Trong thời gian thực tập tại Công ty cao su sao Vàng Hà nội, được sựgiúp đỡ tận tình của các phòng ban trong Công ty, đặc biệt là Phòng Kếhoạch thị trường và giáo viên hướng dẫn Nguyễn T
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Khái niệm về đầu tư và hoạt động đầu tư phát triển 5
2 Vai trò của đầu tư phát triển 9
4 Vai trò và sự cần thiết của hoạt động đầu tư vào trang thiết bị
14
5 Đặc trưng của những dự án công nghiệp 16
II Phương pháp đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư trang
1 Kết quả hoạt động đầu tư trang thiết bị 17
2 Hiệu quả hoạt động đầu tư trang thiết bị 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CẤP VÀ ĐỔI MỚI TRANG THIẾT BỊ TẠI CÔNG TY CAO SU SAO VÀNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996
I Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cao su Sao vàng Hà
2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cao su Sao vàng
27
Trang 22 Tình hình đầu tư chung của Công ty 40
3 Thực trạng hoạt động đầu tư trang thiết bị tại Công ty Cao su Sao vàng
2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư trang thiết bị tại công ty Cao su Sao
II Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trang thiết bị tại
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 31 Giải pháp về chủ trương kế hoạch đầu tư 90
2 Những giải pháp kinh tế - kỹ thuật 90
PHẦN KẾT LUẬN CHUNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 96
LỜI NÓI ĐẦU
ừ khi Nhà nước ta chủ trương xoá bỏ chế độ bao cấp chuyển sang cơ chế thịtrường, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần có sự định hướng củaNhà nước thì đại đa số các Công ty, doanh nghiệp đều có sự thay đổi lớn vềchế độ quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động đầu tư.Vấn đề sản xuất và tiêu thụ luôn là mục của các nhà kinh doanh Như vậy, cơchế mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải phản ứng nhanh nhạy với những biếnđổi của thị trường tạo ra các sản phẩm tốt, định giá cả hấp dẫn đảm bảo chongười tiêu dùng tiếp cận được với hàng hoá của mình Mà muốn tạo ra đượcnhững sản phẩm có chất lượng cao đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải trang bịcho mình những trang thiết bị phù hợp, những dây chuyền công nghệ tiên
T
Trang 4- Những dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại.
- Tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao đủ khả năng chiếm lĩnh và
mở rộng thị trường
Trong thời gian thực tập tại Công ty cao su sao Vàng Hà nội, được sựgiúp đỡ tận tình của các phòng ban trong Công ty, đặc biệt là Phòng Kếhoạch thị trường và giáo viên hướng dẫn Nguyễn Thị Thu Hà, tôi đi sâunghiên cứu và hoàn thành bản chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài :
“Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư nâng cấp và đổi mới trang thiết bị tại Công ty cao su Sao Vàng Hà nội giai đoạn 1996 - 1999 ”.
Chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I : Lí luận chung về hoạt động đầu tư
Chương II : Thực trạng đầu tư nâng cấp và đổi mới trang thiết bị tạicông ty cao su sao vàng
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trangthiết bị trong tthời gian tới tại công ty cao su sao vàng
Vì thời gian thực tập tại công ty có hạn và trình độ còn non yếu trongnghiên cứu, trong khi đó lĩnh vực nghiên cứu phức tạp do đó không tránh
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 5khỏi những sai sót, tôi rất mong được sự góp ý của các cô chú trong phòng
Kế hoạch thị trường và của các thầy cô để tôi có thể nâng cao trình độ nhậnthức của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện.Nguyễn Trịnh Tùng
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG
I - LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
Trang 61.1 Khái niệm về đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quá trình bỏ vốn (bao gồm cótiền, nguồn lực và công nghệ) để đạt được mục đích hay một tập các mục đích(hay mục tiêu) nhất định nào đó trong lâu dài Những loại mục tiêu này có thể là :mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và cũng có lúc chỉ là một mục đíchnhân đạo đơn thuần
1.2 Hoạt động đầu tư phát triển.
Trong hoạt động kinh tế, đầu tư có thể hiểu cụ thể hơn và mang bản chất kinh
tế Đó là những hoạt động kiếm lời, là quá trình bỏ vốn (tiền bạc, nhân lực,nguyên liệu và công nghệ) vào các hoạt động sản xuất kinh doanhvà dịch vụ nhằmmục đích thu lợi nhuận.Đây được xem như bản chất cơ bản của hoạt động đầu tư.Tuy nhiên trong hoạt động kinh tế không có khái niệm đầu tư không vì lợi nhuận.Cần phải hiểu đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư để có đượcnhững đối sách thích hợpvới các đối tác đầu tư khác nhau
Có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạtđộng kinh tế nhằm thu lại một lượng vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nhấtđịnh Điều này sẽ giúp chúng ta phân biệt được hoạt động đầu tư và các hoạt độngmua sắm tiêu dùng cũng như các hoạt động nhân đạo khác
Cũng cần phân biệt các hoạt động đầu tư với các hoạt động bỏ tiền ra nhằmduy trì các hoạt động thường xuyên của các tổ chức Hàng năm chúng ta bỏ ra mộtkhoản tiền rất lớn để duy trì hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nướccác cấp Các tổ chức phải chi phí một khoản tiền rất lớn cho các hoạt động mangtính chất thường xuyên của đơn vị nhằm bảo đảm quá trình sản xuất được duy trì
Do đó đối với nền kinh tế hoạt động đầu tư là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra
và duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 7Đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kếtcấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đàotạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động củacác tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tiềm lựcmới cho nền kinh tế xã hội.
1.3 Bản chất của các loại hình đầu tư
1.3.1 Đầu tư tài chính: (đầu tư tài sản tài chính)
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứngchỉ có giá để hưởng lãi suất định kỳ (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặclãi suất tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành Đầu tưtài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan
hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức,
cá nhân đầu tư
Với sự hoạt động của các hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư dượclưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm,chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác) Điều đó khuyến khích người
có tiền bỏ tiền ra để đầu tư Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi,mỗi nơi một ít tiền Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho hoạt động đầu
tư phát triển
1.3.2 Đầu tư thương mại:
Là hoạt động đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền bỏ tiền ra để mua hànghoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua
và khi bán Loại đầu tư cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu khôngxét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trongquá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và
Trang 8mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do quá trình đầu tưphát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tíchlũy cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và của nền sản xuất xãhội nói chung (chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tưthương mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây tình trạng thừa thiếuhàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lý lưu thông phân phối,gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi của người tiêu dùng)
1.3.3 Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động:
Trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động
xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi ngườidân trong xã hội Đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kếtcấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt và lắp đặt chúng trên nền bệ và đàotạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sựhoạt động của các cơ sở sản xuất đang tồn tại và tạo tiềm lực cho nền kinh tế xãhội Loại đầu tư này được gọi chung là đầu tư phát triển
1.4 Vốn đầu tư và nguồn hình thành vốn đầu tư trang thiết bị
1.4.1 Vốn đầu tư
Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá, để tiến hành mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh phải có tiền Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lầnđầu tiên được thành lập, tiền này dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy mócthiết bị để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật (các tài sản cố định) cho các cơ sở này,mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động trong chu kỳ sản xuất kinhdoanh dịch vụ đầu tiên (tạo vốn lưu động gắn liền với sự hoạt động của các tài sản
cố định vừa mới được tạo ra)
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 9Nguồn gốc hình thành vốn đầu tư chính là nguồn tài lực dùng để đảm bảoquá trình tái sản xuất (giản đơn và mở rộng) Tuy nhiên, tất cả các nguồn đó chưađược gọi là vốn đầu tư nếu chúng chưa được dùng để chuẩn bị cho quá trình táisản xuất Tức là tất cả các nguồn lực này lúc đó chỉ đơn thuần là nguồn tích luỹ(tiết kiệm trong thời kỳ nhất định), đòi hỏi phải có những chính sách thu hút vốnđầu tư, khuyến khích, tạo động lực thu hút nguồn tích luỹ tiếp tục tham gia vàoquá trình tái sản xuất những nguồn tài lực này (có thể là một phần hoặc cũng cóthể là đồng bộ) dưới tác động của các biện pháp kinh tế sẵn sàng tham gia vào quátrình tái sản xuất với kỳ vọng nhận được kết quả tốt hơn trong tương lai Lúc đó,những tiềm năng này mới thực sự được gọi là nguồn vốn đầu tư
Từ đây ta có thể rút ra định nghĩa về vốn đầu tư như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ nước ngoài được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt trong mỗi gia đình trong tương lai.
Vốn đầu tư sau khi trải qua quá trình đầu tư sẽ được chuyển dạng thànhnhững năng lực sản xuất nhất định (năng lực sản xuất, tài sản cố định, kỹ năng,nguồn nhân lực ), và cứ như vậy quá trình chu chuyển vốn đầu tư bao giờ cũng
đi trước một bước, cùng pha với quá trình tái sản xuất Sự nhộn nhịp, năng động,lớn mạnh và hiệu quả của hoạt động đầu tư báo trước một thời kỳ tăng trưởng kinh
tế năng động, sự bành trướng của sản xuất Hay nói cách khác, phương tiện để đạtnhững mục tiêu của chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội đất nướcnói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng chính là những chính sách đầu tưđúng đắn Thực hiện tốt, hiệu quả chính sách đầu tư, cơ cấu nguồn vốn đầu tư từviệc tạo dựng nuôi dưỡng nguồn vốn, khuyến khích thu hút các tiềm năng, nguồnlực để đầu tư cho đến việc quản lý và sử dụng một cách hiệu quả vốn đầu tư đóng
Trang 10- Vốn đầu tư phục hồi (vốn khấu hao cơ bản).
- Vốn đầu tư phát triển
- Vốn đầu tư chuyển dịch
* Vốn đầu tư chia theo bản chất nguồn vốn:
- Vốn đầu tư vận hành
- Vốn đầu tư cơ bản
Như chúng ta đã biết, vốn đầu tư cơ bản là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mớihoặc thay thế, đổi mới tài sản cố định của lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vựcphi sản xuất vật chất Do đó vốn đầu tư cơ bản là thành phần tích cực trong vốnđầu tư toàn xã hội Quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cơ bản đóng vai tròquyết định trong việc chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế xã hội Trong nhữngđiều kiện sản xuất kinh doanh bình thường, việc chuyển dịch nguồn vốn đầu tư cơbản từ những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế xã hội thấp sang những lĩnh vực có hiệuquả kinh tế xã hội cao sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước, ngành vàcác cơ sở sản xuất vật chất
1.4.2 Nguồn hình thành vốn đầu tư trang thiết bị.
Cũng như các nguồn vốn khác, vốn đầu tư trang thiết bị cũng được hìnhthành từ các nguồn chủ yếu sau:
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 11- Vốn ngân sách nhà nước: được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế vàđược nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các doanh nghiệp đểthực hiện các công việc thuộc kế hoạch của nhà nước.
- Vốn tín dụng đầu tư bao gồm: vốn của ngân sách nhà nước chuyển sang để
bù lãi suất cho vay, vốn huy động của các doanh nghiệp trong nước và các tầnglớp dân cư, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế và của kiềubào ở nước ngoài
- Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp: đây là nguồn tích luỹ trong quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
2 Vai trò của đầu tư phát triển:
Nói về vai trò của đầu tư đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế,các lý thuyết kinh tế đều coi đầu tư là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, làchìa khoá để tăng trưởng Vai trò của đầu tư được thể hiện như sau:
2.1 Đầu tư vừa tác động đến mặt cung, vừa tác động đến mặt cầu của nền kinh tế:
Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền
kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng 24 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đầu tư tác động vàotổng cầu ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi lớn, sự tăng lên của đầu tưlàm tổng cầu tăng, kéo theo sản phẩm cân bằng tăng theo
-Về mặt cung: Khi các dự án đầu tư đưa vào hoạt động, năng lực sản xuất mới
được tăng thêm, tổng cung - đặc biệt là tổng cung dài hạn - tăng lên, kéo theo sảnphẩm tiềm năng tăng theo Đây là tác động có tính chất dài hạn của đầu tư Vai tròthúc đẩy tăng trưởng của đầu tư chính là ở đây
Trang 12VĐTICORMức tăng GDP =
2.2 Đầu tư tác động đến hai mặt của nền kinh tế:
Sự biến động của đầu tư là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự
ổn định của nền kinh tế Do sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu
tư đối với cầu và đối với cung của nền kinh tế, làm cho sự tăng (hay giảm) của đầu
tư, trước hết làm tăng giá cả (hoặc làm tăng tình trạng thất nghiệp) chừng nàochưa có các chính sách của nhà nước nhằm hấp thụ (triệt tiêu) tác động này.Chẳng hạn trong thực tế ở Việt Nam, sự giảm mạnh đầu tư vào các năm 1989 -
1992 của khu vực nhà nước góp phần làm lạm phát từ hai con số xuống còn mộtcon số, nhưng cũng gây nên tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp trong khu vựckinh tế quốc doanh Hiện nay và các năm sắp tới, cầu về đầu tư tăng mạnh, giá cả
sẽ tiếp tục có xu hướng tăng Vấn đề đặt ra là một mặt phải thu hút đầu tư ngàycàng nhiều để tăng cường cơ sở vật chất trong dài hạn, để đáp ứng nhu cầu củakinh tế; mặt khác, vẫn đảm bảo nhu cầu gia tăng của giá cả (đặc biệt là giá hàngtiêu dùng) mới đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế
2.3 Đầu tư tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ được tốc độ tăngtrưởng ổn định ở mức trung bình, thì tỷ lệ vốn đầu tư phải đạt từ 15-25% GDP tuỳthuộc vào ICOR của mỗi nước
Ở các nước phát triển ICOR thường từ 5 - 7, do thừa vốn, thiếu lao động, vốnđược sử dụng nhiều để thay thế lao động Còn ở các nước chậm phát triển ICORthấp, từ 2 - 3 do thừa lao động thay cho vốn Do đó, ở các nước phát triển nếu tỷ lệđầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 13Đối với các nước đang phát triển, vấn đề phát triển về thực chất là đảm bảonhu cầu vốn đầu tư để đạt được tỷ lệ tăng GDP dẫ dự kiến Vì thế, đầu tư đóng vaitrò như một “cú hích ban đầu”, tạo đà cho sự “cất cánh” của nền kinh tế.
Ở nước ta để đạt được mục tiêu tăng gấp 2 lần tổng sản phẩm trong nướcnăm 2000 cần đạt được một khối lượng đầu tư tăng gấp 3 lần so với năm 1992, tỷ
lệ vốn đầu tư so với GDP đạt 24%
Thực tế ở nước ta giai đoạn 1991 - 1997 cho thấy mối tương quan mật thiết,khăng khít giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP với tỷ lệ tăng trưởng vốn đầu tư phát triển
Sự tăng trưởng nhanh của tổng số vốn đầu tư phát triển trong những năm 1992(83,6%), năm 1993 (70,5%), đã đảm bảo nền móng cho sự tăng trưởng năng độngcủa tổng sản phẩm quốc nội trong những năm 1994 (8,8%), năm 1995 (9,5%) vànăm 1996 (9,3%) Sau thời kỳ tăng trưởng nhanh từ 70,5% (năm 1999) xuống28,7% (năm 1994), 25,3% (1995), 19,8% (năm 1996) và năm 1997 chỉ còn 15,7%.Chính sự suy giảm nhanh chóng mức vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn này báotrước sự khởi đầu cho quá trình tăng trưởng chậm của tổng sản phẩm quốc nội.Tốc độ tăng GDP đã giảm rõ rệt trong năm 1997 (8,8%) và năm 1998 (5,8%) Nếunhà nước không có những chính sách khuyến khích tăng trưởng mức vốn đầu tưphát triển hợp lý, đảm bảo cho sự năng động trong quá trình đầu tư, hiệu quả củaqúa trình đầu tư thì nước ta khó có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trongthời gian tới Về phần mình, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội là nhân tố cơ bảntăng thu nhập và đời sống của nhân dân, đảm bảo tiềm lực để thực hiện nhiệm vụphát triển văn hoá kinh tế xã hội của đất nước
Như vậy, chính quá trình đầu tư quy định mức tăng trưởng tổng sản phẩmquốc nội và việc giải quyết các nhiệm vụ tăng tưởng kinh tế Mức tăng trưởng vốnđầu tư cao về nguyên tắc sẽ đem lại mức tăng trưởng kinh tế cao và ngược lại Tuynhiên, để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế cao đòi hỏi phải có chính sách đầu
Trang 14tư hiệu quả, huy động tối đa những nguồn lực có thể cho đầu tư, định hướng đầu
tư và quản lý hiệu quả nguồn vốn đầu tư đóng vai trò cực kỳ quan trọng, mangtính quyết định và là lực đẩy ban đầu tạo đà cho sự cất cánh đối với quá trình tăngtrưởng kinh tế của đất nước cũng như của mỗi doanh nghiệp
2.4 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu để có tăngtrưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 - 10%/ năm) là tăng cường đầu tư,nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với cácngành nông, lâm, ngư nghiệp do hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạtđựơc tốc độ tăng trưởng từ 5- 6%/năm là rất khó khăn Như vậy chính sách đầu tưquyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia, nhằm đạt đượctốc độ tăng trưởng nhanh toàn nền kinh tế Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụnggiải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa vùng kémphát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo; đồng thời phát huy tối đa những lợi thế
so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế - xã hội của những vùng có khả năng pháttriển nhanh hơn, tạo cơ sở thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển
2.5 Đầu tư với việc tăng trưởng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá đầu tư là điều kiện tiên quyếtcủa sự phát triển, và tăng trưởng khả năng công nghệ Theo đánh giá của cácchuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ sovới nhiều nước trên thế giới và khu vực Công nghệ phổ biến ở tình trạng thô sơlạc hậu Theo đánh giá của UNIDO, năm 1990 nếu chia quá trình phát triển côngnghệ của thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam đứng vào giai đoạn 1 và 2
Sau hơn 10 năm đổi mới tuy đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưngViệt Nam vẫn còn là 1 trong những nước nghèo nhất về công nghệ Bởi vậy, trong
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 15giai đoạn trước mắt phải có tốc độ tăng trưởng cao về tổng sản phẩm trongnước(GDP) Phân tích số liệu thống kê của nhiều nước phát triển cho thấy trongcác thập kỷ qua, phần do đổi mới công nghệ đóng góp vào tốc độ tăng trưởng là từ50-90% Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam phải phát triển công nghệnhiều trình độ, đồng thời phải tiếp thu, mở rộng quy mô áp dụng công nghệ cao để
có năng suất lao động ngày càng cao
Nền kinh tế thế giới ngày càng toàn cầu hoá, sự cạnh tranh của hàng hoá vàdịch vụ ở thị trường trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt Tính cạnh tranhcủa hàng hoá được nâng cao chủ yếu nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàcông nghệ vào quá trình sản xuất Đổi mới công nghệ sẽ cho phép nâng cao chấtlượng sản phẩm, tạo nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng,tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên liệu Nhờ vậy cácdoanh nghiệp sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăngtrưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chúng ta đều biết rằng có 2 con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiêncứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiêncứu hay nhập từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư Mọi phương
án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương ánkhông khả thi Ở Việt Nam hiện nay mới chỉ đầu tư 0,5% ngân sách trung ươngcho nghiên cứu và triển khai; Thời gian tới phải nâng dần ngân sách trung ươngcho nghiên cứu và triển khai lên 1 - 2%, và cuối thế kỷ này lên 1% GDP Các liêndoanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài trong các năm từ 1991 -
1995 đã đầu tư trên 10 tỷ USD chủ yếu là đầu tư công nghệ cao đổi mới côngnghệ và tiếp thu công nghệ mới
3 Phân loại hoạt động đầu tư.
Trang 16Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư, các nhà kinh tếphân loại hoạt động đầu tư theo các tiêu thức kế hoạch khác nhau Mỗi tiêu thứcphân loại đáp ứng những nhu cầu nghiên cứu kinh tế khác nhau Để tiện cho việctheo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.Những tiêu thức phân loại hoạt động đầu tư thường được sử dụng là:
* Theo nội dung kinh tế của hoạt động đầu tư được phân chia thành:
- Đầu tư cho đối tượng vật chất (đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhàxưởng, máy móc thiết bị )
- Đầu tư cho các đối tượng tài chính (mua cổ phiếu, trái phiếu )
- Đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (tài sản trí tuệ, nhân lực )
Trong các loại đầu tư trên, đầu tư đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết, cơbản, làm tăng tiềm lực của mỗi doanh nghiệp và của nền kinh tế, đầu tư tài chính
là điều kiện quan trọng để thu hút mọi nguồn vốn cho đầu tư các đối tượng vậtchất, còn đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để đảmbảo cho đầu tư các đối tượng vật chất được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quảcao
* Theo cơ cấu tái sản xuất có thể phân chia thành:
- Đầu tư chiều rộng: Đòi hỏi vốn lớn, khê đọng lâu, thời gian thực hiện đầu tư vàthời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạohiểm cao
- Đầu tư chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít, thời gian thực hiện đầu tư không lâu,
độ mạo hiểm ít
* Theo phân cấp quản lý phân thành 3 nhóm: A, B và C tuỳ theo tính chất và quy
mô
* Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội các kết quả đầu tư có thể phân chia thành:
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 17- Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
- Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội)
* Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư có thể chia thành:
- Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định
- Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động
* Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư.
- Đầu tư thương mại
- Đầu tư sản xuất
* Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra, các
kết quả đầu tư có thể chia thành:
- Đầu tư ngắn hạn
- Đầu tư dài hạn
* Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư:
- Đầu tư gián tiếp
- Đầu tư trực tiếp
* Theo nguồn vốn có thể phân chia thành:
- Vốn huy động trong nước
- Vốn huy động từ nước ngoài
* Theo vùng lãnh thổ: Cách phân loại này phản ánh tình hình đầu tư của từng tỉnh,
từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xãhội ở từng địa phương
Trang 184 Vai trò và sự cần thiết của hoạt động đầu tư vào trang thiết bị
4.1 Vai trò của hoạt động đầu tư trang thiết bị:
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Bên cạnh đóđầu tư vào trang thiết bị sẽ đem lại lợi ích cao cho mỗi cơ sở sản xuất vì trong các
cơ sở sản xuất vấn đề trang thiết bị là vấn đề sống còn Chẳng hạn, để tạo dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựngnhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiếnhành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sựhoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa tạo ra Các hoạtđộng này chính là hoạt động đầu tư nói chung đối với các cơ sở sản xuất kinhdoanh dịch vụ đang tồn tại Sau một thời gian hoạt động, các cơ ở vật chất kỹthuật nói chung và trang thiết bị nói riêng của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng Đểduy trì được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặcthay mới trang thiết bị phục vụ sản xuất đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới đểthích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhucầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội Phải mua sắm các trang thiết bị mới thaythế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời tức là phải đầu tư cho trang thiết bị
Công tác đầu tư ở bất kỳ một doanh nghiệp nào thì việc đầu tư vào trang thiết
bị không chỉ là phục vụ cho nhu cầu trước mắt của cơ sở sản xuất kinh doanh dịch
vụ mà nó còn là nền tảng cơ bản để phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp trong tương lai Mặt khác, nó góp phần đồng bộ hoá dây chuyền sản xuấthiện có, khắc phục sự mất cân đối, sử dụng triệt để năng lực tiềm tàng của doanhnghiệp
4.2 Sự cần thiết của hoạt động đầu tư trang thiết bị
Trong nền kinh tế thi trường hiện nay, mục đích chủ yếu của các doanhnghiệp là lợi nhuận Muốn đạt được lợi nhuận cao phải giảm chi phí sản xuất, tăng
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 19khối lượng sản phẩm, tận dụng năng lực hiện có, sản xuất hàng xuất khẩu hoặcthay thế hàng nhập khẩu, tạo thêm việc làm, giảm nhẹ lao động cho người laođộng trong doanh nghiệp Muốn vậy, họ phải đưa ra thị trường những loại sảnphẩm có chất lượng cao, mẫu mã phong phú, hợp thị hiếu người tiêu dùng và giá
cả cạnh tranh được với các sản phẩm khác Những sản phẩm này không thể tạo ratrên cơ sở kỹ thuật lạc hậu Vì vậy cần:
- Đầu tư đảm bảo cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao nhờ ưu thế vềchất lượng sản phẩm và giá bán Do đó phải đầu tư để có các dây chuyền sản xuấthiện đại nhằm sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao và cũng nhờ đó giáthành lại thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại hiện có trên thị trường do tiếtkiệm được nguyên liệu, tận dụng được năng lực sản xuất
- Nhờ có đầu tư nâng cấp và hiện đại hoá trang thiết bị nên có thể đa dạnghoá sản phẩm, sản xuất ra nhiều mặt hàng đáp ứng được nhu cầu thay đổi thườngxuyên của thị trường
- Mặt khác, chỉ trên cơ sở đổi mới kỹ thuật công nghệ phục vụ sản xuất mới
có khả năng tạo ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Cơ
sở kỹ thuật là một trong những điều kiện quan trọng để liên kết, liên doanh vớinước ngoài, tạo ra chỗ đứng vững chắc trong phân công lao động quốc tế, thựchiện chủ trương nền kinh tế mở
5 Đặc trưng của những dự án công nghiệp.
Hoạt động đầu tư trang thiết bị là một phần của hoạt động kinh doanh tronglĩnh vực công nghiệp, đó là việc mua sắm các dây chuyền công nghệ, các cơ sở kỹthuật phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm giảm nhẹ lao động chân tay (phổthông), vận dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất Trong lĩnh vựccông nghiệp có sự phức tạp về kỹ thuật, về năng lực vận hành Các dự án công
Trang 20- Tính phức tạp về mặt kỹ thuật: Do đặc tính của các dự án công nghiệp là phải
có những tiêu chuẩn, chỉ số kỹ thuật (công suất máy, năng lực phục vụ ) có độchính xác cao Do đó việc đầu tư mua sắm phải phù hợp với yêu cầu của sản xuấttrong mỗi doanh nghiệp Ở Việt Nam hiện nay do không hiểu biết về công nghệnên thường mua phải những máy móc, công nghệ không phù hợp như khi lại muanhững trang thiết bị quá hiện đại không đồng bộ với dây chuyền sản xuất hiệncó,dẫn đến không vận hành được trang thiết bị đó, hoặc mua phải những trangthiết bị quá lạc hậu
- Thị trường mua bán, chuyển giao: rất đa dạng và phức tạp, mỗi doanh nghiệpcần lựa chọn những trang thiết bị công nghệ phù hợp với yêu cầu của sản xuất.Cần lựa chọn kỹ những đối tác để thực hiện chuyển giao
- Vấn đề chuyên gia phục vụ cho những công nghệ chuyển giao
II PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRANG THIẾT BỊ
1 Kết quả hoạt động đầu tư trang thiết bị.
Kết quả của hoạt động đầu tư trang thiết bị được thể hiện ở khối lượng vốn đãthực hiện, ở các tài sản cố định được huy động và năng lực sản xuất kinh doanhdịch vụ tăng thêm
1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện.
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạtđộng của các công cuộc đầu tư bao gồm: Các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư(như các chi phí cho công tác dao dịch, ký kết hợp đồng ), chi phí mua sắm trangthiết bị máy móc, các chi phí khác liên quan (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 21đặt ) để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy địnhcủa thiết kế dự toán đã được duyệt.
Việc xác định khối lượng vốn đầu tư thực hiện dựa trên các cơ sở sau:
- Đối với những công cuộc đầu tư quy mô lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài,thì vốn đầu tư được tính là thực hiện khi từng hoạt động, từng giai đoạn của mỗicông cuộc đầu tư đã hoàn thành Ví dụ đó là số vốn đã chi để mua sắm trang thiết
bị máy móc không cần lắp đã nhập kho, để mua sắm trang thiết bị máy móc cầnlắp đã bàn giao để lắp
- Đối với những công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắnthì số vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ cáccông việc của quá trình đầu tư đã kết thúc Ví dụ như một doanh nghiệp sản xuấtmua xe vận tải để vận chuyển nguyên vật liệu đến nơi sản xuất và chở sản phẩm
về nhập kho Chi phí này được tính trong tài sản cố định tăng thêm trong kỳ củadoanh nghiệp đó
- Đối với những công cuộc đầu tư do ngân sách nhà nước tài trợ, để số vốn đãchi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trìnhđầu tư phải đạt các tiêu chuẩn và tính theo phương pháp sau:
+ Đối với công tác lắp đặt máy móc thiết bị trên nền bệ thì phương pháp tínhkhối lượng vốn đầu tư lắp đặt theo công thức:
I vl=∑
i =1
n
Q li×P i+C in+W
Trong đó: + Qli: khối lượng công tác lắp đặt máy móc thiết bị máy móc đã hoàn
thành tính theo toàn bộ từng chiếc máy i (đối với thiết bị có kỹ thuật lắp đơn giản)hoặc số tấn máy lắp xong cho từng giai đoạn từng bộ phận phải lắp của thiết bị
Trang 22(đối với thiết bị lắp giản đơn nhưng được lắp song song nhiều chiếc một lúc hoặcđối với thiết bị có kỹ thuật lắp phức tạp)
+ Pi: là đơn giá dự toán.
+ Cin: là phụ phí được quy định theo tỷ lệ %( so với lương chính của
công nhân lắp)
+ W: là lãi định mức được tính theo tỷ lệ % so với giá thành hoặc giá
trị dự toán công tác lắp do nhà nước quy định
- Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móccần lắp (những loại thiết bị phải được lắp đặt gia cố trên nền bệ mới có thể sửdụng được như máy thành lốp ô-tô, máy thành hình lưu hoá ) được xác định căn
cứ vào giá mua cộng với chi phí vận chuyển đến địa điểm tiếp nhận (kho của đơn
vị sử dụng), chi phí bảo quản cho đến khi giao lắp từng bộ phận (đối với các thiết
bị có kỹ thuật lắp phức tạp) hoặc cả chiếc (đối với các thiết bị có kỹ thuật lắp đơngiản)
- Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móckhông cần lắp (những loại thiết bị mua về có thể sử dụng được ngay như ô tô cẩu,
xe nâng tay ) được căn cứ vào giá mua cộng với chi phí vận chuyển đến kho củađơn vị sử dụng và nhập kho
- Đối với những công cuộc đầu tư từ nguồn vốn vay, vốn tự có của cơ sởhoặc của dân, các chủ đầu tư căn cứ vào các quy định, định mức đơn giá chungcủa nhà nước, vào điều kiện thực hiện đầu tư và hoạt động cụ thể của mình để tínhmức vốn đầu tư thực hiện của doanh nghiệp, của từng dự án trong từng thời kỳ
1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.
Tài sản cố định huy động ở đây được hiểu là những trang thiết bị phục vụtrực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất có khả năng phát huy tác dụng độc
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 23lập (làm ra sản phẩm hàng hoá), đã kết thúc quá trình mua sắm, chuyển giao, đãlàm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng và có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuấtphục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sảnphẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự ánđầu tư
Các tài sản cố định được huy động toàn bộ hay huy động bộ phận:
+ Huy động toàn bộ: là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng vật chất
có khả năng phát huy tác dụng độc lập hoặc trong dự án không có dự kiến chophát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình mua sắm và có thể sử dụng đượcngay
+ Huy động bộ phận: là việc huy động từng phần của máy móc thiết bịtrong quá trình đầu tư vào hoạt động ở những thời điểm khác nhau do thiết kế quyđịnh
Nói chung, đối với các công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng vậtchất có khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng hình thức huy động
bộ phận sau khi từng đối tượng đã kết thúc mua sắm, lắp đặt; Còn đối với côngcuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn thì áp dụng hình thứchuy động toàn bộ khi tất cả các đối tượng vật chất đã kết thúc quá trình mua sắm,lắp đặt
Các tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là sảnphẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư, chúng có thể được biểu hiện bằng tiềnhoặc bằng hiện vật
Trang 24Hệ số huy động TSCĐ của dự án=Tổng vốn đầu tư đã được thực hiện của dự ánGiá trị TSCĐ đã được huy động của dự án
Hệ số huy động
TSCĐ = Giá trị tài sản đã được huy động trong kỳ
Tổng VĐT được thực hiện trong kỳVĐT thực hiện các kỳ trước nhưng chưa được huy động+
Chỉ tiêu giá trị các trang thiết bị được huy động tính theo giá dự toán hoặc
giá trị thực tế tuỳ thuộc mục đích sử dụng chúng trong công tác nghiên cứu kinh tế
hay quản lý hoạt động đầu tư:
+ Cụ thể giá trị dự toán được sử dụng làm cơ sở để tính giá trị thực tế, để
lập kế hoạch về vốn đầu tư và tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện; giá trị dự toán
là cơ sở để tiến hành thanh quyết toán giữa chủ đầu tư và các đơn vị nhận thầu
+ Còn giá trị thực tế được sử dụng để kiểm tra việc thực hiện kỷ luật tài
chính, dự toán đối với các công cuộc đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cấp, để ghi
vào bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp, làm cơ sở để tính mức khấu hao hàng
năm, phục vụ cho công tác hạch toán của doanh nghiệp, đánh giá kết quả hoạt
động tài chính của doanh nghiệp
Để phản ánh mức độ đạt kết quả cuối cùng trong số vốn đầu tư đã được thực
hiện ta sử dụng chỉ tiêu:
Đối với toàn bộ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, tính chỉ tiêu sau:
2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư trang thiết bị.
2.1 Các quan điểm về hiệu quả đầu tư.
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 25Hiệu quả hoạt động đầu tư là một phạm trù kinh tế thể hiện trình độ tổ chức
có kế hoạch và sử dụng lực lượng sản xuất xã hội trong các mối quan hệ sản xuất
và đời sống xã hội của con người Hay nói cách khác hiệu quả hoạt động đầu tư làkết quả hữu ích do sự phát huy tác dụng của kết quả đầu tư mang lại cho nền kinh
tế quốc dân Vì vậy hiệu quả của hoạt động đầu tư chính là mối quan tâm và làmục tiêu của các doanh nghiệp, các ngành và của toàn bộ nền kinh tế
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên các góc độ khác nhau đểxem xét, nếu xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì mục đích cuối cùng của hiệuquả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạmtrù lợi nhuận
Hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chứcsản xuất, trình độ thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất và trình độ quản lý trongcác doanh nghiệp
Hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, nó có liên quan đến nhiều yếu
tố khác nhau và nó còn phản ánh trình độ tận dụng các yếu tố đó Do đó khi xemxét đánh giá hiệu quả cần quán triệt các quan điểm sau:
+ Đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việcnâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm tăng tích luỹ của doanh nghiệp và của toàn bộnền kinh tế Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuấtphát từ mục tiêu chiến lược phát triển của doanh nghiệp và mục tiêu phát triểnkinh tế-xã hội chung của đất nước, trước hết thể hiện ở việc nhà nước ký kết hợpđồng kinh tế với các doanh nghiệp, vì đó là nhu cầu và điều kiện bảm bảo sự pháttriển cân đối của nền kinh tế quốc dân Những nhiệm vụ kinh tế và chính trị mànhà nước giao cho doanh nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá đòi
Trang 26+ Đảm bảo tính cạnh tranh để thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế của nhànước Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả phải xuất phát và bảo đảmyêu cầu nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội và của mỗi doanh nghiệp Hơnnữa trong từng doanh nghiệp, khi xem xét, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanhphải coi trọng tất cả các hoạt động, các lĩnh vực, các khâu của quá trình sản xuấtkinh doanh và phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ, tác động qua lại của các tổchức, các lĩnh vực trong một hệ thống, trong một mục tiêu đã xác định.
+ Phát triển hàng hoá trong nước thay thế hàng nhập khẩu phải căn cứ vàokết quả sản phẩm cuối cùng cả về hiện vật và giá trị để đánh giá hiệu quả kinhdoanh Quan điểm này đòi hỏi khi tính toán đánh giá hiệu quả, một mặt phải căn
cứ vào số lượng sản phẩm đã tiêu thụ và giá trị thu nhập của các hàng hoá đó theogiá thị trường, mặt khác phải tính toán đủ các chi phí đã chi ra để sản xuất và tiêuthụ các loại háng hoá ấy Căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị đó
là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Ngoài ra, còn đòi hỏi các nhà kinhdoanh phải tính toán đúng đắn, hợp lý lượng sản phẩm dở dang, bán thành phẩmcần thiết cho quá trình kinh doanh tiếp theo Điều đó còn cho phép đánh giá đúngkhả năng thoả mãn nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ theo cả hiện vật
và giá trị, tức là cả giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá mà thị trường cần
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 27Hiệu quả đầu tư
Trang thiết bị =
Kết quả đã đạt được do thực hiện đầu tư trang thiết bị
Tổng vốn đầu tư đã thực hiện
Các quan điểm này đều có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước, nhằm làm tăng hơn nữa hiệu quả đầu tư ở nước ta hiện nay
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư trang thiết bị.
Cũng giống như một số chỉ tiêu khác, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượngtổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất, đồng thời
là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hoá xã hội và trình độ sảnxuất của mỗi doanh nghiệp Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cóphát triển hay không là nhờ đạt hiệu quả cao hay thấp Biểu hiện của hiệu quả làlợi ích và thước đo cơ bản của lợi ích là "Tiền"
Hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể, vừa là một phạmtrù trừu tượng Nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý của doanh nghiệpphải định lượng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh Nếu là phạm trùtrừu tượng phải định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh
Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng và quản lý các kết quả hoạt động đầu tưtrang thiết bị, khi xem xét hiệu quả hoạt động đầu tư cần phân biệt chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả đầu tư chung và hiệu quả bổ sung trong từng thời kỳ
2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư chung.
Hiệu quả đầu tư xác định bằng kết quả đạt được nhờ sử dụng các nguồn vốnđầu tư đã bỏ ra Cần phân biệt hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối của vốnđầu tư đã bỏ ra Đối với doanh nghiệp, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là mối quan hệgiữa thu nhập của doanh nghiệp so với tăng tổng vốn đầu tư vào những đối tượngvật chất đã mang lại hiệu quả đó Kết quả đầu tư rất đa dạng, do đó để phản ánhhiệu quả đầu tư phải dùng một hệ thống chỉ tiêu để đánh giá phân tích:
Trang 28- Sự khác nhau giữa 2 chỉ tiêu này:
+ Hiệu quả đầu tư trang thiết bị phản ánh những kết quả chung của hoạt độngđầu tư so với số tiền đã bỏ ra (kết quả ở đây có thể là trình độ sản xuất tăng thêm,
sự gia tăng của chất lượng sản phẩm )
+ Hệ số hiệu quả đầu tư trang thiết bị phản ánh kết quả đạt được trên mộtđồng vốn đã bỏ ra
- Hệ số huy động tài sản cố định được tính như sau:
Ngoài ra, người ta còn sử dụng chỉ tiêu giá thành sản phẩm, năng suất laođộng và một số chỉ tiêu khác Chỉ tiêu giá thành sản phẩm của doanh nghiệp đượcthiết kế phản ánh chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Việc so sánh chỉ tiêunày với giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cùng loại hiện có hoặc đang xây lắpcho phép xác định mức giảm chi phí sản xuất ở doanh nghiệp đang thiết kế
2.2.2 Chỉ tiêu hiệu quả đầu tư của các dự án đầu tư trang thiết bị
- Chỉ tiêu thu nhập thuần ( NPV)
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 29- Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư.
Tóm lại, việc kết hợp nhóm chỉ tiêu kết quả và nhóm chỉ tiêu hiệu quả đầu tưtrang thiết bị sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ những căn cứ để xem xét đánh giá tìnhhình thực hiện đầu tư trang thiết bị trong từng thời kỳ, trên cơ sở đó có thể cónhững định hướng đầu tư mới hợp lý cho từng thời kỳ mới
2.3 Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư trang thiết bị.
- Chỉ tiêu về mức nộp ngân sách
- Số lao động có việc làm do thưc hiện đầu tư: Số lao động có việc làm ở đâybao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp phục vụ cho quá trìng vận hànhcác kết quả đầu tư
Trang 30Mức độ chiếm lĩnh thị trường do đầu tư đổi mới trang thiết bị
= Doanh thu tiêu thụ SP cùng loại tại thị trường nàyDoanh thu do bán SP của cơ sở tại thị trường này
Trong khi tạo ra việc làm cho một số lao động thì hoạt động đầu tư nói chung
và đầu tư trang thiết bị nói riêng cũng có thể làm cho lao động ở một số lĩnh vựckhác mất việc làm, chẳng hạn như khi đầu tư cho một dây chuyền sản xuất hiệnđại cần có chuyên gia vận hành thì khi đó một số lao động phổ thông sẽ phải nghỉviệc Do đó, số lao động có việc làm sẽ chỉ bao gồm số lao động lao động trực tiếp
và gián tiếp phục vụ cho công cuộc đầu tư trừ đi số lao động mất việc làm vànhững người nước ngoài làm việc cho nó
- Chỉ tiêu mức thu nhập gia tăng của mỗi nhóm người (những người làmcông ăn lương, những người có vốn hưởng lợi tức, nhà nước thu thuế ) Chỉ tiêunày phản ánh tác động điều tiết thu nhập
- Chỉ tiêu ngoại hối ròng (tiết kiệm ngoại tệ): Một nhiệm vụ cơ bản khi xemxét lợi ích kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư là xác định mức tiết kiệm ngoại tệ
Nó cho biết mức độ đóng góp vào cán cân thanh toán vì nhờ có đầu tư nhằm đổimới hoặc trang bị lại trang thiết bị mà sản phẩm tạo ra có khả năng xuất khẩu ranước ngoài hoặc thay thế hàng nhập khẩu
- Một số chỉ tiêu khác:
+ Những ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng nói chung và trang thiết bị phục vụ sảnxuất nói riêng: Sự gia tăng năng lực phục vụ sẵn có và bổ sung năng lực phục vụmới
+ Tác động đến môi trường: Đây là ảnh hưởng của các đầu vào và đầu ra củahoạt động đầu tư đến môi trường Trong các tác động có tác động tích cực, tácđộng tiêu cực Nếu có tác động tiêu cực thì phải có các giải pháp khắc phục và chiphí để thực hiện các giải pháp đó
+ Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường do tiến hành đầu tư đổimới trang thiết bị Công thức tính:
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 31+ Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất: Thể hiện ở mức thay đổi cấp bậccông việc bình quân sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư và mức độ thay đổi nàytính trên 1000 đồng vốn đầu tư.
+ Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý: Thể hiện ở sự thay đổimức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài sản cố định của laođộng quản lý sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư
+ Nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động: Thể hiện ở chỉ tiêu bậcthợ bình quân thay đổi sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư và mức thay đổi nàytính trên 1000 đồng vốn đầu tư
+ Mức tăng năng suất lao động sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CẤP VÀ ĐỔI MỚITRANG THIẾT BỊ TẠI CÔNG TY CAO SU SAO VÀNG HÀ NỘI
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CAO SU SAO VÀNG HÀ NỘI.
1 Vài nét về công nghệ cao su.
Cao su là từ phiên âm từ: CAAOCHU với CA là cây O-CHU là khóc, chẩy;
là tên gọi một loại cây có mủ (cây Hvea Brasilielsis) của người thổ dân da đỏ(Nam Mĩ); điều đó chứng tỏ con người biết đến cao su từ rất sớm, từ hàng nghìnnăm về trước nhưng phải đến thế kỉ 19, sau phát minh ra phương pháp lưu hoá(hấp chín) cao su bằng lưu huỳnh (S) của Goodyear năm1839 và chế tạo thành
Trang 32công lốp bấnh hơi (lốp rỗng, lốp có săm) của Dunlop năm 1888 thì cao su mớiđược sử dụng rộng rãi và công nghiệp cao su mới thực sự phát triển Người ta coiphát minh của Goodyear như là một cuộc cách mạng thứ trong công nghiệp caosu
Ngày nay, cao su với tính năng đặc trưng quý báu là có “đàn tính” cao và cótính năng cơ lí tốt như; sức bền lớn, ít bị mài mòn, không thấm khí thấm nước nên được coi là nguyên liệu lí tưởng mà chưa có một nguyên liệu nào có thể thaythế được để sản xuất săm lốp, phục vụ trong nghành giao thông vận tải Cho nên,nói đến cao su, trước hết phải nói đến công nhgiệp sản xuất săm lốp
Theo ước tính, hiện nay trên thế giới có khoảng 50.000 các sản phẩm cao su,chúng có mặt trong hầu hết các nghành của nền kinh tế quốc dân và được phân bổnhư sau:
- 68% cao su được dùng trong nghành giao thông vận tải để sản xuất săm lốpcác loại
- 13,5% cao su dùng trong công nghiệp để sản xuất các sản phẩm cơ học (dâyđai, băng tải, ru lô cao su )
- 5,5% cao su dùng trong sản xuất giầy dép
- 2,5% cao su dùng để sản xuất các sản phẩm cao su khác
- 9,5% cao su dùng để sản xuất các sản phẩm màng mỏng (bóng bay, găngtay phẫu thuật )
- 1% cao su dùng để sản xuất keo dán
Ngoài ra cao su còn được dùng trong công nghiệp quốc phòng kể cả trongnghành du hành vũ trụ
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 33Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới, có vàng đất đỏ bazan ở Tâynguyên rộng lớn nên rất thuận lợi cho việc trồng cây cao su để khai thác mủ vàchế biến thành cao su thiên nhiên.
Năm 1996, ở nước ta có 290.000 ha trồng cây cao su, với sản lượng cao suthu được là 150.000 tấn Dự kiến đến năm 2005 chúng ta sẽ tăng diện tích trồngcây cao su lên 700.00 ha với sản lượng ước tính 375.000 tấn Tuy nhiên con sốtrên so với một vài nước trong khu vực còn rất thấp Năm 1994 sản lượng cao sucủa Thái lan đạt: 1,72 triệu tấn; Indonexia: 1,36 triệu tấn; Malaixia: 1,1 triệu tấn
Ba nước này đã sản xuất một lượng cao su khoảng 70% tổng sản lượng cao suthiên nhiên thế giới
Việt nam là quốc gia mà phương tiện giao thông hiện nay chủ yếu là xe đạp,
xe máy và một phần là ô tô nên nhu cầu tiêu thụ săm lốp là rất lớn Năng lực sảnxuất hiện nay của Việt nam là 1 triệu săm, lốp xe máy một năm Dự kiến đến năm
2000 chúng ta tìm đối tác liên doanh để đưa năng lực sản xuất lên 2,5 triệuchiếc/năm
- Chính từ những xuất phát điểm trên mà chúng ta có thể khẳng định rằngnguồn cung cấp nguyên liệu chính cho sản xuất và tiêu thụ săm lốp ở Việt nam làrất lớn; để nghành công nghiệp gia công các sản phẩm cao su luôn có một vị tríxứng đáng và không ngừng phát triển, nó hứa hẹn một chân trời mở rộng choCông ty Cao su Sao vàng Hà nội vươn lên
2 Sự hình thành và phát triển của Công ty Cao su Sao vàng.
Công ty Cao su Sao vàng là doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng công ty Hoáchất Việt Nam, chuyên sản xuất săm lốp ô tô, xe máy, xe đạp, băng tải các loại,cao su chịu áp lực, chịu dầu và các sản phẩm, chi tiết kỹ thuật bằng cao su
Địa chỉ của công ty: 231 đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh xuân, Hà nội
Trang 34Năm 1990, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc đổi mới, nhờ có tinh thầntrách nhiệm cao, nhạy bén trong nhận thức, Công ty Cao su Sao vàng đã vượt quakhó khăn của thời kì quá độ, hoà nhập nhanh chóng vào cơ chế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước Cho đến nay, Công ty đã khẳng được vị trí vai trò củamình và từng bước đi lên Trong những năm qua, nhất là trong quá trình chuyểnđổi cơ chế của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực quốc doanh tỏ ra lúng túng, bỡ ngỡ,kém hiệu quả, có doanh nghiệp thua lỗ phá sản Nhưng Công ty cao su Sao vàng,một doanh nghiệp quốc doanh, tuy gặp phải không ít khó khăn trong sản xuất kinhdoanh, đã có nhiều cố gắng trong việc tháo gỡ những ách tắc trong cơ chế bao cấp,từng bước thực hiện các công việc cơ bản sau:
- Tổ chức lại sản xuất
- Phân cấp quản lí cho các đơn vị cơ sở
- Xây dựng mạng lưới tiêu thụ trên toàn quốc
Để đẩy mạnh sản xuất, bên cạnh những biện pháp nhằm phát huy những tiềmnăng sẵn có, việc đổi mới và đầu tư công nghệ sản xuất là một yêu cầu vô cùngbức thiết Các thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất được đầu tư vào Công ty từ
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 35trước đây một số đã hết thời hạn sử dụng, một số khác đã không còn phù hợp vớiyêu cầu hiện nay về chất lượng, số lượng, kiểu dáng, quy cách sản phẩm Công ty
đã mạnh dạn huy động các nguồn vốn: vay ngân hàng, tích luỹ nội bộ và huy độngtiền nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên để đưa vào đầu tư với tổng vốn đầu tưtrong 7 năm vừa qua là hơn 50 tỷ đồng Nhờ có việc đầu tư chiều sâu, đổi mới cótrọng điểm, Công ty đẫ sản xuất ra được nhiều loại sản phẩm có sức cạnh tranhtrên thị trường, đồng thời cải thiện được tình trạng bảo vệ môi trường
Đối với một đơn vị sản xuất theo kế hoach trước đây, thì công tác thị trườngrất mới mẻ Do đánh giá đúng những những yếu tố cơ bản của môi trường hoạtđộng mới, Công ty đã triển khai thành công từng bước trong hoạt động kinh doanhvới hai nhiệm vụ cơ bản là tiêu thụ sản phẩm và khai thác vật tư Hiện nay Công
ty có 5 chi nhánh và mạng lưới hơn 200 đại lí và cửa hàng giới thiệu sản phẩmtrên toàn quốc
Theo quyêt định của Thủ tướng Chính phủ, tháng 3 -1994, Công ty đã sátnhập xí nghiệp cao su Thái Bình làm đơn vị thành viên Tháng 8 -1995, nhà máybin điện cực Xuân Hoà lại được quyết định trở thành bộ phận trực thuộc của Công
ty Cao su Sao vàng
Để mở rộng qui mô thị phần hơn nữa, Công ty đã tích cực nghiên cứu thịtrường, tìm ra những mặt hàng mới về mẫu mã, chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầucủa thị trường, đặc biệt Công ty đã không ngừng nâng cao uy tín của mình bằngcác biện pháp như bảo hành sản phẩm, cải tiến phương thức bán hàng, mở rộngmạng lưới tiêu thụ Với những nỗ lực to lớn của mình, đến nay Công ty cao suSao vàng đã thực sự khẳng định được vị trí khá vững chắc của mình trên thịtrường
3 Cơ cấu tổ chức quản lí và sản xuất kinh doanh của Công ty cao su Sao vàng
Trang 36a Cơ cấu tổ chức quản lí và sản xuất kinh doanh của Công ty bao gồm:
- Giám đốc Công ty
- 5 phó giám đốc phụ trách về: kĩ thuật, sản xuất, kinh doanh, xuất nhậpkhẩu, xây dựng cơ bản
- 11 phòng ban chức năng
- 1 văn phòng Đảng ủy
- 1 văn phòng Công đoàn
- 10 đơn vị sản xuất kinh doanh trong đố có 9 xí nghiệp thành viên và 1phân xưởng
b Chức năng, nhiêm vụ của các phòng ban trong bộ máy quản lí.
- Đứng đầu Công ty là Giám đốc Công ty, do nhà nước bổ nhiệm, một mặtchịu trách nhiệm trước cơ quan cấp trên, là người đại diện cho Công ty trước phápluật về các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Mặt khác Giám đốc làngười có quyền ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty
- Giúp việc cho Giám đốc có các Phó giám đốc phụ trách các mảng hoạt độngcủa công ty:
+ Phó giám đốc kĩ thuật: là người có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc vềcác lĩnh vực kĩ thuật, trực thuộc sự quản lí của Phó giám đốc kĩ thuật là các phòngban sau: phòng kĩ thật cơ năng, phòng kĩ thuật cao su, phòng kiểm tra chất lượng.+ Phó giám đốc sản xuất: là người có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc vềmặt sản xuất của Công ty Trực thuộc sự quản lí của Phó giám đốc sản xuất là cácphòng ban sau: Phòng tổ chức hành chính, phòng điều độ, phòng quân sự bảo vệ
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 37+ Phó giám đốc kinh doanh: là người có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc
về các hoạt động kinh doanh của Công ty Trực thuộc sự quản lí của Phó giám đốckinh doanh là: Phòng kế hoạch thị trường, phòng tài vụ, phòng đời sống
+ Phó giám đốc xuất nhập khẩu: là người có nhiệm vụ tham mưu cho Giámđốc về mặt xuất nhập khẩu của Công ty Trực thuộc sự quản lí của Phó giám đốcxuất nhập khẩu là Phòng đối ngoại xuất nhập khẩu
+ Phó giám đốc xây dựng cơ bản: là người có nhiệm vụ tham mưu cho Giámđốc về mảng xây dựng cơ bản của Công ty Trực thuộc sự quả lí của Phó giám đốcxây dựng cơ bản là Phòng kiến thiết cơ bản
* Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty:
- Phòng kĩ thuật cơ năng: tham mưu cho Giám đốc về mặt cơ khí điện nănglượng, quản lí và ban hành các quy trình về vận hành máy, về nội quy an toàn,hướng dẫn ban hành và kiểm tra các định mức kỹ thuật về cơ điện và năng lượng
- Phòng kĩ thuật cao su: tham mưu cho Giám đốc về mặt kĩ thuật cao su baogồm cả quản lí và ban hành các quy trình công nghệ sản phẩm cao su, kiểm tra đểcác đơn vị thực hiện tốt các quy trình đó, hướng dẫn xây dựng và ban hành cácđịnh mức kinh tế - kĩ thuật, các tiêu chuẩn cấp bậc chuyên môn, tổ chức nghiêncứu, áp dụng các công nghệ sản xuất mới, sản phẩm mới, xử lí các trường hợpbiến động trong sản xuất
- Phòng kiểm tra chất lượng: tham mưu cho Giám đốc về chất lượng sảnphẩm, tổ chức kiểm tra các nguyên vật liệu trước khi nhập kho theo đúng tiêuchuẩn do Nhà nước ban hành
- Phòng kiến thiết cơ bản: tham mưu cho Giám đốc về công tác xây dựng cơbản và thiết kế các công trình xây, lắp đặt thiết bị trong Công ty, lập kế hoạch tổchức các phương án thi công và kiểm tra, nghiệm thu công trình xây dựng, lắp đặt
Trang 38- Phòng quân sự bảo vệ: tham mưu cho Giám đốc về mặt bảo vệ an ninhchính trị, an toàn trong Công ty, tổ chức kiểm tra, kiểm soát sản phẩm ra vàoCông ty theo đúng nội quy, tổ chức hướng dẫn và trực tiếp kiểm tra công tácphòng cháy, chữa cháy để đảm bảo an toàn cho Công ty.
- Phòng điều độ: tham mưu cho Giám đốc về kế hoạch thu mua vật tư, kếhoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo việc cung ứng vật tư cho sảnxuất, có trách nhiệm bảo vệ vật tư theo quy định, không bị hư hỏng mất mát, xuấtnhập kho theo đúng quy định của Công ty, quản lí đội xe vận chuyển nguyên liệu,sản phẩm tới nơi yêu cầu của khách hàng Đặc biệt phòng còn quản lí hoạt độngcủa các chi nhánh, đại lí trên toàn quốc
- Phòng tài vụ: tham mưu cho Giám đốc về công tác quản lí các nguồn vốn,các số liệu về tài chính kế toán, quyết toán, tổng kết (kiểm kê tài sản theo quy địnhcủa Nhà nước) Báo cáo về tài chính lên cơ quan cấp trên và nộp các khoản đónggóp cho ngân sách theo quy định, kiểm tra tình hình tài chính kế toàn của các đơn
vị kinh doanh, khi cần có thể thanh tra tài chính đối với các đơn vị thành viên, làmthủ tục thanh lí các tài sản, quản lí quỹ tiền mặt, điều phối giữa các đơn vị, phảibảo tồn và phát triển nguồn vốn do Nhà nước cấp
- Phòng đối ngoại xuất nhập khẩu: tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế Giải quyết các thủ tục trong việc kí kết các
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38
Trang 39hợp động kinh tế đối ngoại, xuất nhập khẩu nguyên vật liệu và thành phẩm, kí kếtcác hợp đồng liên doanh liên kết với nước ngoài
- Phòng đời sống: tham mưu cho giám đốc về các lĩnh vực đời sống của cán
bộ công nhân viên Tổ chức khám sức khoẻ cho người có thẻ bảo hiểm y tế đăng
kí tại Công ty, kiểm tra vệ sinh môi trường, chống nóng, thực hiện các công việc
kế hoạch hoá gia đình trong cán bộ công nhân viên toàn Công ty, tổ chức quản lítốt khu nhà ở trong Công ty
Phía dưới các phòng ban là cá xí nghiệp trực thuộc Các xí nghiệp này hoạtđộng trên nguyên tắc hạch toán độc lập Trong phạm vi của mình các xí nghiệp cóthể tự mua nguyên vật liệu, tự sản xuất theo công nghệ kỹ thuật riêng, tự thành lập
hệ thống tiêu thụ Tuy vậy, hàng năm căn cứ vào kế hoạch sản xuất của Công ty,các xí nghiệp được giao một phần kế hoạch sản xuất đó Điều này cho chúng tathấy được hai nhiệm vụ cơ bản của các xí nghiệp thành viên là: một mặt hoànthành kế hoạch sản xuất cho Công ty, mặt khác vẫn phải đáp ứng nhu cầu sảnphẩm của thị trường Đây là hướng đi mới của Công ty trong việc gắn sản xuất vớithị trường, và hướng việc sản xuất theo thị trường hiện nay Công ty có 4 xínghiệp sản xuất chính là:
- Xí nghiệp cao su số 1: chủ yếu sản xuất săm lốp xe máy và các sản phẩmcao su kỹ thuật khác như ống cao su, cao su chịu dầu, băng tải
- Xí nghiệp cao su số 2: chủ yếu là sản xuất các loại lốp xe đạp
- Xí nghiệp cao su số 3: chuyên sản xuất săm lốp ô tô và xe thồ
- Xí nghiệp cao su số 4: chuyên sản xuất săm xe đạp, xe máy các loại
Ngoài 4 xí nghiệp sản xuất chính tại địa bàn của Công ty thì Công ty còn cóhai chi nhánh khác là:
Trang 40- Xi nghiệp pin, cao su Xuân hoà: sản xuất pin-hoá chất và các loại săm lốp
xe đạp, băng tải
Bên cạnh các xí nghiệp sản xuất chính là các xí nghiệp sản xuất phụ trợ, phục
vụ cho quá trình sản xuất của cả Công ty:
- Xí nghiệp năng lượng: cung cấp khí nén, hơi nóng, nước cấp cho các xínghiệp sản xuất chính
- Xí nghiệp cơ điện: đảm bảo cung cấp điện cho sản xuất và chiếu sáng, chếtạo khuôn mẫu, phụ tùng thay thế, đại tu, bảo dưỡng máy móc
- Xí nghiệp thương mại tổng hợp: tiêu thụ các sản phẩm do Công ty sản xuất,ngoài ra còn kinh doanh một số mặt hàng khác như: xi măng, sắt thép
- Phân xưởng kiến thiết nội bộ vệ sinh công nghiệp: sửa chữa nhỏ các côngtrình xây dựng và đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường cho Công ty
4 Công ty Cao su Sao vàng giai đoạn đổi mới toàn bộ nền kinh tế.
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Công ty Cao su Sao vàng từngbước vượt qua khó khăn, không những trụ được trong cơ chế thị trường mà cònvươn lên trở thành một đơn vị tiên tiến trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm cao sucủa cả nước Từ một nhà máy chuyên sản xuất săm lốp xe đạp là chủ yếu, nayCông ty đã sản xuất thêm nhiều mặt hàng mới như săm lốp xe máy, ô tô, máykéo đáp ứng nhu cầu trong nước và bước đầu tham gia thị trường xuất khẩu Chỉriêng giai đoạn 1995-1998 giá trị tổng sản lượng và doanh thu của Công ty đã tănggấp 2 lần, lợi nhuận tăng 10 lần, nộp ngân sách Nhà nước gấp 3 lần, thu nhập bìnhquân đầu người cũng tăng lên gấp 2 lần Điều đáng mừng là sản phẩm của Công ty
đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường, liên tục mấy năm gần đây sản phẩm củaCông ty đã được người tiêu dùng bình chọn là hàng chất lượng cao và đạt tiêuchuẩn ISO 9002
Đại học Kih tế Quốc Dân Đầu tư K38