, trước hết

là thái độ tôn trọng đối với pháp luật nói chung và pháp luật ưu đãi xã hội nói riêng Khi nói đến một đối tượng người có công với đất nước có văn hoá pháp lý

là nói đến sự thống nhất giữa tri thức, tình cảm và hành vi của người đó đối với pháp luật ưu đãi xã hội

Hành vi pháp luật của cá nhân con người có quan hệ trực tiếp đến quyền

và nghĩa vụ pháp lý của họ Bởi vậy, chỉ có thể nói đến tính hiện thực của các quyền và nghĩa vụ cá nhân, khi chính cá nhân bằng hành vi hợp pháp của mình thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật

Hành vi pháp luật của mỗi đối tượng người có công với đất nước có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm pháp lý, tức là với sự hình thành và phát triển tình cảm về quyền và nghĩa vụ của họ trước Nhà nước và xã hội Do vậy, hành vi pháp luật ưu đãi xã hội và trách nhiệm pháp lý là những nhân tố bảo đảm thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân

1.4 Sự phát triển quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

Trang 36

Quyền ưu đãi xã hội của công dân được hình thành ban đầu có nội dung rất giản đơn, phạm vi đối tượng được hưởng ưu đãi hạn hẹp với sự ra đời của văn bản pháp lý đầu tiên là Sắc lệnh số 20/SL ngày 18 tháng 2 năm 1947 do Chủ tịch

Hồ Chí Minh ban hành Theo đó, quyền ưu đãi xã hội chỉ bao gồm những ưu đãi

về chế độ hưu bổng, thương tật đối với người bị thương và trợ cấp tuất đối với gia đình liệt sĩ

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quyền ưu đãi xã hội đã được định hình tương đối rõ ràng với việc Nhà nước quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện xác nhận là thương binh, trợ cấp thương tật được xác định trên cơ sở tỷ lệ thương tật; gia đình liệt sĩ được tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, được quyền ưu tiên cấp ruộng đất, miễn giảm thuế (tính liệt sĩ là một nhân khẩu nông nghiệp) và trợ cấp tuất hàng tháng (lúc đầu là trợ cấp hàng tháng, sau chuyển sang trợ cấp một lần

vì khả năng tài chính của Nhà nước còn hết sức khó khăn)

Để giúp ổn định đời sống đối với thương binh, Nhà nước thực hiện chủ trương đưa thương binh không thể chiến đấu trong quân đội giải ngũ về địa phương, hoặc chuyển về trại thương binh để nuôi dưỡng, chăm sóc lâu dài hoặc nuôi dưỡng một thời gian rồi sắp xếp việc làm phù hợp

Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc- vào thời điểm tháng 7 năm 1954, quyền ưu đãi xã hội đã chuyển sang một giai đoạn mới với sự đổi mới về nội dung và hình thức thể hiện Một số văn bản pháp lý được ban hành vào thời điểm này đưa ra những quy định mới về khái niệm thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; ưu đãi đối với thương binh ở trại; chế độ cung cấp phương tiện để phục hồi chức năng; ưu tiên sắp xếp việc làm; miễn giảm vé tàu xe…

Trên cơ sở Nghị định số 980/TTg ngày 27 tháng 7 năm 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thương binh và Xã hội ban hành văn bản hướng dẫn thi hành “Điều lệ ưu đãi” Các văn bản này đã quy định cụ thể một số ưu đãi xã hội

Trang 37

đối với người có công với đất nước với những nội dung cơ bản như sau:

- Quy định khái niệm liệt sĩ thay khái niệm và tiêu chuẩn tử sĩ

- Chế độ trợ cấp tiền tuất cho liệt sĩ là cán bộ dân, chính, Đảng

- Công tác quy tập, cất bốc, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ

- Ban hành chính sách giúp đỡ thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp

Nghị định số 161/CP ngày 30 tháng 10 năm 1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân, du kích, tự vệ… đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử- một bước phát triển, chuyển biến quan trọng đối với quyền ưu đãi xã hội của công dân Theo đó, chế độ thương tật 8 hạng theo hai loại A, B thay cho chế độ thương tật 6 hạng; chế độ tiền tuất mới (gồm trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng) Quyền ưu đãi về trợ cấp đối với thương binh và thân nhân liệt sĩ song song tồn tại

Trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975, nhiều quy định mới tiếp tục được ban hành, bổ sung, đảm bảo việc thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ lịch sử này Trong đó, vấn đề tổ chức việc làm và đời sống cho thương binh, bệnh binh được xem là một nội dung trọng tâm của quyền ưu đãi xã hội của công dân, thể hiện qua rất nhiều văn bản pháp lý:

- Chỉ thị số 199/CT- TW ngày 12 tháng 7 năm 1972 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường lãnh đạo thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ…”

- Quyết định số 196/CP ngày 16 tháng 10 năm 1972 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách đối với thương binh, bệnh binh

Trang 38

- Quyết định số 47/CP ngày 21 tháng 2 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ quy định “… cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng an ninh nhân dân, cảnh sát nhân dân trong ngành Công an nhân dân được hưởng chính sách, chế độ đãi ngộ về vật chất, tinh thần như đối với cán bộ, chiến sĩ, sĩ quan quân đội nhân dân và công an vũ trang” kể từ ngày 01 tháng 5 năm 1975…

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, Đảng và Nhà nước đã động viên tất cả các lực lượng trong xã hội tham gia, với sự đóng góp, cống hiến, hy sinh vô cùng lớn lao Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng đối tượng thụ hưởng và nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân hơn nữa, thể hiện qua một số văn bản như:

- Nghị định số 77/CP ngày 26 tháng 4 năm 1966 của Hội đồng Chính phủ

về chính sách đối với dân công thời chiến

- Quyết định số 84/CP ngày 4 tháng 5 năm 1966 Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với lực lượng vận tải nhân dân

- Chỉ thị số 71/TTg- NC ngày 21 tháng 6 năm 1965 của Phủ Thủ tướng về chính sách đối với thanh niên xung phong

- Nghị định số 111/CP ngày 28 tháng 6 năm 1973 của Hội đồng Chính phủ đối với cán bộ y tế xã, hợp tác xã, khối phố bị thương hoặc bị chết…

Quyền ưu đãi xã hội của công dân đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng đầy đủ, hợp lý hơn như định suất trợ cấp đặc biệt cho bố, mẹ có nhiều con là liệt sĩ; con liệt sĩ mồ côi; bảo lưu nguyên lương một năm cho gia đình liệt sĩ mất tích; ưu tiên tuyển chọn đi làm, đi học cho con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh nặng; ưu tiên về khám, chữa bệnh và định mức y tế chi phí cho thương binh, bệnh binh; hỗ trợ thêm trợ cấp người phục vụ cho thương binh, bệnh binh nặng…

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, quyền ưu đãi xã hội của công dân

có một số đặc điểm như sau:

Trang 39

Thứ nhất, song song với việc ban hành, sửa đổi, bổ sung quyền ưu đãi xã

hội của công dân thì Nhà nước cũng xây dựng, phát động các phong trào quần chúng tham gia chăm sóc người có công với đất nước Các hoạt động này đã đem lại những hiệu quả thiết thực, có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho việc tổ chức thực hiện các quy định về quyền ưu đãi xã hội mà Nhà nước đã ban hành Đồng thời cũng có tác dụng giáo dục mọi người thấy được trách nhiệm của mình, nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc đời sống của người có công với đất nước

Thứ hai, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá, nghề nghiệp cho

các đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội- người có công với đất nước đã được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật, vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay như:

- Ưu tiên tuyển chọn trong đào tạo thương binh, bệnh binh, con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh… trong các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp, dạy nghề

- Các cơ quan, xí nghiệp phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ Chẳng hạn, quy định 5% biên chế phải là thương binh, bệnh binh; ưu tiền giành những nghề, những vị trí công tác phù hợp với điều kiện sức khoẻ của họ

- Tổ chức các cơ sở sản xuất của thương binh, bệnh binh…

Thứ ba, Đảng và Nhà nước đã ban hành các quy định về quyền ưu đãi xã

hội của công dân, trong đó có xác định rõ mục đích, phương hướng chăm sóc người có công với đất nước; xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với việc tạo điều kiện thuận lợi để ổn định, hỗ trợ, giúp đỡ đời sống người có công với đất nước và thân nhân của họ

Trang 40

Ngay sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung vào giải quyết một số vấn đề lớn, bức xúc đối với người có công với đất nước và gia đình họ như sau:

- Hoàn chỉnh, thống nhất quy định về quyền ưu đãi xã hội của công dân trong toàn quốc

- Tổ chức xác nhận thương binh, liệt sĩ

- Cất bốc, quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang và đài tưởng niệm các liệt sĩ

Hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài 30 năm là hết sức phức tạp, khó khăn với sự hy sinh, mất mất vô cùng lớn lao của cả dân tộc Làm gì để đảm bảo công tác xác nhận người có công với đất nước được thực hiện nhanh chóng, chính xác, tránh sai sót khi hầu hết trong số họ không còn giấy tờ, chứng

cứ pháp lý gì chứng minh Bên cạnh đó, tiếp tục phải tiến hành công tác xác nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, liệt sĩ đối với người

bị thương, hy sinh từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Nghị định số 08/NĐ- 76 ngày 17 tháng 6 năm 1976 được Hội đồng Chính phủ (CMLTCHMNVN) đã ban hành nhằm hướng dẫn áp dụng thống nhất trong

cả nước việc thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân Các vấn đề quy định

về quyền ưu đãi xã hội của công dân còn khác nhau giữa hai miền Nam và Bắc dần dần được tháo gỡ, giải quyết

Trong thời kỳ này, Nhà nước tiếp tục mở rộng diện đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội là người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng thể hiện qua Quyết định số 208/CP ngày 20 tháng 7 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ Điều này nói lên tính chất toàn diện của cuộc chiến tranh, sự quan tâm thích đáng, sâu sắc của Nhà nước đối với người có công với đất nước và sự nhạy bén, kịp thời điều chỉnh các quy định pháp luật ưu đãi xã hội của Nhà nước

Sau những năm giải phóng đất nước khỏi sự xâm lược của bọn đế quốc, các quy định về việc cất bốc, quy tập, xây dựng nghĩa trang và đài tưởng niệm

Ngày đăng: 05/07/2023, 20:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w