1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh pháp luật giải quyết tranh chấp lao động giữa việt nam và malaysia

53 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Pháp Luật Giải Quyết Tranh Chấp Lao Động Giữa Việt Nam Và Malaysia
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Lao Động
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 60,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn này đi sâu nghiêncứu cơ chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam và Malaysia, bao g

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4

3 Nội dung nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 6

1 Những vấn đề cơ bản về tranh chấp lao động 6

1.1 Khái niệm tranh chấp lao động 6

1.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động 10

2 Những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp lao động 12

2.1 Sự cần thiết của việc giải quyết tranh chấp lao động 12

2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động 14

3 Tổng quan pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động 17

3.1 Những nguyên tắc định hướng việc điều chỉnh pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động 17

3.2 Mô hình pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động 20

3.3 Nguồn luật áp dụng của pháp luật về giải quyết tranh chấp

lao động 24

Trang 2

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG LINH HOẠT KINH

NGHIỆM CỦA MALAYSIA 42

1 Những yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam 42

2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động của Việt Nam 44 KẾT LUẬN CHUNG 49 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kinh tế thị trường tác động mạnh đến nền kinh tế – xã hội cũng như đờisống nhân dân lao động, nó làm thay đổi và phát sinh nhiều quan hệ xã hội mới.Cùng với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, thị trường laođộng cũng vận động và phát triển theo hướng ngày càng đa dạng và phức tạphơn Các mâu thuẫn và xung đột về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ laođộng xảy ra nhiều hơn Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triểnchung của đất nước Mặc dù, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy địnhpháp luật để ngăn ngừa, hạn chế và giải quyết tranh chấp lao động Tuy nhiêncác tranh chấp lao động vẫn xảy ra nhiều và phức tạp hơn

Thực trạng trên đã làm phát sinh nhu cầu hoàn thiện cơ chế giải quyếttranh chấp nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc ngăn ngừa, hạn chế và giải quyếthiệu quả tranh chấp lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên trong quan hệ lao động đảm bảo sự ổn định, hài hòa của các quan hệ laođộng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Luật lao động của bất kỳ quốc gia nào cũng có những ưu điểm và nhượcđiểm Malaysia là quốc gia hiện đang sử dụng nhiều lao động Việt Nam nhấtkhu vực Đông Nam Á Việc người lao động Việt Nam sang Malaysia làm việcngày càng tăng và đa dạng hóa về ngành nghề, việc phát sinh tranh chấp laođộng là vấn đề khó tránh khỏi Việc so sánh pháp luật giải quyết tranh chấp laođộng giữa Việt Nam và Malaysia có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn Nó giúp ngườilao động Việt Nam đã, đang và sẽ làm việc ở quốc gia này được bảo vệ mộtcách hiệu quả từ đó góp phần củng cố quan hệ tốt đẹp về mọi mặt giữa ViệtNam và Malaysia trên mọi lĩnh vực đồng thời cũng là kinh nghiệm quý báu choViệt Nam trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật lao động

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 4

Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về tranh chấplao động và giải quyết tranh chấp lao động của Việt Nam và Malaysia nhằm tìm

ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản

Đối chiếu những kinh nghiệm giải quyết tranh chấp lao động của Malaysia vớithực tiễn Việt Nam để vận dụng có hiệu quả các kinh nghiệm này trong việchoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động của Việt Nam trong điều kiệnhội nhập và hợp tác quốc tế khu vực và toàn cầu

3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn này đi sâu nghiêncứu cơ chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam

và Malaysia, bao gồm: các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động, cácphương thức giải quyết tranh chấp, trình tự thủ tục giải quyết, kinh nghiệm banhành và thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động của Malaysia vàkhả năng vận dụng vào thực tiễn Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về giải quyết tranh chấp laođộng bao gồm: thủ tục giải quyết tranh chấp lao động và những vấn đề có liênquan như tranh chấp lao động là gì, nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động,thủ tục giải quyết tranh chấp lao động…Luận văn này cũng chỉ tập trung nghiêncứu pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động của Việt Nam và Malaysia

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyếtcác vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật về giải quyết tranh chấp laođộng theo quy định của pháp luật Malaysia, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệmvận dụng vào điều kiện thực tế ở Việt Nam Đồng thời, luận văn còn dựa trên cơ

sở các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc hoànthiệnpháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động

Trang 5

Bên cạnh đó trong từng nội dung cụ thể của luận văn, tác giả cũng đã sửdụng phối hợp các phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp phântích, đánh giá…để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

6 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm Lời nói đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo

Chương I: Những vấn đề cơ bản về tranh chấp lao động và giải quyết tranh

chấp lao động

Chương II: So sánh pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động của Việt nam

và Malaysia

Chương III: Phương hướng hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động

của Việt nam dựa trên kinh nghiệm của Malaysia

Trang 6

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI

QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

1 Những vấn đề cơ bản về tranh chấp lao động

1.1 Khái niệm tranh chấp lao động

Trong quá trình hình thành và vận động của nền kinh tế thị trường có sự xuấthiện của một loại thị trường đặc biệt – thị trường sức lao động Muốn có thịtrường sức lao động, sức lao động phải được coi là hàng hóa Sức lao động đượchiểu là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cảivật chất và dịch vụ cho xã hội Các Mác đã nêu hai điều kiện cơ bản để sức laođộng trở thành hàng hóa: thứ nhất, người có sức lao động phải hoàn toàn tự do

về thân thể có nghĩa là người đó phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và

có quyền đem bán nó như một hàng hóa; thứ hai, người có sức lao động không

có tư liệu sản xuất để mưu sinh do đó phải bán sức lao động của mình

Hai điều kiện trên đây không phải là bất di bất dịch với thời gian mà nó có sựthay đổi nhất định trong từng giai đoạn Ví dụ như, trong giai đoạn hiện nayngười lao động có tư liệu sản xuất, có tài sản họ vẫn có thể đi làm thuê (bán sứclao động) Điều đó có nghĩa là không phải người lao động không có tư liệu sảnxuất mới bán sức lao động mà kể cả khi có tài sản họ vẫn bán sức lao động Do

đó, ở thời hiện đại, ngoài điều kiện người lao động có quyền tự do bán sức laođộng còn điều kiện nữa là người lao động vì một lý do nào đó họ có nhu cầu bánsức lao động của mình

Lao động là hoạt động đặc trưng và quan trọng nhất của con người Nhờ cólao động mà con người và xã hội mới phát triển được Lao động là hoạt động cómục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi tự nhiên và thoả mãn nhu cầucủa con người Trong quá trình lao động con người không chỉ tác động với thiênnhiên để tạo ra của cải vật chất mà còn tác động qua lại với nhau Quan hệ giữacon người với con người trong lao động nhằm tạo ra giá trị vật chất, tinh thần

Trang 7

phục vụ cho chính bản thân mình và xã hội gọi là quan hệ lao động Trong cácchế độ xã hội khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm tính chất của các quan hệ sởhữu thống trị mà có những phương thức tổ chức lao động phù hợp

Sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu con người ngày càng cao, quan hệlao động ngày càng nhiều thì tính chất lao động ngày càng phức tạp Khi cácquan hệ lao động trở nên sống động, đa dạng và phức tạp, mục đích nhằm đạtđược lợi ích tối đa trong việc mua bán sức lao động đã trở thành động lực trựctiếp của các bên trong quan hệ lao động thì tranh chấp lao động là vấn đề khótránh khỏi Trong quá trình trao đổi sức lao động không phải lúc nào người laođộng và người sử dụng lao động cũng dung hoà được với nhau về tất cả các vấn

đề Giữa lúc này hay lúc khác đều có thể xuất hiện những bất đồng về quyền vàlợi ích trong quan hệ lao động

Mục tiêu hàng đầu của người sử dụng lao động là lợi nhuận Do đó họ khôngchỉ cân nhắc tính toán đến chất lượng, giá cả, thời hạn khai thác sử dụng, khảnăng sinh lợi của các hàng hóa thông thường như máy móc, thiết bị, nguyên vậtliệu mà còn cân nhắc tính toán đến hiệu quả sử dụng sức lao động Để thực hiệnđược mục tiêu của mình, người sử dụng lao động tiến hành khai thác giá trịthặng dư thông qua việc sử dụng sức lao động bằng cách tăng giờ làm, giảm tiềnlương, giảm chi phí trong việc đảm bảo và duy trì các điều kiện lao động bìnhthường, không đóng bảo hiểm…Mặt khác để thực hiện quyền quản lý của mìnhngười sử dụng lao động có thể có những hành vi xâm phạm đến người lao động:cưỡng bức lao động, xử lý kỷ luật hoặc xử lý bồi thường vật chất không đúngđắn…dẫn đến chỗ người lao động không đồng tình có thể gây ra những hànhđộng trả đũa gay gắt…

Người lao động cũng có những hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích hợppháp của người sử dụng lao động như đập phá máy móc, thiết bị, ý thức kỷ luậtkém, không hoàn thành nhiệm vụ lao động…có thể gây ra những phản ứng từphía người sử dụng lao động Sự không hiểu nhau, sự xâm hại lẫn nhau…đều cóthể là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động

Trang 8

Như vậy, nền kinh tế thị trường với hình thức sở hữu khác nhau là môitrường phát triển quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và là nơi tiềm ẩnxung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động Tranh chấp lao động

là loại tranh chấp đang có chiều hướng gia tăng trong nền kinh tế thị trường, đặcbiệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Theo Điều 2 Đạo luật Quan hệ lao động của Malaysia năm 1967: “Tranh

chấp lao động là bất cứ tranh chấp nào xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc người lao động và người lao động hoặc giữa người sử dụng lao động và người sử dụng lao động có liên quan đến việc làm hay không hoặc các điều khoản của hợp đồng hoặc các điều kiện lao động của bất cứ người nào…” Theo cách hiểu này, các mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích

giữa người sử dụng lao động và người lao động dù có liên quan đến việc làmhay không hoặc các điều khoản của việc làm hoặc các điều kiện làm việc củangười lao động nào đó được xem là tranh chấp lao động Đây là một định nghĩa

có nhiều tiến bộ vì nó chỉ ra đuợc nội dung của tranh chấp lao động

Bộ luật lao động Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2006 đưa ra định nghĩatranh chấp lao động như sau:1

“Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động”.

Tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp phát sinh trongquan hệ lao động mà còn bao gồm cả các tranh chấp liên quan đến quan hệ laođộng Tranh chấp lao động có thể phát sinh từ những quan hệ có liên quan đếnquan hệ lao động như: quan hệ việc làm, quan hệ học nghề, quan hệ bảo hiểm xãhội…Khi đó, chủ thể của tranh chấp lao động không chỉ là người lao động vớingười sử dụng lao động, mà có thể là những chủ thể khác tham gia các quan hệnày như: tổ chức trung gian giới thiệu việc làm, cơ quan bảo hiểm xã hội…Mặc

dù, tại một số điều luật khác của Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2006 đã

Trang 9

quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động không phát sinh từ quan

hệ lao động như tranh chấp bảo hiểm xã hội 2, tranh chấp về bồi thường thiệt hạigiữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động3

…Nhưng với việc đưa ra một định nghĩa chưa thật sự đầy đủ và thiếu tính kháiquát như điều 157 khoản 1 BLLĐ hiện nay cho thấy cần sự cần thiết phải quyđịnh lại khái niệm tranh chấp lao động trong BLLĐ sửa đổi sắp tới

Tóm lại, có thể hiểu tranh chấp lao động là mâu thuẫn về quyền và lợi íchgiữa các bên trong quá trình phát sinh, tồn tại và chấm dứt quan hệ lao động vàcác quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động được pháp luật lao động điềuchỉnh Các bên trong tranh chấp lao động có thể người lao động và người sửdụng lao động, có khi là người lao động hoặc người sử dụng lao động với mộtchủ thể khác có liên quan trong quan hệ lao động như cơ quan bảo hiểm xã hội,

tổ chức đào tạo nghề hoặc giới thiệu việc làm cho người lao động…

Trong những năm qua, tranh chấp lao động phát sinh theo chiều hướng ngàycàng gia tăng và có ảnh hưởng ngày càng lớn tới các lĩnh vực kinh tế xã hội.Trước hết tranh chấp lao động có ảnh hưởng không tốt đối với các bên trongquan hệ lao động (người sử dụng lao động và người lao động) Người lao độngchỉ là người làm thuê để hưởng lương nên họ và gia đình họ trông cậy vào thunhập ổn định từ tiền lương của họ Tranh chấp lao động có thể làm cho quan hệlao động bị phá vỡ, người lao động có nguy cơ bị mất việc làm khiến cho thunhập của họ không ổn định tất yếu sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt bìnhthường của họ Còn đối với người sử dụng lao động, nếu tranh chấp lao độnggiữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động phát sinh hoặc đối tượngtranh chấp có liên quan đến quyền lợi của cả một tập thể người lao động thì sẽảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp như việc sản xuất kinh doanh bị gián đoạn,ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng sản phẩm của đơn vị mình

Trang 10

Không những thế, tranh chấp lao động nhiều khi còn tác động trực tiếp và rấtlớn đối với trật tự công cộng, đời sống kinh tế và chính trị xã hội Bởi vì khitranh chấp lao động xảy ra trong phạm vi ngành có thể khiến cho hoạt động bìnhthường của xã hội bị tê liệt gây thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế và trật tự an toàn

xã hội

1.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tranh chấp lao động thường phát sinh, tồn tại gắn với quan hệ

lao động và các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động

Quan hệ lao động và tranh chấp lao động có liên quan mật thiết với nhau,

có quan hệ lao động mới có tranh chấp lao động, không có quan hệ lao động thìkhông có tranh chấp lao động Nội dung tranh chấp là nội dung của quan hệ laođộng Quan hệ lao động là loại quan hệ kinh tế đặc biệt, quan hệ mua và bán mộtloại hàng hoá đặc biệt đó là sức lao động của người lao động Khi quan hệ laođộng phát sinh và tồn tại tức là tồn tại quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích giữacác chủ thể Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý các chủ thể cóthể phát sinh bất đồng, mâu thuẫn là cơ sở nảy sinh tranh chấp Mối quan hệgiữa tranh chấp lao động và quan hệ lao động còn thể hiện ở chỗ chủ thể tranhchấp là chủ thể quan hệ lao động Chỉ các bên của quan hệ lao động tức là ngườilao động, tập thể người lao động, người sử dụng lao động mới là các bên củatranh chấp lao động Vì vậy khi tồn tại quan hệ lao động giữa các chủ thể màquan hệ giữa họ không được giải quyết một cách hài hoà thì sẽ có khả năng xảy

ra tranh chấp lao động Tuy nhiên, có những tranh chấp liên quan đến lao độngnhưng không phải tranh chấp lao động Nhưng chúng có mối quan hệ mật thiếtvới nhau vì phần lớn các trường hợp vi phạm pháp luật lao động là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến tranh chấp lao động

Thứ hai, tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp về

quyền, nghĩa vụ mà còn bao gồm cả những tranh chấp về lợi ích giữa các bên

Trang 11

Thông thường khi xác lập quan hệ lao động thì những nội dung cơ bản đãđược các bên thoả thuận với nhau hoặc đã được quy định trong các văn bản phápluật bởi trong quan hệ lao động thì các bên đều biết rõ về việc làm, tiền lương,

về thời giờ làm việc hoặc nghỉ ngơi, hay trong quan hệ học nghề các bên cũng

đã thoả thuận về các điều khoản…Nếu những nội dung chưa được các bên tựxác định thì pháp luật đã quy định và coi đó như là vấn đề có tính nguyên tắc.Song trong quá trình lao động lại có những vấn đề mới nảy sinh, các bên chủ thể

có nhu cầu Nhà nước vẫn tôn trọng và bảo vệ Điều đó là phù hợp vì quá trìnhsản xuất, kinh doanh biến động thường xuyên kéo theo sự biến đổi trong quan hệlao động Mặt khác có thể thấy mỗi chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ hợp pháp

và những đòi hỏi của các chủ thể này về hình thức người ta có thể lầm tưởng đó

là những yêu cầu vượt trội và có vẻ là sự vi phạm các cam kết song nó chính làtiền đề cho sự phát triển của sản xuất

Thứ ba, tranh chấp lao động là loại tranh chấp mà quy mô và mức độ

tham gia của các chủ thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ củatranh chấp

Tranh chấp lao động đầu tiên xuất phát từ quan hệ lao động cụ thể tức làtranh chấp từng người lao động với người sử dụng lao động Những xung độtnày có thể phát sinh ở những thời điểm khác nhau hoặc cùng xảy ra ở cùng thờiđiểm Khi trong cùng một thời điểm, có nhiều người lao động cùng tranh chấpvới người sử dụng lao động về cùng một nội dung và giữa những người lao động

có sự liên kết chặt chẽ với nhau thì tranh chấp đó đã mang tính tập thể Rõ ràng

là mức độ ảnh hưởng của tranh chấp lao động tập thể là nghiêm trọng hơn tranhchấp lao động cá nhân Như vậy tính chất và mức độ của tranh chấp lao độngkhông chỉ phụ thuộc vào nội dung tranh chấp mà còn phụ thuộc vào quy mô,tính tổ chức, số lượng của một bên tranh chấp là người lao động Hai loại tranhchấp này có mức độ ảnh hưởng khác nhau vì vậy cần phải có cơ chế giải quyếttranh chấp lao động nhanh chóng, kịp thời và phù hợp

Trang 12

Thứ tư, tranh chấp lao động có tác động trực tiếp và rất lớn không chỉ đối

với bản thân và gia đình người lao động mà nhiều khi còn ảnh hưởng đến trật tựcông cộng, đời sống kinh tế và toàn xã hội

Người lao động tham gia vào quá trình lao động với mục đích là có thunhập ổn định để nuôi sống bản thân và gia đình Khi tranh chấp lao động xảy ra,quan hệ lao động có nguy cơ bị phá vỡ, người lao động có nguy cơ bị mất việclàm Điều này làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người lao động Nếutranh chấp lớn xảy ra hoặc kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng,đời sống kinh tế của toàn xã hội bởi sự ổn định và phát triển của nền kinh tế phụthuộc vào chính sự ổn định, phát triển của người lao động Không những thế nếutranh chấp lao động tập thể xảy ra nhiều, quy mô lớn thì các doanh nghiệp sẽgặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh nên không đảm bảo lợi ích của ngườilao động hoặc làm ăn có lãi nhưng không chăm lo tới đời sống của người laođộng

Những đặc điểm cuả tranh chấp lao động giúp ta phân biệt được tranhchấp lao động với tranh chấp dân sự Đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của việcxác lập một cơ chế giải quyết hợp lý và nhanh chóng để giảm bớt những ảnhhưởng tiêu cực của nó tới đời sống lao động và nền kinh tế xã hội

2 Những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp lao động

2.1 Sự cần thiết của việc giải quyết tranh chấp lao động

Khi xảy ra tranh chấp lao động, để ổn định tình hình, các chủ thể trong tranhchấp lao động luôn tìm mọi biện pháp để giải quyết tranh chấp đó Song điều đóchỉ có ý nghĩa trong từng trường hợp cụ thể Việc giải quyết tranh chấp lao động

là cần thiết, tất yếu và khách quan Khi điều chỉnh vấn đề giải quyết tranh chấplao động pháp luật cần bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của các quan hệnày theo ý chí chủ quan của Nhà nước tạo khung pháp lý để hạn chế những ảnhhưởng tiêu cực của tranh chấp lao động

Mong muốn của các bên tranh chấp không phải là phá vỡ quan hệ lao động

mà là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ Việc giải quyết tranh chấp lao

Trang 13

động giúp ổn định các quan hệ các quan hệ lao động và bảo vệ các bên khỏi sựxâm hại Khi tham gia tranh chấp lao động, các bên đều không tránh khỏi nhữngmất mát về thời gian, công việc, thu nhập và những ảnh hưởng khác Nhữngmất mát này có thể xảy ra ngay từ đầu cũng có thể xảy ra trong khi các bên tranhchấp, cũng có thể là thiệt hại tự nhiên (do có tranh chấp nên thiệt hại), cũng cóthể do một bên xâm phạm.

Việc giải quyết tranh chấp lao động bảo đảm sự bình ổn tương đối của quan

hệ lao động sau tranh chấp được giải quyết Nếu không giải quyết kịp thời, tranhchấp lao động sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền đối với toàn bộ nền sảnxuất Vì vậy giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng và hiệu quả chính làgóp phần bảo vệ sự ổn định của phương thức sản xuất hiện hành

Quá trình lao động gắn bó với mật thiết và là điều kiện tồn tại, phát triển củatất cả các quan hệ kinh tế xã hội Và hơn nữa chính quan hệ lao động cũng làmột loại quan hệ kinh tế vì nó là quan hệ mua bán một loại h ngàng hoá đặc biệt vàchỉ có loại hàng hoá này người ta mới có thể duy trì được sản xuất và tạo rađược các loại hàng hoá khác Sự chi phối có tính chất quyết định của quan hệ laođộng đối với nền kinh tế đã được các nhà kinh tế học khẳng định từ lâu Nhưvậy việc phá vỡ quan hệ lao động là sự phá vỡ những khâu, những yếu tố, nhữngmắt xích của hệ thống các quan hệ kinh tế và các tổ chức lao động chính lànguyên nhân của sự tan rã ấy Việc giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng,triệt để, khách quan góp phần hạn chế và ngăn chặn các hành vi có thể gây ảnhhưởng đến lợi ích chung của xã hội như đình công Việc giải quyết tranh chấplao động định hướng hành vi của các bên trong quá trình tranh chấp phù hợp vớilợi ích chung của xã hội

Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp, các cơ quan giải quyết tranh chấpthực hiện nhiệm vụ lấy pháp luật để bảo vệ nền pháp chế Pháp luật như là mộttiêu chuẩn để xác định sự đúng sai, tính hợp pháp hay bất hợp pháp của các xử

sự của các bên sẽ được những người có trách nhiệm sử dụng như một công cụhữu hiệu của các bên tranh chấp phải tuân thủ Cùng với việc phân định hợp lý

Trang 14

các cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra những quyết định quan trọng vềtrách nhiệm của các bên tranh chấp Việc giải thích để đi đến việc áp dụng cáctrách nhiệm đó có tác dụng vô cùng to lớn giúp các bên hiểu hơn quyền và nghĩa

vụ của mình thậm chí thay đổi cả những quan niệm mà từ lâu đã trở thành cốhữu của họ

Xuất phát từ những phân tích trên có thể thấy tầm quan trọng của công tácgiải quyết tranh chấp lao động Vì vậy việc xây dựng và ngày càng hoàn thiệnhơn cơ chế giải quyết tranh chấp lao động là điều tất yếu và cần thiết

2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động

* Phương thức thương lượng:

Thương lượng là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên có lợi íchchung và lợi ích không đồng nhất cùng ngồi với nhau để thảo luận nhằm tìm

kiếm một thỏa thuận chung Theo từ điển Luật học: “Thương lượng là hình thức

giải quyết tranh chấp kinh tế, theo đó các bên tự bàn bạc để thống nhất cách thức loại trừ tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba” Như vậy, thương lượng nói chung có thể diễn ra trước khi phát sinh

tranh chấp giữa các bên nhằm xác lập quan hệ một cách tự nguyện hoặc thươnglượng cũng có thể được sử dụng như một cách thức giải quyết vấn đề khi đã xảy

ra tranh chấp về lợi ích kinh tế giữa các bên

Trong quan hệ lao động, thương lượng cũng được hiểu là một quá trình thỏathuận nhằm đạt tới sự thống nhất ý chí giữa người sử dụng lao động và ngườilao động về việc mua bán, sử dụng hàng hóa sức lao động và giải quyết nhữngvấn đề phát sinh trong quan hệ lao động

Đây là hình thức quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp laođộng Quá trình thương lượng là quá trình các bên tự dàn xếp với nhau và tựquyết định mọi vấn đề mà không có sự can thiệp của bên trung gian nào Trongquá trình thương lượng, những người tham gia thương lượng sẽ cùng nhau xemxét và bàn bạc để đi đến giải quyết vấn đề đang phát sinh Do đó nguyên tắcquan trọng nhất của thương lượng là đề cao quyền tự do định đoạt của các bên

Trang 15

Các bên hoàn toàn tự do ý chí trong việc quyết định có tham gia thương lượnghay không, tự nguyện bày tỏ quan điểm của mình trong quá trình bàn bạc thảoluận để tìm ra giải pháp tốt nhất giải quyết tranh chấp lao động.

Quá trình thương lượng không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên tắc pháp lýhay các quy định cứng nhắc của pháp luật nên tạo ra tính mềm dẻo, linh hoạttrong giải quyết tranh chấp lao động đây là ưu điểm lớn nhất của thương lượng.Bên cạnh đó thương lượng trong giải quyết tranh chấp lao động cũng cónhững hạn chế Do nó phụ thuộc vào thiện chí của các bên Nếu các bên thiếuthiện chí, quá trình thương lượng dễ bị bế tắc Mặt khác do không có sự thốngnhất về cách thức tiến hành, do không có chủ tọa nên việc duy trì thương lượngđôi khi rất khó khăn Không phải mọi tranh chấp lao động đều có thể đưa ra giảiquyết thông qua thương lượng Chỉ nên đưa ra thương lượng khi các bên thực sựmong muốn tham gia vao quá trình thương lượng và nội dung tranh chấp laođộng có thể thương lượng được

Tóm lại việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua thương lượng có ýnghĩa cực kỳ quan trọng: vừa nhanh chóng và đỡ tốn kém đồng thời nếu thươnglượng đạt kết quả sẽ hạn chế các bước tiếp theo phải thông qua cơ quan tố tụng

và giữ được bí mật cho các bên

* Phương thức hoà giải: là việc giải quyết tranh chấp lao động được tổ chức

theo phương thức hai bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận với nhau về những vấn

đề có liên quan đến nội dung tranh chấp lao động với sự giúp đỡ của người thứ

ba đóng vai trò trung gian hoà giải Người trung gian hoà giải chỉ đưa ra ý kiến

để các bên tham khảo mà không có quyền ra quyết định cuối cùng về việc giảiquyết tranh chấp lao động Ưu điểm của hoà giải là được tiến hành đơn giản,thuận tiện, ít tốn kém, bảo đảm được bí mật cho các bên Việc giải quyết tranhchấp lao động thông qua hoà giải còn tiết kiệm chi phí về mặt thời gian và vậtchất Hoà giải được đánh giá là phương thức giải quyết tranh chấp lao động thânthiện bởi nó giúp các bên hiểu nhau hơn Hoà giải là sự dàn xếp tranh chấp lao

Trang 16

động sao cho các bên không bị dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua sau khigiải quyết tranh chấp.

Bên cạnh những ưu điểm nói trên, giải quyết tranh chấp lao động thông quahoà giải cũng có những hạn chế Thoả thuận đạt được trong hoà giải không cótính chất bắt buộc thi hành như phán quyết của Toà án Ngoài ra nếu hoà giảithất bại các ưu thế của hoà giải sẽ không đạt được các bên lại phải quay lại điểmxuất phát ban đầu để lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp lao động khác

* Phương thức trọng tài: là phương thức giải quyết tranh chấp lao động mà

theo đó trọng tài viên duy nhất hay một hội đồng trọng tài có thẩm quyền đứng

ra giải quyết tranh chấp lao động theo sự thoả thuận hợp pháp của các bên hoặctheo quy định của pháp luật Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc cácbên

Tổ chức bộ máy của trọng tài lao động quy chế rất gọn nhẹ bao gồm chủ tịch,thư ký và các trọng tài viên Trọng tài lao động có thể là một trọng tài viên duynhất hoặc một hội đồng gồm ba người do các bên tranh chấp lựa chọn hoặc do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ định (trọng tài vụ việc) Chính sự gọn nhẹtrong tổ chức là điều kiện để thực hiện sự đơn giản về thủ tục, giảm thiểu về thờigian, kinh phí cho các bên Đây là ưu thế của trọng tài lao động Tuy nhiên trọngtài lao động cũng được xếp vào hệ thống tài phán lao động bởi nó là quá trình racác phán quyết về vụ tranh chấp đã thụ lý

Phán quyết của trọng tài kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp Các bênkhông thể yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ tranh chấp mà chỉ có thể yêu cầu xemxét lại thủ tục để công nhận hay huỷ bỏ quyết định trọng tài Khi quyết định củatrọng tài có hiệu lực hoặc Toà án không huỷ quyết định trọng tài theo yêu cầucủa các bên thì buộc các bên phải thi hành quyết định đó Và các phán quyết củatrọng tài được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.Cùng với giá trị chung thẩm quyết định của trọng tài lao động còn là sự kếthợp giữa tính pháp lý và tính xã hội

Trang 17

Tính pháp lý của quyết định trọng tài thể hiện ở chỗ để ra được quyết địnhgiải quyết tranh chấp lao động giữa các bên, trọng tài viên hoặc hội đồng trọngtài phải căn cứ vào những quy định của pháp luật đảm bảo nguyên tắc đúng luậttrong tố tụng trọng tài Bên cạnh đó, những tài liệu, chứng cứ, những nhu cầu xãhội của các bên tranh chấp cũng rất quan trọng khi trọng tài ra quyết định giảiquyết tranh chấp Cùng với nó tính xã hội hoá trong việc giải quyết tranh chấplao động thông qua cơ cấu tổ chức của hội đồng trọng tài lao động và sự thamgia của các bên tranh chấp.

Phương thức xét xử tại Toà án: đây là phương thức giải quyết tranh chấp

lao động có nhiều lợi thế Thứ nhất, Toà án là cơ quan đại diện cho quyền lực tưpháp của Nhà nước nên các quyết định của Toà án mang tính cưỡng chế thi hànhđối với các bên Thứ hai, với nguyên tắc hai cấp xét xử, những sai sót trong quátrình giải quyết tranh chấp có khả năng phát hiện và khắc phục

Việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua Toà án phải tuân theo thủ tụcchặt chẽ, với những thẩm phán có chuyên môn, các phán quyết được đảm bảothi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước Đây cũng là ưu thế nổi bật so vớiphương thức giải quyết tranh chấp lao động khác

Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua Toà án cũng bộc lộnhững hạn chế nhất định Đó là thủ tục phức tạp, thời gian kéo dài, tốn kém thờigian và tiền bạc của các đương sự, gây căng thẳng trong quan hệ lao động saukhi giải quyết tranh chấp lao động

3 Tổng quan pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

3.1 Những nguyên tắc định hướng việc điều chỉnh pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

Giải quyết tranh chấp lao động là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyềntiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những tranh chấp phátsinh giữa các cá nhân, tập thể người lao động với người sử dụng lao động vềviệc thực hiện quyền và lợi ích của hai bên chủ thể nhằm giải quyết những bất

Trang 18

đồng, mâu thuẫn đảm bảo hài hoà các quan hệ lao động và sự ổn định trong sảnxuất kinh doanh

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động là những tư tưởng chủ đạoxuyên suốt trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động Nguyên tắc giải quyếttranh chấp lao động phải đạt được hai mục đích:

- Phải giải tỏa được những bất đồng, bế tắc trong quá trình giải quyếttranh chấp lao động đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích của mỗi bên tranhchấp

- Phải đảm bảo tối đa cho việc ổn định mối quan hệ lao động, phòng ngừanhững xung đột tiếp theo

Việc giải quyết tranh chấp lao động phải tuân thủ theo những nguyên tắcnhất định:

Thứ nhất, tôn trọng thỏa thuận giữa các bên thông qua thương lượng, hòa giải.

Đây là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.Khi xảy ra xung đột, mâu thuẫn các chủ thể có trách nhiệm gặp gỡ, thươnglượng tự giải quyết những bất đồng phát sinh trên cơ sở của pháp luật

Khi tranh chấp lao động không thể tự thương lượng, dàn xếp trực tiếp vớinhau thì phải tiến hành thông qua hoà giải Việc hoà giải giúp các bên xem xét,lựa chọn, chấp nhận hay không chấp nhận các phương án hay giải pháp đã đề ra.Trong quá trình hoà giải phải đảm bảo tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp củahai bên Thông qua hoà giải các bên có thể hiểu nhau hơn, tôn trọng quyền vàlợi ích của nhau hơn vì vậy mà tranh chấp đã được giải quyết có hiệu quả hơn.Nếu hoà giải thành sẽ bớt được rất nhiều thủ tục tố tụng phức tạp Do đó hoàgiải được coi là giải pháp ưu tiên thực hiện đối với các bất đồng có khả năng hoàgiải

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động là tự do thỏathuận Các bên có quyền thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của mình thì cũng cóquyền thỏa thuận các phương thức giải quyết tranh chấp Hơn nữa mục đích của

Trang 19

giải quyết tranh chấp lao động là duy trì sự ổn định, hài hoà của quan hệ laođộng, phòng ngừa và ngăn chặn những tranh chấp có thể tiếp tục xảy ra trongquan hệ lao động.Vì vậy mà nguyên tắc này là nguyên tắc rất quan trọng.

Thứ hai, đảm bảo sự tham gia của đại diện các bên trong tranh chấp lao động.

Trong quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động đềucần đến nhau để tồn tại và phát triển, nhưng ở một góc độ khác lại có sự đối lậpnhau về lợi ích Khi lợi ích giữa các bên không điều hòa ở mức độ hợp lý thì bấtđồng, mâu thuẫn phát sinh và tranh chấp lao động là điều khó tránh khỏi Khigiải quyết tranh chấp lao động cần có sự tham gia của đại diện các bên để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên Sự tham gia của đại diện các bên tranhchấp giúp cho việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, khách quan, kịp thời vàđúng pháp luật Các chủ thể thông qua đại diện của họ cung cấp những thôngtin, chứng cứ, tài liệu liên quan đến tranh chấp lao động Vì vậy đảm bảo sựtham gia của đại diện các bên trong tranh chấp lao động là một nguyên tắc quantrọng

Thứ ba, đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp lao động đúng pháp luật về nội dung và thủ tục

Đây là nguyên tắc phổ biến trong việc giải quyết các tranh chấp Theonguyên tắc này việc giải quyết tranh chấp lao động phải triệt để, chính xác, luôntôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo cho các quy phạmpháp luật lao động được thực hiện một cách đúng đắn trên thực tế, được áp dụngmột cách thống nhất mọi nơi, mọi lúc Các văn bản pháp quy của cơ quan cấpdưới ban hành trong lĩnh vực lao động phải phù hợp với các văn bản của cơquan Nhà nước cấp trên Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp laođộng phải tiến hành theo đúng thời gian, thủ tục được quy định Hay nói cáchkhác, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động ngoài việc tuân thủ các quyphạm nội dung, cần phải tôn trọng và triệt để tuân theo pháp luật tố tụng Việc

Trang 20

thực hiện tốt nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

và tạo điều kiện cho quan hệ lao động phát triển hài hoà, ổn định

3.2 Mô hình pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

3.2.1 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

Việc quy định các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động thường đượcxác định dựa trên cơ sở trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động Nhìnchung các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động thường baogồm các cơ quan hòa giải trong giai đoạn tiền tố tụng và các cơ quan tư pháptrong giai đoạn tố tụng Cụ thể là:

Cơ quan hòa giải: Hòa giải viên hoặc hội đồng hòa giải là trung gian

trong phương thức hòa giải, có nhiệm vụ giúp các bên tranh chấp đạt đượcnhững thỏa thuận để giải quyết những bất đồng Trong quá trình hòa giải, ngườitrung gian sẽ phân tích, chỉ cho mỗi bên những lợi thế và điểm yếu của họ cũngnhư các quy định của pháp luật có liên quan để các bên cân nhắc tự tìm ra mộtphương án giải quyết chung Mục đích của hòa giải không chỉ là dàn xếp nguyênnhân dẫn đến tranh chấp lao động mà còn thống nhất những vấn đề đang mâuthuẫn dưới sự giúp đỡ của người trung gian Việc thành lập hội đồng hòa giảicũng như việc xác định hòa giải viên thường được quy định trong các văn bảnpháp luật Tóm lại, cơ quan hòa giải có vai trò quan trọng trong giải quyết tranhchấp lao động Nó là nhân tố tác động và giúp cho quá trình giải quyết tranhchấp lao động trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn

Trọng tài lao động: Trong giai đoạn xét xử bằng trọng tài, Hội đồng

trọng tài và trọng tài viên duy nhất là cơ quan tham gia trực tiếp vào quá trìnhgiải quyết tranh chấp lao động Việc thành lập Hội đồng trọng tài hoặc trọng tàiviên lao động phải phù hợp với các vụ tranh chấp và theo yêu cầu của các bêntham gia tranh chấp Như chúng ta đã biết, trọng tài lao động được xếp vào hệthống tài phán lao động bởi đó là một quá trình ra phán quyết về vụ tranh chấp

đã thụ lý trong khi đó thương lượng, hòa giải không biết đến bất kỳ một phánquyết nào Trên cơ sở những nguyên tắc nhất định theo sự thỏa thuận hợp pháp

Trang 21

của các bên tranh chấp hoặc theo quy định của pháp luật, Hội đồng trọng tàihoặc trọng tài viên duy nhất sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp lao động Phánquyết của trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp Ở một số cácquốc gia, để tăng quyền lực cho các phán quyết của trọng tài, họ thường lập ramột Tòa trọng tài lao động Tòa trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấplao động vừa mang tính quyền lực nhà nước, vừa mang tính trọng tài Quyếtđịnh của Tòa án trọng tài được coi trọng và được đảm bảo thực hiện trên thực tếbằng các biện pháp cưỡng chế pháp lý mang tính quyền lực Nhà nước.

Tòa án: Thông thường các quốc gia đều có hệ thống Tòa án riêng để xét

xử các tranh chấp về từng lĩnh vực cụ thể Trong đó có Tòa lao động chuyêntrách giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động Tòa án chỉ chínhthức tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp lao động khi nhận được yêucầu của các chủ thể về việc giải quyết tranh chấp lao động Các quốc gia thường

sử dụng Tòa án như là phương án cuối cùng và tính quyền lực cao nhất trongviệc giải quyết tranh chấp lao động Tòa án thường được thành lập theo từng cấphoặc theo vùng, lãnh thổ…Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền lực pháp luật nêncác phán quyết của Tòa án mang tính ràng buộc đối với các bên và được đảmbảo bằng biện pháp cưỡng chế Nhà nước Bên cạnh đó, việc giải quyết tranhchấp lao động tại Tòa án vẫn đảm bảo quyền thương lượng, hòa giải của cácbên Chính những ưu điểm đó cho nên nhiều vụ tranh chấp lao động được giảiquyết tại Tòa án và Tòa án trở thành cơ quan tài phán quan trọng

3.2.2 Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động

Thông thường pháp luật của các quốc gia đều quy định thủ tục giải quyếttranh chấp lao động tương ứng với từng loại thủ tục giải quyết tranh chấp laođộng cụ thể Việc giải quyết tranh chấp lao động đơn giản, gọn nhẹ, linh hoạt,hiệu quả và đúng pháp luật là yêu cầu rất quan trọng

Hầu hết pháp luật giải quyết tranh chấp lao động của các quốc gia quyđịnh như sau:

Trang 22

Bước đầu tiên khi tranh chấp lao động xảy ra là các bên cần phải tìm cáchthương lượng để bày tỏ quan điểm của mình nhằm tháo gỡ những bất đồng giữahai bên Nếu các bên đã đạt được thỏa thuận ngay từ bước đầu với nhau thì giảiquyết tranh chấp lao động được giải quyết Nếu thương lượng không thành thìtrong các bên tranh chấp có thể yêu cầu hòa giải viên hoặc hội đồng hòa giảitranh chấp lao động giải quyết Trong giai đoạn hòa giải nếu các bên chấp nhậnphương án hòa giải đã được đưa ra thì hòa giải viên hoặc hội đồng hòa giải lậpbiên bản hòa giải thành Các bên có nghĩa vụ chấp hành các thỏa thuận đã đượcghi trong biên bản hòa giải thành Nếu hòa giải không thành thì hòa giải viênhoặc hội đồng hòa giải sẽ lập biên bản hòa giải không thành Một trong các bên

có quyền đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan khác Có thể là Tòa án laođộng hoặc Tòa trọng tài tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia

3.3.3 Căn cứ pháp lý về nội dung và hình thức để giải quyết tranh chấp lao động

Thực tế cho thấy, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng cần có sự canthiệp của Nhà nước bằng pháp luật để giải quyết những vấn đề phát sinh trongthực tiễn trong đó có tranh chấp lao động Do đó, việc xác định căn cứ pháp lý

về nội dung và hình thức để giải quyết tranh chấp lao động là một yêu cầu cầnthiết

* Căn cứ pháp lý về nội dung:

Là những căn cứ có chứa đựng quy phạm nội dung mà dựa vào đó cơquan Nhà nước có thẩm quyền có thể giải quyết những vụ việc cụ thể phát sinhtrong thực tế

Quy phạm nội dung là quy phạm điều chỉnh mặt nội dung của quan hệ xãhội hiện thực, quy định quyền và nhĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ.Quy phạm nội dung trả lời cho câu hỏi “làm gì”

Trong lĩnh vực lao động, căn cứ pháp lý về nội dung được quy định trongHiến pháp, Luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trang 23

Việc xác định thế nào là tranh chấp lao động là vấn đề quan trọng, nếukhông nhận dạng được tranh chấp lao động hoặc nhầm lẫn tranh chấp lao độngvới tranh chấp dân sự hay tranh chấp thương mại thì đương nhiên dẫn tới việcxác định không chính xác cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

và thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp lao động tương ứng

Ở Việt Nam, căn cứ pháp lý về nội dung để giải quyết tranh chấp lao độngđược quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật:

Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)

Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung 2006

Nghị định số 133/2007/NĐ - CP ngày 08 tháng 8 năm 2007 của Chínhphủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật lao động về giải quyết tranh chấp lao động

Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 10 năm 2007 hướngdẫn về tổ chức, hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa giải viênlao động

Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 10 năm 2007 hướngdẫn về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động

Ở Malaysia, giải quyết tranh chấp lao động được trên các căn cứ pháp lýsau:

Hiến pháp Malaysia

Đạo luật quan hệ lao động năm 1967

Các phán quyết của Tòa án Anh và Tòa dân sự tối cao (High Court)

* Căn cứ pháp lý về hình thức:

Là những căn cứ chứa đựng các quy phạm hình thức mà trong đó quyphạm hình thức được hiểu là quy phạm điều chỉnh thủ tục pháp lý của hoạt độngcủa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm nộidung; quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia các quan hệ xã hội

về mặt thủ tục Quy phạm thủ tục trả lời cho câu hỏi “làm như thế nào”

Trang 24

Căn cứ pháp lý về mặt hình thức để giải quyết tranh chấp lao động cũngđược quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Đối với các quốc gia sử dụng án lệ và tập quán trong việc giải quyết tranhchấp lao động thì thủ tục rấy đơn giản, linh hoạt phụ thuộc vào việc tập quán và

án lệ ấy đã được áp dụng như thế nào? Ngược lại, với các quốc gia sử dụng vănbản pháp luật thì các quy định về thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấplao động rất chi tiết, cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật

về tố tụng lao động

Ở Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp lao động phải tuân theo trình tự,thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2006, Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các tranh chấp lao động

3.3 Nguồn luật áp dụng của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

Khi nói đến nguồn luật áp dụng là nói đến hình thức biểu hiện ra bênngoài của pháp luật Nếu hình thức pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của Nhà

nước thì nguồn của pháp luật là khái niệm dùng để chỉ tất cả những gì mà các

chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế.

Hay nói cách khác: nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể

có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở xây dựng ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế 4

Nguồn luật chỉ có giá trị khi nó có khả năng phản ánh được nội dung vàcác dấu hiệu thuộc về bản chất của pháp luật Trong quá trình giải quyết tranhchấp lao động, chúng ta thường vận dụng những quy phạm này hoặc các quyphạm khác để giải quyết những vụ việc cụ thể Những quy phạm này lấy từnhững nguồn khác nhau

Nguồn luật áp dụng của pháp luật giải quyết tranh chấp lao động chủ yếubao gồm: tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật

Trang 25

Tập quán pháp là hình thức Nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưutruyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, nâng chúng thànhnhững quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện Trong xã hộiluôn tồn tại nhiều tập quán, có những tập quán tiến bộ thể hiện truyền thống vàđạo đức dân tộc thì được Nhà nước tôn trọng và xây dựng chúng thành nội dungcủa các quy phạm pháp luật Ngược lại có những tập quán lạc hậu đi ngược vớitruyền thống dân tộc sẽ bị loại bỏ Do tập quán pháp xuất phát từ những thóiquen rất xa xưa nên nó ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân và được nhân dân

tự giác tuân thủ Đồng thời việc áp dụng tập quán pháp sẽ góp phần khắc phục

lỗ hổng của pháp luật thành văn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Tuy nhiên,

do tồn tại dưới dạng bất thành văn nên tập quán pháp thường chỉ được hiểu mộtcách ước lệ mang tính tản mạn, địa phương khó đảm bảo tính thống nhất

Tiền lệ pháp là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét

xử được Nhà nước thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết những vụ việc tương

tự Việc sử dụng án lệ tạo nên sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc giải quyết tranhchấp lao động khi không có các quy định pháp luật hoặc các quy định pháp luật

đã trở nên lạc hậu và góp phần tiết kiệm chi phí, nguồn lực trong quá trình giảiquyết tranh chấp Tuy nhiên nó cũng dễ tạo ra sự tùy tiện bởi nó xuất phát từhoạt động của cơ quan hành chính và tư pháp ảnh hưởng đến tính thống nhất củapháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của các quyết địnhpháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và dướihình thức nhất định, có chứa đựng những quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnhmột loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đờisống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó Ở mỗinước, trong những điều kiện cụ thể có những quy định riêng về tên gọi và hiệulực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật làloại văn bản có giá trị pháp lý cao và được đảm bảo thực thi bằng quyền lực Nhànước do đó việc áp dụng loại văn bản này mang lại hiệu quả cao

Trang 26

Mỗi hệ thống pháp luật thường có quan niệm khác nhau về nguồn củapháp luật Hệ thống pháp luật lục địa nguồn pháp luật chủ yếu có giá trị nhất làcác văn bản pháp luật Còn đối với những nước theo hệ thống pháp luật Anh –

Mỹ thì án lệ được coi là quan trọng nhất

Ở Việt Nam việc giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu dựa vào các quyđịnh của pháp luật (Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành) Tậpquán pháp chưa được coi là một loại nguồn của pháp luật Các cơ quan pháp luậtkhông được sử dụng các tục lệ ở các địa phương, của các dân tộc khác nhau đểgiải quyết tranh chấp lao động Tiền lệ pháp cũng không được coi là nguồn củapháp luật lao động Bởi Nhà nước ta đã khẳng định trong Hiến pháp: “Khi xét

xử thẩm phán và hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luât” Tuy nhiên,Tòa án nhân dân tối cao vẫn thường làm công tác tổng kết việc giải quyết một số

vụ việc từ đó đề ra đường lối, hướng dẫn cách giải quyết những vụ việc tương tựcho các Tòa án địa phương

Ở Malaysia, luật thành văn có vai trò quan trọng Trong hệ thống các vănbản pháp luật, Hiến pháp được xem là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Sau

đó là các Đạo luật Quan Hệ Lao Động và các văn bản hướng dẫn thi hành.Nguồn thứ hai trong hệ thống pháp luât Malaysia là án lệ Nguồn án lệ đó baogồm các phán quyết của Tòa án Anh và các phán quyết của Tòa án Malaysia.Tập quán cũng là nguồn khá quan trọng và được sử dụng nhiều ở Malaysia Mộttrong những tập quán đặc trưng là Tòa án có thể quyết định việc bồi thường thiệthại được trả bằng hiện vật có giá trị tương đương với mức thiệt hại

Ngày đăng: 05/07/2023, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w