v DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCTC: Báo cáo tài chính BHYT: Bảo hiểm y tê BHXH: Bảo hiểm xã hội BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp BTC: Bộ Tài chính CP: Chi phí CPBH: Chi phí bán hàng CPNCTT: Chi
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, việc quản lý hiệu quả chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo an toàn cho các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh này trong doanh nghiệp.
Tác giả Vũ Quốc Dương (2015) trong luận văn "Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần thế giới số Trần Anh" đã chỉ ra rằng công tác kế toán quản trị chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty Trần Anh mặc dù được coi trọng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện Tác giả đã nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác này cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào lĩnh vực thương mại điện tử, do đó, các giải pháp chưa được áp dụng rộng rãi và chưa phục vụ hiệu quả cho công tác kế toán tại công ty trách nhiệm hữu hạn Osco International.
Tác giả Hoàng Thu Hương (2016) trong luận văn “Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần công nghệ điều kiển và tự động hóa” đã nghiên cứu tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh trong ngành điều khiển và tự động hóa Nghiên cứu của tác giả đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về thực trạng tổ chức công tác kế toán trong ngành này.
Tác giả Chu Thị Bích Hạnh đã nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp tư vấn xây dựng ở Việt Nam trong luận văn của mình năm 2017 tại Đại học Thương mại.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Ngọc Anh, mang tiêu đề "Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần mạng trực tuyến Media", được hoàn thành vào năm 2017 tại Đại học Lao động – Xã hội.
Bài viết này hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả tại công ty TNHH Osco International Do đó, luận văn này sẽ tập trung vào việc nghiên cứu các khía cạnh này tại công ty, đồng thời đưa ra những kiến nghị ứng dụng nhằm hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả cho Osco International và các doanh nghiệp sản xuất khác.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác "kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh" tại Công ty TNHH Osco International.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích đó, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể như sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về“kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh”trong doanh nghiệp sản xuất;
Tìm hiểu thực trạng công tác kế toán, đặc biệt là kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Osco International là rất cần thiết để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính và đưa ra các giải pháp cải thiện.
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần“hoàn thiện công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh”tại đơn vị.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Osco International.
- Phạm vi không gian: Tại công ty TNHH Osco International
Nguồn số liệu cho luận văn được thu thập từ công ty TNHH Osco International, tập trung vào năm 2017 và định hướng ứng dụng đến năm 2022.
Phương pháp nghiên cứu
+ Các tài liệu, giáo trình về lý thuyết“kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh ”
+ Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác có liên quan
Tài liệu sơ cấp bao gồm sổ sách và báo cáo liên quan đến kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Osco International.
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn điều tra nhằm thu thập thông tin sơ cấp về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Osco International Đối tượng phỏng vấn bao gồm kế toán trưởng và kế toán viên Trình tự thực hiện bao gồm việc thu thập chứng từ thực tế kết hợp với phương pháp quan sát và phỏng vấn trực tiếp.
Ý nghĩa của đề tài
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp theo Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các chế độ kế toán hiện hành có ý nghĩa khoa học quan trọng.
Đề tài "phân tích, đánh giá ưu nhược điểm về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Osco International" từ góc độ kế toán tài chính nhằm mục đích đề xuất các giải pháp cải thiện quy trình kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại đơn vị.
Kết cấu của luận văn
Kết cấu dự kiến phần nội dung của luận văn như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Osco International
Chương 3:“Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty”TNHH Osco International.
LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH
Một số khái niệm cơ bản
Theo IAS 18, doanh thu được định nghĩa là luồng gộp các lợi ích kinh tế phát sinh trong kỳ từ hoạt động thông thường, làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm phần đóng góp từ các cổ đông và các khoản thu cho bên thứ ba.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, doanh thu được định nghĩa là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Doanh thu phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ bên thứ ba không được coi là nguồn lợi ích kinh tế và không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, do đó không được tính là doanh thu Ví dụ, khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng mà họ được hưởng Ngoài ra, các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không được xem là doanh thu.
“ Điều kiện ghi nhận doanh thu ” ( “ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số
14 ” ):“Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện ” :
(a) “ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua ” ;
(b) “ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa ” ;
(c) “ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn ” ;
(d) “ DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng ” ; (e) “ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng ”
Trong đó quy định về“điều kiện doanh thu được xác định tương đối chắc chắn”như sau (Theo thông tư 200/2014/TT-BTC):
Hợp đồng quy định quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa của người mua theo các điều kiện cụ thể Doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi các điều kiện này không còn hiệu lực và người mua không còn quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa.
Nếu khách hàng có quyền đổi hàng hóa để nhận sản phẩm hoặc dịch vụ khác, doanh thu sẽ được ghi nhận từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc dịch vụ.
Doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất được phân loại thành nhiều loại khác nhau, bao gồm doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, cũng như doanh thu từ hoạt động tài chính.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm doanh thu từ việc bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất, bán hàng hóa mua vào, và bán bất động sản đầu tư Ngoài ra, doanh thu cũng phát sinh từ việc thực hiện các công việc theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán, cũng như cung cấp dịch vụ vận tải và cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê hoạt động.
Doanh thu hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các khoản thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia, cùng với các nguồn thu khác như hoạt động đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, thu hồi hoặc thanh lý các khoản góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết và công ty con Ngoài ra, doanh thu còn bao gồm chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn và các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác.
Doanh thu (DT) là tổng lợi ích từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Việc hiểu rõ bản chất của DT và xác định đúng phạm vi, thời điểm, cũng như cơ sở ghi nhận DT là yếu tố quyết định đến tính khách quan và trung thực của chỉ tiêu DT trong báo cáo tài chính (BCTC) Điều này góp phần quan trọng vào việc đưa ra các quyết định kinh doanh thành công.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phát sinh nhiều khoản doanh thu và thu nhập Dựa trên thông tin về doanh thu, doanh nghiệp có thể xác định chính xác kết quả kinh doanh cho từng loại hình sản xuất và sản phẩm Để quản lý hiệu quả các khoản doanh thu, doanh nghiệp nên phân loại doanh thu theo nhiều cách khác nhau.
* “Phân loại doanh thu theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh”
“Phân loại theo tiêu thức này DT bán hàng bao gồm hai loại: DT bán hàng nội bộ và DT bán hàng ra ngoài ”
Doanh thu bán hàng nội bộ là doanh thu từ khối lượng hàng hóa được tiêu thụ trong nội bộ hệ thống tổ chức của doanh nghiệp, bao gồm việc tiêu thụ giữa các đơn vị trực thuộc trong tổng công ty.
Doanh thu bán hàng ra ngoài là tổng doanh thu từ khối lượng sản phẩm và hàng hóa mà doanh nghiệp đã bán cho khách hàng bên ngoài, không thuộc phạm vi nội bộ của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phân loại doanh thu theo tiêu thức này sẽ giúp xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn các phương án kinh doanh.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung”, chi phí được định nghĩa là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, bao gồm tiền chi ra, khấu trừ tài sản, hoặc phát sinh nợ, dẫn đến giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp được xác định là những hao phí về tài nguyên, vật chất và lao động, liên quan đến mục đích kinh doanh Để hiểu rõ bản chất của chi phí, cần xác định các yếu tố liên quan.
Nội dung và phương pháp“kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp””
a) “ Nội dung, phương pháp kế toán các khoản doanh thu”
“Theo điều 78 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định Nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu cụ thể như sau ” :
Doanh thu là lợi ích kinh tế làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, không bao gồm phần đóng góp của cổ đông Doanh thu được ghi nhận khi giao dịch phát sinh và khi có sự chắc chắn về việc thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản phải thu, bất kể đã nhận tiền hay chưa.
Doanh thu và chi phí liên quan cần được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nguyên tắc này có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán Do đó, kế toán phải dựa vào bản chất và các Chuẩn mực kế toán để phản ánh giao dịch một cách trung thực và hợp lý.
Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch, và kế toán cần nhận biết các giao dịch này để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp với quy định của Chuẩn mực kế toán về doanh thu.
Doanh thu cần được ghi nhận dựa trên bản chất của giao dịch thay vì chỉ dựa vào hình thức hay tên gọi Việc phân bổ doanh thu phải phù hợp với nghĩa vụ cung ứng hàng hóa và dịch vụ.
Khách hàng chỉ nhận được hàng khuyến mại khi mua sản phẩm của đơn vị, ví dụ như mua 2 sản phẩm sẽ được tặng thêm 1 sản phẩm Bản chất giao dịch này là giảm giá hàng bán, với sản phẩm tặng miễn phí được gọi là khuyến mại, nhưng thực tế là khách hàng chỉ nhận được nếu họ mua sản phẩm Trong trường hợp này, giá trị sản phẩm tặng cho khách hàng sẽ được phản ánh vào giá vốn và doanh thu tương ứng với giá trị hợp lý của sản phẩm đó phải được ghi nhận.
Trong trường hợp bán sản phẩm và hàng hóa, cần chú ý đến việc cung cấp thiết bị thay thế nhằm phòng ngừa sự cố hỏng hóc của sản phẩm.
Doanh thu cần được phân bổ cho các sản phẩm và hàng hóa đã bán, cũng như cho thiết bị giao cho khách hàng nhằm phòng ngừa hỏng hóc Giá trị của các sản phẩm, hàng hóa và thiết bị thay thế sẽ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán.
Doanh thu từ các giao dịch phát sinh nghĩa vụ của người bán cần được phân bổ theo giá trị hợp lý của từng nghĩa vụ Việc ghi nhận doanh thu chỉ được thực hiện khi nghĩa vụ đã được hoàn thành, cả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai.
Doanh thu, lãi hoặc lỗ chỉ được coi là chưa thực hiện khi doanh nghiệp còn trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai, ngoại trừ nghĩa vụ bảo hành thông thường, và chưa chắc chắn thu được lợi ích kinh tế Việc phân loại các khoản lãi, lỗ là thực hiện hoặc chưa thực hiện không phụ thuộc vào việc đã phát sinh dòng tiền hay chưa.
Các khoản lãi, lỗ phát sinh từ việc đánh giá lại tài sản và nợ phải trả không được xem là chưa thực hiện, vì tại thời điểm đánh giá, đơn vị đã có quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ đối với nợ phải trả Ví dụ, lãi, lỗ từ việc đánh giá lại tài sản góp vốn đầu tư vào đơn vị khác, đánh giá tài sản tài chính theo giá trị hợp lý, và chênh lệch tỷ giá từ các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ đều được coi là đã thực hiện.
- “Doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba, như ” :
+ “Các loại thuế gián thu ” ( “ thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường ” ) “ phải nộp ” ;
Người bán hàng đại lý thu hộ số tiền từ chủ hàng khi thực hiện bán hàng đại lý Tuy nhiên, các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán đơn vị sẽ không được hưởng.
Trong trường hợp các khoản thuế gián thu không được tách riêng ngay tại thời điểm phát sinh giao dịch, doanh thu có thể được ghi nhận trên sổ kế toán bao gồm cả số thuế gián thu Tuy nhiên, kế toán cần định kỳ ghi giảm doanh thu tương ứng với số thuế gián thu phải nộp Khi lập báo cáo tài chính, cần xác định và loại bỏ toàn bộ số thuế gián thu ra khỏi các chỉ tiêu phản ánh doanh thu gộp.
Thời điểm và căn cứ ghi nhận doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế có thể khác nhau tùy vào từng tình huống cụ thể Doanh thu tính thuế chỉ được sử dụng để xác định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật Doanh thu ghi nhận trên sổ kế toán để lập Báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và không nhất thiết phải bằng số đã ghi trên hóa đơn bán hàng trong một số trường hợp.
Khi luân chuyển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể ghi nhận doanh thu tại các đơn vị nếu có sự gia tăng giá trị sản phẩm mà không cần chứng từ kèm theo Tuy nhiên, khi lập Báo cáo tài chính tổng hợp, tất cả các khoản doanh thu giữa các đơn vị nội bộ phải được loại trừ.
Doanh thu được ghi nhận chỉ bao gồm doanh thu của kỳ báo cáo, và các tài khoản phản ánh doanh thu không có số dư Cuối kỳ kế toán, doanh thu phải được kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh Nội dung và phương pháp kế toán chi phí cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.
“Theo Điều 82 Thông tư số 200/2014/TT-BTC quy định Nguyên tắc kế toán các khoản chi phí cụ thể như sau ” :
Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Yêu cầu của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh
Quản lý nghiệp vụ tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp bao gồm việc theo dõi số lượng, chất lượng và giá trị hàng hóa bán ra Quá trình này bắt đầu từ khâu mua sắm, bán hàng cho từng mặt hàng và nhóm hàng, cho đến khi thu được tiền hàng.
- “Quản lý về số lượng ” : “ giá trị hàng hóa xuất bán bao gồm việc quản lý từng người mua, từng lần gửi hàng, từng nhóm hàng ”
- “Quản lý về giá cả bao gồm ” : “ việc lập dự định về theo dõi, việc thực hiện giá đưa ra kế hoạch của kỳ tiếp theo ”
Quản lý việc thu hồi tiền bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là rất quan trọng Quản lý tiêu thụ hàng hóa hiệu quả sẽ giúp cải thiện kết quả kinh doanh, từ đó giảm thiểu rủi ro và ngăn chặn nguy cơ thất thoát hàng hóa Điều này cũng đảm bảo tính chính xác của các số liệu được đưa ra.
* “ Nhiệm vụ của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh”
Phản ánh và ghi chép chi tiết tình hình hiện tại cũng như sự biến động về số lượng, chủng loại, quy cách và mẫu mã của từng loại hàng hóa và dịch vụ được bán ra.
Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời các khoản doanh thu, giảm trừ doanh thu cùng toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ là rất quan trọng Điều này giúp tập hợp doanh thu và chi phí vào cuối kỳ, từ đó xác định kết quả kinh doanh một cách chính xác.
Theo dõi thường xuyên và liên tục sự biến động của doanh thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và các nguồn thu nhập khác.
Theo dõi chi tiết từng loại doanh thu, bao gồm cả doanh thu nội bộ, là cần thiết để phản ánh kịp thời và đầy đủ kết quả kinh doanh, từ đó làm cơ sở lập các báo cáo tài chính chính xác.
Theo dõi chi tiết các khoản giảm trừ doanh thu, các khoản phải thu và chi phí của từng hoạt động doanh nghiệp là rất quan trọng Đồng thời, cần theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu từ khách hàng để đảm bảo dòng tiền ổn định.
- “Xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước ”
Cung cấp thông tin kế toán chính xác và kịp thời là rất quan trọng cho việc lập Báo cáo tài chính, đồng thời hỗ trợ phân tích định kỳ hoạt động kinh doanh liên quan đến doanh thu và xác định kết quả kinh doanh.
- “Xác định đước quá trình luân chuyển chứng từ về kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh ”
Đề xuất các biện pháp và kiến nghị nhằm cải thiện quy trình tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh, cung cấp thông tin thiết yếu cho ban lãnh đạo để xây dựng kế hoạch cụ thể, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.2 “Kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trên góc độ kế toán tài chính”
Kế toán chi phí kinh doanh trên góc độ kế toán tài chính
Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn tìm cách giảm giá vốn hàng bán để hạ giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Để phản ánh giá vốn hàng bán, kế toán sử dụng tài khoản TK 632 - Giá vốn hàng bán.
Chứng từ sử dụng trong kế toán để ghi nhận giá vốn hàng bán bao gồm các loại tài liệu như phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT, phiếu chi, giấy báo nợ, và bảng kê bán hàng cùng với dịch vụ cung cấp.
Các phương pháp xác định giá vốn hàng bán theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 29 Thông tư 200/2014/TT-BTC bao gồm nhiều phương pháp tính giá trị hàng tồn kho khác nhau.
Phương pháp tính theo giá đích danh
Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)
Phương pháp bình quân gia quyền
Phương pháp giá bán lẻ a Các chứng từ đƣợc sử dụng
- Phiếu xuất kho trả lại hàng mua;
Bảng kê bán hàng và cung cấp dịch vụ liên quan đến việc sử dụng tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán, phản ánh trị giá vốn hàng hóa tiêu thụ trong kỳ và bất động sản đầu tư Tài khoản này có cấu trúc đặc biệt để ghi nhận các chi phí liên quan đến hàng hóa và dịch vụ đã bán.
+ “ Phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã bán trong kỳ ” ;
+ “ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra ” ;
+ Chi phí xây dựng, tự chế TSCĐ vượt trên mức bình thường không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng, tự chế hoàn thành;
Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay cần lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước mà chưa sử dụng hết.
+ ““ Kết chuyển giá vốn của sản phẩm hàng hoá đã bán trong kỳ sang TK 911 ” ; + “ Trị giá hàng bán bị trả lại nhập kho ”
“Tài khoản này không có số dư và được mở chi tiết theo từng mặt hàng, từng dịch vụ ” ,…
Sổ kế toán ghi nhận giá vốn hàng bán, bao gồm các sổ tổng hợp và sổ chi tiết Phương pháp kế toán được minh họa qua Sơ đồ 2.5 và Sơ đồ 2.6 trong các phụ lục tương ứng.
1.2.1.2 Kế toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là những khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến “quá trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ ”
Chi phí nhân viên bán hàng bao gồm toàn bộ tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản hàng hóa, vận chuyển hàng hóa đi tiêu thụ, cùng với các khoản trích theo lương.
Chi phí vật liệu và bao bì bao gồm các khoản chi cho vật liệu và bao bì dùng để đóng gói và bảo quản hàng hóa, cũng như vật liệu sửa chữa tài sản cố định trong quá trình bán hàng và nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm.
Chi phí dụng cụ, đồ dùng là khoản chi cho các công cụ, dụng cụ và thiết bị đo lường, tính toán cần thiết trong quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ.
“Chi phí khấu hao TSCĐ ” : “ để phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ”
“Chi phí bảo hành sản phẩm ” : “ là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian bảo hành ”
“Chi phí dịch vụ mua ngoài ” : “ là các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ”
Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ, không bao gồm các chi phí đã đề cập trước đó Các chứng từ và sổ kế toán trong kế toán chi phí bán hàng bao gồm bảng chấm công, bảng tính lương, các khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ cho bộ phận bán hàng, phiếu chi, giấy báo nợ, bảng tổng hợp chi phí, và hóa đơn GTGT của các chi phí phát sinh Tài khoản sử dụng cho chi phí bán hàng là TK 641, với kết cấu cụ thể của tài khoản này.
Bên Nợ: Các chi phí liên quan đến quá trình bán sản phẩm hàng hoá
Bên Có: Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911-Xác định kết quả kinh doanh: “ để tính kết quả kinh doanh trong kỳ ”
“TK 641- Chi phí bán hàng: “ không có số dư cuối kỳ ”
“TK 641 được mở chi tiết theo từng yếu tố chi phí với các tài khoản cấp II như sau”:
“TK 6411 – Chi phí nhân viên bán hàng ” “ TK 6412 – Chi phí vật liệu, bao bì ”
“TK 6413 – Chi phí dụng cụ, đồ dùng ” “ TK 6414 – Chi phí khấu hao TSCĐ ”
“TK 6415 – Chi phí bảo hành ”
“TK 6417 – Chi phí dịch vụ mua ngoài ” “ TK 6418 – Chi phí khác bằng tiền ” c Phương pháp kế toán Được thể hiện qua Sơ đồ 2.7 (Phụ lục 2.5)
1.2.1.3 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:
Chi phí nhân viên quản lý bao gồm tiền lương và phụ cấp cho Ban tổng giám đốc, cũng như các cán bộ nhân viên thuộc các phòng ban quản lý của doanh nghiệp, cùng với các khoản trích theo lương.
Chi phí vật liệu quản lý đề cập đến giá trị thực tế của các loại vật liệu và nhiên liệu được sử dụng cho hoạt động quản lý của Ban tổng giám đốc cùng các phòng ban trong doanh nghiệp, phục vụ cho việc sửa chữa tài sản cố định và các vật dụng chung của doanh nghiệp.
+ “Chi phí đồ dùng văn phòng ” : “ chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp ”
Chi phí khấu hao TSCĐ bao gồm khấu hao cho tài sản cố định chung của doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc và phương tiện truyền dẫn Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu các khoản thuế như thuế nhà đất và thuế môn bài, cùng với các khoản phí và lệ phí liên quan đến giao thông, cầu phà.
+ “Chi phí dự phòng ” : “ khoản trích lập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí kinh doanh ”
+ “Chi phí dịch vụ mua ngoài: các khoản chi về dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toàn doanh nghiệp như tiền điện, nước, thuê sửa chữa TSCĐ ” ,
+ Chi phí bằng tiền khác: các khoản chi ngoài các khoản trên a Các chứng từ và sổ kế toán
Bảng chấm công và bảng tính lương là công cụ quan trọng trong việc quản lý các khoản trích theo lương của cán bộ quản lý Ngoài ra, việc tính toán và phân bổ khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) cũng cần được thực hiện cho bộ phận quản lý Kế toán sử dụng tài khoản 642 - "Chi phí quản lý doanh nghiệp" để ghi nhận các chi phí liên quan.
TK 642-“Chi phí quản lý doanh nghiệp ” :
+ “Các chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh ” ;
+ “Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả ” ;
+ “Dự phòng mất việc làm ”
+ “Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả ” ;
+ “Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp sang tài khoản 911- “ Xác định kết quả kinh doanh ”
TK 642 không có số dư cuối kỳ c Phương pháp kế toán Được thể hiện qua Sơ đồ 2.8 (Phụ lục 2.6)
1.2.1.4 “ Chi phí hoạt động tài chính ”
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí liên quan đến hoạt động vốn, đầu tư tài chính và các giao dịch tài chính của doanh nghiệp.
“Tài khoản kế toán sử dụng”
“TK 635 – Chi phí tài chính”
“ Nội dung và kết cấu của tài khoản ”
- “Chi phí tiền lãi vay, lãi mua trả chậm, lãi thuê tài sản thuê tài chính ” ;
- “Chiết khấu thanh toán cho người mua ” ;
- “Các khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư ” ;
- “Lỗ tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh ” ( “ lỗ tỷ giá hối đoái đã thực hiện ” );
Kế toán doanh thu trên góc độ tài chính
1.2.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng số tiền thu được từ các giao dịch như bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bao gồm cả các khoản phụ thu và phí ngoài giá bán Để phản ánh doanh thu bán hàng, các chứng từ và sổ kế toán cần thiết bao gồm: "Hoá đơn GTGT" (mẫu số 01 GTKT – 3LL), "Hoá đơn bán hàng thông thường" (mẫu số 2 GTTT – 3LL), "Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi" (mẫu số 01 – BH), và "Thẻ quầy hàng" (mẫu số 01).
Sổ chi tiết bán hàng (mẫu số S35 – DN) và sổ doanh thu, hóa đơn thương mại (hàng xuất khẩu) là những tài liệu quan trọng trong kế toán Kế toán sử dụng tài khoản TK 511 - "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" để phản ánh tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kỳ, cùng với các khoản giảm trừ doanh thu Từ đó, doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ được tính toán Tổng doanh thu ghi nhận có thể là tổng giá thanh toán cho các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc giá bán không có thuế GTGT cho các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, cùng với các tài khoản liên quan.
Kết cấu tài khoản 511 như sau:
- “Các khoản thuế gián thu phải nộp ” ( “ GTGT, TTĐB, XK, BVMT ” );
- “Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ ” ;
- “Khoản giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ ” ;
- “Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ ” ;
- “Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911- “ Xác định kết quả kinh doanh ”
“Bên Có ” : “ Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán ”
“Tài khoản 511 không có số dƣ cuối kỳ và có 6 tài khoản cấp 2 ” :
- “Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá”
- “Tài khoản 5112 - Doanh thu bán các thành phẩm”
- “Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ”
- “Tài khoản 5114 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá”
Tài khoản 5117 - Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư được sử dụng để ghi nhận doanh thu từ việc cho thuê bất động sản đầu tư cũng như doanh thu từ việc bán và thanh lý bất động sản đầu tư.
- Tài khoản 5118 - Doanh thu khác c Phương pháp kế toán: được thể hiện qua sơ đồ 2.1 và sơ đồ 2.2
1.2.2.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu bán hàng bị trả lại, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và thuế xuất khẩu là cơ sở để tính toán doanh thu thuần và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán Việc theo dõi chi tiết từng tài khoản kế toán cho các khoản giảm trừ doanh thu là cần thiết để cung cấp thông tin kế toán chính xác cho việc lập báo cáo tài chính.
Hàng bán bị trả lại bao gồm các tài liệu sau: giấy đề nghị trả lại hàng, biên bản hàng bán bị trả lại, biên bản sản phẩm kém chất lượng, hóa đơn photo liên 2 đã giao cho khách hàng, và hóa đơn xuất trả lại.
Giảm giá hàng bán bao gồm giấy đề nghị giảm giá và biên bản giảm giá, cần ghi rõ giảm giá trước thuế hay sau thuế, kèm theo hóa đơn liên 2 photo Chiết khấu thương mại bao gồm bảng thanh toán chiết khấu bán hàng và giấy đề nghị thanh toán.
TK 521- “ Các khoản giảm trừ doanh thu ” : TK 521 có 3 tài khoản cấp 2
Tài khoản 5211 - Chiết khấu thương mại được sử dụng để ghi nhận khoản chiết khấu thương mại dành cho người mua, áp dụng cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn Khoản chiết khấu này chưa được thể hiện trên hóa đơn khi bán sản phẩm hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trong kỳ.
Tài khoản 5212 - Hàng bán bị trả lại được sử dụng để ghi nhận doanh thu từ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ mà người mua đã trả lại trong kỳ.
Tài khoản 5213 - Giảm giá hàng bán được sử dụng để ghi nhận khoản giảm giá cho người mua khi sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp không đạt tiêu chuẩn quy cách, nhưng chưa được thể hiện trên hóa đơn bán hàng trong kỳ.
“Phương pháp kế toán được thể hiện qua Sơ đồ 2.3 và Sơ đồ 2.4 ” ( “ Phụ lục 2.2 ” )
1.2.2.3 “ Kế toán doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác ” a “ Kế toán doanh thu tài chính ”
Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn trong một kỳ kế toán.
“TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính
“Nội dung và kết cấu của tài khoản:
- “ Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp ” (nếu có)
- “ Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang tài khoản 911 ”
- “ Tiền lãi, cổ tức và lợi nhuận được chia ” ;
- “ Lãi do nhượng bán các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết ” ;
- “ Chiết khấu thanh toán được hưởng ” ;
- “ Lãi tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh ” ;
- “ Lãi tỷ giá hối đoái phát sinh khi bán ngoại tệ ” ;
- “ Lãi tỷ giá hối đoái do đánh giá lại ngoại tệ cuối năm tài chính các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ của hoạt động kinh doanh ” ;
Kết chuyển hoặc phân bổ lãi từ tỷ giá hối đoái trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành sẽ được ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính.
- “ Doanh thu hoạt động tài chính khác phát sinh trong kỳ ”
“TK 515 không có số dư cuối kỳ ” b “ Kế toán thu nhập khác ”
Thu nhập khác là những khoản thu nhập không thuộc doanh thu chính của doanh nghiệp, được hình thành từ các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh thông thường.
“ Nội dung và kết cấu của tài khoản ”
“Cuối kỳ kế toán, kết chuyển các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ ” sang TK 911- “ Xác định kết quả kinh doanh”
“Các khoản thu nhập phát sinh trong kỳ”
“Tài khoản 711 không có số dư cuối kỳ ”
Kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng phản ánh thành công của các hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định, được thể hiện qua số tiền lãi hoặc lỗ.
“Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm ” : “ lợi nhuận thuần từ sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thuần từ hoạt động khác ”
Lợi nhuận từ “ hoạt động kinh doanh bao gồm ” :
Lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ là sự chênh lệch giữa doanh thu thuần và các chi phí liên quan, bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
“Lợi nhuận từ hoạt động tài chính ” : “ Là số chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính với chi phí tài chính ”
Lợi nhuận từ hoạt động khác được xác định là chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và chi phí khác Để xác định kết quả kinh doanh, tài khoản sử dụng là TK 911, trong đó bên nợ sẽ phản ánh các khoản chi phí liên quan.
+ “Trị giá vốn của hàng hoá đã bán ”
+ “Chi phí hoạt động tài chính, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí khác ”
+ “Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp ”
+ “Kết chuyển lãi ” “ Bên có ” :
+ “Doanh thu thuần về hàng hoá đã bán trong kỳ ”
+ “Doanh thu hoạt động tài chính, các khoản thu nhập khác và khoản ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp ”
“Tài khoản 911 không có số dư cuối kỳ ”
“Phương pháp kế toán được thể hiện qua Sơ đồ 2.7 ” ( “ Phụ lục 2.9 ” ) c Báo cáo kết quả kinh doanh
Kế toán chi phí kinh doanh trên góc độ kế toán quản trị
- Dự toán giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán là tổng giá thành của sản phẩm tiêu thụ trong kỳ, được tính theo phương pháp giá toàn bộ Để xây dựng dự toán giá vốn hàng xuất bán, cần dựa vào số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán và số lượng sản phẩm dự trữ vào cuối kỳ Nếu không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí tồn kho tương tự nhau, giá vốn hàng bán có thể được tính bằng tích của sản lượng tiêu thụ và giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm.
- “Dự toán chi phí bán hàng”
Các loại chi phí này được lập tương tự như chi phí sản xuất chung Tuy nhiên, chi phí bán hàng có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp, vì vậy khi lập dự toán chi phí bán hàng, cần xem xét mối liên hệ với dự toán tiêu thụ của doanh nghiệp.
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm trong kỳ tới Mục đích của dự toán này là tính toán và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này, cần xem xét nội dung kinh tế của chi phí, cũng như các yếu tố biến đổi và cố định trong thành phần chi phí.
Dự toán chi phí bán hàng = Dự toán CP cố định + Dự toán CP biến đổi
- Dự toán định phí bán hàng
Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với các
Quyết định dài hạn có thể dễ dàng dự báo dựa vào chức năng kinh doanh của doanh nghiệp Các chi phí có thể thay đổi khi phát triển thêm mạng phân phối mới, cung cấp các dịch vụ sau bán hàng, và thực hiện nghiên cứu phát triển thị trường.
Dự báo các yếu tố cần phải phân tích toàn diện dữ liệu quá khứ của doanh nghiệp Các mô hình hồi quy thường giúp tách biệt các thành phần định phí và biến phí bán hàng, từ đó cung cấp cơ sở để tính toán tỷ lệ thay đổi dự kiến.
- “Dự toán biến phí bán hàng ”
Biến phí bán hàng của doanh nghiệp bao gồm biến phí trực tiếp như hoa hồng và lương nhân viên bán hàng, cùng với biến phí gián tiếp liên quan đến các bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu và hỗ trợ bán hàng Những chi phí này thường được dự toán dựa trên số lượng bán hàng dự kiến hoặc xác định theo tỷ lệ phần trăm dựa trên thống kê kinh nghiệm.
- “Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp”
Dự toán chi phí quản lý phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, không chỉ từng bộ phận hoạt động Việc lập dự toán biến phí quản lý thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến hoặc sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm Tỷ lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước được sử dụng để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ Công thức xác định biến phí này như sau:
“Số liệu từ dự toán này còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt và báo cáo kết quả kinh doanh dự toán của doanh nghiệp ”
Định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt động, mà chủ yếu biến động do việc đầu tư thêm cho bộ phận quản lý Để lập dự toán cho bộ phận này, cần căn cứ vào dự báo các yếu tố chi phí cụ thể nhằm xác định chính xác định phí theo dự toán.
Báo cáo chi phí theo bộ phận là một trong những báo cáo quan trọng mà doanh nghiệp kinh doanh thương mại cần chú ý, vì nó phù hợp với đặc thù hoạt động của họ.
Theo yêu cầu nhà quản trị có nhu cầu thông tin chi tiết cho từng nhóm mặt hàng, khu vực, lĩnh vực Kế toán cần thực hiện như sau:
Chứng từ: Ghi chi tiết cho bộ phận: theo mặt hàng/nhóm hàng; lĩnh vực, khu vực:
Tài khoản chi tiết giúp phân loại theo tiểu khoản và mã vụ việc, ví dụ như phân biệt giữa miền Bắc và miền Nam, từ đó xác định chi phí cho các mặt hàng thuộc từng khu vực.
Sổ: “Theo dõi các sổ chi tiết chi phí theo mặt hàng/nhóm hàng, lĩnh vực, khu vực”.
Kế toán doanh thu trên góc độ kế toán quản trị
Xây dựng dự toán doanh thu là một bước quan trọng trong kế hoạch hoạt động kinh tế, giúp quản lý và điều hành hiệu quả các hoạt động kinh doanh của tổ chức Trong doanh nghiệp, dự toán doanh thu là bộ phận thiết yếu trong hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh, được lập đầu tiên và là cơ sở để xây dựng các dự toán khác.
Dự toán doanh thu là yếu tố quan trọng trong việc lập kế hoạch tài chính, thể hiện chi tiết tiêu thụ sản phẩm trong tương lai cho tất cả các mặt hàng và nhóm hàng Đây được coi là chìa khóa của toàn bộ quá trình lập dự toán, vì các dự toán khác đều phụ thuộc vào nó Dự toán này được xây dựng dựa trên các dự báo về khả năng tiêu thụ sản phẩm, trong đó doanh nghiệp cần xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng.
- Khối lượng và kết cấu hàng hoá tiêu thụ còn tồn tại của kỳ trước
- Chính sách giá cả kỳ tới của doanh nghiệp
- Các đơn đặt hàng chưa thực hiện trong khả năng cung cấp của doanh nghiệp
- Chính sách tiếp thị, quảng cáo và khuyếch trương sản phẩm, khuyến mại
- Xu hướng của ngành kinh doanh
- Các chính sách kinh tế hiện hành
- Các phương thức tiêu thụ, phương thức, phương tiện đã có của doanh nghiệp với khách hàng của doanh nghiệp
- Các sản phẩm mới của doanh nghiệp cùng ngành
Các nhà dự báo phân tích số liệu tiêu thụ sản phẩm kết hợp với các yếu tố khác để ước tính doanh thu, được tính bằng cách nhân số lượng tiêu thụ dự kiến với giá bán.
- Dự toán về số lượng tiêu thụ phải xây dựng chi tiết theo từng nhóm, mặt hàng, cho từng bộ phận kinh doanh
Đơn giá bán cần được dự toán chi tiết trong các tình huống chưa đạt điểm hòa vốn, tại điểm hòa vốn, và vượt điểm hòa vốn Điều này phải được thực hiện trong điều kiện bình thường cũng như khi có sự thay đổi về chi phí khả biến, chi phí bất biến, tỷ giá, điều kiện giao hàng và lãi vay ngắn hạn.
Dự toán doanh thu bán hàng cần được lập chi tiết theo từng mặt hàng và nhóm mặt hàng, dựa trên mối quan hệ với kết cấu bán hàng để tối ưu hóa lợi nhuận và giảm chi phí Việc lập dự toán phải khoa học và hợp lý, tạo cơ sở xác định các mục tiêu cụ thể, giúp đánh giá hiệu quả thực hiện và lường trước khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịp thời Điều này liên kết toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận, đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Bảng dự toán hàng năm Mặt hàng A Mặt hàng B Mặt hàng C Tổng Đơn giá
Về thu nhận, xử lý thông tin
Thông tin quá khứ là những dữ liệu đã xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp, được ghi nhận qua chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán của các kỳ trước Việc thu thập thông tin này rất quan trọng cho công tác dự toán và dự báo, vì nó cung cấp cơ sở thống kê kinh nghiệm và tài liệu lịch sử, giúp áp dụng phương pháp ngoại suy để tính toán các chỉ tiêu dự báo cho tương lai.
Thông tin quá khứ là dữ liệu về các giao dịch và sự kiện đã hoàn thành, phản ánh tình hình doanh thu bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ Nguồn thông tin này không chỉ phục vụ cho việc hệ thống hóa và tính toán các chi tiêu trên báo cáo tài chính mà còn hỗ trợ kiểm soát và quản trị nội bộ Để thu thập thông tin quá khứ, kế toán cần dựa vào dữ liệu nội bộ của doanh nghiệp, và các nhà quản trị có thể thu thập thông tin này thông qua quy trình của bộ phận kế toán tài chính.
1.3.2.2 Báo cáo doanh thu theo bộ phận
Trong kế toán doanh thu từ góc độ kế toán quản trị, có nhiều báo cáo quan trọng, trong đó báo cáo Doanh thu theo bộ phận được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm Nhà quản trị yêu cầu thông tin chi tiết cho từng nhóm mặt hàng, khu vực và lĩnh vực, do đó kế toán cần thực hiện các bước cần thiết để đáp ứng nhu cầu này.
Chứng từ: Ghi chi tiết cho bộ phận: theo mặt hàng/nhóm hàng; lĩnh vực, khu vực:
Tài khoản chi tiết bao gồm thông tin theo tiểu khoản và mã vụ việc, giúp xác định khu vực bán hàng, chẳng hạn như miền Bắc hoặc miền Nam, từ đó biết được mặt hàng này phục vụ cho khách hàng ở đâu.
Phát sinh nhiệm vụ liên quan đến quá trình bán hàng
Phân tích ảnh hưởng, hoạch định và ghi sổ
Xếp loại và tổng hợp
Báo cáo theo yêu cầu quản trị
Sổ: “ Theo dõi các sổ chi tiết doanh thu theo mặt hàng/nhóm hàng, lĩnh vực, khu vực ”
Kế toán xác định kết quả kinh doanh trên góc độ kế toán quản trị
a Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh
Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh là loại dự toán tổng hợp dựa trên dự toán tiêu thụ và giá vốn hàng bán, cung cấp số liệu cho việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận và nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Việc so sánh giữa thực tế và dự toán giúp phát hiện tồn tại và khả năng tiềm tàng chưa được khai thác, từ đó đưa ra biện pháp tích cực để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu.
Mặt hàng A Mặt hàng B Tổng
1 Doanh thu xxx xxx xxx
2 Giá vốn xxx xxx xxx
3 Lãi gộp xxx xxx xxx
4 Chi phí bán hàng và quản lý bộ phận xxx xxx xxx
5 Lợi nhuận bộ phận xxx xxx xxx